1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tác dụng của viên nang ngủ ngol ích tâm đan trong điều trị bệnh nhân rối loạn giấc ngủ mãn tính

160 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẠM QUANG THÀNHĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA VIÊN NANG NGỦ NGON ÍCH TÂM ĐAN TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN RỐI LOẠN GIẤC NGỦ MẠN TÍNH LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC HÀ NỘI - 2018... PHẠM QUANG THÀNHĐÁNH GIÁ

Trang 1

PHẠM QUANG THÀNH

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA VIÊN NANG NGỦ NGON ÍCH TÂM ĐAN TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN RỐI LOẠN GIẤC NGỦ

MẠN TÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

PHẠM QUANG THÀNH

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA VIÊN NANG NGỦ NGON ÍCH TÂM ĐAN TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN RỐI LOẠN GIẤC NGỦ

Trang 3

trọng và biết ơn sâu sắc tới:

Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sauĐại học và Bộ môn Khí công Dưỡng sinh Xoa bóp Bấm huyệt Học viện Y

Dược học cổ truyền Việt Nam đã cho phép và tạo điều kiện cho tôi học tập và

hoàn thành các nội dung, yêu cầu của chương trình đào tạo Thạc sỹ Y khoa

Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Tuệ Tĩnh, đã cho phép và giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành luận

văn này.

Tôi xin được bày tỏVới lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới nhất, tôi

xin chân trọng cảm ơn PGS.TS Phạm Thúc Hạnh, Trưởng Phòng Đào tạo

sau Đại học, Trưởng Bộ môn Khí công Dưỡng sinh Xoa bóp Bấm huyệt,Thầy là người trực tiếp dạy dỗ, hướng dẫn giúp đỡ tôi từng bước hoàn thànhchương trình học tập và làm luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn : GS.TS Trương Việt Bình; PGS.TS.

Nguyễn Văn Toại; TS Lê Thị Kim Dung; PGS.TS Lê Thị Tuyết; TS Nguyễn Thị Tâm Thuận, các thầy cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn

thạc sỹ đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và đóng góp nhiều ý kiến, truyền thụnhiều kiến thức quý báu giúp tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và chia sẻ những thuận lợi cũng như khó khăn trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Trang 4

BS Vũ Trọng NamPhạm

Quang Thành

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhântôi Các số liệu, kết quả có được trong luận văn này chưa từng được aicông bố trên bất cứ tài liệu nào trước đây Mọi thông tin đều được thuthập trực tiếp trên các bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh mộtcách hoàn toàn tự nguyện

Hà Nội, ngày 29 tháng 03 năm 2018

Người viết cam đoan

Phạm Quang Thành

Trang 5

BN : Bệnh nhân.

CVITTNNITĐ : Ngủ ngon ích tâm đan.Cửu vị ích tâm thang

ICD : International Classification Disease (Phân loại bệnh quốc tế).MNKTT : Mất ngủ không thực tổn

MNMT : Mất ngủ mạn tính

NREM : Non-Rapid Eye Movement (Không vận động nhãn cầu nhanh).PSQI : The Pittsburgh Sleep Quality Index

(Chỉ báo về chất lượng giấc ngủ)

REM : Rapid Eye Movement (vận động nhãn cầu nhanh)

RL : Rối loạn

RLGN : Rối loạn giấc ngủ

TCYTTG : Tổ chức y tế thế giới = WTO: World Health Organnization.YHCT : Y học cổ truyền

YHHĐ : Y học hiện đại

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 91

CHƯƠNG 1 113

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 113

1.1 Đại cương về giấc ngủ .113

1.1.1 Sinh lý giấc ngủ .113

1.1.2 Các giai đoạn bình thường của giấc ngủ .113

1.1.3 Cơ chế điều hòa giấc ngủ .145

1.1.4 Chức năng của giấc ngủ .145

1.1.5 Các rối loạn giấc ngủ .156

1.2 Mất ngủ .157

1.2.1 Định nghĩa .157

1.2.2 Phân loại giấc ngủ .157

1.2.3 Dịch tễ học mất ngủ .178

1.2.4 Sinh lý bệnh mất ngủ .1910

1.2.5 Lâm sàng .2010

1.2.6 Các phương pháp đánh giá rối loạn giấc ngủ trên lâm sàng và cận lâm sàng .2111

1.2.7 Tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ không thực tổn .2414

1.2.8 Điều trị mất ngủ .2414

1.3 Quan niệm của Y học cổ truyền về mất ngủ .2717

1.4 Dưỡng sinh .2919

1.4.1 Ở Việt Nam .2919

1.4.2 Ở Trung Quốc .2920

1.4.3 Ở một số nước khác .2920

1.4.4 Phương pháp dưỡng sinh .2921

1.4.5 Thực hành tập dưỡng sinh .2922

1.4.6 Bài thuốc “Cửu vị ích tâm thang” .2923

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3225

2.1 Nghiên cứu trên thực nghiệm .3225

Trang 7

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm .3326

2.1.4 Máy móc phục vụ nghiên cứu thực nghiệm .3326

2.2 Nghiên cứu trên lâm sàng .3326

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu lâm sàng .3326

2.2.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân .3327

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu .4033

2.2.4 Phương tiện nghiên cứu .4437

2.2.5 Xử lý số liệu .4538

2.2.6 Đánh giá kết quả chung .4438

2.2.7 Đạo đức nghiên cứu .4538

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4740

3.1 Kết quả nghiên cứu trên thực nghiệm .4740

3.2 Kết quả nghiên cứu lâm sàng .4741

3.2.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 4741

3.2.1.1 Đặc điểm vầ tuổi, giới 4741

3.2.1.2 Nghề nghiệp .4842

3.2.1.3 Đặc điểm hôn nhân, hoàn cảnh gia đình 4843

3.2.1.4 Thời gian xuất hiện mất ngủ 4843

3.2.1.5 Tính chất xuất hiện .4944

3.2.1.6 Các yếu tố thúc đẩy mất ngủ 4944

3.2.2 Đánh giá và so sánh hiệu quả điều trị trên lâm sàng .4945

3.2.2.1 Hiệu quả chất lượng giấc ngủ .4945

3.2.2.2 Hiệu quả trên thời gian đi vào giấc ngủ .5046

3.2.2.3 Hiệu quả cải thiện thời lượng giấc ngủ 5049

3.2.2.4 Hiệu quả giấc ngủ .5150

3.2.2.5 Hiệu quả trên rối loạn giấc ngủ 5151

3.2.2.6 Ảnh hưởng của mất ngủ đến các hoạt động trong đến cuộc sống 5358

3.2.2.7 Các rối loạn thứ phát sau mất ngủ 5460

3.2.2.8 Đánh giá sự cải thiện giấc ngủ theo thang điểm PSQI .5561

3.2.2.9 Thay đổi các chỉ số cận lâm sàng của bệnh nhân .5562

Trang 8

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 5764

4.1 Nghiên cứu thực nghiệm .5764

4.2 Đánh giá hiệu quả nghiên cứu trên lâm sàng .5765

4.2.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu .5765

4.2.1.1 Đặc điểm về giới và tuổi 5765

4.2.1.2 Nghề nghiệp .5766

4.2.1.3 Tình trạng hôn nhân và hoàn cảnh gia đình .5766

4.2.1.4 Thời gian xuất hiện mất ngủ 5767

4.2.1.5 Tính chất xuất hiện .5768

4.2.1.6 Các yếu tố thúc đẩy mất ngủ không thực tổn .5769

4.2.2 Hiệu quả điều trị trên lâm sàng .5770

4.2.2.1 Hiệu quả chất lượng giấc ngủ .5770

4.2.2.2 Hiệu quả thời gian đi vào giấc ngủ 5772

4.2.2.3 Hiệu quả cải thiện thời lượng giấc ngủ .5773

4.2.2.4 Hiệu quả giấc ngủ .5774

4.2.2.5 Hiệu quả trên rối loạn giấc ngủ 5776

2.2.2.6 Ảnh hưởng của mất ngủ đến các hoạt động trong đến cuộc sống 5779

2.2.2.7 Hiệu quả của phương pháp trên các rối loạn thứ phát 5781

4.2.2.8 Biến đổi bảng điểm đánh giá PSQI 5782

2.2.2.9 Thay đổi các chỉ số cận lâm sàng của bệnh nhân .5783

2.2.2.10 Tác dụng của phương pháp điều trị mất ngủ mạn tính theo Y học cổ truyền .5784

2.2.2.11 Tác dụng của phương pháp điều trị mất ngủ mạn tính theo YHHĐ .5785

4.3 Tác dụng không mong muốn .5886

KẾT LUẬN 5987

KIẾN NGHỊ 5989

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

Trang 9

Bảng 3.4: Đặc điểm hôn nhân và hoàn cảnh gia đình 43

Bảng 3.5: Thời gian xuất hiện mất ngủ .43

Bảng 3.6: Các stress thường gặp 44

Bảng 3.7: Chất lượng giấc ngủ theo các giai đoạn điều trị 45

Bảng 3.8: Thời gian vào giấc ngủ theo giai đoạn điều trị 46

Bảng 3.9: Hiệu quả thời gian vào giấc ngủ giảm đi của phương pháp điều trị 48

Bảng 3.10: Hiệu quả tăng thời gian ngủ mỗi đêm trước và sau của phương pháp điều trị .49

