ĐINH TỰ VŨ NGỌCNHẬN XÉT HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP INSULIN LIỀU CAO TRONG ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC THUỐC CHẸN KÊNH CANXI VÀ CHẸN BETA GIAO CẢM ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA II HÀ NỘI – 2017.
Trang 1ĐINH TỰ VŨ NGỌC
NHẬN XÉT HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP INSULIN LIỀU CAO TRONG ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC THUỐC CHẸN KÊNH CANXI
VÀ CHẸN BETA GIAO CẢM
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA II
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐINH TỰ VŨ NGỌC
NHẬN XÉT HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP INSULIN LIỀU CAO TRONG ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC THUỐC CHẸN KÊNH CANXI
VÀ CHẸN BETA GIAO CẢM
Chuyên ngành : Hồi sức cấp cứu
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA II
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Hà Trần Hưng
2 TS Phạm Thị Vân Anh
Trang 3AV Atrioventricular: Nút nhĩ thất
BB Beta blocker: Thuốc chẹn beta giao cảm
CCB Calcium channel blocker: Thuốc chẹn kênh canxi
CO Cardio output: Cung lượng tim
HDI Hight dose insulin: Liệu pháp insulin liều cao
SA Sinoatrial: Nút xoang
SR Sarcoplasmic reticulum: Lưới bào tương
SVR Systemic vascular resistance: Sức cản mạch hệ thống RyR Ryanodine recepter: Thụ thể ryanodine
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về ngộ độc thuốc chẹn kênh calci, thuốc chẹn beta và liệu pháp insulin liều cao 3
1.1.1 Sinh lý sự co tế bào cơ tim và cơ trơn mạch máu 3
1.1.2 Thuốc chẹn kênh calci 7
1.1.3 Thuốc chẹn beta giao cảm 12
1.1.4 Xử trí ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta 16
1.1.5 Liệu pháp insulin liều cao 20
1.2 Các nghiên cứu về liệu pháp insulin liều cao 24
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 24
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 25
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân 26
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.2.3 Cỡ mẫu 26
2.2.4 Phương pháp chọn mẫu 27
2.2.5 Các phương tiện nghiên cứu 27
2.2.6 Tiến hành nghiên cứu 27
2.2.7 Các biến số nghiên cứu 31
Trang 52.3 Phương pháp xử lý số liệu 34
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 34
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 35
3.1 Đặc điểm chung của nhóm BN nghiên cứu 35
3.1.1 Tuổi – giới 35
3.1.2 Tiền sử bệnh tật 36
3.1.3 Nguyên nhân ngộ độc cấp 36
3.1.4 Loại thuốc CCB, BB hoặc kết hợp 36
3.1.5 Thời gian uống đến lúc xuất hiện triệu chứng: 37
3.1.6 Thời gian uống đến lúc đến viện 37
3.1.7 Thời gian xuất hiện triệu chứng đến lúc dùng liệu pháp insulin liều cao 37
3.1.8 Mức độ nặng trên lâm sàng 38
3.1.9 Tổng thời gian dùng liệu trình 38
3.1.10 Liều uống 38
3.1.11 Liều insulin dùng 38
3.1.12 Có thể đánh giá mối liên quan giữa 38
3.2 Hiệu quả của liệu pháp insulin liều cao trong điều trị ngộ độc cấp thuốc chẹn kênh calci và thuốc chẹn bêta 38
3.2.1 Đánh giá kết quả của liệu pháp 38
3.2.2 Nghiên cứu mối liên quan của từng nhóm sống/ tử vong, di chứng với các biến khác 41
3.3 Các tác dụng không mong muốn của liệu pháp insulin liều cao: 42
3.3.1 Hạ glucose máu 42
3.3.2 Hạ kali máu 43
Trang 6Dựa vào mục tiêu và kết quả nghiên cứu 44
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 1.1 Các thuốc chẹn kênh calci 8
Bảng 1.2 Phân loại thuốc chẹn beta giao cảm 13
Bảng 1.3 Giá trị ngưỡng và liều thấp nhất gây ngộ độc của thuốc chẹn beta 17
Bảng 1.4 Giá trị ngưỡng và liều thấp nhất gây độc của thuốc chẹn calci 18
Bảng 3.1 Đặc điểm phân bố theo tuổi 35
Bảng 3.2 Đặc điểm phân bố theo giới 35
Bảng 3.3 Tiền sử bệnh nhân 36
Bảng 3.4 Nguyên nhân ngộ độc cấp 36
Bảng 3.5 Tác nhân ngộ độc 36
Bảng 3.6 Thời gian xuất hiện triệu chứng 37
Bảng 3.7 Thời điểm vào viện 37
Bảng 3.8 Thời điểm bắt đầu liệu pháp HDI 37
Bảng 3.9 Mức độ nặng trên lâm sàng 38
Bảng 3.10 Tổng thời gian dùng HDI 38
Bảng 3.11 Thời gian huyết áp tối đa > 90 mmHg sau dùng HDI 39
Bảng 3.12 Nhịp tim trước HDI 39
Bảng 3.13 Nhịp tim trong HDI 39
Bảng 3.14 Hiệu quả cải thiện nhịp tim của HDI 40
Bảng 3.15 Kết quả điều trị 40
Bảng 3.16 Thời gian nằm viện 40
Bảng 3.17 Liên quan giữa kết quả điều trị với tác nhân ngộ độc 41
Bảng 3.18 Liên quan giữa kết quả điều trị với thời điểm dùng HDI 41
Bảng 3.19 Liên quan giữa kết quả điều trị với mức độ ngộ độc 42
Bảng 3.20 Liên quan giữa kết quả diều trị với tiền sử bệnh tim mạch 42
Bảng 3.21 Tỷ lệ hạ Glucose máu do HDI 42
Bảng 3.22 Tần suất xuất hiện biến chứng của HDI 43
Bảng 3.23 Thời điểm xuất hiện biến chứng hạ glucose 43
Trang 8Hình 1.1: Vai trò dòng Calci sau khi qua kênh 5Hình 1.2: Tác dụng của BB và CCB trên co bóp cơ tim và cơ chế tác dụng
của các liệu pháp điều trị đặc hiệu 21
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngộ độc thuốc chẹn kênh calci (CCB) và thuốc chẹn beta giao cảm(BB) gây độc tính nặng trên hệ thống tim mạch bao gồm rối loạn nhịp tim,giảm co bóp cơ tim, giãn mạch hệ thống, tụt huyết áp và sốc tim, với tần xuấtmắc và tỷ lệ tử vong cao Theo báo cáo của Hiệp hội các Trung tâm chốngđộc Hoa Kỳ, tình trạng ngộ độc 2 nhóm thuốc trên có xu hướng gia tăng vàphức tạp do xuất hiện các công thức thuốc giải phóng chậm cũng như mởrộng chỉ định điều trị và phối hợp điều trị giữa 2 nhóm Tại Việt Nam, cònchưa có báo cáo chính xác, tuy nhiên số bệnh nhân ngộ độc thuốc chẹn kênhcalci và chẹn beta vào Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai cũng ngàycàng thường gặp hơn, và hầu hết đều có biểu hiện độc tính tim mạch nặng đedọa tính mạng
Nhiều biện pháp điều trị ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta đãđược đề xuất và áp dụng như truyền dịch, truyền calci, dùng glucagon,atropin, thuốc vận mạch, tăng co bóp cơ tim, vasopresin, liệu pháp nhũ dịchlipid, đặt máy tạo nhịp, ECMO Tuy nhiên, các biện pháp điều trị thôngthường trên thường không cải thiện được tình trạng huyết động và đảm bảocứu sống những bệnh nhân ngộ độc nặng; ngoài ra các can thiệp thường quycũng có những bất lợi như thuốc vận mạch catecholamin có thể làm tănghuyết áp và nhịp tim, nhưng cũng làm tăng sức cản mạch ngoại vi (SVR) cóthể dẫn đến sự giảm cung lượng tim (CO) và giảm tưới máu của vi tuần hoàn;nhu cầu oxy của cơ tim gia tăng có thể gây nguy hiểm trong điều kiện hạhuyết áp và giảm sự tuới máu mạch vành
Trong khi đó, gần đây các số liệu từ thực nghiệm trên động vật vànghiên cứu lâm sàng cho thấy liệu pháp insulin liều cao (high-dose insulinHDI) có hiệu quả ổn định huyết động hơn các biện pháp thông thường, được
Trang 10ủng hộ là liệu pháp điều trị đặc hiệu trong ngộ độc thuốc chẹn kênh calci vàchẹn beta nặng Do insulin luôn có sẵn ở các cơ sở y tế, các nghiên cứu chotới nay đều cho thấy liệu pháp điều trị đặc hiệu này rất ít tác dụng khôngmong muốn nên càng được ủng hộ trong các khuyến cáo điều trị.
