NGUYỄN TẤT THÀNHĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI KHUÔN MẶT TRÊN ẢNH CHUẨN HÓA VÀ MỘT SỐ CHỈ SỐ SỌ MẶT TRÊN PHIM SỌ NGHIÊNG TỪ XA CỦA TRẺ 12 TUỔI TẠI BÌNH DƯƠNG ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC HÀ NỘI –
Trang 1NGUYỄN TẤT THÀNH
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI KHUÔN MẶT TRÊN ẢNH CHUẨN HÓA VÀ MỘT SỐ CHỈ
SỐ SỌ MẶT TRÊN PHIM SỌ NGHIÊNG TỪ
XA CỦA TRẺ 12 TUỔI TẠI BÌNH DƯƠNG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2NGUYỄN TẤT THÀNH
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI KHUÔN MẶT TRÊN ẢNH CHUẨN HÓA VÀ MỘT SỐ CHỈ
SỐ SỌ MẶT TRÊN PHIM SỌ NGHIÊNG TỪ
XA CỦA TRẺ 12 TUỔI TẠI BÌNH DƯƠNG
Trang 3Tôi là Nguyễn Tất Thành, học viên lớp cao học khóa 25, chuyên ngànhRăng Hàm Mặt, xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãđược công bố tại Việt Nam
3 Các thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực vàkhách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiêncứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Hà Nội ngày 16 tháng 08 năm 2017
Học viên Nguyễn Tất Thành
Trang 4Cl0 : Khớp cắn bình thường
Cl-I : Khớp cắn loại I
Cl-I/1 : Tiểu loại I
Cl-I/2 : Tiểu loại II
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Hình thái giải phẫu cơ thể người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố phứctạp khác nhau Sinh ra và lớn lên trong các điều kiện địa lý, sinh thái, tập quánsinh hoạt khác nhau, cơ thể của con người trong đó đặc biệt là khuôn mặt cónhững nét đặc trưng khác nhau tạo nên các chủng tộc khác nhau
Để phân tích sự khác nhau về hình thái khuôn mặt, có 3 phương phápchính đó là: đo trực tiếp trên cơ thể sống, phân tích gián tiếp qua ảnh, phântích gián tiếp qua phim XQ chụp theo kỹ thuật từ xa Mỗi phương pháp đều
có ưu, nhược điểm nhất định, trong đó phương pháp phân tích gián tiếp quaảnh được đánh giá là nhanh gọn, thu thập được số lượng mẫu lớn với thờigian ngắn, chi phí thấp…
Đã có rất nhiều các nghiên cứu nhân trắc bằng phương pháp sử dụngảnh chụp chuẩn hóa được thực hiện trên nhiều chủng tộc người với các nướcđại diện khác nhau, các chỉ số này được sử dụng như một công cụ thiết yếutrong chỉnh nha và phẫu thuật tạo hình hàm mặt hay phẫu thuật thẩm mỹ.Trong lĩnh vực y học nói chung và răng hàm mặt, ngoại khoa, phẫu thuậttạo hình hàm mặt nói riêng Các chỉ số vùng đầu - mặt… là những thông tinrất quan trọng giúp ích trong việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị để phụchồi lại các chức năng cơ bản về mặt thẩm mỹ do các bệnh lý hoặc do tai nạngiao thông, tai nạn lao động gây ra, ngoài ra còn được sử dụng trong ngànhkhác như bả hộ lao động, nhận dạng hình sự, hội họa và điều khắc… Tuynhiên ở Việt Nam hiện nay, chúng ta vẫn chưa có các chỉ số, số đo, kích thướcvùng đầu - mặt đặc trưng cho người Việt Nam
Sự tăng trưởng của hệ thống sọ mặt có thể chia thành 3 giai đoạn: từ lúcsinh đến lúc dậy thì, từ lúc dậy thì đến lúc trưởng thành và giai đoạn sau
Trang 8trưởng thành Tuổi 12 tuổi được coi là giai đoạn chuyển tiếp từ thiếu niên đếntrưởng thành, là giai đoạn quan trọng có thể can thiệp nắn chỉnh răng bởi vìcác răng vĩnh viễn đã thay thế hết các răng sữa, có thể thay đổi tối ưu hệthống răng xương và mô mềm
Thời gian qua, tại Việt Nam, cũng được một số tác giả nghiên cứu nhưHoàng Tử Hùng [1] (1999), Lê Gia Vinh [15] (2000), Đỗ Thị Thu Loan [16]
(2008), Võ Trương Như Ngọc [17] (2010), Lê Nguyên Lâm (2014) [18]… Tuynhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu về mối liên quan giữa hình thái khuônmặt trên ảnh nghiêng chuẩn hóa và trên ảnh nghiêng kĩ thuật số chuẩn hóa
Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải có các nghiên cứu: “ Đặc điểm hình thái khuôn mặt trên ảnh chuẩn hóa và một số chỉ số sọ mặt trên phim sọ nghiêng từ xa của trẻ 12 tuổi tại bình dương” với 2 mục tiêu sau:
1 Nhận xét hình thái khuôn mặt trên ảnh chuẩn hóa ở trẻ 12 tuổi tại Bình Dương
2 Xác định một số chỉ số sọ mặt trên phim sọ nghiêng kĩ thuật số từ
xa ở trẻ 12 tuổi tại Bình Dương.
