Trước năm 2000 là khoảng thời gian có nhiều biến động trong chính sách tỷ giá của Việt Nam. Đặc biệt là những chuyển biến trong cơ chế quản lí tỷ giá từ tỷ giá cố định sang thả nổi và sang tỷ
Trang 1KHOA KINH TẾ- ĐHQG TP HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
LỚP: K07402B
ĐỀ TÀI 5 CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA VIỆT NAM TRƯỚC
2 Tỷ giá phi mậu dịch
3 Tỷ giá kết toán nội bộ
4 Tỷ giá kiều hối
II CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ THỜI KÌ 1989-1991
III CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ THỜI KÌ 1992-1999
1 Thời kì 1992-1994: Tỷ giá chính thức hình thành theo phương thức đấu thầu tạitrung tâm giao dịch ngoại tệ
2 thời kì 1995-1999: Tỷ giá chính thức hình thành trên cơ sở tỷ giá liên ngân hàng
IV TỔNG KẾT
Trang 2I CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ THỜI KÌ 1955- 1989
Là giai đoạn mà nhà nước độc quyền về ngoại thương và ngoại hối, tỷ giá không
do cung cầu định mà do nhà nước ấn định Và tồn tại ở giai đoạn này là chính sách
3 tỷ giá
1 Tỷ giá chính thức:
Thời kỳ giữa thập kỷ 60 cho tới đầu thập kỷ 70, Việt Nam mới chỉ đặt quan hệngoại giao và tỷ giá chính thức với Trung Quốc và Liên Xô Tỷ giá chính thức đầutiên được xác lập là tỷ giá giữa đồng Việt Nam với đồng Nhân dân tệ của TrungQuốc
Trước hết nói về cách tính tỷ giá chính thức đầu tiên giữa đồng Việt Nam với đồngNhân dân tệ:
Theo sự đàm phán của 2 chính phủ, tỷ giá giữa đồng Việt Nam với đồng Nhân dân
tệ dựa trên việc so sánh sức mua theo giá bán lẻ của 1 rổ hàng hóa và dịch vụ thôngdụng, ban đầu gồm 34 mặt hàng tiêu dùng, tại 2 thủ đô( Bắc Kinh và Hà Nội) và 1
số tỉnh đặc trưng của 2 nước( Thượng Hải, Quảng Châu, Thiên Tân ở Trung Quốc
và Hải Phòng, Nam Định, Vinh ở Việt Nam) Theo phương pháp tính toán đó, đếnngày 25 – 11 năm 1955 hai bên đã xác định và công bố tỷ giá chính thức giữa ViệtNam đồng (VND) và Nhân dân tệ Trung Quốc (CNY) là 1 CNY = 1470 VND.Theo báo cáo quyết toán năm 1956 của Ngân hàng quốc gia Việt Nam, thì từ tháng
7 – 1956 Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu thanh toán theo tỷ giá qui định kể trênqua Ngân hàng
Về cách tính tỷ giá chính thức giữa đồng tiền Việt Nam với các đồng tiền Xã hộichủ nghĩa khác: Căn cứ vào tỷ giá của đồng Nhân Dân tệ với các đồng tiền của cácnước, Việt Nam áp dụng phương pháp “ tính chéo” với tỷ giá của Nhân dân tệ vớiđồng Việt Nam để hình thành tỷ giá giữa đồng Việt Nam với các đồng tiền đó …Theo phương pháp tính chéo đó đã hình thành tỷ giá với các đồng Zloty của
Trang 3BaLan, Đồng Mác của Cộng hòa dân chủ Đức, Đồng Coouronce của Tiệp Khắc,đồng floring của Hungary…
Một tỷ giá tính chéo theo phương pháp tính chéo quan trọng nhất là tỷ giá giữađồng Việt Nam với đồng Rúp của Liên Xô( Rúp Clearing) thì Việt Nam dựa vào tỷgiá giữa đồng Nhân Dân tệ với đồng Rúp Cleearing để xác định tỷ giá Rúp/ đồngViệt Nam Khi đó 1 CNY = 2 SUR Từ đó tính chéo ra đồng Việt Nam và có được
tỷ giá ; 1 SUR = 735 VND
Sau đợt đổi tiền ở Việt Nam 28 – 2 – 1959( 1 đồng Việt Nam mới bằng 1000 đViệt Nam cũ) thì tỷ giá với các đồng tiền trên mặc nhiên được điều chỉnh lại: 1CNY = 1,47 VND, 1 SUR = 0,735 VND Như vậy trị giá của 1 đồng Rúp chuyểnnhượng so với tiền Việt Nam chỉ bằng 1 nữa so với trị giá của đồng Nhân Dân tệvới Việt Nam.,