Cơ chế đảo ngược độc tính tim mạch của insulin liều cao đã đượcchứng minh, bao gồm: tăng co bóp cơ tim, tăng vận chuyển glucose nội bào
và giãn mạch Các nghiên cứu trên mô hình động vật đã cho thấy insulin liềucao cải thiện tỷ lệ sống cao hơn so với các biện pháp sử dụng calcium,glucagon, vasopresin, thuốc vận mạch catecholamin Hiện nay tuy còn thiếucác thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, nhưng các bằng chứng từ các nghiêncứu loạt ca bệnh, nghiên cứu gộp đã đưa dến khuyến cáo đồng thuận của cáchiệp hội chống độc Mỹ, châu Âu và Úc khẳng định việc sử dụng liệu phápinsulin liều cao là điều trị đầu tay, đặc hiệu cho ngộ độc thuốc chẹn kênh calci
và chẹn beta nặng hoặc có triệu chứng tim mạch
Tại Trung tâm Chống Độc bệnh viện Bạch Mai, liệu pháp insulin liềucao đã được áp dụng một số năm ở tất cả bệnh nhân ngộ độc thuốc chẹn kênhcalci và chẹn beta mức độ trung bình đến nặng Các nhận định lâm sàng banđầu cho thấy insulin liều cao có hiệu quả cải thiện huyết động bền vững vàgiúp cứu sống bệnh nhân; tuy nhiên, chưa có nghiên cứu tổng kết và đánh giá
Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Nhận xét hiệu quả của liệu
pháp insulin liều cao trong điều trị ngộ độc cấp thuốc chẹn kênh calci và thuốc chẹn bêta giao cảm”, với 2 mục tiêu:
1 Đánh giá hiệu quả của liệu pháp insulin liều cao trong điều trị ngộ độc cấp thuốc chẹn kênh calci và thuốc chẹn bêta tại Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai.
2 Nhận xét các tác dụng không mong muốn của liệu pháp insulin liều cao.
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về ngộ độc thuốc chẹn kênh calci, thuốc chẹn beta và liệu pháp insulin liều cao
Độc tính trên tim mạch khi uống quá liều thuốc chẹn kênh calci và chẹnbeta ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình: co bóp cơ tim, giãn cơ trơn mạchmáu, khử cực tế bào tạo nhịp và hệ thống dẫn truyền trong tim; cũng như liênquan chặt chẽ đến chuyển hóa, chuyển đổi sử dụng năng lượng của tế bào cơtim ở trạng thái bình thường và bệnh lý, mà insulin đóng một vai trò quan
trọng trong đảo ngược các cơ chế độc trên Ngoài ra, tăng đường huyết là
một biểu hiện của ngộ độc thuốc chẹn kênh calci nặng do quá liều thuốc chẹnkênh calci chặn kênh calci kiểu L ở tế bào beta tiểu đảo tụy làm giảm sự giảiphóng insulin và thuốc chẹn kênh calci can thiệp vào sự vận chuyển glucosevào tế bào qua phosphotidyl inositol 3 kinase
1.1.1 Sinh lý sự co tế bào cơ tim và cơ trơn mạch máu
Hoạt động của tim là kết hợp sự co, giãn của bào cơ tim tương ứng bởi
sự gia tăng và giảm nồng độ calci nội bào được điều chỉnh chặt chẽ bởi hệthần kinh giao cảm
1.1.1.1 Vai trò kênh calci và dòng calci nội bào.
Có nhiều loại kênh calci, bao gồm các loại L, N, P, T, Q và R, có thểtìm thấy bên trong lưới bào tương hoặc trên màng tế bào, đặc biệt là ở môthần kinh và mô tiết
Kênh calci hoạt động phụ thuộc điện thế kiểu L (long acting) có nhiềutrong cơ tim và cơ trơn thành mạch
Trang 12Trong thời kỳ tâm thu, các kênh calci L trên màng tế bào cơ tim mở rađáp ứng với khử cực tế bào (pha 2 của điện thế hoạt động) cho phép calci vào
tế bào theo garient nồng độ Tăng nồng độ calci nội bào xảy ra sau khi mở cáckênh calci kiểu L kích hoạt việc mở kênh calci hoạt động với thụ thể trên lướibào tương, được gọi là thụ thể ryanodine (RyR), dẫn đến sự phóng thíchlượng calci lớn từ lưới nội bào - hiện tượng được gọi là sự phóng thích calciphụ thuộc vào calci Sau khi được phóng thích khỏi lưới nội bào, calci nội bàokết hợp với troponin C và cho phép sự tương tác giữa actin-myosin tạo ra sự
co tế bào cơ tim Sức co mạnh hay yếu tỷ lệ với lượng calci phóng thích từlưới nội bào trong quá trình khử cực, một phần phụ thuộc vào mức độ dự trữcalci lưới nội bào
Trong thời gian tâm trương, một số bơm ion chủ động loại bỏ calci từ
tế bào chất Quan trọng nhất trong số này là calciATPase ở lưới nội bào canthiệp vào việc bơm calci từ tế bào chất vào lưới nội bào và bơm vận chuyểncalci-natri trao đổi một ion calci với 3 ion natri CalciATPase của lưới nội bàorất quan trọng để duy trì các lượng calci của lưới nội bào và được sinh ra khikích thích thụ thể beta adrenergic Khi nồng độ calci giảm trong thời gian tâmtrương, calci sẽ tách ra khỏi troponin, và sự giãn cơ xảy ra
Ngoài vai trò trong co bóp cơ tim, dòng calci cũng rất quan trọng trongdẫn truyền cơ tim Dòng calci đóng một vai trò quan trọng trong tự khử cực(giai đoạn 4) của điện thế hoạt động trong nút xoang Sự xâm nhập của dòngcalci cũng cho phép dẫn truyền các xung điện trong hệ thống dẫn truyền củatim, đặc biệt là nút nhĩ thất (AV)
Trong cơ trơn động mạch, dòng calci kích thích myosin light-chairkinase qua calmodulin, kích hoạt liên kết myosin và actin, tạo ra sự co tế bào
cơ
Trang 13Hình 1.1: Vai trò dòng Calci sau khi qua kênh
Nguồn: Dược lý học lâm sàng(2004),tr389.
