ĐẶT VẤN ĐỀHút thuốc lá HTL có rất nhiều tác hại đến sức khỏe như ung thư phổi,viêm phế quản mạn, các bệnh tim mạch, đột tử, bệnh đường hô hấp, dị tậtbẩm sinh… Theo dự báo của tổ chức y t
Trang 2Ayphone LORSOMMA
THóT THUèC L¸ THô §éNG,KI£N THøC,T¸I §é
Vµ THùC HµNH VÒ PHßNG CHèNG T¸C H¹I CñA
HóT THUèC L¸ THô §¤NG §èI VíI SøC KHáE PHô N÷
MANG THAI T¹I BÖNH VIÖN TØNH HUA PH¡N,LµON¡M 2018
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số : 60720301
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN :
1 TS Phạm Bích Diệp
2 PGS.TS Lê Thị Tài
Hà Nội-2018DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3WHO World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số định nghĩa 3
1.1.1 Định nghĩa thuốc lá 3
1.1.2 Định nghĩa hút thuốc lá thụ động 3
1.2 Thực trạng hút thuốc lá 3
1.2.1 Thực trạng hút thuốc lá trên thế giới 3
1.2.2 Thực trạng tình hình sử dụng thuốc lá ở Lào 4
1.3 Tác hại của hút thuốc lá 5
1.3.1 Đối với người hút người hút thuốc 5
1.3.2 Đối với người hút người hút thuốc thụ động 8
1.3.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về hút thuốc và hút thuốc thụ động 10
1.4 Các hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá 13
1.4.1 Trên thể giới 13
1.4.2 Hoạt đông phòng chống tác hại thuốc lá ở Lào 14
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17
2.1.1 Thời gian 17
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 17
2.2 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 18
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 18
2.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 19
2.5 Chọn mẫu 19
2.6 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 19
Trang 52.6.3 Kiến thức về phòng chống tác hại của hút thuốc lá thụ động với phụ
nữ mang thai 20
2.6.4 Thái độ về phòng chống hút thuốc lá thụ động 21
2.6.5 Thực hành về phòng chống hút thuốc lá thụ động 21
2.7 Phương pháp đánh giá 21
2.7.1 Đánh giá kiến thức đúng 21
2.7.2 Mô tả thái độ và thực hành 21
2.8 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin 22
2.8.1 Công cụ thu thập thông tin 22
2.8.2 Quy trình thu thập thông tin 22
2.9 Sai số có thể gặp và cách khắc phục 22
2.10 Quản lý và phân tích số liệu 23
2.11 Đạo đức nghiên cứu 23
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 24
3.1 Thông tin chung cố ân về đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Hút thuốc lá thụ động của đối tượng nghiên cứu 25
3.3 Kiến thức, thái độ thực hành về hút thuốc lá thụ động 26
3.3.1.Kiến thức về tác hại và phòng chống tác hại hút thuốc lá thụ động 26
3.4 Thái độ của phụ nữ mang thai đối với phòng, chống tác hại của hút thuốc lá thụ động 30
3.5 Thực hành đã làm để phòng, chống tác hại của hút thuốc lá thụ động của phụ nữ mang thai 31
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 33
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 34
DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC BẢNG.
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 3.2 Tỷ lệ và mức độ hút thuốc lá thụ động 25
Bảng 3.3 Hoàn cảnh hút thuốc lá thụ động 25
Bảng 3.4 Địa điểm hít phải khói thuốc lá thụ động 25
Bảng 3.5 Kiến thức về tác hại của hút thuốc lá thụ động với sức khỏe bà mẹ 26
Bảng 3.6 Kiến thức về một số bệnh do hút thuốc lá thụ động 26
Bảng 3.7 Kiến thức về tác hại của hút thuốc lá thụ động trong quá trình mang thai đói với thai nhi 26
Bảng 3.8 Kiến thức về một số bệnh của trẻ sinh ra khi mẹ mang thai mà hít phải khói thuốc lá thường xuyên 27
Bảng 3.9 Kiến thức về một số bệnh của người mẹ khi mang thai mà hít phải khói thuốc lá thường xuyên 27
Bảng 3.10 Nguồn cung cấp thông tin về tác hại của hút thuốc lá thụ động đối với sức khỏe Phụ nữ mang thai 28
Bảng 3.11 Có thấy hoắc nghe được các thong tin tác hại của HTLTĐ và các Nguồn cung cấp các thong tin tác hại của HTLTĐ 28
Bảng 3.12 Kiến thức về luật phòng chống tác hại thuốc lá 29
Bảng 3.13 Tổng điểm kiến thức về tác hại thuốc lá thụ động và luật phòng, chống tác hại thuốc lá 29
Bảng 3.14 Thái độ của phụ nữ mang thai với phòng, chống tác hại của hút thuốc lá thụ động 30 Bảng 3.15 Thực hành đã làm để phòng, chống tác hại của hút thuốc lá thụ
Trang 7Hình 2.1: Bản đồ của nước Lào và bản đồ tỉnh Hua Phăn 18
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Hút thuốc lá (HTL) có rất nhiều tác hại đến sức khỏe như ung thư phổi,viêm phế quản mạn, các bệnh tim mạch, đột tử, bệnh đường hô hấp, dị tậtbẩm sinh… Theo dự báo của tổ chức y tế thế giới, cứ 6,5 giây là có một ngườichết do các bệnh có liên quan đến thuốc lá [1]
Bên cạnh những tác hại của HTL gây ra cho chính người hút, HTL còngây ra nhiều tác hại cho những người không hút thuốc nhưng hít phải khóithuốc lá của người khác hút (hút thuốc lá thụ động) Người hít phải khói thuốcthụ động một cách thường xuyên có nguy cơ bị bệnh như ung thư phổi hơn từ30-100% so với những người không hít phải khói thuốc [2].Người ta ước tínhkhoảng 17% các trưởng hợp bị ung thư phổi ở người không HTL do hít phảikhói thuốc thụ động tại nhà khi từ bé hoặc ở độ tuổi vị thành nhiên[1],[2][34].Phụ nữ có thai hít phải khói thuốc lá sẽ tăng nguy cơ xảy thai tự nhiên,