Đến đầu năm 1961, Liên Xô có sự điều chỉnh bản vị, hàm lượng vàng của đồngRúp đã được tăng hơn 4,44 lần, do đó tỷ giá cũng được điều chỉnh lại : 1SUR =3,27 VND
Đối với các loại ngoại tệ tư bản, như bảng Anh, đôla Hong Kong, Franc Pháp,đô laMỹ…thỉ tỷ giá của đồng Việt Nam cũng được Việt Nam ấn định thông qua phươngpháp tính chéo từ tỷ giá với các ngoại tệ đó với Rúp Liên Xô hoặc Nhân dân tệTrung Quốc Cụ thể là từ tháng 3 năm 1957 các tỷ giá đó được qui định như sau:
bố hàng ngày, thậm chí hàng giờ)
Bởi vậy tỷ giá chính thức này chỉ dùng để tính toán giữa nhà nước với các ngành,các địa phương,các đơn vị kinh tế quốc doanh…
Bước sang thập kỷ 70, vì cách “ tính chéo” từ các đồng Rúp và nhân dân tệ ra đô la
và các đồng tiền tư bản chủ nghĩa có những sai biệt quá lớn so với giá trị thực tế,
Trang 4cho nên dần dần phải chuyển sang một phương pháp tính tỷ giá chính thức khác:tính trực tiếp bằng cách đosức mua ngang giá của 2 đồng tiền trên 1 rổ hàng hóanhất định của 2 nước.
Năm 1973, nhà nước công bố và áp dụng tỷ giá chính thức(phi mậu dịch) của đồngViệt Nam với các ngoại tệ do chuyển đổi khác Tỷ giá này được hình thành theophương pháp ngang bằng sức mua, tính qua tỷ giá bình quân gia quyền của một sốhàng hóa và dịch vụ Giá cả của thị trường chính Việt Nam so với giá quốc tế lấy
từ 3 thị trường chủ yếu là Hong Kong, Băng Cốc và New York
Từ đây tỷ giá của đồng Việt Nam trước hết được xác định với Dola Mỹ Mức quiđịnh chính thức của Năm 1973 là 1USD = 3,21 VND Tỷ giá của đồng tiền ViệtNam so với các đồng tiền của các nước tư bản khác lại được tính chéo qua đô laMỹ theo tỷ giá trên thị trường thế giới tại thời điểm đó giữa đôla Mỹ và các ngoại
tệ khác
Tỷ trọng của loại tỷ giá này trong hoạt động kinh tế rất hạn hẹp, ý nghĩa kinh tếcủa nó cũng không đáng kể, chủ yếu dùng để thanh toán các khoản chi dịchvụ,phục vụ cho công tác đối ngoại của chính phủ như : tính các khoản chi phí củacán bộ Việt Nam đi công tác ở nước ngoài, chi phí của các cơ sở ở ngoại quốc củaViệt Nam như đại sứ quán, Thương vụ, các đoàn đại diện…Cũng chính vì khôngdùng để thanh toán trong các hoạt động thương mại nên ngoài cái tên là tỷ giáchính thức, nó còn được gọi cái tên là tỷ giá phi mậu dịch(PMD)
Về hình thức thanh toán:
Nếu là tiêu dùng mang tính chất cá nhân như người đi học hay công tác ở nướcngoài…thì dựa trên tỷ giá đã được xác định của đồng Việt Nam với đồng tiền củaquốc gia đó để tính lương của người đó khi sống ở nước ngoài.Trong trường hợpnày thì tỷ giá chính thức chỉ thuần túy là phương thức thanh toán trong nội bộ nướcViệt Nam,
Nếu chi tiêu mang tính chất tập thể, hình thức này được áp dụng là thanh toán songbiên với hiệp định Clearing…Nghĩa là việc chi tiêu này không được thanh toánbằng tiền mặt của bất cứ 1 bên nào Mọi khoản chi – tiêu,mua – bán, vay nợ – việntrợ đều được thanh toán dưới dạng ghi sổ Dựa trên việc cân đối sổ sách của haibên, hai chính phủ thanh toán các khoản nợ cho nhau bằng hàng hóa mà đôi bêncùng thỏa thuận Việc thanh toán này chỉ được thực hiện trực tiếp giữa hai quốc gia