Bảng 3.11: Sự thay đổi hiệu quả giấc ngủ theo từng giai đoạn .50

Bảng 3.12: Mức độ cải thiện tần suất các triệu chứng đi kèm với mất ngủ .51

Bảng 3.13: Cải thiện tần suất triệu chứng khó chợp mắt trong vòng 30 phút theo từng giai đoạn 52

Bảng 3.14: Cải thiện tần suất triệu chứng tỉnh dậy lúc nửa đêm hoặc thức quá sớm buổi sáng theo các giai đoạn .53

Bảng 3.15: Cải thiện tần suất triệu chứng ho/ngáy to theo các giai đoạn 55

Bảng 3.16: Cải thiện tần suất triệu chứng ác mộng theo các giai đoạn .56

Bảng 3.17: Cải thiện tần suất triệu chứng mệt mỏi theo các giai đoạn .57

Bảng 3.18: Cải thiện tần suất sử dụng thuốc ngủ theo các giai đoạn 58

Bảng 3.19: Cải thiện ảnh hưởng của rối loạn giấc ngủ lên cuộc sống .59

Bảng 3.20: Các triệu chứng thứ phát sau mất ngủ .60

Bảng 3.21: Biến đổi điểm trong thang PSQI .61

Bảng 3.22: Sự biến đổi tổng điểm PSQI trước và sau điều trị .62

Bảng 3.23: Biến đổi các thông só của sóng alpha, beta trên điện não đồ nền .62

Bảng 3.24: Thay đổi chỉ số công thức máu trước và sau can thiệp .63

Trang 10

Biểu đồ 3.1: Phân bố nhóm tuổi theo giới .41

Biểu đồ 3.2: Tính chất xuất hiện mất ngủ 44

Biểu đồ 3.3: Mức độ cải thiện chất lượng giấc ngủ .45

Biểu đồ 3.4: Mức độ cải thiện thời gian đi vào giấc ngủ của bệnh nhân .47

Biểu đồ 3.5: Sự cải thiện thời gian đi vào giấc ngủ trung bình của bệnh nhân theo từng giai đoạn can thiệp 48

Biểu đồ 3.6: Mức độ cải thiện thời gian ngủ mỗi đêm theo từng giai đoạn 49

Biểu đồ 3.7: Mức độ cải thiện về hiệu quả giấc ngủ 50

Biểu đồ 3.8: Phần trăm hiệu quả thói quen đi ngủ trung bình tăng lên sau điều trị .51

Biểu đồ 3.9: Mức độ cải thiện triệu chứng không thể chợp mắt trong vòng 30 phút .52

Biểu đồ 3.10: Mức độ cải thiện triệu chứng thức dạy lúc nửa đêm hay sáng sớm 54

Biểu đồ 3.11: Mức độ cải thiện triệu chứng ho/ngáy to 55

Biểu đồ 3.12: Mức độ cải thiện triệu chứng gặp ác mộng .56

Biểu đồ 3.13: Mức độ cải thiện triệu chứng mệt mỏi 57

Biểu đồ 3.14: Mức độ cải thiện việc dùng thuốc ngủ của bệnh nhân 58

Biểu đồ 3.15: Sự biến đối tổng điểm PSQI trước và sau điều trị .62

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngủ là một trạng thái hiện tượng sinh lý quan trọng không thể thiếu

c ủa con người , mỗi người dùng gần một phần ba cuộc đời để ngủ , ngủ giúpbảo đảm các công năng sinh lý của cơ thể hoạt động bình thường và ổnđịnh Vì hành vi có ở tất cả các loài động vật từ côn trùng đến động vật có

vú Giấc ngủ là một trong những hành vi phổ biến nhất của con người, mộtngười trung bình bỏ ra một phần ba cuộc đời để ngủ, vì vậy giấc ngủ được xem như một tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống [ 4 5 ] .

Người bình thường cần được ngủ khoảng 7-8 giờ mỗi ngày Tuy nhiêncũng có người có nhu cầu nhiều hơn và cũng có người cần ít hơn [2848]

Mất ngủ là trạng thái không thỏa mãn về số lượng giấc ngủ hoặc chấtlượng giấc ngủ, tồn tại một thời gian dài, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và khảnăng làm việc của người bệnh [19]

Mất ngủ là tình trang ngủ quá ít hoặc không có cảm giác thoải mái saukhi ngủ dậy, tồn tại một thời gian dài, dẫn đến tâm lý mất thăng bằng mất sựtập trung làm ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng làm việc của người bệnh[21]

Mất ngủ tăng lên theo thời gian vì những căng thẳng trong cuộc sống hàngngày càng gia tăng, có khuynh hướng tăng lên trong giới nữ, những người già.Theo các nghiên cứu dịch tễ học, tỷ lệ mất ngủ trong cộng đồng dao động từ20-30% và tỷ lệ này cao hơn ở người cao tuổi [4440]

Mất ngủ đã được đề cập từ lâu và ngày càng trở thành một hiện tượngkhá phổ biến trong xã hội hiện đại Theo Tổ chức y tế thế giới, nghiên cứu ở

15 khu vực khác nhau trên thế giới ước tính khoảng 26,8% người bị mất ngủđược khám và điều trị tại các trung tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu [7]

Mất ngủ kéo dài sẽ dẫn đến giảm trí nhớ, khó tập trung chú ý, giảm sút

Trang 12

khả năng lao động và hậu quả tất yếu là làm giảm chất lượng sống, nguy cơphát sinh một số bệnh hoặc làm nặng thêm bệnh đang mắc Bên cạnh đó, còn

có sự liên quan giữa mất ngủ và các rối loạn tâm thần, nghiện rượu, lạm dụngthuốc, chức năng miễn dịch, tim mạch, tử vong [40],[47],[55],[56]

Hiện tại bệnh rối loạn giấc ngủ trong Yy học hiện đại được điều trịbằng nhiều phương pháp như thuốc an thần, tâm lý liệu pháp, các Vitaminnâng cao thể trạng Các thuốc điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng, nhưngcũng chưa được hiệu quả toàn diện, nhược điểm của phương pháp này là khidùng thì người bệnh dễ ngủ, ngưng thuốc thì đâu lại vào đấy Hoàn toàn phải

lệ thuộc vào thuốc Hay có tác dụng phụ không mong muốn nên sử dụng cầnthận trọng

Mất ngủ trong Y học cổ truyền gọi là chứng “Thất miên”, “Bất mị”,

“Bất đắc miên” Nguyên nhân sinh ra bệnh mất ngủ khá phức tạp, TrươngTrọng Cảnh nói: “Ngủ là gốc phần âm mà thần làm chủ, thần yên thì ngủđược Thần sở dĩ không yên thì một phần là do tà khí nhiễu động, hai là dotình khí không đủ” Thiên này đem chứng mất ngủ tóm tắt thành 5 nguyênnhân là: Tâm tỳ hư, âm suy hỏa vượng, tâm hư đởm khiếp, vị khí không hòa,suy nhược sau ốm [2729]

Khác với thuốc chữa trị bệnh mất ngủ theo Y học hiện đại chủ yếuquan tâm điều trị triệu chứng, điều trị bệnh mất ngủ theo Y học cổ truyền lạiquan tâm đến căn nguyên gây ra bệnh Tùy vào thể bệnh nhân, độ tuổi, giớitính và nguyên nhân gây ra bệnh mà thầy thuốc sẽ gia giảm các vị thuốc trongbài thuốc chữa trị bệnh mất ngủ là khác nhau.Y học cổ truyền có nhiềuphương pháp để điều trị mất ngủ như dùng thuốc, khí công, dưỡng sinh, bấmhuyệt, châm cứu… Mỗi phương pháp đều có ưu điểm riêng, ưu điểm của cácphương pháp này là đưa bệnh nhân đến giấc ngủ tự nhiên Vì vậy Cho nên

việc thừa kế và phát huy vốn quý của Y học cổ truyền, tìm ra phương pháp

Trang 13

điều trị mất ngủ có hiệu quả cao cho bệnh nhân là một điều cần thiết.