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Các phương pháp phân tích kết cấu sọ-mặt
Những thay đổi của hệ thống xương – răng – mô mềm vùng hàm mặtkhá phức tạp Dạng tăng trưởng khuôn mặt của mỗi cá nhân ảnh hưởng bởiyếu tố di truyền riêng biệt cũng như yếu tố môi trường bên ngoài [27] Đóchính là lý do càng làm thêm đa dạng hình thái hệ thống sọ mặt răng ở tuổidậy thì Mẫu tăng trưởng của các chủng tộc và dân tộc thường có khuynhhướng khác nhau [28]
Trên thế giới và tại Việt Nam, cũng được nhiều nghiên cứu cắt ngang vànghiên cứu dọc về sự tăng trưởng của phức hợp sọ-mặt-răng như Võ TrươngNhư Ngọc (2010) [17],[42], Đống Khắc Thẩm (2010) [43], Lê Nguyên Lâm(2014) [18]… đã sử dụng nhiều phương pháp đo đạc, cách đánh giá và phântích khác nhau như đo trực tiếp, đánh giá qua ảnh chụp và phim sọ-mặt đểđánh giá khuôn mặt, nhằm ứng dụng trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu Phương pháp đánh giá qua đo trực tiếp trên khuôn mặt cho ta biết chính xáckích thước thật, các ch số trung thực hơn Tuy nhiên phương pháp này mấtnhiều thời gian và cần có nhiều kinh nghiệm để xác định các điểm chuẩnchính xác trên mô mềm [3],[4] Phương pháp đánh giá qua ảnh chụp được sửdụng phổ biến trong nhiều lĩnh vựckhác nhau như nhân trắc, hình sự với ưuđiểm: rẻ tiền và có thể giúp đánh giá tốt hơn về tương quan của các cấu trúcngoài sọ gồm cơ và mô mềm Khi phân tích thẩm mỹ khuôn mặt nên chủ yếuquan sát trực tiếp và phân tích qua ảnh Hai phương pháp này có tác dụng bổtrợ cho nhau Phép đo trực tiếp trên người sống cho các giá trị của các kíchthước trên từng cá thể chính xác hơn Phép đo ảnh chụp dễ đánh giá về sự cân
Trang 10xứng của vùng mặt, cũng như dễ trao đổi thông tin hơn Đo đạc trên máy ảnh
kỹ thuật số với phần mềm đo thích hợp sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian,nhân lực và đo phức tạp hơn nhiều so với đo trực tiếp trên người, có nhiều ưuđiểm về khả năng thông tin, lưu trữ và bảo quản Qua ảnh, có thể đánh giáđịnh tính đẹp hay không đẹp, từ đó chúng ta có thể yêu cầu một phương phápkhoa học để đánh giá định lượng Có nhiều tác giả đã phân tích khuôn mặtqua ảnh và đã đưa ra các tiêu chuẩn để chụp mặt với các tư thế khác nhau nhưFerrario, Bishara, Farkas, mục đích để chuẩn hoá kỹ thuật chụp ảnh nhằm
đánh giá và so sánh dễ dàng hơn [3] Phương pháp đánh giá qua phim sọ mặt
khi điều trị những vấn đề liên quan đến thẩm mỹ, chúng ta không thể chỉ dựavào cảm nhận qua quan sát lâm sàng mà phải kết hợp giữa quan sát lâm sàng vànhững đánh giá cận lâm sàng có cơ sở khoa học như các tiêu chuẩn phân tíchtrên phim, ảnh vì “tạo hình thẩm mỹ khuôn mặt là sự kết hợp giữa khoa học và