đẻ non, thiếu cân, trẻ sinh ra mắc bệnh đường hô hấp và ảnh hưởng tới thainhi như: có thể bị sự phá thai, vỡ màng, chết sau khi sinh [1],[2],[35].Tuynhiên, tỷ lệ hút thuốc lá trên thế giới vẫn rất cao: tỷ lệ HTL ở các nước pháttriển là 80% [3]
Theo Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) dự đoán đến năm 2015, tổng sốngười HTL sẽ nhiều hơn 1,1 tỷ người trong đó 80% là sống ở nước đang pháttriển và đến năm 2020 thì số người chết vì thuốc lá sẽ nhiều hơn tổng sốngười chết do HIV/AIDS, lao, tai nạn giao thông đường bộ [4] Lào là mộttrong những nước đang phát triển, tỷ lệ người hút thuốc lá ở Lào là: nam giới56,6 % và nữ giới 9,1% của người lớn [36],[37], tỷ lệ hút thuốc lá thụ động làthanh niên giữa 13-15 tuổi có hơn 50% hút thuốc lá trong nhà và hút thuốc láthụ động trong nơi công cộng là 64% [38]
Theo một nghiên cứu ở Lào, khói thuốc lá cũng là nguyên nhân gây bệnh
ở những người không hút thuốc, đặc biệt ảnh hưởng đến sức khỏe của những
Trang 9người không HTL nhưng thường xuyên hít phải khói thuốc lá thường là vợ,con và người trong gia đình của những người HTL do họ sống trong cùng mộtnhà với người hút thuốc
Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về kiến thức, thái độ và thực hành vềphòng chống tác hại của thuốc lá thụ động đối với sức khỏe phụ nữ mang thaitại tỉnh Hua Phăn, Lào Do đó, nhằm đề xuất giải pháp can thiệp làm giảmthiểu tác hại của HTL thụ động đối với phụ nữ mang thai, chúng tôi thực hiện
nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống tác hại của hút thuốc lá thụ động đối với sức khỏe phụ nữ mang thai tại bệnh viện
tỉnh Hua Phăn, Lào, năm 2018” với các mục tiêu như sau:
1 Mô tả thực trạng hút thuốc lá thụ động của phụ nữ mang thai đến khám thai tại bệnh viện tỉnh Hua Phăn, Lào, năm 2018.
2 Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của đối tượng nghiên cứu về tác hại và phòng chống tác hại thuốc lá thụ động đối với sức khỏe phụ nữ mang thai.
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số định nghĩa.
1.1.1 Định nghĩa thuốc lá
Thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần
nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, thuốc lácuốn, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc tẩu Trong nghiên cứu này gọichung là thuốc lá
1.1.2 Định nghĩa hút thuốc lá thụ động
HTL thụ động có ý nghĩa là một người không HTL những hít phảikhói thuốc thải ra từ người hút thuốc hoặc từ thuốc lá đang cháy [1],[5]
1.2 Thực trạng hút thuốc lá
1.2.1 Thực trạng hút thuốc lá trên thế giới
Thuốc lá đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ qua, nhưng đến thế
kỷ XIX thuốc lá mới được sử dụng phổ biến và nhanh chóng lan rộngtrên toàn cầu với quy mô ngày càng lớn
Theo WHO, ước tính trên toàn thế giới có khoảng 1,100 triệu ngươiHTL Trong đó, ở các nước phát triển chiếm khoảng 300 triệu người và 800triệu người ở nước đang phát triển 80% những người hút thuốc lá là nhữngngười sống ở các nước có thu nhập trung bình và thấp [1] HTL có xu hướng giatăng ỏ các nước đang phát triển Tiêu thụ thuốc lá trên toàn thế giới tăng 0,8 %trong vòng 20 năm từ 1970 đến 1992 Trong khi tiêu thụ thuốc lá ở châu Âukhông thay đổi, tiêu thụ thuôc lá ở khu vực ở châu Mỹ giảm trong khi tiêu thụthuốc lá ở các khu vực còn lại trên toàn cầu đều tăng Trong vòng 20 năm tiêuthụ thuốc lá tăng nhanh ở khu vực Tây Thái Bình Dương (0,3%), tiếp đến là khu
vự Đông Nam Á(1,8%), khu vực Đia Trung Hải (1,4%) và sau cùng là khu vựcChâu Phí (1,2%) [6],[39].Theo tổ chức y tế thế giới, dự tính đến năm 2025 trên
Trang 11thế giới có khoảng 1,6 tỷ người hút thuốc lá [3] Tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giớikhá cao, chiếm 47%, trong đó tỷ lệ HTL ở nữ giới là 12% [7].
Các nước Châu Á Thái Bình Dương, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giớicao hơn nhiều so với nữ giới Ở Trung Quốc 61% nam giới và chỉ có7% nữ giới HTL, còn ở Nhật Bản có tới 66% nam giới HTL trong khi
tỷ lệ này ở nữ giới là 14 % Ở Mỹ, chênh lệch tỷ lệ hút thuốc lá ở nam
và nữ thấp hơn trong đó 28 % nam giới và 24 % nữ giới HTL [8]
Ở Khu vực đông Nam Á, tỷ lệ HTL ở nam giới cao hơn rất nhiều
so với nữ giới HTL Ở nước Indonesia tỷ lệ nam HTL là 53 % trong khichỉ có 4%, còn ở Singapore có 40% nam giới HTL và 2,7% nữ giớiHTL [40]
Tỷ lệ trẻ em dưới 6 tuổi hút thuốc lá thụ động(HTLTĐ) ở các hộgia đình nghèo cao hơn những hộ gia đình có điều kiện kinh tế khôngnghèo Tỷ lệ HTLTĐ ở trẻ có người chăm sóc có trình độ học vấn(TĐHV) từ cấp III đến đại học là thấp nhất (48,1%) Tỷ lệ HTLTĐ ởtrẻ có người chăm sóc là cán bộ công chức là thấp nhất (48%) [9]