Từ xưa uống thuốc thảo mộc và tập dưỡng sinh đã được biết đến nhưphương pháp điều trị mất ngủ có hiệu quả Tuy nhiên đến thời điểm này, tạiviệt nam chưa có đề tài nghiên cứu nào đánh giá về tác dụng của thuốc YHCTkết hợp tập dưỡng sinh trên bệnh nhân rối loạn giấc ngủ mạn tính

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng của viên nang “Ngủ ngon dưỡng tâm đan HV” trong điều trị bệnh nhân rối loạn giấc ngủ mạn tính ” bài thuốc “Cửu vị ích tâm thang” kết hợp tập dưỡng sinh trong điều trị rối loạn giấc ngủ mạn tính.

3. Theo dõi tác dụng không mong muốn của bệnh nhân trong quá trình nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đại cương về giấc ngủ

1.1.1 Sinh lý giấc ngủ

Giấc ngủ là nhu cầu sinh lý bình thường của con người, giấc ngủ đó làtrạng thái chung, kéo dài của cơ thể, được gây ra do sự tổ chức lại hoạt độngcủa phức hợp các yếu tố nội sinh và ngoại sinh đặc trưng cho những daođộng ngày đêm hoạt động của não trong giấc ngủ là một hoạt động hiệu quảnhằm đảm bảo sự sống và phục hồi sức khoẻ của cơ thể sau một thời gianhoạt động [16]

Ngay từ khi lọt lòng mẹ đứa trẻ ngủ nhiều hơn thức (20 giờ mỗi ngày).Càng lớn lên trẻ ngủ càng giảm dần, đến sáu tuổi trẻ vẫn còn ngủ khoảng 10tiếng mỗi ngày Người trưởng thành ở lứa tuổi hoạt động mạnh nhất (18-45tuổi), nhu cầu mỗi ngày tử 7 - 8 giờ Sau 60 tuổi có thể 6 giờ là đủ, thậm chí

có người già còn ngủ ít hơn Nói chung cả cuộc đời một người khỏe mạnhdành 1/3 thời gian cho ngủ và 2/3 thời gian cho thức Hay mỗi người cần đến220.000 giờ để ngủ trong suốt cuộc đời [16][40]

Ngủ là một trạng thái sinh lý bình thường của cơ thể có tính chất chu

kỳ ngày đêm; trong đó toàn bộ cơ thể được nghỉ ngơi, tạm ngừng các hoạtđộng tri giác và ý thức, các cơ bắp giãn mềm, các hoạt động hô hấp tuần hoàngiảm chậm lại [Error: Reference source not found76] Giấc ngủ là nhu cầusinh lý bình thường của con người, hoạt động của não trong giấc ngủ là mộthoạt động hiệu quả nhằm đảm bảo sự sống và phục hồi sức khoẻ của cơ thểsau một thời gian hoạt động Ngay từ khi lọt lòng mẹ, đứa trẻ ngủ 20 giờ mộtngày Càng lớn lên trẻ ngủ giảm dần, đến 6 tuổi trẻ vẫn còn ngủ 10-12 giờ mỗingày Người trưởng thành ở lứa tuổi hoạt động mạnh nhất (18- 45 tuổi), nhu cầu

Trang 15

mỗi ngày từ 7-8 giờ Sau 60 tuổi có thể 6 giờ là đủ, thậm chí những người giàngủ ít hơn [48],[58] Nói chung cả cuộc đời một người khoẻ mạnh dành 1/3 thờigian cho ngủ và 2/3 thời gian thức

Các nghiên cứu chỉ ra rằng: Mất ngủ kéo dài có thể làm giảm chấtlượng cuộc sống, mệt mỏi chán ăn, giảm khả năng tập trung, giảm trí nhớgiảm cân nặng, suy nhược cơ thể, giảm thân nhiệt của cơ thể Mất ngủ kéodài, có thể dẫn tới rối loạn lo âu, trầm cảm, vàa một số bệnh tật khác [7]

Giấc ngủ tăng lên khi người ta lao động thể lực, tập thể dục, bị ốm, cóthai, bị căng thẳng tâm lý [7]

1.1.2 Các giai đoạn bình thường của giấc ngủ

Ngày nay người ta có thể ghi điện não đồ trong và ngoài giấc ngủ.

Bằng kết quả nghiên cứu điện sinh lý kết hợp với các hiện tượng tâm sinh lýkhác, người ta chia giấc ngủ thành 2 pha: pha nhanh hay còn gọi là pha vậnnhanh nhãn cầu (Rapid Eye Movement: REM) và pha chậm hay còn gọi là phakhông vận nhanh nhãn cầu (Non Rapid Eye Movement: NREM) [48], [51],[58].Trên điện não đồ ghi trong giấc ngủ, giấc ngủ được chia ra làm 2 giai đoạn sinhlí: Ngủ không vận động nhãn cầu nhanh (NREM) và vận động nhãn cầu nhanh(REM)

Trong giấc ngủpha chậm NREM, người ta chia chúng làm 4 giai đoạn(từ giai đoạn I đến giai đoạn IV) Hầu hết các chức năng sinh lý của conngười trong giai đoạn ngủpha chậm NREM là thấp hơn so với lúc thức

Giai đoạn 1 : là bắt đầu của giấc ngủ Đây là giai đoạn mà giấc ngủcủa chúng ta tương đối nông (ngủ nông), hay còn gọi là giai đoạn chuyểntiếp giữa thức và ngủ Ở giai đoạn này, bộ não phát ra sóng theta có biên độcao, tức là sóng não rất chậm Giai đoạn này chỉ kéo dài trong thời gian rấtngắn (chừng 5 – 10 phút) Nếu bạn đánh thức ai đó ngay vào thời gian nàythì họ có thể nói rằng họ chưa thực sự ngủ

Giai đoạn 2 : là giai đoạn ngủ nông khi mà các vận động của mắt dừng

Trang 16

lại Sóng điện não chậm, thỉnh thoảng có những đợt bùng phát nhanh, xen kẽgiữa các giai đoạn co cơ và giãn cơ.

Giai đoạn 3: ngủ sâu, giảm hình thoi và chỉ xuất hiện sóng chậm (2 - 4Hz) trên điện não, chiếm từ 20 - 50% sóng delta

Giai đoạn 4: ngủ rất sâu, chỉ còn sóng chậm trên điện não (2 - 4Hz),chiếm tới 50% sóng delta Khi đánh thức người ngủ đột ngột dậy, ở giai đoạn

4, đôi khi họ bị rơi vào tình trạng lú lẫn với khả năng nhận thức bị biến đổi.Theo dõi trên lâm sàng nhận thấy các cơ bắp giãn mềm, nhịp tim và nhịpthở chậm đều, thân nhiệt giảm dần, huyết áp đạt mức thấp trong giấc ngủ,…Điều này chứng tỏ rằng vai trò lớn của giấc ngủ như trạng thái mà trong đó đãdiễn ra một cách tích cực nhất các quá trình hồi phục

Trong lúc ngủ NREM, nhịp tim đều đặn hơn và giảm từ 5-10 lần/phút,nhịp thở chậm hơn, huyết áp có chiều hướng hạ, trương lực cơ giảm

Trái lại, trong giai đoạn ngủpha nhanh REM (chiếm khoảng 25% tổngthời gian ngủ) hoạt động của não và các chức năng sinh lí giống với lúc thức.Khoảng 90 phút sau khi bắt đầu ngủ, sẽ có giai đoạn ngủpha nhanh REM đầutiên Thời gian này sẽ ngắn hơn ở những bệnh nhân trầm cảm