nghệ thuật Phim X-quang sọ nghiêng chụp theo kỹ thuật từ xa giúp chúng ta
nghiên cứu những thay đổi do phát triển, giúp đánh giá cấu trúc mô xương và
mô mềm khi chẩn đoán, lên kế hoạch điều trị, định hướng các thủ thuật điều trịchỉnh hình và phẫu thuật, và cuối cùng giúp theo dõi, đánh giá các kết quả điều
trị Phân tích phim sọ-mặt cho phép chúng ta xác định được dạng mặt Tuy
nhiên, dạng mặt và các bất thường không phải khi nào cũng gắn liền nhau, vìnhiều trường hợp có lệch lạc xương nhưng khớp cắn hoàn toàn bình thường.Nghiên cứu về tương quan xương cũng cho phép chúng ta định hướng đượcđiều trị nhờ vào phân tích mối liên quan xương trong mặt phẳng đứng ngang
và đứng dọc giữa giúp chúng ta có thể phân biệt được lệch lạc do xương hàm
hay xương ổ răng Không giống các loại phim X-quang khác, phim chụp
sọ-mặt từ xa có đặc điểm hết sức riêng biệt Nếu chỉ nhìn hình ảnh trên phim sẽkhông nói lên được điều gì, muốn phim có ý nghĩa phải tìm được những điểmmốc để đánh dấu và xác định sự liên quan giữa chúng với nhau Nói một cách
Trang 11khác đó chính là quá trình chuyển biến hầu hết những thông tin thu được trênphim thành những con số dễ hiểu, dễ phân tích và quản lý, thống kê Cácđiểm mốc được định ra phải đủ hai tính chất: đặc trưng và dễ dàng xác địnhtrên phim.
1.2 Phương pháp đánh giá trên ảnh nghiêng chuẩn hóa
Phân tích mô mềm khuôn mặt bằng hình ảnh để tìm ra các đặc điểmmang tính nhân trắc học cung cấp một khối lượng lớn thông tin nhằm hướngđến những giá trị chuẩn hóa của các kích thước mặt khác nhau ở một nhómđối tượng cụ thể Các chỉ số này giúp việc chẩn đoán ngcác bất thường ở mặt
dễ dàng hơn và cũng góp phần đưa ra kế hoạch điều trị tốt nhất cho bệnhnhân, đặc biệt là các bệnh nhân chỉnh nha hay bệnh nhân phẫu thuật hàm mặt
Hình 1.1 Các điểm mốc giải phẫu cần xác định trên ảnh chuẩn hóa [11] 1.2.1 Lịch sử phương pháp nghiên cứu nhân trắc trên ảnh chụp chuẩn hóa
Phép đo ảnh chụp là một kỹ thuật hỗ trợ cho các nghiên cứu nhân trắchọc có từ rất lâu nhưng người ta luôn nghi ngờ mức độ chính xác của nó Mãiđến thập niên 40, người ta mới cho rằng nếu các ảnh chụp được chuẩn hóa thì
sẽ đưa ra những số đo chính xác hơn Phương pháp đo đạc trên ảnh càng ngàycàng nhận được nhiều sự quan tâm hơn nhờ các ưu điểm sau: tiết kiệm được
Trang 12nhiều thời gian, nhân lực và ít phức tạp hơn so với việc đo trực tiếp trên người[19],[27],[28].