1.2.2 Thực trạng tình hình sử dụng thuốc lá ở Lào.
Nước Lào nằm ở khu vực Đông Nam Á, là châu lục sản xuất vàtiêu thụ thuốc lá lớn nhất thể giới, với tỷ lệ 50% tổng sản lượng toàncầu Chỉ tính riêng 3 nước Đông Nam Á (trong đó có Lào) lượng thuốc
lá do dân tiêu thụ đã chiếm đến 26,8% [10] Tại Lào, hút thuốc lá đã trởthành thói quen của người dân, như có phong tục mời thuốc lá trongđám ma, đám cưới và trong các cuộc vui gặp gỡ bạn bè Chính nhữngthói quen và phong tục này đã ảnh hưởng nhiều đến tình trạng HTL ởtrẻ em Hiện tượng HTL trong nhà, nơi làm việc còn phố biến Điều đó
đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe của những người không HTL, đặc biệt
là người già, phụ nữ và trẻ em Theo nghiên cứu quốc gia Lào năm
Trang 122012 cho biết tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới là 50,84 %; tỷ lệ hút thuốc
lá ở nữ giới là 7,1 % [41]
Ở Lào, tỷ lệ hút thuốc rất cao, những phụ nữ và trẻ em lại là nhữngđối tượng chịu ảnh hướng của hút thuốc lá thụ động đặc biệt phụ nữ mangthai sẽ càng ảnh hướng đến sức khỏe của bà mẹ và thai nhi Tuy nhiên,Lào có luật và một số quyết định cấm hút thuốc nhưng về việc thực hànhcủa người dân vẫn làm chưa tốt lắm Vì vậy, nghiên cứu về kiến thức, thái
độ và thực hành về phòng chống tác hại của hút thuốc lá thụ động là rấtquan trọng và cần thiết
1.3 Tác hại của hút thuốc lá.
1.3.1 Đối với người hút người hút thuốc.
Thuốc lá được tìm ra ở Châu Mỹ vào thế kỷ XV Kể từ đó thuốc láđược nhập vào các Châu lục khác và đến đầu thế kỷ thứ XIX Thuốc lá
đã phổ biến toàn thế giới
Nghành Công nghiệp thuốc lá ngày càng phát triển Số người sửdụng thuốc lá càng ngay càng tăng Đầu thế kỷ thứ XX, ảnh hưởng củathuốc lá tới sức khỏe con người đã được phát hiện
Trong khói thuốc lá có hơn 7.000 chất độc hại, trong đó 700 chấtđược biết là chất gây ung thư, nicotin là một chất gây nghiện, 200 chất
có tác hại cho sức khỏe tồn tại dưới dạng khí và dạng hạt [42] Dạnghạt chủ yếu gồm các chất gây nghiện, điển hình là nicotin, chất hắc ín,các chất hỗn hợp nâu trong đó có chứa các chất như benzene,bensopiren, Tac, Carbonmonoxide, Formaldehyde, Arsenic, Cadmium,Ammonia…(WHO, 2009)[43] Dù sử dụng dưới hình thức thuốc cókhói hay không có khói thì đều có khả năng gây ra bệnh tật HTL làmột yếu tố quan trọng làm tăng nguy cơ mắc ung thư, các bệnh tìm
Trang 13mạch, đột tử, bệnh đường hô hấp, dị tật bẩm sinh Đó cũng là nguyênnhân chính dẫn đến tử vong mà ta có thể ngăn chặn được [10].
Theo TCYTTG, mỗi năm trên thế giới có khoảng 4,9 triệu ngườichết do các bệnh liên quan đến thuốc lá Dự báo đến năm 2025 cóngười chết do các bệnh liên quan tới thuốc lá sẽ tăng lên ở mức 10 triệungười mỗi năm Chỉ tính riêng Trung Quốc tới thời điểm 2020-2030 sẽ
có từ 1đến 2 triệu người chết do HTL mỗi năm [11] Tại số nước pháttriển, số người chết do hút thuốc lá tăng từ 700.000 đến 1.500.000 triệungười ở nam giới và từ 100.000 đến 500.000 người ở nữ giới trongvòng 30 năm kể từ năm 1965, vào giữa thập kỷ 90, ở các nước pháttriển HTL là nguyên nhân của 25% trong tổng số người tử vong ở namgiới, còn tử vong do HTL của nữ giới ở tuổi trung niên tăng từ 2% năm
1955 lên tới 13% vào năm 1995 [44] Theo một nghiên cứu ở Canada,mỗi năm có trên 4.000 người bị chết do thuốc lá, chiếm trên 20% tổng
số ca tử vong hàng năm Thực tế tại quốc gia này chết do HTL cao gấp
3 lần so với chết do uống rượu, AIDS, ma túy, tại nạn ô tô, giết người
và tự sát cộng lại Ở Mỹ, thuốc lá là nguyên dân của 20% tổng số tửvong hàng năm [12] Còn ở Anh, cứ 1000 thanh niên đang HTL thì sẽ
có 1 người trở thành kẻ giết người, 6 người bị giết trên đường phố và
250 người sẽ bị chết với hút thuốc lá [13]
Hút thuốc lá là nguyên nhân quan trọng của ung thư, đặc biệt làung thư
phổi Theo Doll và Hill là những người hút thuốc lá có nguy cơ bịung thư cao hơn gấp 14 lần so với những người không hút thuốc lá[14] Năm 1986 , cơ quan nghiên cứu quốc tế về ung thư khí nghiêncứu một quan hệ giữa thuốc lá và ung thư đã dưa ra kết luận hút thuốc
lá nguyên nhân nổi bật của ung thư phổi trên toàn thế giới [15]
Trang 14Mỗi năm trong 660.000 bệnh nhân được chẩn đoán mới bị ung thưtrên thới giới có 90% là những người nghiện thuốc, trong số nhữngngười chết vì ung thư phổi hàng năm thì có 87% là những người hútthuốc lá [16] Thời gian hút thuốc càng lâu và số lượng càng nhiều thìnguy cơ bị ung thư phổi và tử vong do ung thư phổi càng cao TheoNguyễn Cự Đồng và Nguyễn Chí Lăng , nếu một người không hútthuốc thì nguy cơ tử vong do ung thư phổi là 29%, nếu hút thuốc dưới
20 bao/năm 45%, trên 20 bao/năm 58% [17]
Hút thuốc lá còn là nguyên nhân quan trọng gây ung thư bàngquang, ung thư thận, ung thư khoang miệng, ung thư vòm họng, ungthư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư tụy, ung thư tuyến thượngthận, ung thư cổ tử cung, ung thư máu và ung thư dạ dày Mỗi chất gâyung thư trong khói thuốc lá có những cơ quan đích khác nhau Nó cóthể hoạt động riêng rẽ hoặc phối hợp với các chất khác
Hút thuốc lá là nguyên nhân có thể tránh được của rất nhiều bệnhphổi như khí phế thũng, hen phế quản, viêm phế quản mạn và bệnhphổi tắc nghẽn mãn tĩnh Theo TCYTTG , 80-85% các trường hợp viênphế quản mạn và khí phế thũng có liên quan đến hút thuốc [18] Tỷ lệhiện mắc các bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường thấp ở người hútthuốc lá hơn những người không hút thuốc lá [10], khoảng 15-20%những người hút thuốc lá sẽ bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [19],[20] Hút thuốc lá làm tăng tần suất ho, tăng tiết đờm và các chất bấtthường về chức năng hô hấp Các triệu trứng của bệnh viêm phế quảnmạn và khí phế thũng xẩy ra phố biến hơn những người hút thuốc lá.Nghiên cứu ảnh hưởng của hút thuốc đến niêm mạc phế quản ở viện lao
và bệnh phổi năm 1998 cho biết, chỉ hút dưới 5 điếu thuốc/ngày thì cáctổn thương đục, nhầy đen, dị sản và ung thư đều cao hơn rõ rệt so với
Trang 15người không hút thuốc, số điều hút một ngày và số năm hút càng nhiềuthì tỷ lệ tổn thương niêm mạc phế quản càng cao [2],[19].