Về lâm sàng nhận thấy trong pha nhanh, nhịp tim và hô hấp nhanh,huyết áp tăng nhẹ, nhãn cầu vận động nhanh (trong khi vẫn nhắm mắt), ở namgiới thường gặp cương dương vật, nhu cầu tiêu thụ ôxy não tăng cao Trongpha nhanh xuất hiện giấc mơ, nếu chúng ta đánh thức người ngủ trong thờiđiểm này thì họ cho biết là họ đang mơ Giấc mơ là hiện tượng tâm sinh lýbình thường, nếu giấc mơ bị phá vỡ thì giấc ngủ đó sẽ bị rối loạn và chúng ta

sẽ cảm thấy rất mệt.Trong một số giấc ngủ REM có cương cứng dương vật,dòng máu đến các tổ chức bao gồm cả não giảm nhẹ so với lúc thức, nhịp tim,nhịp thở, huyết áp đều cao hơn so với giai đoạn ngủ NREM

Dấu hiệu đặc trưng nhất của giấc ngủpha nhanh REM là giấc mơ

Trang 17

Khoảng 60-90% số người được đánh thức dậy ở giai đaạn ngủpha nhanh

REM thường nói họ có giấc mơ Giấc mơ trong giấc ngủpha nhanh REM là

mơ hồ và không gắn với thực tế Trong đêm giai đoạn ngủpha nhanh REMchiếm tổng cộng từ 90-100 phút Chu kì của giấc ngủ là đều đặn Hầu hết các

giai đoạn ngủpha nhanh REM xẩảy ra trong một phần ba cuối của đêm, trongkhi hầu hết giai đoạn 4 của giấc ngủpha chậm NREM xẩy ra trong một phần

ba đầu của đêm

Các giai đoạn của giấc ngủ thay đổi trong đời người Ở trẻ mới sinh, giấcngủ pha nhanh REM chiếm 50% tổng thời gian, trẻ 4 tháng đến 1 tuổi, tổng số

giấc ngủpha nhanh REM chỉ còn chiếm 40% thời gian ngủ và xẩy ra sau giaiđoạn ngủ pha chậm NREM

Giấc ngủPha chậm NREM (75%) được chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: 5%

+ Giai đoạn 2: 45%

+ Giai đoạn 3: 12 %

+ Giai đoạn 4: 13%

Giấc ngủPha nhanh REM: 25%

Các tỷ lệ này không thay đổi theo lứa tuổi, mặc dù ở người già thờigian ngủ giảm cả với giấc ngủ giấc ngủpha nhanh REM và ngủpha chậm

NREM

Trình tự của các pha ngủ 1,2,3,4,5 và ngủ REM hình thành chu kì ngủ Mỗichu kì ngủ kéo dài chừng 1,5 giờ, do đó trong đêm có 4-5 chu kì ngủ [4], [101],

[5437]

1.1.3 Cơ chế điều hòa giấc ngủ

Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng giấc ngủ được kiểm soát bởi

Trang 18

nhiều trung tâm não, các trung tâm này kiểm soát hoạt động lẫn nhau Nhiềunghiên cứu đã xác nhận vai trò của serotonin trong điều hòa giấc ngủ Cácbệnh nhân mất ngủ tiên phát, trầm cảm và lo âu có nồng độ serotonin trongnão thấp hơn bình thường, do đó họ bị mất ngủ nặng Giấc ngủ bị ảnh hưởngbởi nhiều L-tryptophan, ăn một lượng lớn L-tryptophan (1-1,5g/ ngày) sẽ làmgiảm giấc ngủ và tăng thức đêm, ngược lại nếu thiếu L-tryptophan sẽ làmgiảm thời gian ngủ REM.

Các tế bào thần kinh chứa norepinephrin nằm ở nhân đỏ đóng vai trò quantrọng trong giấc ngủ bình thường Các thuốc kích thích lên tế bào thuộc hệthống noradrenergic làm giảm giấc ngủ REM và gây thức giấc [16] [19].Liên quan đến giấc ngủ có nhiều giả thuyết, nhưng đến nay vẫn chưa có sựthống nhất trong việc giải thích cơ chế thức ngủ Cơ chế giấc mộng cũng như

cơ chế về sự luân phiên có tính chu kỳ của giấc ngủ

Thuyết Pavlov cho rằng giấc ngủ là trạng thái ức chế lan toả khắp haibán cầu và lan xuống cả vùng dưới vỏ

Trung tâm ngủ tích cực ở gian não [38]

Trung tâm gây ngủ ở trong đồi thị [37],[38]

Giấc ngủ là trạng thái bình thường của hoạt động vỏ não Còn trạng tháithức được duy trì bởi sự hoạt động tích cực của cấu tạo lưới thân não Cấu tạolưới vừa có ảnh hưởng ức chế đối với vỏ não, nghĩa là nó đóng vai trò hoạtđộng dẫn truyền thần kinh, cũng như duy trì thức tỉnh Hoạt hóa từ cấu tạolưới lên vỏ não là kiểu hoạt hóa không đặc hiệu trong đó có sự tham gia củavùng dưới đồi, đồi thị [3],[61]23],[39]342

1.1.4 Chức năng của giấc ngủ

Chức năng của giấc ngủ đã được kiểm tra bằng nhiều cách khác nhau.Hầu hết các nhà nghiên cứu đồng ý rằng giấc ngủ giúp phục hồi sức khỏe, giúplàm cân bằng nội môi và có vai trò quyết định trong điều hòa thân nhiệt và bảo

Trang 19

tồn năng lượng Giấc ngủ NREM tăng lên khi luyện tập thể dục và khi đói, tìnhtrạng này có thể liên quan đến nhu cầu thỏa mãn chuyển hóa [15 6 ].

Giấc ngủ REM đã được chú ý và tiến hành nghiên cứu từ lâu, và cónhiều kết quả được đưa ra Một số vai trò của giấc ngủ REM đáng chú ý là:

- Lọc sạnh các chất chuyển hóa tích tụ trong hệ thần kinh

- Đảm bảo cho nguồn phát các xung động để kích thích vỏ não

- Chuyển trí nhớ ngắn hạn thành trí nhớ dài hạn

- Bảo đảm cảm xúc diễn ra trong giấc mơ thích ứng được với môitrường xung quanh khi thức – tỉnh

- Tổ chức lại luồng xung động thần kinh bị rối loạn trong giấc ngủ

NREM, là giai đoạn chuyển tiếp sang thức – tỉnh, chuẩn bị tiếp nhận thông tin mới [4137].

1.1.5 Các rối loạn giấc ngủ (RLGN)

Trước đây thuật ngữ RLGN được hiểu như đồng nghĩa với mất ngủnhưng ngày nay RLGN là để chỉ những rối loạn về số lượng, chất lượng, vềtính chu kỳ của giấc ngủ và các rối loạn về nhịp thức ngủ Nghĩa là những rốiloạn liên quan đến diễn biến của giấc ngủ: trước khi ngủ, trong khi ngủ, khitỉnh dậy Hậu quả của những rối loạn này là làm cho chủ thể có cảm giáckhông thỏa mãn về giấc ngủ (mệt mỏi, lo lắng….) và có ảnh hưởng đến hoạtđộng lúc thức

Nhờ những hiểu biết gần đây về nhịp thức ngủ về giấc ngủ nên trongbảng phân loại bệnh lần thứ 10 (ICD 10) các RLGN được xếp vào mục “F51”trong đó phân ra các rối loạn khác nhau về giấc ngủ [19 2 1 ]

o (F51.0) Mất ngủ không thực tổn

o (F51.1) Ngủ lịm

o (F51.2) Rối loạn nhịp thức ngủ không thực tồn

Trang 20

1.2.2 Phân loại giấc ngủ

Có nhiều cách phân loại mất ngủ, cách thông thường nhất là phân thành

2 loại theo thời gian mất ngủ là: mất ngủ cấp tính, mất ngủ mạn tính [202]

 Mất ngủ cấp tính

Gọi là mất ngủ cấp tính khi mất ngủ kéo dài dưới 1 tháng và có thể donhiều nguyên nhân gây ra: thay đổi múi giờ, thay đổi nghề nghiệp, mất ngườithân, do môi trường quá ồn hoặc sử dụng quá nhiều cà phê

- Khó duy trì giấc ngủ và thức dậy sớm: giấc ngủ của bệnh nhân bị chia

cắt ra, trong đêm thức giấc nhiều lần và rất khó ngủ lại

- Mất ngủ có liên quan đến các stress đời sống, gặp nhiều ở phụ nữ, ở người

lớn tuổi, tâm lý bị rối loạn và những người bị bất lợi về kinh tế xã hội Khi bệnh