Áp dụng với điều kiện hiện tại của nước ta, phương pháp đo đạc trênảnh chuẩn hóa hoàn toàn có khả năng thực hiện và mở ra nhiều hướng đi mớicho công tác nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm nhân trắc trên ảnh chụp chuẩnhóa giúp tìm ra các yếu tố liên quan đến thẩm mỹ khuôn mặt và làm nổi bậtlên mối tương quan giữa các thành phần của khuôn mặt: sự nhô ra trước củatrán, của mũi, mà và tỷ lệ môi, vị trí cằm [29],[30],[31]
Gavan và cộng sự (1952) cũng đã chỉ ra hạn chế của phép đo ảnh chụp
Sự khác biệt do nguồn sáng hay khoảng cách từ máy ảnh đến người đượcchụp gây ra các độ biến dạng không giống nhau cho các cấu trúc mặt làm kếtquả đo không được chính xác như khi đo trực tiếp [19],[32]
Tuy nhiên, Stoner (1955) và Fernandez Riveiro cùng các cộng sự(2003) đã sử dụng phương pháp chụp ảnh chuẩn hóa và xác định vị trí đầu tựnhiên (Natural Head Position - NHP) và đưa ra một vài giá trị cho quần thểngười trưởng thành da trắng [31],[33]
Từ những năm 1958, Burstone và Subtelly đã đưa ra các phép đo và cácđiểm mốc đo nhân trắc dùng trong phân tích mô mềm phần mặt Những bàiphân tích các chỉ số dựa trên ảnh chụp nghiêng cũng được đã được tiến hànhbởi nhiều tác giả sau đó [34],[35],[36]
Năm 1959, Neger đã tiến hành nghiên cứu mô mềm khuôn mặt trên ảnh
và sử dụng 6 tương quan góc giữa môi trên, môi dưới và cằm Nghiên cứu này
so sánh hình dạng khuôn mặt của đối tượng có khớp cắn chuẩn với nhóm đốitượng có khớp cắn lệch lạc [37]
Từ năm 1985, các tác giả như Larrabee (1985), Frehee (1985) vàGordon (1987) đã lần lượt đề ra những qui tắc chung về tư thế đầu, vị trí máyảnh, điều kiện ánh sáng, cách xác định các điểm mốc trên ảnh và mô tả
Trang 13phương pháp đo trên ảnh Nhưng phương pháp đo đạc và phân tích trên ảnhchụp vẫn không được đánh giá cao và vẫn chỉ được sử dụng để đánh giá cácđặc điểm thiên về định tính chứ không phải đo đạc định lượng do thiếu cácnguyên tắc chuẩn trong việc chụp ảnh lẫn đánh giá ảnh
Sau đó, các tác giả bắt đầu đưa ra nhiều phương pháp chụp ảnh mặtchuẩn hóa như Claman (1990), Jorgensen (1991), Ferrario (1993), Ben Clark(1994), Bishara (1995) và Berger (1999) Việc sử dụng các phương phápchuẩn hóalàm cho phép đo chụp ảnh trở thành công cụ khoa học chính xác vàđáng tin cậy hơn Từ đó các tư liệu chụp ảnh đầu mặt được xem có giá trị đểlượng giá định tính lẫn định lượng trong các trường hợp bị dị tật ở mặt, đểtheo dõi, kiểm tra sự tăng trưởng và phát triển trong nhi khoa, giúp lập kếhoạch điều trị phẫu thuật hay chỉnh hình và để lượng giá kết quả điều trị Ảnhchụp đã trở thành một tư liệu quan trọng và đáng tin cậy trong nghiên cứu vàgiảng dạy [18],[38]
1.2.2 Các nghiên cứu nhân trắc gần đây sử dụng phương pháp phân tích trên ảnh chụp ảnh chuẩn hóa tiến hành trên các chủng tộc người khác nhau
Các nghiên cứu nhân trắc về khuôn mặt gần đây vẫn so sánh với cácchuẩn thẩm mỹ tân cổ điển và kết quả thường được sử dụng trong phân tíchkhuôn mặt, kiểm định các số đo, đánh giá các chỉ số Các nghiên cứu trên cácchủng tộc khác nhau, độ tuổi khác nhau sẽ cho các giá trị đặc trưng cho chủngtộc đó Điều này khẳng định việc áp dụng các chuẩn của nghiên cứu ở chủngtộc này cho chủng tộc khác là không phù hợp
Năm 1996, Miyajima với nghiên cứu trên nhóm 52 đối tượng nam, nữngười Nhật, so sánh với người châu Âu thấy có sự khác biệt các số đo nhântrắc vùng mặt như góc mũi-môi của nhóm nam nữ Nhật nhỏ hơn nhóm mẫungười Châu Âu, góc trục mặt có hướng thẳng đứng, răng nhô Nghiên cứu có
Trang 14giá trị giống như nhiều nghiên cứu khác, khẳng định việc áp dụng tiêu chuẩnkích thước của dân tộc này cho dân tộc khác là không phù hợp [39].