Phụ nữ hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung và ungthư vú nếu phụ nữ hút trên 20 điếu thuốc mỗi ngày thì nguy cơ mắc ungthư vú sẽ tăng gấp 4 lần Phụ nữ hút thuốc lá có nguy cơ bị ung thưphổi cao hơn nam giới và số lượng thuốc hút đủ đề gây ung thư cũng íthơn so với nam giới Theo một nghiên cứu ở Mỹ, nếu phụ nữ hút 20điều thuốc mỗi ngày trong 40 năm thì nguy cơ mắc ung thư phổi caohơn 3 lần so với nam giới hút thuốc lá ở mức độ tương tự [21] Mãnkinh có thể xuất hiện sớm hơn từ 1-2 năm ở những phụ nữ hút thuốc
lá , do vậy làm tăng mắc bệnh tim mạch và chứng loãng xương Hútthuốc lá có thể gây rối loạn kinh nguyệt và làm giảm khả năng sinh đẻ.Hút thuốc lá làm giảm số lượng cũng như chất lượng sữa mẹ
Mẹ hút thuốc lá trong thời gian mang thai thì máu từ mẹ mang cácchất độc hại của khói thuốc lá truyền qua rau thai và gây ảnh hướngxấu đến thai nhi, sẽ làm tăng nguy cơ xây thai , thai chết lưu, trẻ ra đờihay bị ốm yếu và dễ chết non hoặc bị rối loạn sự phát triển thể chất vàtinh thần Nếu mệ hút thuốc lá trong thời gian mang thai thì 50 % trẻsinh ra sẽ có nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp Người mẹ hút thuốc
lá làm tăng nguy cơ sinh con dưới 2500g gấp 1,5-2 lần những người mệkhông hút Trẻ có mẹ HTL trong suốt thời kỳ mang thai con có nguy cơ
bị u não [22] Người bố HTL thì các con của họ sinh ra sẽ có khả năngchết sớm và có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh nhiều hơn [2],[22]
Một nghiên cứu tiến hành trên 15.000 trẻ em cho biết: trẻ em có
bố hút thuốc trên 20 điếu/ngày có nguy cơ bị khuyết tật bẩm sinh nhưsứt môi và bệnh tìm bẩm sinh cao gấp 2 lần và nguy cơ hẹp niệu đạocao gấp 2,5 lần so với trẻ có bố không HTL[21] Một nghiên cứu khác
Trang 16chỉ ra rắng, trẻ có bố HTL trong khoảng thời gian 1 năm trước khichúng được sinh ra có nguy cơ mắc bệnh bạch cầu và u lympho cao gấp
2 lần, có nguy cơ bị ung thư não cao hơn 40% so với những trẻ có bốchưa bao giời HTL trước khi chúng được sinh ra [22]
1.3.2 Đối với người hút người hút thuốc thụ động.
Môi trường có khói thuốc lá là nguyên nhân gây nên nhiều bệnhkhác nhau cho người không hút thuốc như ung thư, giảm chức năngphổi, ho nhiều đờm, tức ngực, viêm phế quản, tăng nguy cơ mắc bệnhtim và gây khó chịu ở mắt, mũi, họng, tai [23] Phụ nữ trên 40 tuổi cóchồng HTL thì tỷ lệ bị tỷ lệ ung thư phổi tăng tỷ lệ thuận với số lượngđiếu thuốc mà người chồng hút mỗi ngày Tỷ lệ chết do ung thư phổi ởnhững người phụ nữ có chồng hút trên 20 điều/ngày gấp đôi những phụ
nữ có chồng không hút thuốc [24] TCYTTG ước tính trung bình mỗinăm một đất nước 80 triệu dân như Việt Nam có đến 16.000 người chết
vì hút thuốc thụ động [25] Trẻ em hít phải khói thuốc lá gây các bệnhviêm nhiễm đường hô hấp và có thể gây chết đột ngột ở trẻ sơ sinh Trẻ
em bị hen xuyễn , hít phải khói thuốc lá gây các triệu chứng lên cơnhen trầm trọng hơn Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng HTLTĐ có thểlàm tăng nguy cơ ung tư vú, ung thư mũi họng, ung thư thực quản, ungthư máu, ung thư hạch và u não ở trẻ em [44],[45],[47],[48], HTLTĐ
có thể làm tăng nguy cơ các bệnh mãn tính khác như ho, ho có đờm,khó thở, đau ngực viêm đường hô hấp dưới, bệnh về mắt, mũi [44],[47],[49]
Một nghiên cứu trên 5.400 trẻ em trong độ tuối 4-16 ở Mỹ năm
2001 của Davit M.M và cộng sự cho thấy phơi nhiễm với môi trườngkhói thuốc là một yếu tố báo trước quan trọng của sức khỏe hô hấp ởtrẻ em 4-16 tuối, mỗi nhóm tuổi có ảnh hưởng khác nhau Trong đó tỷ
lệ trẻ em có nồng độ nicotin trong huyết thanh có các chứng bệnh về hô