Trang 21

nhân có cảm giác căng thẳng, lo âu, buồn phiền hoặc trầm cảm

- Mất ngủ nhiều lần, dẫn đến mối lo sợ mất ngủ tăng lên và bận tâm về

hậu quả của nó, tạo thành một vòng luẩn quẩn có khuynh hướng kéo dài

- Hậu quả ban ngày: cảm giác mệt mỏi, thiếu hụt giấc ngủ, ảnh hưởng

đến hoạt động xã hội và nghề nghiệp Theo sổ tay chẩn đoán thống kê (Diagnostic and statistical manual of mental disorder- 4th ), gọi là mất ngủnguyên phát [43]

- Gọi là mất ngủ mạn tính khi xuất hiện hơn 3 đêm trong 1 tuần và kéo

dài trên 1 tháng

- Mất ngủ mạn tính kéo dài trên 1 năm sẽ là yếu tố nguy cơ gây trầm

cảm nặng [4 3 39 ]

1.2.3 Dịch tễ học mất ngủ

1.2.3.1 Trên thế giới

Mất ngủ ngày càng trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội hiện đại.Mất ngủ tăng theo thời gian vì những căng thẳng trong cuộc sống ngày càngtăng lên, có khuynh hướng tăng cao trong giới nữ, người cao tuổi, người bị rốiloạn tâm lý và những người thiệt thòi về kinh tế xã hội [335]

Năm 1979 theo thông báo của trung tâm “Hội các rối loạn về giấc ngủ”(Association sleep disorders center) cho biết số người mất ngủ chiếm 35% dân

số Năm 1990 viện Gallup (Mỹ) công bố số liệu nghiên cứu ở 8 nước cho thấy:Pháp có 31%, Italia có 35%, Anh có 34%, Đan Mạch có 31%, Bỉ có 27%, Tâyban nha 23%, Đức có 23%, Mỹ có 27% người bị rối loạn giấc ngủ [53]

Về tuổi, nhiều nghiên cứu cho rằng, tuổi cao là một yếu tố nguy cơ củamất ngủ Năm 2001 Ohayon và cộng sự nghiên cứu 13057 đối tượng có độtuổi từ 15 trở lên thuộc nhiều quốc gia khác nhau gồm Anh, Đức, Italy nhậnthấy có hơn 1/3 số người từ độ tuổi 65 trở lên có triệu chứng mất ngủ [4440]

Năm 1996, nghiên cứu của WHO tại 15 khu vực trên thế giới ước tính

có 26,8% người trên thế giới bị mất ngủ được khám và điều trị tại các trung

Trang 22

tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu, trong đó số tỷ lệ mất ngủ ở phụ nữ caokhoảng 1,5 lần so với nam giới [324].

Tỷ lệ mất ngủ chung trong cộng đồng theo nhiều nghiên cứu dao động

20 – 30% [55] Năm 2000, tại Pháp, Lerger và cộng sự nghiên cứu trên 12778

cá nhân thấy 29% bị mất ngủ thường xuyên Năm 2001, Sutton và cộng sựbáo cáo 24% dân số Canada độ tuổi từ 15 trở lên bị mất ngủ Năm 1999,nghiên cứu của Ishigooka và cộng sự trên 6277 bệnh nhân ngoại trú của 11bệnh viện ở Nhật Bản thấy có 20,3% bị mất ngủ, trong đó có 11,7% bị mấtngủ từ 1 tháng trở lên [4440]

Tỷ lệ các vấn đề về giấc ngủ đang tăng lên nhanh chóng ở các nướcphát triển, gần bằng tỷ lệ được thấy ở các nước phát triển Điều này là do sựgia tăng về tỉ lệ mắc các vấn đề như trầm cảm và lo âu Như Tanzania, Kenya

và Ghana có tỷ lệ 8,3% - 28,5%, Indonesia là 3,9% ở nam giới và 4,6% ở nữgiới [245]

1.2.3.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, rối loạn giấc ngủ chiếm tỷ lệ khá cao (50-80%), thườnggặp rối loạn trầm cảm, rối loạn lo âu và các bệnh lý tâm sinh [7]

Theo trung tâm sức khỏe cộng đồng TPHCM cho biết, mỗi ngày nơiđây có khoảng 200 người đến khám liên quan đến giấc ngủ, bệnh rối loan giấcngủ rất phổ biến như các chứng ngáy, tay chân không yên, khó ngủ [1820]

Theo Lương Hữu Thông tỷ lệ mất ngủ khác nhau ở 2 giới: nam 40%, nữ 60,0% - 65,5% [324]

34,5-Năm 2008, Lý Duy Hưng nghiên cứu đặc điểm lâm sàng 51 bệnh nhânrối loạn giấc ngủ trong các rối loạn liên quan đến stress thấy 96,1% có hiệuquả giấc ngủ dưới 85%, trong đó 68,7% có hiệu quả giấc ngủ dưới 65% [167]

Năm 2009, Nguyễn Xuân Bích Huyên và cộng sự lần đầu tiên tiến hành

Trang 23

nghiên cứu tỷ lệ hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ trên bệnh nhânViệt Nam có ngáy và rối loạn giấc ngủ tại khoa Hô hấp, Bệnh viện Chợ Rẫy.Các bệnh nhân được chẩn đoán xác định qua kết quả đa ký hô hấp hoặc đa kýgiấc ngủ Tác giả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc hội chứng này trong nhómbệnh nhân đến khám vì ngáy và rối loạn giấc ngủ là 88,3% [1820].

Năm 2011, Trần Mai Phương Thảo khảo sát tình hình sử dụng thuốcđiều trị mất ngủ tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương trên 50 bệnh nhân, đã chỉ

ra được một số đặc điểm lâm sàng của mất ngủ, đồng thời cho thấy hiệu quảđiều trị của các nhóm thuốc ngủ là khác nhau [313]

Năm 2012, tác giả Nguyễn Thanh Bình nghiên cứu đặc điểm lâm

sàng, đa ký giấc ngủ và đánh giá hiệu quả thở áp lực dương liên tục ở bệnh nhân có hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ thấy hiệu quả giấc ngủ giảm, đạt 61,6% và chứng minh phương pháp này mang lại những

kết quả đáng kể [6]

1.2.4 Sinh lý bệnh mất ngủ

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến mất ngủ như:

- Các bệnh lý gây đau như thoái hóa khớp, viêm khớp, loãng xương, đau

do thiểu năng động mạch vành,… các bệnh gây tiểu đêm như u xơ tiền liệttuyến, đái tháo đường,…các bệnh gây khó thở như suy tim, viêm phế quản,hen phế quản,… thường xảy ra vào lúc nửa đêm về sáng làm cho người bệnhtỉnh giấc giữa chừng sau đó rất khó ngủ lại Các bệnh lý nội khoa (viêm khớp,tâm lý, viêm khớp, bệnh tim mạch, các chứng đau mạn tính

- Do tâm lý: Mất ngủ thường xảy ra sau một sang chấn tâm lý hoặc xảy

ra sau một loạt những sự kiện bất lợi trong cuộc sống, như về hưu, có ngườithân mất, trầm cảm, lo âu Các bệnh lý tâm thần kinh: Trầm cảm, hay lo âu,stress (về công tác xã hội, công việc gia đình, tài chính của bản thân và gia

Trang 24

đình,…), sa sút trí tuệ là những bệnh thường hay gây rối loạn giấc ngủ ởngười cao tuổi.

- Các yếu tố về môi trường

- Có một số trường hợp bị mất ngủ mạn tính ngay từ khi còn nhỏ.

- Yếu tố gia đình, cũng như vai trò của nhân cách: chưa có tài liệu nào khẳng định cụ thể.