mà không thực hiện qua một quốc gia nào khác Giá của các loại hàng hóa đềuđược cộng với 1 hệ số ưu đãi cho phía Việt Nam Đồng tiền thanh toán trongphương thức này được gọi là đồng tiền ghi sổ( ví dụ như Rúp Clearing của LiênXô)
Có thể thấy tỷ giá Phi mậu dịch dùng cho sinh viên du học nước ngoài vào năm
1959 được qui định như sau:
Trang 5CB số 43 – 1959 CÔNG BÁO NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG
HÒA
cứu sinh
Thực tậpsinh
Giá hốiđoái phimậu dịch
Đại học Trung cấp
Trung
Quốc
32đ Nhândân tệ
tế, nhằm đảm bảo được tính ngang bằng sức mua giữa các đồng tiền khi tính chéoqua đô la Mỹ
Về nguyên tắc đã có căn cứ trên sức mua ngang giá thực tế của các đồng tiền,nhưng do hệ thống giá nội tại của nền kinh tế Việt Nam lại là hệ thống giá qui địnhchính thức của nhà nước, thấp hơn nhiều so với giá mua thực tế của đồng tiền trênthị trường thị tự do, nên đã xuất hiện một khoản chênh lệch ngày càng lớn giữa tỷgiá chính thức với tỷ giá thực tế trên thị trường
Để thanh toán tài chính trong nước, Việt Nam đã đưa ra một tỷ giá dùng trong nội
bộ nền kinh tế Tỷ giá này dùng trên tỷ giá chính thức của hàng xuất và nhập khẩu
để tính toán sao cho cân đối với nhu cầu và kế hoạch tiêu dùng cũng như sản xuấttrong nước Có thể coi tỷ giá này là chị em song sinh của tỷ giá chính thức Đó là
tỷ giá kết toán nội bộ
2 Tỷ giá kết toán nội bộ.
Ngày 31- 5 – 1956, cùng với sự ra đời của tỷ giá chính thức, tỷ giá kết toán nội bộcũng được chính thức công bố và có hiệu lực
Tỷ giá kết toán nội bộ chiếm 1 dung lượng lớn trong việc điều phối các hoạt độngkinh tế trong nội bộ nền kinh tế Việt Nam Nó chiếm 97 – 98 % giao dịch ngoạithương Đây là xương sống của hệ thống tỷ giá Việt Nam Loại tỷ giá này được áp
Trang 6dụng để tính toán trong thanh toán kết hối giữa Ngân hàng với các tổ chức ngoạithương nhà nước, giữa ngân hàng với ngân sách nhà nước trong các khâu thanhtoán vay nợ, viện trợ nhà nước…
Trong các hoạt động ngoại thương, tỷ giá này được thực hiện kèm theo một cơ chếđặc biệt, gọi là chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương 9 phần này đã nói kỹ ở trongchương Ngoại thương)
Tỷ giá KTNB được xác định lúc bấy giờ trên cơ sở so sánh giá hàng xuất khẩu thubằng Rúp mậu dịch (RMD) và đô la Mỹ theo giá FOB với giá hàng nhập khẩu CIPđến cảng Hải Phòng, hình thành trong 3 năm 1995, 1956, 1957 Tỷ giá này là cơ sở
để nhà nước lập kế hoạch xuất, nhập, cân đối tài chính và tiến hành thu bù chênhlệch ngoại thương Tỷ giá KTNB được điều chỉnh theo quyết định của hội đồng tàichính tiền tệ trên cơ sở kiến nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Tỷ giá kết toán nội bộ có tác dụng như một chiếc van 2 chiều Dựa vào tỷ giá nàyNhà nước cũng định ra mức giá bán cung cấp cho từng loại mặt hàng nhằm phụ vụcho đời sống nhân dân, doanh nghiệp nhà nước và đảm bào ổn định thị phần có sứccông phá mạnh hơn cả sự cắt giảm viện trợ Đó là ảnh hưởng dây chuyền của tỷ giávới giá cả và nền sản xuất cũng như tiêu dùng trong nước
Tỷ giá KTNB năm 1958 là:
1 RMD = 5,64 đồng
1 USD = 4,21 đồng
Trên cơ sở tỷ giá kết toán nội bộ, khối lượng hàng nhập khẩu, loại hàng nhập khẩu