Trang 17hấp (từ khó thở đến ho) cao hơn 1,8 lần so với các trẻ khác Thể tíchthở ra tối đa trong giây đầu tiên giảm trung bình 1,8 [50].Leigh B vàcộng sự tiến hành một nghiên cứu thuần tập 4.486 trẻ em dưới 1 tuối ởThasamania, Austraria từ 1988-1995 về ảnh hưởng của hút thuốc thụđộng đến nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em Nếu mẹ của trẻ em hút thuốcnhưng không hút trong cùng một buồng với đứa trẻ thì tỷ lệ nhập viện
vì nhiễm khuẩn hô hấp của trẻ em là 56% nếu mẹ của trẻ em hút thuốccùng buồng với đứa trẻ thì tỷ lệ nhập viện là 73% trẻ có mẹ hút thuốckhi cho trẻ ăn thì tỷ lệ nhập viện là 95 % [51] nồng độ nicotin nếu ở trẻ
có mẹ hút thuốc thường xuyên hoặc thình thoảng cùng buổng với trẻ thìtrẻ có tỷ lệ nicotin niệu cao gấp 2,18 lần so với trẻ có mẹ không hútthuốc cùng buổng với trẻ [5]
Khói thuốc lá làm thai nhi phát triển chậm trong tử cung, gây biếnchứng ở rau thai nguy cơ dẻ non, nhẹ cân, các bệnh về hô hấp, hútthuốc lá thụ dộng là nguyên nhân gây ra hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinhviêm màng não mô cầu, bệnh bạch cấp, ảnh hướng đến hệ thống cơ tímcủa trẻ em, gây bệnh đưởng ruột mãn tình, viêm loét đại tràng Đối vớisức khỏe của mẹ dễ bị bong rau non và rau tiền đạo, có thể bị ung thư
âm hộ, ung thư vú, ung thư tử cung Tóm lại, thuốc lá vô cùng nguyhiểm cho sức khỏe không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe của người hútthuốc mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người xung quanh khi hítphải khói thuốc như phụ nữ và trẻ em, đặc biệt phụ nữ có thai, chỉ mẹhít khói thuốc nhưng cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và thai nhi
1.3.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về hút thuốc và hút thuốc thụ động.
Năm 1997, Lê Ngọc Trọng, Trần Thu Thủy, Đào Ngọc Phong và
CS, đã làm nghiên cứu để Đánh giá thức trạng tình hình hút thuốc lá ở
Trang 18Việt Nam, kết quả của nghiên cứu cho biết kiến thức về tác hại củathuốc lá khả cao Có hơn 85% người HTL được hỏi trả lời HTL có táchại đến sức khỏe Trong khi đó, tỷ lệ này những người đã cai thuốc làtrên 93% Trong số những người HTL, khi được hỏi có tới 95,7% đãcông nhận HTL có hại cho sức khỏe, tỷ lệ này ở cán bộ y tế là 94,9%,sinh viên là 91,8% và ở bộ đội là 90,4% Những người HTL có trình độhọc vấn (TĐHV) là cấp III nhận thức tác hại của thuốc lá 87,8% caohơn so với những người có trình độ học vấn cấp II là 83,8 % [26].
Năm 1998, Hoàng Long Phát và cộng sự, đã làm một nghiên cứu(Tìm hiểu về tác hại của khói thuốc lá đối với bộ máy hô hấp) Nhữngngười HTL nhiều năm cân nặng giảm rõ rệt so với người hút ít năm cónghĩa thống kê, khi cai thuốc tăng cân rõ rệt Các dấu hiệu lâm sàngkhông những biểu hiện ở đường hô hấp (ho, khò khè, khạc đờm là phổbiến) mà còn ở đường hô hấp trên (ngạt mũi, viêm họng, ) [27]
Năm 2001, Đào Ngọc Phong và cộng sự đã làm nghiên cứu (hútthuốc lá và tình trạng sức khỏe liên quan đến hút thuốc lá của nhữngngười làm công tác nghệ thuật tại Hà Nội, Viết Nam) Kết quả nghiêncứu cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá ở nhóm nam giới nghệ sĩ là 63,1% và ởnhóm nữ nghệ sĩ là 5,2%, khoảng 50% nghệ sĩ mắc các triệu chứng vàcác bệnh cấp tính do HTL chủ động và thụ động, nhất là các triệuchứng mũi, họng và viêm phế quản [28]
Năm 2003, Bộ Y tế Việt Nam, đã nghiên cứu, kết quả cho thấy có88,8 % các đối tượng đang HTL đã hiểu biết được tác hại của HTL.Đặc biệt có 8,2% số người HTL cho rằng HTL không có tác hại gì.Mặc dù không HTL nhưng có tới 96% số phụ nữ được hỏi cho rằngHTL có tác hại cho người xung quanh trong đó 38,3% cho rằng có hạihơn người trực tiếp và 36,5% cho là có tác hại như nhau.Riêng có tác
Trang 19hại cho trẻ em và phụ nữ được nhắc đến nhiều nhất, như gây nhiễmkhuẩn hô hấp cấp tính cho con 60%, gây viêm phế quản cho mẹ 43,8%,gây kích thích mất ngủ cho mẹ [29].