- - Các nguyên nhân thông thường: thay đổi công việc, rối loạn nhịp thứcngủ, buồn rầu, suy nhược, đi máy bay, stress, vui mừng quá hay kích động,phòng ngủ giường ngủ không đáp ứng được giấc ngủ, sử dụng thuốc, tuổitác, phụ nữ tiền mãn kinh

- Sử dụng nhiều loại thuốc ngày càng trở nên phổ cập ở người cao tuổi,đặc biệt là nhóm người cao tuổi mắc bệnh tâm thần và đa bệnh lý Do thuốc:Một số loại thuốc khi sử dụng ảnh hưởng tới giấc ngủ như thuốc mê, thuốclợi tiểu, một số thuốc chống suy nhược, các thuốc loại steroid, các thuốc loạichẹn beta giao cảm, thuốc giảm đau chứa caffeine, một số loại thuốc ho, nếuđang sử dụng thuốc an thần hoặc thuốc ngủ mà dừng đột ngột có thể lànguyên nhân gây mất ngủ trở lại

- Sử dụng chất kích thích: Rượu, bia, cà phê, thuốc lá,…

- Do rối loạn lịch thức ngủ trong ngày như lịch làm việc thay đổi thấtthường , làm việc theo ca không thường xuyên (53% công nhân ca đêm ngủgật ít nhất 1 lần trong tuần), do thay đổi múi giờ chênh lệch như khi đi dulịch đến các vùng có mức chênh lệch múi giờ từ 6 - 24 giờ Thói quen củangười ngủ cùng như ngáy,…

- Các yếu tố môi trường: Ánh sáng, tiếng ồn, nhiệt độ, thoáng khí, thayđổi nơi ngủ,…

Trang 25

1.2.5 Lâm sàng

1.2.5.1 Các triệu chứng ban đêm

- Thời lượng giấc ngủ giảm: tất cả các bệnh nhân đều giảm số lượng thời gian mất ngủ, chỉ ngủ được 3-4 giờ/24 giờ, thậm chí có bệnh nhân thức trắng đêm.

- Khó đi vào giấc ngủ: Đây là than phiền hay gặp đầu tiên Bệnh nhânkhông thấy có cảm giác buồn ngủ, trằn trọc, căng thẳng lo âu, thường mất từhơn 30 phút đến 1 giờ h30 phút mới đi vào giấc ngủ

- Hay tỉnh giấc vào ban đêm: giấc ngủ của bệnh nhân bị chia cắt ra, giấcngủ chập chờn, không ngon giấc, thường tỉnh giấc và khi đã tỉnh giấc thì rấtkhó ngủ lại

- Thức giấc sớm: đa số bệnh nhân phàn nàn là ngủ ít quá, tỉnh dậy sớm Cácbệnh nhân thường có thói quen nằm lại trên giường để xem có ngủ lại được không,

vì vậy nhiều khi họ rời khỏi giường rất muộn so với lúc họ chưa bị mất ngủ

1.2.5.2 Các triệu chứng ban ngày

- Trạng thái kém thoải mái, mệt mỏi vào ban ngày: Là hậu quả của trạngthái thiếu hụt giấc ngủ Bệnh nhân mô tả thấy suy yếu, thụ động, ít quan tâmđến công việc, luôn suy nghĩ tập trung vào sức khỏe và giấc ngủ của họ

- Đau đầu, cảm giác chóng mặt vào buổi sáng

- Giảm trí nhớ: hay quên, giảm chức năng nhận thức

- Khó tập trung chú ý, hay quên, giảm hứng thú trong công việc, tiếp xúcbạn bè, gia đình…

Trang 26

ngủ Như vậy cả ngày sự cảnh tỉnh của họ xấu hơn so với người bìnhthường.Bệnh nhân mô tả thấy suy yếu, thụ động, ít quan tâm đến công việcluôn luôn suy nghĩ tập trung vào sức khoẻ và giấc ngủ của họ Khó hoàn tấtcông việc trong ngày, kém thoải mái về cơ thể và giảm hứng thú trong côngviệc tiếp xúc với gia đình và bạn bè.

1.2.5.23 Các rối loạn tâm thần kèm theo

Các triệu chứng tâm thần thứ phát sau mất ngủ:

- Khó tập trung chú ý, hay quên

- Trạng thái trầm cảm tăng nhẹ

- Lo âu kéo dài

- Dễ ức chế cảm xúc, cáu gắt, bực tức.sự lo âu có thể xẩy ra vào banngày

1.2.6 Các phương pháp đánh giá rối loạn giấc ngủ trên lâm sàng và cận lâm sàng

1.2.6.1 Phương pháp đánh giá trên lâm sàng

* Đánh giá chất lượng giấc ngủ: bằng thang Pittsburgh (PSQI) của Daniel

J.Buyse năm 1989, nhằm đánh giá các chỉ số về chất lượng giấc ngủ [4641]

Chỉ báo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh được chuẩn hóa ở Mỹ năm 1988

và được công bố năm 1989, thang điểm này đang được các nhà lâm sàng nhìnnhận như một công cụ hữu hiệu để đánh giá giấc ngủ, khắc phục được tínhchất chủ quan trong các khám nghiệm trước đây Năm 2001, ở Việt NamPSQI đã được chuẩn hóa Các tác giả đã nhận thấy thang đo này có giá trị sửdụng đáng tin cậy trong lâm sàng để đánh giá mức độ mất ngủ và có thể dùng

nó để theo dõi tiến triển mất ngủ [30] Đánh giá các thành tố như sau:

Không có rối loạn giấc ngủ: 0 điểm; Rối loạn nhẹ: 1 điểm; Rối loạn vừa:

2 điểm; Rối loạn nặng: 3 điểm

Tổng điểm được cộng tử 7 thành tố trên

Trang 27

Chỉ báo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh được chuẩn hóa ở Mỹ năm 1988

và được công bố năm 1989, thang điểm này đang được các nhà lâm sàng nhìnnhận như một công cụ hữu hiệu để đánh giá giấc ngủ, khắc phục được tínhchất chủ quan trong các khám nghiệm trước đây Năm 2001, ở Việt NamPSQI đã được chuẩn hóa Các tác giả đã nhận thấy thang đo này có giá trị sửdụng đáng tin cậy trong lâm sàng để đánh giá mức độ mất ngủ và có thể dùng

nó để theo dõi tiến triển mất ngủ [32] Đánh giá các thành tố như sau:

Không có rối loạn giấc ngủ: 0 điểm; Rối loạn nhẹ: 1 điểm; Rối loạnvừa: 2 điểm; Rối loạn nặng: 3 điểm

Tổng điểm được cộng từ 7 thành tố trên

* Chất lượng giấc ngủ

* Giai đoạn thức ngủ

* Thời lượng giấc ngủ

* Hiệu quả của thói quen đi ngủ

* Các rối loạn trong giấc ngủ

* Các rối loạn trong ngày

* Sự sử dụng thuốc

Phân loại mức độ mất ngủ:

 Không có rối loại giấc ngủ: 0-4 điểm

 Rối loạn mức độ nhẹ: 5-10 điểm

 Rối loạn mức độ vừa: 11-18 điểm

 Rối loạn mức độ nặng: ≥ 19điểm

1.2.6.2 Phương pháp đánh giá trên cận lâm sàng

Test tâm lý: Đánh giá chất lượng giấc ngủ: bằng thang Pittsburgh

(PSQI) của Daniel J.Buyse năm 1989, nhằm đánh giá các chỉ số về chấtlượng giấc ngủ [ 4 2 ]

Trang 28

Năm 2001, ở Việt Nam, PSQI đã được chuẩn hóa Các tác giả đã nhậnthấy thang đo này có giá trị sử dụng đáng tin cậy trong lâm sàng để đánh giámức độ mất ngủ và có thể dùng nó để theo dõi tiến triển mất ngủ

Điện não đồ: Điện thế pha chậm của giấc ngủ có sự tăng chậm và tớimức thấp hơn trong các bảng delta và theta

Trong những năm gần đây, một số tác giả sử dụng điện não đồ như mộtphương tiện để chẩn đoán, theo dõi diễn biến và điều trị bệnh tâm căn suynhược [4] Các sóng điện não là những dao động có tần số, biên độ, hình dángkhác nhau [4], [27], [2821] Để đánh giá một bản điện não đồ, người ta dựavào một số tiêu chuẩn hoặc đặc tính như sau:

- Tần số của mỗi sóng (tính bằng Hz)

- Biên độ của sóng (tính bằng μV)V)

- Hình dáng các sóng

- Vị trí, điều kiện xuất hiện các sóng

- Điều kiện làm thay đổi các sóng [258]

Dựa vào các tiêu chuẩn trên người ta xác định được các sóng trên điệnnão đồ cơ sở ở người

+ Nhịp alpha (α):):

Nhịp alpha được Berger mô tả lần đầu tiên năm 1920, nên còn gọi lànhịp Berger [4] Bình thường ở người trưởng thành, nhịp alpha xuất hiện đềuđặn Biên độ nhịp alpha rất khác nhau giữa các cá thể, thay đổi theo trạng thái

và thời gian trên một cá thể Biên độ nhịp alpha thường ở khoảng 35-70 μV)V,cao nhất ở vùng chẩm Berger cho rằng sóng alpha có biên độ 15-20 μV)V, còntheo Cobb biên độ sóng alpha dao động từ 0 đến 40-60 μV)V Đa số nhịp alpha

có biên độ từ 5-20 μV)V, rất hiếm trên 100μV)V ở người trưởng thành [257] Tần

số nhịp alpha khoảng 8-13Hz, thường gặp 9-10Hz Chỉ số nhịp alpha bìnhthường khoảng 70% ở vùng chẩm

Nhịp alpha ghi ở những điểm đối xứng của hai bán cầu não thường có

Trang 29

tính chất đồng bộ cả hai bên Nếu tình trạng không đối xứng về biên độ khôngvượt quá 25-30% thì vẫn coi là bình thường [4] Nhịp alpha thường có dạnghình sin, thành chuỗi sóng hình thoi, xuất hiện rõ và nhiều nhất ở vùng chẩm,khi nhắm mắt, không suy nghĩ, không vận cơ, không bị kích thích khác củamôi trường tác động.