VOC; kênh hoạt động theo điện áp SR: lưới bào tương.
1.1.1.2 Vai trò của các receptor beta- adrenergic
Receptor beta-adrenergic gồm 3 loại chính: beta1 có nhiều trên cơ tim,
tế bào cận cầu thận; beta2 có nhiều trên cơ trơn mạch máu, cơ trơn phế quản,
cơ vân; và beta3 ít biết đến, có trên mô mỡ và tim
Mọi receptor beta đều kích thích adenylcyclase thông qua các protein G
và làm tăng AMP vòng (cAMP) ngoài ra còn kích thích kênh calci cảm ứngvới điện thế của tế bào cơ vân và cơ tim
Trong điều kiện bình thường, nhịp tim được xác định bởi tốc độ tự khửcực tâm trương của các tế bào tạo nhịp, thường là tế bào nút xoang Kích thíchbeta-adrenergic làm tăng đáng kể tốc độ tự khử cực tế bào tạo nhịp bằng cáchphosphoryl hóa các protein SR và phosphoryl hóa trực tiếp cAMP ở các tếbào tạo nhịp tim Sự khử cực của các tế bào trong nút xoang bắt đầu một dòngđiện di chuyển từ tế bào sang tế bào, dọc theo những con đường chuyên biệtcủa hệ thông dẫn truyền thần kinh tim, để khử cực toàn bộ tim Sự khử cựcnày liên quan đến sự gia tăng dòng calci vào nội bào
Trang 14Thụ thể beta1 adrenergic kết hợp với protein G, khi receptor được kíchthích sẽ kích hoạt adenylcyclase Điều này làm tăng sản xuất cAMP nội bào,liên kết và kích hoạt protein kinase A và các protein kinase phụ thuộc cAMPkhác Protein kinase A lần lượt phosphoryl hóa các protein quan trọng trong
tế bào cơ bao gồm phospholamban, kênh calci phụ thuộc điện thế L, thụ thểryanodine (RyR), và troponin C Phosphoryl hóa của kênh calci loại L làmtăng co bóp bằng cách tăng dòng calci vào nội bào trong mỗi lần khử cực tếbào, kích hoạt sự phóng thích Ca2+ từ lưới nội bào Phosphoryl hóa của cáckênh RyR dẫn đến phóng thích nhanh Ca2+ từ lưới nội bào Phospholamban ứcchế calciATPase của lưới nội bào Phosphoryl hoá phospholamban loại bỏ sự
ức chế này và làm tăng hoạt tính của calciATPase, làm tăng Ca2+ dự trữ tronglưới nội bào và do đó tăng co bóp Tăng hoạt tính của calciATPase lưới nộibào cũng dẫn đến việc loại bỏ nhanh calci trong tế bào chất, giúp giãn tế bào
cơ tim trong thì tâm trương Phosphoryl hóa troponin C giải phóng Ca2+ từliên kết với troponin C do đó tăng cường sự giãn của tế bào cơ tim
Ngoài ra, kích thích beta1 adrenergic làm tăng tiết renin dẫn đến tănghuyết áp; Kích thích beta2 adrenergic gây giãn cơ trơn động mạch làm giảmsức cản mạch ngoại vi và giảm huyết áp Kích thích beta3 có thể giảm co bóp
cơ tim
1.1.1.3 Vai trò của chuyển hóa và sử dụng năng lượng nền.
Trong điều kiện bình thường, cơ tim sử dụng năng lượng nền từ chuyểnhóa acid béo tự do Trong tình trạng stress, nguồn năng lượng cơ bản đượcchuyển đổi sang cacbonhydrat Mức độ sốc càng lớn thì nhu cầu vềcarbohydrat càng lớn
Mặt khác cơ tim chịu đựng chuyển hóa yếm khí kém Trong tình trạngstress, thiếu hụt cacbonhydrat và oxy tế bào làm nặng hơn suy chức năng cơtim
Trang 151.1.2 Thuốc chẹn kênh calci
1.1.2.1 Lịch sử
Thuốc chẹn kênh calci lần đầu tiên được đưa ra thị trường tại Hoa Kỳvào cuối những năm 1970 Thuốc được sử dụng cho nhiều bệnh, bao gồmtăng huyết áp, đau thắt ngực ổn định, loạn nhịp tim, đau đầu migraine, vàchứng Raynaud
1.1.2.2 Phân loại
Các thuốc chẹn kênh calci có tác dụng dược lý bằng cách đối kháng vớicác kênh calci phụ thuộc điện thế L và được phân thành ba nhóm cấu trúc hóahọc Mỗi nhóm lại được phân làm các thế hệ liên quan đến công thức phóngthích nhanh hoặc kéo dài
Mỗi nhóm liên kết một vùng khác nhau của tiểu đơn vị alpha của kênhcalci Cấu trúc và vị trí liên kết quyết định tác dụng ưu tiên của mỗi nhóm trên
cơ tim hoặc cơ trơn mạch máu (Bảng 1.2)
Verapamil và diltiazem có tác động ức chế mạnh trên mô nút xoang vànút nhĩ thất, trong khi nhóm các dihydropyridin có ít tác động trên cơ tim ởliều điều trị Verapamil và diltiazem được sử dụng trong điều trị tăng huyết
áp, giảm nhu cầu oxy cơ tim, kiểm soát tần số thất trong rung nhĩ, và để loại
bỏ các cơn nhịp nhanh thất Dihydropyridin thường được sử dụng để điều trịcác bệnh mạch máu ngoại biên như tăng huyết áp, hiện tượng Raynaud, cơnPrinzmetal, đau đầu vận mạch, co thắt mạch
Một nhóm thuốc chẹn kênh calci thứ tư, đôi khi được gọi là "khôngchọn lọc", bao gồm mibefradil và bepridil, thuốc không còn tồn tại ở Hoa Kỳ
vì các tác dụng không mong muốn của thuốc
Trang 16Bảng 1.1: Các thuốc chẹn kênh calci
Nguồn: Dược lý học lâm sàng(2004), tr 390
1.1.2.3 Dược động học