và tổng giá trị hàng nhập khẩu Nhà nước định ra mức tỷ giá cho từng loại hàngnhập, tỷ giá này gọi là tỷ giá hàng nhập.Rồi từ đó định ra mức giá bán buôn theotừng loại hàng đó gọi là giá bán buôn hàng nhập khẩu Nguyên nhiên vật liệu nhànước bán cho các cơ sở sản xuất kể cả công nghiệp hay nông nghiệp chủ yếu lànguồn nhập khẩu, và giá bán chính là giá bán buôn hàng nhập khẩu
Tỷ giá trao đổi áp dụng vào việc tính giá hàng nhập năm 1957 và năm 1958 ấnđịnh 1 đồng Rúp trị giá bằng 1270 đồng Ngân hàng Việt Nam; 1 đồng Nhân dân tệbằng 1190 đồng Ngân hàng Việt Nam
Đối với hàng nhập khẩu tiêu dùng thì cũng dựa trên tất cả các yếu tố về khối lượnghàng, tổng giá trị và tỷ giá kết toán nội bộ, UBVGNN định ra giá bán buôn, bán lẻcho từng loại hàng hóa thông qua hệ thống các của hàng quốc doanh để bán chongười tiêu dùng UBVGNN khi tính đến giá bán hàng nhập khẩu tiêu dùng đều dựatrên việc bảo hộ sản xuất hàng tiêu dùng trong nước và 5 nguyên tắc khi định giá
Tỷ giá kết toán nội bộ không chỉ là điều riêng có của Việt Nam Nó là cơ chếchung của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tậptrung Chúng ta có thể thấy rõ nội dung của tỷ giá kết toán nội bộ ở Việt Namthông qua một nhân xét về hệ thống xã hội chủ nghĩa như sau:
Kornai Janos, một nhà kinh tế học Hungarie chuyên nghiên cứu về hệ thống xã hộichủ nghĩa đã nhận xét:
Trang 7“ Trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển, doanh nghiệp bị cấm không được cócác quan hệ trực tiếp với nước ngoài Độc quyền thực hiện các giao dịch xuất nhậpkhẩu là các công ty ngoại thương Sự phân chia quyền hạn này đã tạo ra hố ngăncách giữa thị trường trong và ngoài nước Giá hàng hóa mà ngoại thương thanhtoán cho nước ngoài khi nhập khẩu hoặc được người nước ngoài trả khi xuất khẩukhông liên quan đến người sản xuất hay tiêu dùng thứ hàng hóa đó ở trong nước.
Sự tách rời của giá hàng nội địa khỏi giá hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu liên quanchặt chẽ đến việc thiếu tỷ giá hối đoái thống nhất giữa đồng nội tệ với từng loạingoại tệ Thông thường, tỷ giá hối đoái được xác định theo từng loại ngoại tệ, nên
nó có thể gây ra cảm tưởng rằng tỷ giá không thay đổi Nhưng thực tế thì tỷ giánày được điều chỉnh bởi các hệ số khác nhau( lớn hơn hoặc nhỏ hơn 1)
Đặc trưng cơ bản của hệ thống này là sự tách biệt gần như hoàn toàn giữa giá hàngtrong nước của sản phẩm với giá thế giới trong giao dịch ngoại thương
3 Tỷ giá kiều hối
Ở miền Bắc trước năm 1975, không có thị trường tự do về ngoại tệ Ai có ngoại tệcũng không thể chi tiêu được ở bất cứ cửa hàng nào Các cửa hàng tư nhân chỉ làcác cửa hàng nhỏ lặt vặt, ăn uống, dịch vụ, không dám nhận ngoại tệ, vừa vì sợphạm pháp, vừa do không có khả năng chuyển đổi ở bất cứ nơi nào Theo qui địnhthì ngoại tệ không được lưu hành tự do trên thị trường Ai có ngoại tệ nếu có nguồngốc chính đáng thì được đem tới đổi tại ngân hàng ra tiền Việt Nam để chi tiêu.Một số khách nước ngoài và thủy thủ cũng phải đổi theo tỷ giá do nhà nước quiđịnh Tỷ giá đó gọi là tỷ giá kiều hối Tỷ giá này( tính theo sức mua tương đương)được tính bằng tỷ giá chính thức giữa đồng Việt Nam với ngoại tệ đó cộng thêmphần trăm khuyến khích, là khoản chênh lệch giữa tỷ giá chính thức với tỷ giá trênthị trường tự do của ngoại tệ đó