* Nhịp beta (β))

Berger cũng đã mô tả nhịp beta lần đầu tiên năm 1920 Nhịp beta còn gọi

là nhịp căng thẳng, là nhịp thay đổi nhiều nhất trên điện não đồ [4], [257] Cónhiều tác nhân làm thay đổi nhịp beta: no, đói, vận động, căng thẳng tinhthần…Nhịp beta xuất hiện trên tất cả các vùng của não, nhưng ưu thế ở vùngtrước của não, tức là ở vùng trán, vùng thái dương và thường không đối xứng

ở hai bán cầu não [4] Tần số nhịp beta khoảng 14-35Hz, hay gặp ở 14-24Hz.Nhịp beta ghi được ở nữ giới nhiều hơn ở nam giới biên độ nhịp beta bìnhthường khoảng 5-15μV)V, hay gặp 8-10μV)V, đôi khi đạt đến 30μV)V Chỉ số nhịpbeta trên từng người rất ổn định, chỉ số beta tăng lên biểu thị của tăng trươnglực của vỏ não [4],[275],[286]

Hình ảnh điện não đồ trên bệnh nhân tâm căn suy nhược cho thấy giảmbiên độ và chỉ số nhịp alpha, sóng điện não dẹt, chỉ có 30-35% trường hợp cóxuất hiện từng đọt sóng alpha Có sóng nhanh beta, sóng chậm theta, deltatrên tất cả vùng não [268]

1.2.7 Tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ không thực tổn

1.2.7.1 Theo tiêu chuẩn của ICD-10 mục F51.0

- Phàn nàn cả về khó đi vào giấc ngủ hay khó duy trì giấc ngủ, hay chấtlượng giấc ngủ kém

- Rối loạn giấc ngủ đã xảy ra ít nhất là ba lần trong một tuần trong ít nhất

là một tháng

- Rối loạn giấc ngủ gây nên sự mệt mỏi rõ rệt trên cơ thể hoặc gây khókhăn trong hoạt động chức năng lúc ban ngày

Trang 30

- Không có nguyên nhân tổn thương thực thể, như là tổn thương hệ thầnkinh hoặc những bệnh lý khác, rối loạn hành vi, hoặc do dùng thuốc [19 2 1 ].

1.2.8 Điều trị mất ngủ

Các phương pháp như điều trị bằng thuốc, can thiệp hành vi và thay đổilối sống có thể góp phần điều trị mất ngủ

1.2.8.1 Can thiệp không dùng thuốc

Vệ sinh giấc ngủ: là phương pháp giáo dục được thiết kế cho nhữngngười mất ngủ cũng như cho cộng đồng, bao gồm các hướng dẫn để làmthế nào có được nhịp thức ngủ lành mạnh, cố gắng duy trì đều thời gianngủ và thức

Liệu pháp kiểm soát kích thích: để cải thiện giấc ngủ, người ta thườngthay đổi môi trường phòng ngủ như đặt giường ngủ nơi thoáng mát, yên tĩnh

và làm các động lực thư giãn trước khi ngủ, giữ môi trường thoáng mát, yêntĩnh trước khi ngủ Tránh bất kì mọi hoạt động kích thích và tăng độ tỉnh táotrước khi đi ngủ như xem tivi, đọc các sách có tác dụng hưng phấn Nếu bệnhnhân không thể ngủ được sau 20 phút họ nên rời khỏi giường, ra khỏi phòngngủ và chỉ quay lại phòng khi cảm thấy đủ mệt để buồn ngủ trở lại, việc này

có thể lặp đi lặp lại cho đến khi bệnh nhân ngủ được

Liệu pháp hạn chế giấc ngủ, tăng xu hướng ngủ và dễ đi vào giấc ngủ:

để hạn chế thời gian thức tỉnh trên giường và tăng hiệu quả của giấc ngủ,bệnh nhân không nên đi ngủ quá sớm

Liệu pháp hành vi - nhận thức: nội dung giáo dục là khuyến khíchbệnh nhân xác định rõ yếu tố nào là yếu tố thuận lợi, khởi phát của mấtngủ Từ đó giải quyết các suy nghĩ thích nghi kém hoặc sự tin tưởng khôngđúng về mất ngủ

Rèn luyện thư giãn: bệnh nhân nên thực hiện thư giãn cơ bắp hàng

Trang 31

ngày, tập các bài thư giãn vào buổi tối, không nên làm việc căng thẳng trongkhoảng 60 phút trước khi đi ngủ

Ngừng hoặc giảm sử dụng rượu cà phê, thuốc lá và các chất khác cảntrở giấc ngủ

Xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu, dưỡng sinh… có tác dụng tốt trongđiều trị mất ngủ

Mười lời khuyên dành cho bệnh nhân (phụ lục 45)

1.2.8.2 Điều trị bằng thuốc

* Các phương pháp điều trị theo Y học hiện đại

* Sử dụng các loại thuốc có thời gian bán huỷ ngắn, tác dụng nhanh và

ít tác dụng phụ: Cho những người mất ngủ tạm thời, những người khó đi vào

giấc ngủ và đặc biệt cho những người có tuổi để tránh hiện tượng loạngchoạng vào sáng hôm sau Những loại này tạo ra giấc ngủ nhanh sâu, tạo cảmgiác dễ chịu thoải mái khi ngủ dậy Nhưng nhược điểm lớn nhất là chúng gâyhiện tượng tăng triệu chứng mất ngủ và đòi hỏi tăng liều ở ngày kế tiếp[484962]

* Sử dụng các loại thuốc có thời gian bán huỷ vừa và chậm: Các thuốc

này có ưu điểm tác dụng ổn định và ít làm tăng sự mất ngủ Nhược điểm củanhững loại thuốc này là rất dễ bị lạm dụng và dễ gây nghiện, ở người có tuổiphải lưu ý sự say thuốc, loạng choạng khi thức dậy và tác dụng phụ kéo dàikhô miệng sau giấc ngủ [38]

* Các thuốc giải lo âu Benzodiazepines, khi sử dụng khởi đầu bằng liềuthấp và chỉ dùng trong thời gian ngắn, không nên sử dụng kéo dài vì sẽ gây lệthuộc thuốc

* Có thể sử dụng các thuốc gây ngủ, thuốc giải lo âu, thuốc chống trầmcảm trong điều trị mất ngủ, vì mất ngủ liên quan mật thiết với lo âu và trầm cảm

* Giáo dục phòng bệnh:

Trang 32

- Làm việc có điều độ không thức đêm quá nhiều trong một thời gian lâu

dễ thành thói quen rồi thành bệnh

- Các biện pháp tâm lý chủ yếu là giáo dục người bệnh chú ý vệ sinh giấc ngủ tốt.Hội nghị khoa học về mất ngủ năm 2005 đã kết luận rằng:

+ Tất cả các thuốc chống trầm cảm đều tiềm tàng có các tác dụng không mong muốn, vì vậy mà cần chú ý cân nhắc giữa cái lợi và cái hại

+ Nhóm thuốc tâm thần và barbiturat có nguy cơ cao vì vậy mà hai nhóm thuốc này không được khuyến cáo để điều trị mất ngủ

+ Không có bằng chứng một cách hệ thống về hiệu quả của nhóm kháng

histamin, tuy nhiên cũng không có nguy cơ nào đáng kể về nhóm thuốc này + Nếu sau khi cân nhắc kĩ lưỡng, phương pháp tốt nhất cho điều trị mất ngủ vẫn là dùng thuốc thì thuốc được lựa chọn nên là nhóm thuốc ngủ non-

benzodiazepam, đây cũng là nhóm thuốc có tác dụng ngắn thế hệ mới được Hiệp hội thuốc và thực phẩm công nhận Thuốc giải lo âu benzodiazepam, khi

sử dụng khởi đầu bằng liều thấp và chỉ dùng trong thời gian ngắn, không nên

sử dụng kéo dài vì sẽ gây lệ thuộc thuốc

* Phương pháp điều trị mất ngủ bằng thuốc Y học cổ truyền

Các vị thuốc hay dùng

Các thuốc có nguồn gốc thảo dược: Tâm sen, lá vông, lạc tiên, củ bình vôi, cây húng hôi, toan táo nhân sao, bá tử nhân… có hiệu quả cao trong điều trị rối loạn giấc ngủ Gần đây các nhà y học đề xuất việc thay thế liệu pháp hoá học bằng liệu pháp thực vật với một số loại thảo mộc có tác dụng giúp cho người bệnh tìm lại được giấc ngủ sâu và êm dịu Đối với

Trang 33

người bị chứng mất ngủ mạn tính bao gồm các loại mất ngủ kéo dài từ vài tháng đến vài năm [2].