Tất cả các thuốc chẹn kênh calci đều được hấp thu tốt qua đường uống vàqua quá trình oxy hóa ở gan chủ yếu qua hệ thống enzym cytochrom P450(isoenzyme CYP3A4) [5] Norverapamil, được hình thành bởi N-demethyl hóaverapamil, là chất chuyển hoá hoạt động duy nhất và giữ lại 20% hoạt tính củahợp chất gốc Diltiazem chủ yếu là deacetyl hóa thành deacetyldiltiazem có hoạttính tối thiểu, được loại bỏ qua đường mật Sau dùng liều lặp lại, cũng như quáliều, các enzym gan này trở nên bão hòa, làm giảm chuyển hóa bước đầu và tănghấp thu hệ thống lượng thuốc dạng hoạt động, góp phần kéo dài thời gian bánthải Tác dụng này dã được báo cáo cụ thể trong các trường hợp quá liều cácthuốc chẹn kênh calci khác nhau [5]
Tất cả các thuốc chẹn kênh calci đều gắn protein cao Thể tích phân bốlớn đối với verapamil (5,5 lít/kg) và diltiazem (5,3 lít/kg), và nhỏ hơn đối vớinifedipin (0,8 L/kg) Điều trị ngộ độc thuốc chẹn kênh calci bằng thẩm táchmáu không có giá trị do các đặc tính này [5]
Tương tác thuốc: CYP3A4 chuyển hóa hầu hết các thuốc chẹn kênhcalci, cũng chịu trách nhiệm oxy hóa ban đầu của nhiều chất khác Verapamil
và diltiazem tác dụng cạnh tranh trên isoenzym này và có thể làm giảm sựgiải phóng của nhiều loại thuốc khác bao gồm carbamazepin, cisaprid,quinidin, các chất ức chế reductase A (HMGCoA), cyclosporin [5]
Trang 171.1.2.4 Cơ chế tác dụng và ngộ độc
Cơ chế tác dụng của các thuốc chẹn kênh calci liên quan đến sự ức chếcác kênh calci phụ thuộc điện thế kiểu L trên màng tế bào cơ tim và cơ trơnmạch máu, ngăn chặn dòng calci vào nội bào, làm giảm nồng độ calci nộibào, ảnh hưởng đến hàng loạt con đường gây co cơ dựa vào nồng độ calci như
đã mô tả trong sinh lý co cơ tim và cơ trơn mạch máu
Trong cơ tim, giảm dòng calci dẫn đến giảm lực co bóp Ngoài ra,chậm phục hồi của các kênh calci chậm trong nút xoang và nút nhĩ thất dẫnđến giảm nhịp tim và dẫn truyền Trong cơ trơn mạch máu, nồng độ calci nộibào giảm sút gây giãn mạch và hạ huyết áp
Sự khác biệt về tác dụng dược lý giữa các thuốc chẹn kênh calci trên cơtim và cơ trơn mạch là kết quả của sự tương đồng khác nhau của chúng đốivới các kênh calci kiểu L khác nhau Trong cơ tim, verapamil có tác động rõnhất, trong khi diltiazem có ít hơn và dihydropyridin thường không có tác động ởliều điều trị
Ngoài ra, sự phong tỏa dòng Ca và sự phục hồi kênh Ca trong cơ timcủa verapamil và diltiazem tăng lên khi tần số mở kênh tăng lên Do đó, trongmột mô thường xuyên co bóp như cơ tim, tác dụng ức chế của verapamil vàdiltiazem sẽ tăng lên Trong mô mạch ngoại vi, dihydropyridin có tác dụnggiãn mạch mạnh nhất, verapamil tiếp theo và diltiazem tác dụng yếu nhất.Dihydropyridin liên kết kênh calci tốt nhất ở mức âm của điện thế nghỉ củamàng ít hơn Bởi vì điện thế nghỉ của tế bào cơ tim (-90 mV) thấp hơn so với
cơ trơn mạch máu (-70mV), dihydropyridin liên kết mạnh hơn trong mô mạchngoại vi
Tóm lại, verapamil có hiệu quả nhất trên nhịp tim và giảm huyết áp,trong khi dihydropyridin làm giảm đáng kể sức cản mạch máu Do cácdihydropyridin có hiệu lực cơ tim hạn chế ở nồng độ điều trị, phản xạ của
Trang 18receptor áp lực vẫn còn và gây tăng nhẹ nhịp tim Isradipin là chấtdihydropyridin duy nhất có tác dụng ức chế lên nút xoang đủ lớn để hủy bất
kỳ phản ứng tim nhanh phản xạ nào
Giảm co bóp cơ tim và sự giãn mạch ngoại vi gây nhịp tim chậm và hạhuyết áp
+ Ngộ độc thuốc chẹn kênh calci là sự mở rộng tác dụng điều trị củacác thuốc này Do đó, ngoài những yếu tố ngộ độc chung như liều uống, thờigian uống, nguyên nhân ngộ độc, tuổi và bệnh lý nền, những yếu tố quyếtđịnh biểu hiện ngộ độc bao gồm nhóm thuốc, vị trí tác động và công thứcphóng thích nhanh hay kéo dài
Các thuốc chẹn kênh calci có tác động cơ tim đáng kể (verapamil,diltiazem) ảnh hưởng đến co bóp và nhịp tim Các tác động ức chế co bóp cơtim có thể rất nặng nề, đặc biệt với verapamil Co bóp thất trái có thể bị ứcchế hoàn toàn Bệnh nhân ban đầu có thể không có triệu chứng nhưng xấu đinhanh chóng và gây ra sốc tim nặng Sự tạo nhịp và dẫn truyền trên cơ tim cóthể suy giảm, gây nhịp chậm xoang và block nhĩ thất các mức độ Trong ngộđộc thuốc chẹn kênh calci, nhịp tim chậm và hạ huyết áp là 2 dấu hiệu quantrọng nhất
Ngược lại, nifedipin và các dihydropyridin khác do sự liên kết giới hạnvới cơ tim, có thể tạo ra nhịp tim nhanh phản xạ hoặc nhịp tim "bình thường".Dấu hiệu nhịp tim chậm xảy ra ở những bệnh nhân uống liều cao, ngộ độcnặng Biểu hiện ngộ độc quan trọng của nhóm dihydropyridin là giãn mạch hệthống gây tụt huyết áp mạnh
Mặc dù các ca tử vong thường liên quan nhiều hơn với verapamil vàdiltiazem nhưng chúng vẫn xảy ra với các dihydropyridin