Năm 2005, Nguyễn Trọng Khoa, Phan Thị Hải, Lý Ngọc Kính,Ngô Lệ Thu - Vinacosh, Vũ Phạm Nguyên Thanh, Trương XuânTrường đã làm nghiên cứu (Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành
về hút thuốc lá thụ động và mức độ tiếp cận tryền thông về phòngchống tác hại của thuốc lá) tại Hải Phòng (Việt Nam) thì 73,2% chorằng không HTL nhưng hít phải khói thuốc cũng có thể gây bệnh Tuynhiên, vẫn có một tỷ lệ đáng kể 15,5% số ý kiến trả lời cho rằng hítkhói thuốc chỉ có ảnh hướng ít thậm chỉ có 2,9% cho rằng là không cóảnh hướng và 8,4% trả lời không biết vấn đề này [30]
Năm 2005, Đỗ Thị Bích Diệp đã làm nghiên cứu (Tìm hiểu kiếnthức, thái độ và thực hành về hút thuốc lá thụ động của phụ nữ tuổi sinh
đẻ (từ 19-45 tuổi) tại 2 quận, huyện của thành phố Hải Phòng, ViệtNam) kết quả cho biết, các phụ nữ hiểu được hút thuốc lá thụ động cótác hại tới sức khỏe 91,5%, không có tác hại 0,8% và không biết HTLthụ động có tác hại tới sức khỏe cao đến 7,7% Về kiến thức, hiểu biếtcủa phụ nữ về tác hại của hút thuốc đối với sức khỏe của phụ nữ có thaihút thuốc: ảnh hưởng tới sức khỏe cả 2 mẹ con 29,2%, ảnh hưởng tớithai nhi 55,8%, sảy thai 6,2 %, đẻ non 2,3% và không biết 3,5% Sựhiểu biết của phụ nữ về ảnh hưởng của hút thuốc thụ động với sứckhỏe: ảnh hưởng tới sức khỏe 28,1%, gây các bệnh phổi 26,2 %, gây ho16,5 %, gây khó chịu 15,8%, gây khó thở 12,3% và gây ô nhiễm môitrường 5,4% [2]
Năm 2008, Lê Thanh Tuấn đã nghiên cứu: tác hại của HTLTĐ đếncác biểu hiện bệnh lý hô hấp ở trẻ em tại tỉnh Bắc Giang, tỷ lệ HTL của
Trang 20những người trực tiếp chăm sóc trẻ em ở thành phố Bắc Giang là40,4% và huyện Lạng Giang 10,5% Mức độ hút chủ yếu là hút thuốchàng ngày ở thành phố Bắc Giang 8,4% đối với người chăm sóc trẻ và28,7% ở huyện Lạng Giang đối với vợ/chồng người chăm sóc trẻ [31].Năm 2011, Nguyễn Thị Thu Trang đã làm nghiên cứu (thực trạngthực
Thi quyết đinh 1315/QĐ-TTg về cấm hút thuốc lá thại các cơ sở Y
tế nhà nước huyện Bình Lục và huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, ViệtNam) nghiên cho thầy 99,7% nhân viên Y tế khẳng định HTL có haicho sức khỏe Trong số các bệnh do HTL là gây ra mà nhân viên Y tế
kể đến, có ung thư phổi, có bệnh tim mạch, bệnh đường hô hấp và sảythai; 99,4% nhân viên Y tế cho rằng HTLTĐ có tác hại đến súc khỏe[9]
Năm 2015, Khatthanaphone Phanh Dong Sy đã nghiên cứu (Việcthực hiện không có khói thuốc lá trong Các nhà hàng ở Quận 4 Thủ đôViên Chăn) kết quả cho thấy 90,4% biết được HTL có thể gây ung thưphổi còn 9,6 % không biết, 99,4 % hiểu biết là khói thuốc lá gây tác hạitới người xung quanh và 99,6% hiểu là HTL có tác hại đến sức khỏe
mẹ và thai nhi [43]
Nói tóm lại có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành
về tác hại thuốc la đươc triển khai trên thế giới và các nghiên cứu đócho thấy kiến thức, thái độ về tác hại của thuốc lá có yếu tố liên quanđến trình độ học vấn, trình độ học vấn cao kiến thức và thái độ cũngcao Thực trạng nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về phòngchống tác hại hút thuốc lá ở tỉnh Hua Phăn, Lào chưa có nghiên cứunào Do vậy, nghiên cứu này rất quan trọng để góp phần vào việc giữsức khỏe của người dân, đặc biệt ở nhóm phụ nữ mang thai
Trang 211.4 Các hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá
1.4.1 Trên thể giới.
Trong những năm gấn đây, Tổ chức Y tế thế giới đã lấy ngày 31/5
hàng năm là “Ngày thế giới không hút thuốc lá” và đã tổ chức những
chiến dịch vận động không hút thuốc lá, tuyên truyền sâu rộng các tác hạicủa hút thuốc lá
Ngày 31/5/1995, WHO đưa ra khẩu hiệu “Thuốc lá hao tốn hơn bạnnghĩ”
Ngày 31/5/1998, WHO đưa ra khẩu hiệu “Hãy để trẻ em lớn lênkhông bị ảnh hướng của khói thuốc lá”, khẳng định niềm tin của WHOrằng mỗi đứa trẻ đều có quyền lớn trong bẩu không khí không có khóithuốc lá và không bị ảnh hưởng bởi áp lực sử dụng thuốc lá thông quaviệc quảng cáo thuốc lá
Năm 2004, WHO dã kêu gọi tất cả các quốc gia hướng ứng tuần lễkhông hút thuốc lá với chủ đề “Thuốc lá và đói nghèo”
Năm 2005, chủ đề mà WHO đưa ra trong tuần lễ không hút thuốc
lá từ ngày 25/5 đến 31/5/2005 là “Vai trò của cán bộ y tế trong công tácphòng chống tác hại thuốc lá” với hy vọng đội ngũ cán bộ y tế sẽ là lựclượng tiên phong trong hoạt động phòng chồng tác hại của thuốc lá[32] Chính phủ của nhiều nước trên thế giới đã đưa ra nhiều giải pháp
có tính khả thi để khắc phục tình trạng hút thuốc lá tại nơi công cộng,nơi làm việc, cấm mọi hinh thức quảng cáo thuốc lá trên các phươngtiện thông tin đại chúng, tăng giá tiền một bao thuốc để hạn chế sốngười hút thuốc lá Theo thống kê của các nước phương Tây cứ tănggiá lên 10% thì giảm được 4% mức tiêu thụ thuốc lá, trong đó 10%thuộc độ tuổi thanh niên [26],[52],[53],[54] WHO đã kêu gọi chínhphủ, cộng đồng của các nước tổ chức xã hội, trường học, gia đình và cánhân cùng quan tâm đến mối nguy hiểm của thuốc lá Đây là cơ sở
Trang 22bước đầu tiến tới từ bỏ thuốc lá trong toàn xã hội, xây dựng một môitrường trong sạch không có khói thuốc lá.