Năm 1999, Hồ Thị Thuỳ Trang nghiên cứu trên 62 sinh viên qua cácảnh chụp, tuổi từ 18-25 có khuôn mặt hài hoà, kết quả cho thấy tầng trên ởphần mũi bẹt, mũi và sống mũi trên nhóm người Việt thấp hơn, đỉnh mũi tùhơn; phần trán nhô ra trước hơn, đặc biệt là ở nữ Tầng mặt dưới nhô nhiều ratrước, hai môi trên và dưới đều nhô ra trước, môi dưới nằm trước đường thẩm
mỹ và môi trên gần chạm đường thẩm mỹ Môi dưới dày hơn và chiều caocủa cằm ngắn tương đối so với tầng mặt dưới, cằm lùi hơn đặc biệt ở nữ Nhìnthẳng, miệng nhỏ hơn so với khoảng cách hai đồng tử [1]
Năm 2002, Farkas L.G., Le T.T và cộng sự dụng các chuẩn tỷ lệ mặttân cổ điển để đánh giá khuôn mặt của người Mỹ gốc Á và Âu 9 số đo đườngthẳng đã được thu thập để xác định các khác biệt kích thước hình thái mặttrong các nhóm người Hoa, Việt, Thái và Âu (60 người ở mỗi nhóm) và đểđánh giá giá trị của 6 chuẩn tỷ lệ mặt tân cổ điển ở những nhóm người này.Chuẩn mặt nghiêng có ba phần bằng nhau không gặp cả ở người Âu lẫn người
Á Ở 5 chuẩn mặt khác, tỷ lệ phù hợp của người Âu trong phạm vi từ 36,7%, của người Á chỉ trong khoảng 1,7-26,7% Các kích thước ngang (En-
16,7-En, Al-Al, Zy-Zy) ở mặt người Á lớn hơn người Âu một cách có ý nghĩa Kếtquả cho thấy sự không phù hợp với tiêu chuẩn tân cổ điển của người gốc châu
Á là cao hơn người gốc Mỹ một cách có ý nghĩa Các đặc điểm nổi bật củakhuôn mặt người Á là khoảng gian hai mí trong rộng hơn trong khi khe míngắn hơn; phần mềm mũi rộng hơn trong bối cảnh mặt rộng, chiều rộngmiệng nhỏ hơn và chiều cao mặt dưới nhỏ hơn so với chiều cao trán [40]
Năm 2009, Farhan Zaib, Junaid Israr và Abida Ijaz nghiên cứu phântích mô mềm khuôn mặt nhìn nghiêng bằng phương pháp đo trên ảnh chụp.Nghiên cứu bao gồm 60 đối tượng tham gia trong đó có 30 nam và 30 nữ ở độ
Trang 15tuổi từ 18 đến 25 Phương pháp sử dụng là phân tích đo đạc các chỉ số trênảnh chụp nghiêng bằng kĩ thuật chụp ảnh chuẩn hóa ở tư thế đầu tự nhiên Cótổng cộng 11 biến số được sử dụng cho nghiên cứu này Trong đó, góc tránmũi, độ rộng của mũi, góc mặt lưng mũi, góc tổng lồi mặt của nam giới lớnhơn Góc môi cằm, góc đầu của nữ giới lớn hơn Góc lồi khuôn mặt là gầnnhư giống nhau ở hai giới [41].
Năm 2010, để nghiên cứu đặc điểm kết cấu và chỉ số sọ mặt ở nhómngười Việt độ tuổi từ 18 đến 25, Võ Trương Như Ngọc đã sử dụng ba phươngpháp đo đạc, gồm đo trực tiếp, đo trên phim sọ mặt, đo trên ảnh chuẩn hoá vàphép đo gián tiếp trên phim sọ nghiêng Trên ảnh nghiêng và thẳng chuẩn hóa,nghiên cứu đã tiến hành đo được 8 kích thước ngang, 8 kích thước dọc, 4khoảng cách từ môi đến các đường thẩm mỹ, 10 góc nghiêng mô mềm và tínhđược 9 tỷ lệ, 3 chỉ số Kết quả cho thấy các khoảng cách từ môi đến cácđường thẩm mỹ không có sự khác biệt ở hai giới Các chỉ số và tỷ lệ không có
sự khác biệt ở hai giới trừ chỉ số toàn bộ mặt, tỷ lệ al-al/zy-zy Các kích thướcphần lớn đều khác nhau giữa hai giới, nam lớn hơn nữ, trừ kích thước n-sn.Các góc nghiêng phần lớn đều có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê trừ gócsn-ls-li-pg, sn-pn-n và góc pn-n-sn [13]