Một điều lưu ý là tác động chọn lọc trên thụ thể bị mất khi dùng quáliều, và tất cả các thuốc chẹn kênh calci có thể gây ra nhịp tim chậm, hạ huyết
áp, sốc và tử vong
Trang 19Các biểu hiện thần kinh trung ương liên quan đến mức độ suy timmạch Triệu chứng ban đầu thường gồm chóng mặt, mệt mỏi và chóng mặt,khi các bệnh nhân ngộ độc nặng có thể biểu hiện rối loạn ý thức, hôn mê và tửvong Biểu hiện thần kinh trung ương nặng, độc lập là hiếm gặp, và nếu suy
hô hấp hoặc hôn mê xuất hiện mà không có hạ huyết áp nặng thì nên xem xétngộ độc phối hợp hoặc các nguyên nhân rối loạn ý thức khác
Co giật, thiếu máu não, thiếu máu cục bộ và suy thận sớm xảy ra khi cóbiểu hiện tim mạch do thuốc chẹn kênh calci gây ra
Tổn thương phổi cấp cũng liên quan đến ngộ độc thuốc chẹn kênhcalci Mặc dù cơ chế không được biết, giãn mạch nhanh trước mao mạch cóthể gây tăng áp lực thủy tĩnh, làm tăng vận chuyển mao mạch phổi và cuốicùng là phù phổi
Các triệu chứng tiêu hóa, như buồn nôn và nôn có thể gặp nhưng khôngphổ biến
Tăng đường huyết thường gặp ở bệnh nhân bị ngộ độc thuốc chẹn kênhcalci nặng Phóng thích insulin từ các tế bào beta tiểu đảo tụy phụ thuộc vàodòng calci thông qua kênh calci kiểu L Trong quá liều thuốc chẹn kênh calci,kênh này bị chặn, làm giảm sự giải phóng insulin gây thiếu insulin tuần hoàn.Thiếu insulin tuần hoàn này làm giảm chuyển hóa carbohydrat trong tim bằngcách ngăn chặn hấp thu và sử dụng glucose của cơ tim Ngoài ra, các bằngchứng còn cho thấy thuốc chẹn kênh calci can thiệp vào sự vận chuyểnglucose vào tế bào qua con đường phosphotidyl inositol 3 kinase (con đườngtín hiệu qua trung gian tế bào của insulin) Do sự giảm insulin tuần hoàn và
ức chế hấp thu glucose thông qua con đường enzym, glucose vào tế bào chỉcòn phụ thuộc vào nồng độ và không đủ hỗ trợ nhu cầu cơ tim Giảm sinhnăng lượng kết hợp với giảm lượng calci vào tế bào sẽ dẫn đến ức chế co bóp
và tạo nhịp
Trang 20Thuốc chẹn kênh calci còn ức chế của pyruvat dehydrogenase, enzymchịu trách nhiệm chuyển pyruvat thành acetylcoenzym A (acetyl-CoA) Kếtquả là pyruvat được chuyển thành lactat, thay vì acetyl-CoA để đi vào chutrình Krebs Lactat sau đó tích lũy Suy co bóp cơ tim và giãn mạch ngoại vigây ra sốc nặng Khi đó toan chuyển hóa sẽ tiến triển Toan chuyển hóa tănglactat là biểu hiện của thuốc chẹn kênh calci nặng
Các chế phẩm (dạng phóng thích ngay hoặc kéo dài) ảnh hưởng đến sựxuất hiện triệu chứng và thời gian của tác dụng độc Với các công thức phóngthích thường, triệu chứng thường xuất hiện trong vòng 2 đến 3 giờ sau uống.Tuy nhiên, với các sản phẩm giải phóng chậm, các dấu hiệu hoặc triệu chứngban đầu có thể trì hoãn trong khoảng từ 6 đến 8 giờ, có báo cáo xuất hiện chậmđến 15 giờ Ngoài ra, với việc uống dạng có chất làm bền vững hoạt chất, thờigian bán thải kéo dài và độc tính có thể tới hơn 48 giờ
Bệnh lý nền kèm theo và cao tuổi là hai yếu tố ảnh hưởng xấu đến cả tỷ
lệ biến chứng và tử vong ở bệnh nhân bị ngộ độc thuốc chẹn kênh calci Bệnhnhân cao tuổi và những người có bệnh tim mạch như suy tim, nhạy cảm hơnvới các tác dụng độc trên cơ tim Ngay cả ở liều điều trị, những người nàythường xuất hiện triệu chứng suy nhược nhẹ, như chóng mặt và mệt mỏi Mộthoặc hai viên của bất kỳ thuốc chẹn kênh calci nào có thể gây ngộ độc đáng
Trang 21đầu những nǎm 1950 (thí dụ: phentolamin và phenoxybenzamin), nhưng mãiđến tận nǎm 1967 một thuốc chẹn beta là propranolol mới được đưa ra thịtrường Tiếp theo là các thuốc ức chế cũng như các thuốc kích thích chọn lọcbeta1 và beta2 Hiện nay, trên thị trường có ít nhất 15 thuốc chẹn beta, được sửdụng rộng rải trong lâm sàng, đặc biệt trong điều trị suy tim mạn tính còn bù
và bệnh lý mạch vành
1.1.3.2 Phân loại
Việc phân loại các thuốc chẹn beta dựa trên các tác dụng dược lý củacác thuốc trong nhóm, bao gồm: tính chọn lọc trên các thụ thể betaadrenergic, tác dụng ổn định màng, hoạt tính nội tại kích thích thụ thể betaadrenergic Điều này thực sự quan trọng trong thực hành lâm sàng cũng nhưtrong đánh giá độc tính của thuốc chẹn beta khi quá liều (Bảng 1.2)
Bảng 1.2: Phân loại thuốc chẹn beta giao cảm
EsmololAtenololCường nội tại
beta
AlprenololOxpenolol Pindolol
AcebutololMetoprololPractolol
Nguồn: Dược lý học lâm sàng(2004), Tr 113
1.1.3.3 Dược động học
Các đặc tính dược động học của thuốc đối kháng beta adrenergic phụthuộc phần lớn vào khả năng tan trong lipid Propranolol là chất tan tronglipid nhất, và atenolol là chất tan trong nước nhất Sinh khả dụng đường uống
Trang 22dao động từ khoảng 25% (propranolol) đến gần 100% (pindolol vàpenbutolol) [2], [5].