Tháng 5 năm 2003, thời điểm đánh dấu thành công nhất định trong
nỗ lực trong đại nạn dịch thuốc lá toàn cầu khi các nước thành viên củaWHO đều nhất trí tán thành công ước khung về kiểm soát thuốc lá [55].Ngày 27/2/2005 công ước khung về kiểm soát thuốc lá chính thức
có hiệu lực và trở thành Luật quốc tế Cho đến nay, đã có 57 quôc giaphê chuẩn công ước quốc tế đầu tiên về lĩnh vực y tế công cộng này.Một cuộc họp của nhóm hoạt động liên chính phủ về công ước khung
về kiểm soát thuốc lá ngày 31/5/2005 đã quyết định sẽ tổ chức hội nghịcác bên của công ước khung về kiểm soát thuốc lá lần thứ nhất vàotháng 2/2006 tại Geneva (Thụy sỹ) [33]
1.4.2 Hoạt đông phòng chống tác hại thuốc lá ở Lào.
Tại Lào, ngày 23/3/2006, Bộ Y tế Lào và Uỷ ban điều phối liên
Bộ về
kiểm soát thuốc lá đã ra quyết định về in ấn Y tế cảnh báo về góithuốc lá và họp xác định nguyên tắc, quy định và biện pháp kiểm soát
và kiểm tra in các cảnh báo sức khoẻ trên bao bì thuốc lá và thùng hộp
và cung cấp thông tin y tế và khoa học về hút thuốc lá và phơi nhiễmkhói thuốc lá
Ngày 21/9/2006, Đại học Quốc gia Lào đã có quyết định số 3174/ĐHQG về chỉ định " Khu vực không hút thuốc lá " của Đại học Quốcgia: chỉ định "khu vực không khói thuốc" ở tất cả các khoa, cao đẳng,văn phòng, thư viện, trung tâm giáo dục và các bộ phận khác thuộcthẩm quyền của Đại học Quốc gia Lào
Ngày 21/3/2007, Bộ Y tế Lào đã ra quyết định dến trưởng phòng,giám đốc, viện, trung tâm y tế, bệnh viện, trường học, nhà máy, Sở y tếthủ đô Viêng Chăn, bệnh viện tỉnh Viêng Chăn, văn phòng, đơn vị y tế
Trang 23huyện, và tất cả các đơn vị y tế trong cả nước “Chính sách không cókhói thuốc trong các lĩnh vực y tế”
Ngày 26/11/2009, Quốc hội Quốc gia Lào đã có luật về kiểm toánthuốc lá (số: 07/QHL), mục tiêu luật này quy định nguyên tắc, quy tắc
và biện pháp đối với sản phẩm thuốc lá, kiểm soát, quản lý, giám sát,kiểm tra sản xuất, nhập khẩu, phân phối, và quảng cáo để bảo vệ sứckhoẻ của dân chúng chống lại tác động bất lợi của thuốc lám nhằmgiảm việc sử dụng thuốc lá và không cần thiết chi tiêu, bảo vệ môitrường và góp phần bảo vệ và sự phát triển của đất nước và việc kiểmsoát thuốc lá
Ngày 16/12/2009, chính phủ Lào đã có quyết định: luật về kiểmsoát thuốc lá (số: 160) luật này quy định nguyên tắc, quy tắc và biệnpháp đối với sản phẩm thuốc lá kiểm soát, quản lý, giám sát, kiểm trasản xuất, nhập khẩu, phân phối và quảng cáo để bảo vệ sức khoẻ củadân chúng chống lại tác động bất lợi của thuốc lá, nhằm giảm việc sửdụng thuốc lá không cần thiết [56]
Ngày 23/9/2010, Văn phòng Thủ tướng Chính phủ Lào cũng đãlàm quy định các thông báo cảnh báo y tế được in trên bao bì cho sảnphẩm thuốc lá Mục đích nghị định quy định nguyên tắc, quy định, biệnpháp kiểm soát, theo dõi và kiểm tra nhãn cảnh báo sức khoẻ được intrên bao bì cho sản phẩm thuốc lá Nội dung của những lời cảnh báonày chỉ ra những nguy hiểm đối với sức khoẻ của sản phẩm thuốc lá
Ngày 24/3/2013, chình phủ nghị định quản lý thống thuê.Mục tiêunghị định này quy định nguyên tắc, quy định về việc thành lập, quản lý,
sử dụng và kiểm soát quỹ kiểm soát thuốc lá để huy động vốn từ địaphương và các cơ quan quốc tế sẽ được sử dụng cho công việc kiểm
Trang 24soát thuốc lá nhằm mục đích thúc đẩy sức khoẻ của người Lào, gópphần bảo vệ và phát triển của đất nước[41].
Ngày 23/3/2016, Bộ y tế Lào đã hợp đồng quản lý luật kiểm soátthuốc lá (số: 1067/BYT) có mục đích để mở rộng nội dung của các điều
33, 34, 37, 38, và 48 của Đạo luật kiểm soát thuốc lá, số 07/NA (Quốchội), ngày 26 tháng 11 năm 2009, thiết lập các ngày có hiệu lực đối vớiviệc tạo ra không có khói thuốc, in nhãn cảnh báo sức khoẻ trên bao bìnguyên liệu cho sản phẩm thuốc lá, và cấm quảng cáo các sản phẩmthuốc lá để đạt được sự đồng bộ trong cả nước [56]
Trang 25
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Thời gian.
Nghiên cứu được thực hiện từ 1/2018 đến 6/2019
Thời gian thu thập số liệu được thực hiện vào tháng 11 và tháng 12năm 2018
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu.
Tỉnh Hua Phăn là một trong 18 tỉnh của Lào, nằm ở vùng núi cao,phía Đông Bắc bộ của Lào.Tỉnh Hua Phăn có 10 huyện (Huyện XămNưa, Huyện Viêng Xay, Săm Tay, huyện Con, Sộp Bâu, Xiêng Khó,huyện Ét, Hua Mường, Hiểm, và huyện Són) có diện tích 16.500 km2
với dân số 300.717 người, trong đó 147.584 là nữ Miền Đông giáptỉnh Thanh Hóa (Việt Nam), miền Bắc giáp tỉnh Sơn La (Việt Nam),miền Nam giáp tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) và miền Tây giáp tỉnh LuôngPhra Bang (Lào) [57] Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện tỉnhHua Phăn Bệnh viện tỉnh Hua Phăn là một bệnh viện lớn nhất nằm ởthành thị Săm Nua, có 80 giường, bệnh viện có 116 cán bộ làm việc,trong đó có 66 bác sĩ, 44 y tá và cán bộ văn phòng Khoa Sản là mộttrong 15 khoa của bệnh viện Khoa có 16 cán bộ, gồm 8 bác sĩ và 8 y tálàm việc từ thứ hai đến thứ sáu Hàng ngày, có khoảng 15-20 phụ nữmang thai đến khám [58]
Trang 26Hình 2.1: Bản đồ của nước Lào và bản đồ tỉnh Hua Phăn (Lào).