Còn ngoại tệ đem vào trong nước dưới hình thức khách vãng lai, thủy thủ, chủ yếu
là khách du lịch thì không nhiều Với nguồn ngoại tệ này, Nhà nước quản lý bằngcách thành lập ra các cửa hàng bán giá ưu đãi, nếu là trường hợp tiêu dùng trựctiếp Ở đó tỷ giá cũng được áp dụng như đối với các trường hợp kiều hối nóichung, nhưng lại được cộng thêm 1 phần nhỏ trong ưu đãi về giá hàng Nhưng nếu là tiêudùng tự do thì ngoại tệ của họ buộc phải đổi qua Ngân hàng Nhà nước lấy tiền đồng theo tỷ giá kiều hối đã qui định
Mốc thời
gian
Tỷ giáKTNB(RCN)
Tỷ giá chínhthức ( R)
Tỷ giáTKNB( USD)
Tỷ giá chínhthức ( USD)
Trang 81963 1,92
Bảng biểu diễn các loại tỷ giá 1955 – 1975( tổng hợp số liệu của UBVGNN)
TỶ GIÁ TIỀN NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM SO VỚI RÚP (LIÊN XÔ) VÀ TIỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA SO VỚI USD 1955-1975
nhà nước Việt Nam
so với Rúp chuyển nhượng
(tỷ giá chính thức)
Tiền Cộng Hòa Việt Nam so với USD
Tỷ giá chính thứctại Sài Gòn(giá bán)
Tỷ giá trên thịtrường chợ đen tạiSài Gòn
Trang 91975 5,64 … …
II CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ THỜI KÌ 1989-1991
Đây là thời kì được đánh giá là thời kì chuyển tiếp cho sự thoát li chính sách tỷ
giá neo cố định Và trong bước đầu này nhà nước đã phải điều chính giảm giámạnh nội tệ và do sự thiếu kinh nghiệm trước sự tác đông bước đầu của cơ chếkinh tế thị trường dẫn đến việc mất khả năng kiểm soát Vì vậy thời kì này đượcnhiều nguời coi là thời kì “thả nổi” của tỷ giá
Thời kì này xét trên phương diện chính trị là thời kì biến đông lớn khi từng buớc
hệ thống Xã hội chủ nghĩa dần sụp đổ và thế mạnh của chủ nghĩa tư bản đang từngđược khẳng định và dần bước lên đỉnh thống trị Lúc này việc thương mại trongnội khối các nuớc XHCN không còn là một lợi thế nữa mà trở thành một trở lựclớn Chính sách tỷ giá cố định độc quyền không còn phù hợp bên cạnh đó việc neo
tỷ giá VN đồng theo nhân dân tệ sẽ dẫn đến những khó khăn, cũng như đồng Rúpcủa Nga dần bị thay bằng Đô la Mỹ
Khâu đột phá trong quá trình cải cách kinh tế, được xem là cực kì quan trọngtrong việc chuyển đổi và mở cửa nền kinh tế chính là việc cải cách chính sách tỷgiá hối đoái
Thật sự quá trình chuyển đổi đã được bàn thảo từ đầu những năm 80 tuy nhiên đến
1989 mới đựơc xem là có dấu ấn qua việc điều chỉnh lớn trong lĩnh vực ngân hàng.Nếu lúc trước chỉ tồn tại Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam đảm đương toàn bộ mọihoạt đông tài chính như phát hành tiền, cung cấp vốn, trung gian xuất nhập khẩuhàng hóa…, kể từ ngày 26/03/1988 đã tách hệ thống ngân hàng độc quyền thành 2cấp : Ngân hàng nhà nước và hệ thống Ngân hàng chuyên doanh
NHTW thực hiện chức năng vĩ mô, điều tiết các biến đông của nền kinh tế Hệthống ngân hàng chuyên doanh thực hiện chức năng “ kinh doanh” tiền tệ tín dụngtrong đó gồm các loại hình ngân hàng như ngân hàng ngoại thương hoạt đông vềlĩnh vực đối ngoại, ngân hàng công thương hoạt đông trong lĩnh vực công -thươngnghiệp, ngân hàng nông nghiệp và ngân hàng đầu tư
Nói về ngân hàng đầu tư tuy mang danh hoạt đông trong lĩnh vực đầu tư nhưngthật sự thì hoạt động như các ngân hàng bình thường khác Và thật sự cho đến bâygiờ vẫn chưa có một ngân hàng đầu tư thật sự ở Việt Nam