Các thuốc tan lipid cao qua màng lipid nhanh và tập trung vào mô mỡ.Những tính chất này cho phép chúng xâm nhập nhanh vào hệ thống thần kinhtrung ương và thường dẫn đến thể tích phân bố lớn Ngược lại, thuốc tan trongnước cao qua màng lipid kém, phân phối trong nước trong cơ thể, và có khuynhhướng có độc tính thần kinh trung ương thấp hơn Thể tích phân bố dao động
từ khoảng 1 L/kg (atenolol) đến hơn 100 L/kg đối với carvedilol [2], [5]
Thuốc chẹn beta tan trong lipid, gắn protein cao và do đó ít thải trừ quathận Thường cần chuyển hóa ở gan trước khi có thể được loại bỏ và có xuhướng tích tụ ở bệnh nhân suy gan Ngược lại, Thuốc chẹn beta tan trongnước có xu hướng bị hấp thụ chậm, gắn protein thấp và thải trừ qua thận.Chúng có xu hướng tích tụ ở bệnh nhân suy thận Esmolol, mặc dù hòa tantrong nước, được chuyển hóa nhanh chóng bằng các esterase hồng cầu vàkhông tích tụ trong suy thận Nửa đời sống của esmolol khoảng 8 phút Thờigian bán thải của các thuốc chẹn beta khác từ khoảng 2 giờ (oxprenolol) đến
beta-Khả năng hủy beta giao cảm là tác dụng chung duy nhất của tất cả cácthuốc chẹn beta:
Trên cơ tim, thuốc chẹn beta ức chế hàng loạt phản ứng phosphorylhóa các myocyte protein nội bào quan trọng, dẫn đến giảm nồng độ
Trang 23calci nội bào và kết quả cuối cùng là giảm co bóp cơ tim, giảm phátnhịp và dẫn truyền (hủy beta 1).
Trên huyết áp, thuốc chẹn beta làm hạ huyết áp do ức chế tiết renin(hủy beta 1) Tác dụng này bị đối kháng ở những thuốc không chọnlọc do hiệu ứng hủy beta2 gây co mạch ngoại biên
Trên chuyển hóa, thuốc chẹn beta ức chế hủy glycogen và hủylipid
Các thuốc có tác dụng ổn định màng như propranol, alprenolol,oxprenolol, acebutolol, metropolol, practolol làm giảm tính thấm của màng tếbào với trao đổi ion nên có tác dụng chống loạn nhịp tim, giống quinidin
Một số thuốc có hoạt tính nội tại, kích thích một phần receptor beta khigắn vào receptor đó, có thể hạn chế tác dụng làm giảm nhịp tim, giảm co bóp
cơ tim, giảm co thắt phế quản của chính nó
Nhiều thuốc chẹn beta đối lập với tất cả tác dụng cường giao cảm củareceptor beta1 và beta2 Nhưng một số thuốc có tính chọn lọc chỉ phong tỏađược một trong hai receptor Metroprolol, atenolol tác dụng chọn lọc trênbeta1 hay chọn lọc trên tim, hạn chế được tác dụng co thắt khí quản, co mạchngoại vi Butoxacin đứng đầu trong chất chẹn beta tác dụng chọn lọc beta2, ít
Tính ổn định màng có thể làm tăng thêm độc tính trên tim bằng cáchgây ra chậm dẫn truyền, kéo dài khoảng QRS, làm tăng nguy cơ rung thất Sự
Trang 24kết hợp các tác dụng, như thấy với propranolol, có thể làm tăng đáng kể mức
độ độc và điều trị phức tạp
Triệu chứng ngộ độc tim mạch nặng hơn ở những bệnh nhân có tìnhtrạng bệnh lý tim tiềm ẩn, đặc biệt suy tim và những bệnh nhân dùng cácthuốc làm giảm dẫn truyền tim hoặc co bóp cơ tim khác
Suy hô hấp sau khi dùng thuốc chẹn beta adrenergic thường xảy ra ởnhững bệnh nhân bị hạ huyết áp và hôn mê Co thắt phế quản không phổ biếnsau khi dùng quá liều thuốc chẹn beta và chỉ xuất hiện ở những bệnh nhânnhạy cảm [2], [5] Bệnh nhân có bệnh đường hô hấp có thể bị co thắt phếquản nặng sau khi sử dụng các thuốc chẹn beta do làm mất tác dụng giãn phếquản trung gian qua beta2 adrenergic
Catecholamin ức chế sự phân hủy của tế bào mast qua beta2 Việc ảnhhưởng lên quá trình này có thể dẫn tới các biểu hiện nguy kịch sau phản ứngphản vệ [2], [5]
Biểu hiện thần kinh trung ương như sảng, hôn mê và co giật xảy ra phổbiến nhất ở BN có tình trạng tụt huyết áp nặng nhưng cũng có thể xảy ra vớihuyết áp bình thường, đặc biệt khi uống các thuốc dễ tan trong lipid hơn nhưpropranolol [2], [5]
Hạ đường huyết có thể làm phức tạp việc điều trị ngộ độc thuốc chẹnbeta ở trẻ em, nhưng không phổ biến ở người lớn bị ngộ độc cấp tính [2], [5]
Các triệu chứng độc thường xảy ra trong vòng 2-6h sau uống quá liều,
có thể chậm hơn với sotalol và các chế phẩm giải phóng chậm [2], [5]
1.1.4 Xử trí ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta
1.1.4.1 Xác định liều độc và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ độc
Bất kỳ loại thuốc nào có thể có hại nếu liều đủ lớn Xác định một liềuđộc độc nhất định đối với một cá thể nhất định là khó khăn do sự biến đổi vềcác yếu tố đặc trưng của bệnh nhân như tuổi tác, di truyền học, tình trạng sứckhoẻ và các thuốc uống gần đây Các yếu tố này nên được tính đến khi thiết lập
Trang 25một liều độc Bảng 1.3, 1.4 trình bày giá trị ngưỡng và liều thấp nhất gây ngộđộc, với giả định bệnh nhân chỉ uống hoặc chẹn kênh calci, hoặc chẹn beta giaocảm mà không có sự phối hợp [5], Nói chung, thuốc chẹn beta có độ tan tronglipid thấp không có hiệu quả ổn định màng tế bào an toàn hơn Trong số cácthuốc chẹn kênh calci, các thuốc mới hơn nói chung an toàn hơn so vớidiltiazem hoặc verapamil.
Bảng 1.3: Giá trị ngưỡng và liều thấp nhất gây ngộ độc của thuốc chẹn beta [25].