2.2 Đối tượng nghiên cứu.
Phụ nữ mang thai đến khám thai hoặc sử dụng dịch vụ chăm sócsức khỏe sinh sản tại Khoa Sản, bệnh viện tỉnh Hua Phăn, Lào
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn.
Phụ nữ mang thai và hiện tại không hút thuốc lá (từ lúc mang thaiđến lúc được phỏng vấn) đến khám thai hoặc sử dụng dịch vụ chăm sócsức khỏe sinh sản tại Khoa Sản bệnh viện tỉnh Hua Phăn, Lào trongtháng 11 và tháng 12 năm 2018
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Có khả năng nghe, hiểu và trả lời các câu hỏi phỏng vấn
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ.
Trang 27Không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không hợp tác trong quátrình nghiên cứu.
Không đủ khả năng nhận thức để trả lời các câu hỏi phỏng vấn.
2.3 Thiết kế nghiên cứu.
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu.
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức tính cỡ mẫucho ước tính 1 tỷ lệ trong quần thể:
1-p n= z2
p: Tỷ lệ phụ nữ mang thai HTL thụ động ước tính = 50 % [28]
Thay vào công thức, tính được cỡ mẫu =
(1,96)2x(1-0.50)/(0,1)2x0,50= 385
2.5 Chọn mẫu.
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng Tất cả các phụ nữmang thai đến khám hoặc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tạiKhoa Sản bệnh viện tỉnh Hua Phăn, Lào trong tháng 11 và 12 năm 2018 và đủđiều kiện tham gia nghiên cứu sẽ được mời tham gia vào nghiên cứu đến khi
đủ cỡ mẫu thì dừng lại
2.6 Các biến số và chỉ số nghiên cứu.
Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm:
Trang 28- Mức độ thường xuyên hút thuốc lá thụ động.
- Hoàn cảnh hút thuốc lá thụ động: địa điểm, người hút thuốc chủ động
2.6.3 Kiến thức về phòng chống tác hại của hút thuốc lá thụ động với phụ
nữ mang thai
- Kiến thức về tác hại hút thuốc lá thụ động với phụ nữ mang thai:
+ Ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ
+ Ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi
+ Ảnh hưởng đến sức khỏe sau này của trẻ được sinh ra
- Kiến thức về phòng, chống tác hại hút thuốc lá thụ động với phụ nữmang thai:
+ Luật phòng chống tác hại thuốc lá
+ Cấm hút thuốc lá nơi cộng cộng
+ Quyền lên tiếng để không bị hút thuốc lá thụ động
Trang 29- Tiếp cận thông tin:
+ Nguồn cung cấp các thông tin (kênh truyền thông đại chúng, kênhtruyền thông trực tiếp);
+ Tần suất tiếp cận thông tin (hàng ngày, hàng tuần)
2.6.4 Thái độ về phòng chống hút thuốc lá thụ động
- Thái độ khi nhìn thấy người hút thuốc trong nhà;
- Thái độ khi nhìn thấy người hút thuốc tại các địa điểm công cộng nhưnhà hàng, bệnh viện
2.6.5 Thực hành về phòng chống hút thuốc lá thụ động.
- Thực hành khi nhìn thấy người hút thuốc trong nhà;
- Thực hành khi nhìn thấy người hút thuốc tại các địa điểm công cộngnhư nhà hàng, bệnh viện
2.7.2 Mô tả thái độ và thực hành
- Mỗi câu hỏi về thái độ được đánh giá bằng thang điểm 5 mức độ
từ rất không ủng hộ; không ủng hộ, bình thường, ủng hộ và rất ủng hộ:
- Các câu hỏi về thực hành liên quan đến những thực hành mà đốitượng nghiên cứu đã thực hiện để phòng, chống tác hại của hút thuốc láthụ động
Trang 30Các câu hỏi về thái độ và thực hành về phòng chống tác hại củahút thuốc lá thụ động được xây dựng dựa trên một số điều quy địnhtrong luật phòng, chống tác hại thuốc lá của Lào về hút thuốc lá thụđộng gồm điều 25: “chỉ được hút thuốc trong các khu vực được phép”
và “Tôn trọng quyền của người không hút thuốc và những người bêncạnh”; điều 30 về trách nhiệm của các cá nhân bao gồm: Tất cả côngdân Lào trong đó bao gồm thanh thiếu niên, thanh niên, học sinh vàsinh viên phải tránh xa thuốc lá và không hút thuốc Cha mẹ, ngườigiám hộ và giáo viên - nhà nghiên cứu phải là những mô hình giữ vaitrò tránh xa thuốc lá và phải tư vấn cho con của họ, học sinh và sinhviên không hút thuốc lá và những thứ sau sẽ làm theo lời khuyên đó[58]
2.8 Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin.
2.8.1 Công cụ thu thập thông tin.
Công cụ thu thập thông tin là bộ câu hỏi bán cấu trúc được phát triểnsau khi đã tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước Bộ công cụ gồm
5 phần:
+ Phần I: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
+ Phần II: Hành vi hút thuốc lá thụ động của phụ nữ mang thai+ Phần III: Thông tin về kiến thức về tác hại và phòng chống táchại của hút thuốc lá thụ động và nguồn tiếp cận thông tin
+ Phần IV: Thái độ về phòng chống tác hại của hút thuốc lá thụđộng
+ Phần V: Thực hành về phòng chống tác hại của hút thuốc lá thụđộng
2.8.2 Quy trình thu thập thông tin.
- Thông báo và xin phép lãnh đạo bệnh viện được triển khai
nghiên cứu tại Khoa Sản của bệnh viện