Năm 2013, Salam R và Dhiaa J đã tiến hành nghiên cứu mô mềm củangười trẻ tuổi Iraq bằng phương pháp đo đạc trên ảnh chụp chuẩn hóa Hai tácgiả lựa chọn ra 75 đối tượng, trong số đó 50 người có khớp cắn loại II tiểuloại 1 (24 nam và 26 nữ) và 25 người có khớp cắn lệch lạc loại III (14 nam và
11 nữ) trong độ tuổi từ 18 đến 25 Kết quả cho thấy nam giới có khuôn mặtdài và rộng hơn là lồi đối với trường hợp sai lệch khớp cắn loại II tiểu loại 1
và loại III Các giá trị trung bình của tất cả các biến góc cao hơn ở phụ nữ sovới nam giới đối với loại II tiểu loại 1 trừ các góc đo sau: góc mũi thẳngđứng, góc của mặt lưng mũi, góc cố cằm của tầng mặt dưới, với kích thước đo
Trang 16lớn hơn thu được ở nam giới trong tất cả các kích thước của mũi, môi, vùngcằm và chỉ số khuôn mặt ngoại trừ tầng mặt trên Trong khi ở nhóm sai lệchkhớp cắn loại III, giá trị trung bình của tất cả các biến góc cao hơn ở nam giới
so với nữ giới, ngoại trừ trong những góc sau đây: góc mũi trán, góc mũi, gócmũi má và góc môi cằm Tầng mặt giữa với kích thước nam lớn hơn trong tất
cả các phép đo của, môi, vùng cằm trên khuôn mặt và mũi trừ chiều cao củađầu mũi, góc tổng lồi, tầng mặt dưới, môi trên, độ nhô ra của môi dưới, độ lồi
ra của cằm và chiều cao của cằm t-test cho thấy sự khác biệt về giới đáng kể
về mặt thống kê [24]
1.3 Phương pháp đánh giá trên sọ-mặt từ xa kỹ thuật số.
Sau khi được Broadbent giới thiệu vào năm 1931, phim sọ-mặt chuẩnhoá được sử dụng một cách rộng rãi trong lâm sàng và nghiên cứu Với sốlượng ngày càng nhiều, càng chi tiết, con người không thể đủ thời gian đểkhai thác hết toàn bộ một lượng thông tin khổng lồ trên phim sọ mặt, cho mộtphương tiện duy nhất có thể giúp chúng ta ghi nhận nhanh nhiều thông tin,bảo quản, phân loại và phân tích thông tin vừa nhanh chóng vừa hiệu quảNgày nay, việc sử dụng phim sọ-mặt từ xa kỹ thuật số đã ngày càng phổbiến hơn Với nha sĩ, công việc phân tích phim, lập chẩn đoán và quản lý hồ
sơ bệnh nhân trở nên nhẹ nhàng hơn và nhanh chóng với một máy tính cánhân và một bàn phím Trên màn hình thông thường sẽ có đầy đủ các phântích cơ bản của Tweed, Steiner và Ricketts , sau khi đã lựa chọn các mốc giảiphẫu thích hợp chúng ta có thể lựa chọn các phân tích thích hợp để sử dụng.Chất lượng hình ảnh khi chụp bằng máy kỹ thuật số cũng tốt hơn, sự tươngphản màu sắc giữa đen và trắng rõ ràng hơn Trên màn hình vi tính, sau khi đãlựa chọn các điểm mốc giải phẫu, chúng ta có thể làm nhiều phép đo khácnhau cùng một lúc Một số phần mềm trước đây như: Dento Facial PlannerTM,Quick CephTM, Quick Ceph Image ProTM được thay thế bằng những phần mềmtốt hơn C những phần mềm như Cepha 3DT có thể giúp chúng ta vừa phân
Trang 17tích hai chiều 2D, vừa phân tích ba chiều 3D khi cần tái tạo lại hình ảnh theokhông gian ba chiều.
1.3.1 Phương pháp phân tích Tweed.
Phương pháp này cơ bản dựa trên góc nghiêng xương hàm dưới so vớimặt phẳng Frankfort, vị trí răng cửa dưới
Mục tiêu của phương pháp:
+ Xác định trước vị trí răng cửa dưới cần đạt được khi điều trị
+ Tiên lượng kết quả điều trị dựa trên hình tam giác Tweed
Hình 1.2 Tam giác Tweed 1.3.2 Phương pháp phân tích Downs.