Thuốc và độ tuổi Giá trị ngưỡng Liều ngộ độc tối thiểu
Carvedilol
Người lớn
Trẻ em
50 mg 0.5 mg/kg
1050 mg Không có báo cáo
Metoprolol succinat (ER)
450 mg 2.5 mg/kg
7500 mgd Không có báo cáo
7500 mgd Không có báo cáo
Nadolol
Người lớn
Trẻ em
320 mg 2.5 mg/kg
Không có báo cáo Không có báo cáo
Trang 26Thuốc và độ tuổi Giá trị ngưỡng Liều ngộ độc tối thiểu
Timolol
Người lớn
Trẻ em
30 mg
Bảng 1.4: Giá trị ngưỡng và liều thấp nhất gây độc
của thuốc chẹn calci [26]
Thuốc và độ tuổi Giá trị ngưỡng Liều ngộ độc tối thiểu
được báo cáo
Amlodipin
Người lớn
Trẻ em
10 mg0,3 mg/kg
30 mg0,4 mg/kg
Bepridil
Người lớn
Trẻ em
300 mgBất kể liều nào (Any dose)
Không có báo cáo (NC )NC
NC NC
Isradipin
Người lớn
Trẻ em
20mg0,1mg/kg
NC2,5 mg/kg
Trang 27Thuốc và độ tuổi Giá trị ngưỡng Liều ngộ độc tối thiểu
được báo cáo
50 mg
200 mg2,8 mg/kg
Nimodipin
Người lớn
Trẻ em
60 mgAny dose
NC NC
Nisoldipin
Người lớn
Trẻ em
30 mgAny dose
NC NC
1.1.4.2 Xử trí bệnh nhân ngộ độc
Trang 28Các bệnh nhân ngộ độc không triệu chứng có điện tim bình thường vàuống các sản phẩm không phóng thích chậm có thể được theo dõi tại việntrong 4 giờ với thuốc chẹn kênh calci và 6h với thuốc chẹn beta Bệnh nhânquá liều sản phẩm phóng thích chậm nên được theo dõi ít nhất 24h Bệnhnhân ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta có triệu chứng phải đượctheo dõi và điều trị tại viện cho đến khi hết triệu chứng [1], [5]
Điều trị theo nguyên tắc điều trị ngộ độc đường uống thông thường,sau khi kiểm soát đường thở, hô hấp và tuần hoàn, các biện pháp hạn chếhấp thu chất độc cần thực hiện bao gồm rửa dạ dày, than hoạt đa liều hoặcrửa ruột toàn bộ
Mục tiêu chính trong xử trí ngộ độc nặng và sốc do ngộ độc thuốc chẹnkênh calci và chẹn beta là khôi phục huyết động ổn định Điều trị ban đầuthường là truyền TM dung dịch muối (10-20 mL/kg) dưới dạng liều bolus, để
bù giảm thể tích tương đối do giãn mạch và đảm bảo áp lực đổ đầy thất.Atropin 0,5-1 mg TM nếu có tác nhịp chậm Tuy nhiên, các phương pháp điềutrị này cho thấy thường không đủ hiệu quả ở ngộ độc thuốc chẹn calci và chẹnbeta mức độ trung bình đến nặng [1], [4], [5], [7]
Các liệu pháp sử dụng calci liều cao, glucagon, thuốc tăng co bóp cơtim, thuốc vận mạch (catecholamin), vasopressin, được chứng minh có hiệuquả cải thiện huyết động ban đầu nhưng không bền vững, không cải thiện tỷ
lệ tử vong và có thể có tác dụng bất lợi với cung lượng tim và nhu cầu oxy cơtim [1], [4], [5], [7]
Các biện pháp hỗ trợ cơ học như đặt máy tạo nhịp, bóng đối xung độngmạch chủ , ECMO cũng được đề xuất áp dụng
Các liệu pháp điều trị có triển vọng khác như liệu pháp insulin liều cao,nhũ dịch lipid; trong đó insulin liều cao nổi lên là liệu pháp đặc hiệu đảo
Trang 29ngược độc tính tim mạch trong ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn betanặng
1.1.5 Liệu pháp insulin liều cao (HDI)
1.1.5.1 Giới thiệu
Kể từ trường hợp thành công ban đầu được báo cáo vào năm 1999,insulin liều cao thường được sử dụng trong ngộ độc thuốc chẹn kênh calci vàchẹn beta như biện pháp hồi sức cuối cùng sau khi các phương pháp điều trịkhác đã được thử hoặc thất bại và trong khoảng liều chung là 0,5-2,0 U/kg/h
Đến nay nhiều nghiên cứu trên động vật, báo cáo loạt ca lâm sàng vànghiên cứu gộp đã ủng hộ insulin liều cao (với liều bolus tĩnh mạch 0,5-1,0 U/
kg, liều duy trì 1,0-10 U/kg/h) là liệu pháp đầu tay, cải thiện huyết động và tỷ
lệ tử vong trong điều trị ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta có biểuhiện độc tính tim mạch và sốc tim[1], [5], [8], [9], [16]
Hình 1.2: Tác dụng của BB và CCB trên co bóp cơ tim và cơ chế tác dụng
của các liệu pháp điều trị đặc hiệu
Trang 30Nguồn: Illustration by MarieDauenheimer,C MI.American College of Emergency Physicians Clinical policy for the initial approach to patients presenting with acute toxic ingestion or dermal or inhalation exposure Ann Emerg Med 1995; 25:570–85
1.1.5.2 Cơ chế tác động
Insulin liều cao cải thiện huyết động trong quá liều thuốc chẹn kênh calci
và chẹn beta bởi một số cơ chế tác dụng chính, bao gồm kích thích co bóp cơ tim,tăng vận chuyển và sử dụng glucose nội bào của cơ tim, giãn mạch hệ thống
Insulin đã được chứng minh là có tác dụng kích thích co cơ tim Tácdụng kích thích này được biết đến thông qua nhiều con đường khác nhau.Nghiên cứu các đáp ứng co cơ và cơ chế dẫn truyền tín hiệu của insulin trong cơtim người cho thấy insulin có tác dụng kích thích co cơ tim phụ thuộc vào nồng
độ, bao hàm cả phụ thuộc và không phụ thuộc Ca2+; tác động kích thích co cơphụ thuộc một phần vào chất chuyển hóa nền; Và hiệu quả co cơ liên quan đếncon đường phosphatidylinositol-3-kinase, tăng nồng độ calci nội bào do tăngcường bơm trao đổi Na+/Ca2+ và tăng Ca2+ lưới nội bào tương [11]
Các tác động gây tăng co bóp của insulin cũng do việc hỗ trợ chuyểnhóa của tim trong sốc Insulin hỗ trợ hấp thu và sử dụng carbohydrat trong cơtim, là nguồn nhiên liệu cơ bản của tim trong stress Ngoài ra, việc sử dụnginsulin ngoại sinh có thể giúp vượt qua được sự đề kháng insulin và tình trạngthiếu hụt insulin do ức chế giải phóng insulin từ tế bào beta trong loại ngộ độccấp này [13] Insulin cũng ức chế chuyển hóa acid béo tự do, liệu pháp insulincũng làm giảm lactat, rất có thể bằng cách khôi phục hoạt tính pyruvatdehydrogenase Bằng cách này, lactat đóng vai trò như một nguồn năng lượngsau khi chuyển sang pyruvat và sau đó là acetyl-CoA vào chu trình Krebs.Tác dụng trên chuyển hóa này cung cấp năng lượng hoạt động cho cơ tim,cũng như cải thiện tình trạng toan máu
Insulin là chất làm giãn mạch hệ thống, mạch vành, mạch phổi Tácdụng giãn mạch là do tăng hoạt tính nitric oxide synthase (eNOS) nội mạc