Kể từ thời điểm 1989 thì việc độc quyền trong kinh doanh ngoại hối ở ViệtNam đã được dỡ bỏ Từ thời điểm phân chia này thì trong việc kinh doanh ngoạihối các ngân hàng ngoại thương chỉ cần làm thủ tục để được ngân hàng nhà nướccấp phép Hoạt đông kinh doanh ngoại hối bắt đầu mở cửa theo hướng thị trườngđiều tiết tuy nhiên NHNN vẫn nắm vai trò đặt ra tỷ giá giao dịch chính thức
Đồng thời với cải cách tỉ giá thì chế độ quản lí cũng được cải cách hạn chếcác tiêu cực, khiến cho lưu thông ngoại hối được hướng vào các hoạt đông xuấtnhập khẩu do đó ngày càng thu hút luồng vốn ngoại tệ vào VN
Trang 10Tuy nhiên dù các cải cách có những tác đông tích cực nhưng tâm lí hoangmang tồn tại khá lớn làm cho tỷ giá khá bất ổn Tỷ giá bất ổn lại nhạy cảm với các
sự kiện kinh tế, chính trị, đặc biệt sự kiện Đông Âu năm 1990, khủng hoảng tíndụng ở VN 1990-1991 làm cho kinh tế luôn đối mặt với những cú sốc Thời kì nàychính phủ cũng đã lập ra quỹ dự trữ ngoại tệ để bình ổn giá cả và khi hệ thốngXHCN Đông Âu bị sụp đổ thì nhà nuớc đã thay thế tỉ giá cố định bằng sự điều tiếtcủa cung cầu thị trường
Đặc biệt trong thời kì này tỷ giá của VND/USD biến động mạnh theo hướng tăngdần tỷ giá với đồng USD lên giá đã làm nảy sinh việc đầu cơ USD do đó càng làmtăng thêm tỷ giá Giai đoạn này mọi cố gắn của nhà nước bị vô hiệu, ngân hàngkhông kiểm soát được lưu thông ngoại tệ vì vậy mà một tỉ giá ở đó VND gần như
bị thả nổi hoàn toàn được hình thành Mà nguyên nhân không chỉ tồn tại trong bảnthân cơ chế và sự hoạt động của các nhà đầu cơ mà còn vì lí do mất nguồn cungngoại tệ từ các nước Đông Âu
Tình trạng này đã dẫn đến lạm phát, khiến cho hàng nhập khẩu tăng mạnh gây bất
ổn đời sống do đó nhà nước đã phải thay đổi cách quản lí ngoại hối và đổi mới cơchế điều hành tỷ giá Nội dung chính của những thay đổi về chính sách và cơ chếbao gồm:
1 Mở trung tâm giao dịch ngoại tệ để ngân hàng và doanh nghiệp mua bán ngoại
tệ Trung tâm HCM được mở từ 8/1991
2 Bãi bỏ hình thức quy đinh nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương giữa ngânsách với các tổ chức kinh tế tham gia xuất nhập khẩu.Trên cơ sở tỷ giá hình thànhtại phiên giao dịch ngoại tệ NHNN công bố tỷ giá chính thức
Những điều này đã góp phần bình ổn tỉ giá do tâm lí đầu cơ ngoại tệ được hạnhiệt dần Nhưng cho dù vậy thì VN trong giai đoạn này chưa có một thị trườngngoại hối chính thức hoàn chỉnh đế gằn kết cung cầu tạo cơ sở đế NHNN xác đinh
tỷ giá chính thức một cách khách quan sát với cung cầu để thúc đẩy hoạt đông xuấtnhập khẩu lành mạnh, thu hút đầu tư nước ngoài Trong tình hình này thống đốcNHNN đã ra quyết đinh thành lập hai trung tâm giao dịch ngoại tệ ở TP HCM vàHN
Có thể nói thời kì 1989-1991 là thời kì mà nền kinh tế VN bị Đô la hóa khi màVND bị mất giá quá mạnh mọi người chuyển sang tích lũy USD và ưu tiên dùngcho các giao dịch lớn và tạo cơ hội cho đầu cơ tỷ giá Đây cũng là thời kì bộc lộnhững thiếu sót trong cung cách quản lý, xây dưng chính sách tỉ giá mà NN gặpphải nhưng cũng là một giai đoạn quan trọng trên con đường đến gần với mộtchính sách tỉ giá thả nổi có điều tiết bởi chính phủ
III CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ THỜI KÌ 1992-1999