Trong phương pháp phân tích của mình, Downs đã chú ý đến hai phần rõrệt là phần xương và phần răng Mặt phẳng tham chiếu là Frankfort
Các đường phân tích: chủ yếu dựa trên các đường: N-Pog, NA, AB, Pog, S-Gn trục Y, mặt phẳng cắn, mặt phẳng hàm dưới, trục của các răng cửatrên và dưới
Trang 18A-Hình 1.3 Các góc trong phân tích Down
Dựa vào đa giác Downs chúng ta phác họa được một cách tổng quát vềtương quan xương giữa hai hàm, tương quan giữa răng trên và dưới của từng
cá thể
Nhược điểm: rất khó xác định điểm Po và Or mặt phẳng Frankfort trên
phim và mặt phẳng Frankfort không phải luôn luôn là một mặt phẳng nằmngang mà có thể dịch chuyển lên xuống
1.3.3 Phương pháp phân tích Steiner
Phương pháp này được công bố vào năm 1953, đến năm 1959 thì được
bổ sung thêm, lúc đ n được công nhận là phương pháp phân tích hiện đại nhất.Ông đã lựa chọn trong các phương pháp của Downs, W Wylie, Thompson,Brodie, Riedel, Ricketts, Holdaway những yếu tố mà theo ông rất có ý nghĩatrên lâm sàng để nắn chỉnh răng-hàm Steiner cũng là người đã tìm ra đường Shay gọi là đường Steiner để đánh giá thẩm mỹ khuôn mặt
Trang 19Hình 1.4 Các điểm chuẩn và mặt phẳng chuẩn trong phân tích Steiner
Ưu điểm: mặt phẳng SNa dễ xác định, các điểm chuẩn S và Na tương
đối rõ ràng
Nhược điểm: mặt phẳng SNa thay đổi theo từng cá thể Mặt phẳng SNa
có thể dốc lên hoặc dốc xuống làm tương quan xương hàm so với xương bịthay đổi và mặt phẳng SNa ngắn hay dài có thể làm tương quan 2 hàm khôngcòn chính xác nữa Do đó trong nhiều trường hợp cần phối hợp với các phântích khác
1.3.4 Phương pháp phân tích Ricketts.
Tác giả đề ra 10 thông số nhằm: định vị cằm, định vị xương hàm trên,định vị răng, đánh giá khuôn mặt nhìn nghiêng Tương tự Steiner, Ricketts đãtìm ra đường E hay cũng gọi là đường Ricketts và các tỷ lệ vàng trên khuônmặt để đánh giá thẩm mỹ khuôn mặt
Ưu điểm: một trong những điểm đáng chú ý của phân tích này là
nhữnggiá trị của mỗi lần đo được hình thành với một sự điều chỉnh gắn liềnvới tuổi tác của bệnh nhân
1.3.5 Mối liên quan giữa mô mềm và hệ thống nâng đỡ xương-răng.
Khi phân tích mô mềm, chúng ta không thể không chú ý đến hệ thốngnâng đỡ bên dưới, mặc dù khi đánh giá thẩm mỹ khuôn mặt chủ yếu là đánhgiá mô mềm Hình thái bên ngoài có tương xứng mô xương-răng bên tronghay không? Mô mềm nhìn ngiêng có phản ánh được hệ thống xương-răngtheo chiều trước sau hay không? Vấn đề này được bàn cãi từ lâu và đến nayvẫn còn nhiều quan điểm trái ngược nhau
Nếu như theo Tweed 1950, Brishara 1985, dù ít hay nhiều cấu trúc mềmđều thay đổi theo xương thì theo Subtelny 1959 mối tương quan giữa m mềm
và xương không chặt chẽ [13],[54]
Trang 20Tweed khẳng định những khuôn mặt cân xứng có một khớp cắn bìnhthường khi răng cửa được sắp xếp theo một cách phù hợp trên nền xương của
mô có sự liên hệ chặt chẽ giữa khuôn mặt hài hòa và tư thế răng cửa dưới,chính vì thế ông đã đưa ra góc IMPA: 90 5o và FMIA: 65-72o phản ánh tư thếrăng cửa dưới so với mặt phẳng Frankfort và mặt phẳng hàm dưới
Holdaway có mối liên quan chặt chẽ giữa khoảng cách tính từ răng cửadưới đến Pog xương và đường thẳng Na-B Đường viền mặt lý tưởng nếu haiđoạn này bằng nhau Nếu khác biệt 1-2mm theo hướng lưỡi hoặc tiền đình thìthẩm mỹ chấp nhận được, nếu quá 4mm thì thăng bằng mặt không thể đượcchấp nhận cần phải điều trị