Trang 31thông qua ảnh hưởng của insulin trên con đường PI3K (đường tín hiệu nội bàochính của insulin) Rối loạn chức năng vi mạch là biểu hiện chính của sốc tim,
và insulin tăng cường tưới máu ở mao mạch và tiền mao mạch Tác động nàyxuất hiện nhanh chóng, độc lập với tổng dòng máu cung cấp cho giường mạch,
và có thể đạt mức độ đổ đầy mao mạch tương tự như khi vận động cơ Trong
hệ thống nuôi cấy tế bào, liều cao insulin cần thiết để tăng hoạt tính của eNOS,
và để tạo ra những tác động giãn mạch đặc biệt này Giảm sức cản mạch máu
do các cơ chế này (độc lập với hoạt động co cơ) làm tăng cung lượng tim [27]
Tăng co bóp cơ tim, tăng cung lượng tim, tăng tưới máu mạch vành màkhông tăng nhu cầu sử dụng oxy cơ tim giúp insulin liều cao cải thiện huyết động
do ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta một cách hiệu quả và bền vững
Tác dụng không mong muốn của liệu pháp thường bao gồm hạ đườngmáu và hạ kali máu do chuyển vào trong tế bào Điều này hoàn toàn đượckiểm soát bằng truyền tĩnh mạch glucose và bù kali cùng với việc theo dõi sátnồng độ huyết thanh trong suốt quá trình điều trị
1.1.5.3 Liều và cách dùng
Không có hướng dẫn điều trị hoàn toàn đồng thuận về liều insulintrong ngộ độc nặng và sốc do ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta.Một trong những khuyến cáo được dùng phổ biến của Hoa Kỳ là: bolus 0,5-1đơn vị/kg, sau đó truyền liên tục với tốc độ 0,5-1 đơn vị/kg/giờ, có thể đượcđiều chỉnh theo đáp ứng; Insulin có thể tăng liều lên đến 10 đơn vị/kg /h [14],[28-32]
Một liều bolus glucose 0,5 g/kg có thể được dùng với insulin liều đầu ởnhững bệnh nhân có glucose máu nhỏ hơn 400 mg/dL (<22mmol/L) Nên truyềnglucose liên tục (0,5 g/kg/giờ) Khuyến cáo dùng dung dịch glucose ưu trươngqua đường truyền tĩnh mạch trung tâm Đích là duy trì lượng đường trong máu
từ 5,5 đến 14 mmol/L Tuy nhiên, những bệnh nhân bị quá liều chẹn kênh calci
Trang 32có thể bị tăng đường huyết mặc dù dùng insulin liều cao Glucose máu nên đượckiểm tra mỗi 20 phút trong giờ đầu tiên, và sau đó có thể kiểm tra hàng giờ, vớimục tiêu duy trì mức đường huyết ở mức trên của bình thường [14], [28-32].
Insulin liều cao bắt đầu tác dụng trong khoảng 15-45 phút, nhưng có thểchậm tới vài giờ [8], [30] Sau khi bắt đầu, liệu pháp insulin vẫn tiếp tục chođến khi đạt được ổn định huyết động Thời gian điều trị và liều insulin điều trịthích hợp điều chỉnh theo tình trạng huyết động của bệnh nhân, với mục tiêuduy trì nhịp tim ít nhất trên 60 lần/phút huyết áp tâm thu ít nhất trên 90 mmHg,nước tiểu > 0,5ml/kg/h, giảm và cắt được vận mạch nếu đã dùng trước liệu pháp[14], [28-32] Các báo cáo ca lâm sàng đã ghi lại thời lượng thay đổi của insulinliều cao, từ 9 giờ đến 49 giờ [33, 34]
Cần bổ sung glucose trong suốt thời gian dùng insulin liều cao vàtrong 24 giờ sau khi ngừng điều trị; kali máu nên được kiểm tra hàng giờtrong quá trình chuẩn liều insulin và sau đó có thể được 6 giờ một lần khi đãchuẩn được liều insulin và điện giải ổn định; việc bổ sung kali tĩnh mạch làcần thiết khi nồng độ giảm xuống dưới 3.0 mEq/L, với mục tiêu duy trì nồng
Thất bại của liệu pháp có thể là do việc bắt đầu điều trị insulin chậm,
áp dụng như biện pháp cứu cánh cuối cùng, theo kết quả của một số báocáo [34], [35]
1.2 Các nghiên cứu về liệu pháp insulin liều cao
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trang 33Mặc dù còn thiếu các nghiên cứu lâm sàng tiến cứu có đối chứng sosánh hiệu quả của insulin liều cao với các phương pháp điều trị thông thườngkhác, một số nghiên cứu thực nghiệm trên động vật đã chứng minh ích lợi củainsulin liều cao trong việc đạt được sự ổn định huyết động Một loạt cácnghiên cứu trên chó của Kline và các cộng sự đã chứng minh được sự cảithiện huyết động bằng insulin liều cao sau khi uống verapamil [12], [13].
Tỷ lệ sống cao hơn trong các nghiên cứu động vật khác nhau khi insulinliều cao được dùng trong sốc do quá liều thuốc chẹn kênh calci và chẹnbeta [36], [37]
Một nghiên cứu cơ bản xuất sắc trên tế bào cơ tim người phân lập doDirk Von Lewinski và cộng sự công bố năm 2005 đã cho thấy insulin có dụngkích thích co cơ tim người bằng nhiều con đường [11]
Ở người, một số báo cáo ca lâm sàng đã ghi nhận thành công ổn địnhhuyết động bằng liệu pháp insulin liều cao sau những điều trị ban đầu thất bại[14], [29]
Nhiều báo cáo tổng quan, đồng thuận dựa trên bằng chứng, đã khuyếnnghị hiệu quả insulin liều cao trong ngộ độc BB và CCB nặng hoặc có triệuchứng tim mạch ở mức 1D [7] ,[9], [15], [16]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Còn thiếu nghiên cứu đã công bố liên quan đến vấn đề này
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các BN ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta được điềutrị bằng liệu pháp insulin liều cao tại Trung tâm chống độc bệnh viện BạchMai từ 6/2013 đến 6/2018
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
– Tiêu chuẩn chẩn đoán ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và thuốc chẹn beta:
Bệnh nhân uống thuốc chẹn kênh calci hoặc chẹn beta quá liều điều trị
Xét nghiệm độc chất nước tiểu thấy thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta
– Các BN ngộ độc thuốc chẹn kênh calci và chẹn beta có triệu chứng tim mạch được điều trị bằng liệu pháp insulin liều cao theo phác đồ
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân ngộ độc đồng thời các chất độc, các nhóm thuốc khác.
- Bệnh nhân và người nhà không đồng ý tham gia nghiên cứu (phầntiến cứu)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu kết hợp tiến cứu
2.2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Tại Trung tâm chống độc bệnh viện Bạch Mai
Nghiên cứu hồi cứu các bệnh nhân điều trị từ 6/2013 đến 6/2017,nghiên cứu tiến cứu từ 7/2017 đến 6/2018
2.2.3 Cỡ mẫu
Nghiên cứu loạt ca bệnh, cỡ mẫu thuận tiện