M Ricketts, Langlade, Picaud, Stromboni nghiên cứu các bệnh nhân nắnchỉnh răng và kết luận rằng vị trí của môi thay đổi theo sự di chuyển răng cửamột cách rất tinh tế: môi trên lùi 1mm nếu răng cửa trên lùi 3mm; môi dướilùi 1mm nếu răng cửa trên lùi 1mm và răng cửa dưới lùi 0,6mm Tuy nhiênkhoảng cách giữa điểm A xương và A mô mềm, Pog và Pog’ thì không đổitrong suốt quá trình điều trị [55],[56]
Trang 21Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 8/2017 đến 10/2018
- Địa điểm nghiên cứu: Bình Dương
2.2 Đối tượng nghiên cứu
1 Nghiên cứu được thực hiện ở trẻ ở độ tuổi 12 tuổi tại Bình Dương
2 Đối tượng nghiên cứu thuộc đối tượng của đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứunhân trắc đầu mặt của người Việt Nam để ứng dụng trong Y học” của ViệnĐào tạo Răng Hàm Mặt – Đại học Y Hà Nội năm 2016-2017
3 Có bố mẹ, ông bà nội ngoại là người dân tộc Kinh
4 Không có dị dạng hàm mặt, không có tiền sử chấn thương hay phẫu thuậtvùng hàm mặt
5 Chưa điều trị nắn chỉnh răng và các phẫu thuật tạo hình khác
6 Không có các biến dạng xương hàm
7 Hợp tác nghiên cứu
2.2.1 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đối tượng mắc các bệnh ảnh hưởng đến sự phát triển của răng, cunghàm và mặt
- Đối tượng đã điều trị nắn chỉnh răng và các phẫu thuật tạo hình khác
- Đối tượng không đồng ý tham gia vào nhóm nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu.
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu.
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu.
Trang 22Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định bởi công thức ước tính c mẫu cho mộtgiá trị trung bình trong quần thể:
Trong đó:
+ n: cỡ mẫu tối thiểu nghiên cứu cần có
+ Zα: Sai sót loại I α: Chọn α = 0,05, tương ứng có ít hơn 5% cơ hội rút
ra một kết luận dương tính giả Khi đó Zα là 1,96
+Zβ: Sai sót loại II β hoặc lực mẫu (power là 1- β: Chọn β = 0,1 hoặclực mẫu = 0,9, tương ứng có 90% cơ hội tránh được một kết luận âm tính giả.Khi đó Zβ là 1,28
+ σ: độ lệch chuẩn Chọn σ = 4,18
+ d: sai số mong muốn cùng đơn vị với σ Chọn d = 1,4 (mm)
Theo công thức trên, chúng tôi tính được cỡ mẫu tối thiểu theo lý thuyếtcho cả 2 giới là 94 đối tượng Thực tế, chúng tôi chọn toàn bộ đối tượng trongnghiên cứu tại Bình Dương
Cách chọn mẫu: Chọn mẫu chủ đích 100 đối tượng bao gồm 50 nam và 50 nữ.
2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu.
Trang 23Hình 2.1 Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu.
2.5 Phương tiện nghiên cứu
Chụp ảnh chuẩn hóa vàphim sọ nghiêng từ xa cho
các đối tượng
Đo đạc kích thước trên ảnhchuẩn hóa và phim sọnghiêng từ xa
Nhập và xử lý số liệu
Viết báo cáo đề tài
Trang 24Hình 2.3 Chân đế máy ảnh.
2.5.1 Kỹ thuật chụp ảnh chuẩn hóa.
- Ảnh được chụp dưới ánh sáng đèn chiếu, khẩu độ và tốc độ phù hợpvới ánh sáng tại chỗ
- Tư thế đối tượng cần chụp:
+ Đối tượng ngồi thoải mái trên ghế, mắt nhìn thẳng về trước, mặt phẳngFrankfort song song với mặt phẳng sàn
+ Môi ở tư thế nghỉ
+ Khớp cắn ở tư thế chạm múi tối đa
- Tư thế chụp: mặt thẳng, nghiêng trái
- Vị trí đặt của thước tham chiếu có thủy bình: thước có vạch mm đượcđặt ngang mức mặt phẳng, giọt nước nằm ngang khung chuyển động nhằmgiúp kết quả đo đạc ảnh chụp được chính xác, đảm bảo độ tin cậy cao
- Vị trí đặt máy ảnh: máy ảnh đặt cách xa đối tượng 1,5m, tiêu cựkhoảng 55-70mm để đảm bảo t lệ 1:1
- Chụp ảnh, lưu trữ ảnh vào ổ lưu trữ
- Ảnh chụp, sau đ được chuyển thành đen trắng để loại bỏ các yếu tố tácđộng vào đánh giá như: màu tóc, mắt, màu da, ngoại cảnh…