Một số bài thuốc kinh điển

Tâm và Tỳ hư dùng Quy Tỳ thang hoặc bài Dưỡng Tâm thang, hoặc Lýthị bất mị nghiệm phương để bổ huyết, ích khí trấn tâm an thần, Triệu thị nhịnhục thang để ích Tâm Tỳ, sinh khí huyết, bổ Can Thận, Lăng thị thất miênphương để bổ Thận dưỡng Tâm Mất ngủ do chân âm kém, hoả vượng dùngcác bài Hoàng liên a giao thang, Chu sa thần hoàn, Thiên vương bổ tâm đan.Mất ngủ do khí của Tâm và Đởm hư: Toan táo nhân thang hoặc bài An thầnđịnh trí hoàn Mất ngủ do Vị không điều hoà do đờm hoả ngăng chặn dùngbài: Ôn đởm thang, bán hạ truật mễ thang Thức ăn trệ lại không tiêu: Bảo hoàhoàn Sau khi ốm dậy mà không ngủ được: Quy Tỳ thang Do huyết hư cannhiệt: Bách hổ phách đa mị hoàn Tâm Thận không giao nhau dùng bài Giaothái hoàn hoặc Triệu thị tử linh thang để bồi bổ trung tiêu, ích tinh, mạnh sự

ăn uống, giao thông Tâm Thận [2931]

1.3 Quan niệm của Y học cổ truyền về mất ngủ

Bệnh danh bất mị (thường gọi là thất miên) là một chứng bệnh trongYHCT có biểu hiện đặc trưng là vào giấc ngủ khó khăn, trường hợp nhẹ thìbệnh nhân khó vào giấc ngủ, khi đã ngủ lại dễ tỉnh giấc, tỉnh rồi khó ngủ lại,trường hợp nặng thì mất ngủ cả đêm [5], [9 10 ], [2 7 29 ]

Nguyên nhân mất ngủ khá phức tạp, theo Y học cổ truyền, chứng mấtngủ do huyết hư, hoặc do thận âm suy kém, hoặc do hoả của can đởm bốchoặc do vị khí không điều hoà hoặc do sau khi ốm bị suy nhược không ngủđược Theo sách Cảnh nhạc toàn thư: “Ngủ là gốc ở phần âm mà thần làmchủ, thần yên thì ngủ được, thần không yên thì ngủ không được” Thần sở dĩkhông yên thì một là do tà khí nhiễu động, hai là do tinh khí không đủ, chữ

“tà” nói ở đây chủ yếu là chỉ vào đờm, hoả, ăn uống, chữ “vô tà” là chỉ vàotức giận, sợ hãi, lo nghĩ, những cái đó đều là nguyên nhân gây thành chứng

Trang 34

không ngủ Thiên này đem chứng không ngủ tóm tắt thành năm nguyên nhânchính là: Tâm Tỳ hư, Tâm Thận bất giao, Khí của Tâm và Đởm hư, Vị khôngđiều hoà [8],[Error: Reference source not found3438],[35],[36]

Nguyên nhân theo Y học cổ truyền thường do các nguyên nhân sau:

-Lo nghĩ mệt nhọc: làm hại đến tâm tỳ, tâm tổn thương thì âm huyết haodần, thần không ở yên một chỗ, huyết nóng gây loạn thần Sách Cảnhnhạc nói: “Nhọc mệt lo nghĩ quá, làm huyết dịch hao mòn, thần hồnkhông có chủ sinh ra không ngủ” [10]

-Dương không giao với âm: Tâm thận không giao, người vốn suy nhượchoặc người bị bệnh lâu, thận âm hao tổn, không nuôi dưỡng được tâm,thủy không giúp được hỏa thì tâm dương bốc lên, hoặc tình chí quá cực,tâm thận bất giao thì tâm hỏa càng thịnh lên, thần chí không yên màkhông ngủ được[10]

-Âm hư hỏa vượng: can khí nhiễu động, tình chí tổn thương, can khí mấtđiều đạt, khí uất không thông lợi được, uất lại hóa hỏa, hỏa tính bốc lên, âm

hư dương cang, nhiễu động tâm thần, thần không yên mà không ngủ được

-Tâm hư đởm khiếp: không quyết đoán được việc, giặp việc dễ sợ, tâmthần không yên cũng sinh ra mất ngủ, trường hợp này do người yếu, tâmđởm vốn hư dễ kinh, dễ sợ, đêm ngủ không yên[10]

- Vị khí không hòa: Ăn uống không điều hòa, trường vị bị tổn thương,thức ăn đình trệ gây thành đờm nhiệt, ủng tắc ở giữa, đờm nhiệt quấylên, vị khí không điều hòa, làm cho ngủ không yên[10]

Chứng mất ngủ do nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng liên quan tới tâm,

tỳ, can, thận, và âm huyết không đủ đều vì dương thịnh, âm suy, âm dươngkhông giao nhau Giận dữ lo nghĩ ưu uất, lao động mệt nhọc hại đến cáctạng, tinh huyết hao tổn ở trong ảnh hưởng đến nhau, thường ảnh hưởng đếnmất ngủ kéo dài, cho nên bệnh mất ngủ phần nhiều do hư Hay gặp cácchứng hư sau:

Trang 35

- Tâm Tỳ hư: là tên gọi chung chỉ những chứng trạng do Tâm huyết

hao tổn, Tỳ khí bị tổn hại dẫn đến Tâm thần mất nuôi dưỡng, Tỳ khí hư yếukhông làm được chức năng thống huyết, Tâm là nơi chứa Thần, thống nhiếphuyết mạch, Tỳ là nơi chứa ý sinh ra huyết, phàm chứng mất ngủ là do âmhuyết hư kém, thần, hồn và ý đều bị hư tổn [3443] Trương cảnh nhạc nói:Mệt nhọc nghĩ quá độ thì tất nhiên làm huyết dịch bi hao tổn, tâm thần không

ổn định cho nên mất ngủ” Bệnh bất mị - xuất hiện trong chứng Tâm Tỳ hư cóđặc điểm là mê nhiều dễ thức giấc, giấc ngủ không yên, Bệnh phần nhiều do

tư lự, mệt nhọc tổn hại đến Tâm Tỳ, âm huyết ngấm ngầm bị suy hao, thầnkhông nơi ở Tỳ bị tổn thương mất khả năng sinh hoá chất tinh vi, huyết hưkhó hồi phục, tâm thần mất sự nuôi dưỡng mà thành mất ngủ

Triệu chứng: do lao động hoặc suy nghĩ quá mức, không ngủ, sắc mặtkhông tươi, người mệt, tinh thần uể oải, ăn uống không ngon, hay quên Mạch

tế sác Tâm tỳ hư pháp điều trị là bổ ích tâm tỳ [510] ,[95]

- Tâm thận bất giao: Tâm với thận trong tình huống bình thường, chủ yếu

là có mối quan hệ trên và dưới cùng giao nhau, thuỷ với hoả cùng giúp đỡ nhau.Nếu do bẩm phú bất túc, hoặc hư lao ốm lâu, hoặc phòng thất quá đáng v.v khiếncho Thận thuỷ hư suy ở dưới không thể giúp cho Tâm hoả ở trên Tâm hoả vượng

ở trên không thể giao với Thận ở dưới, hoặc do mệt nhọc tinh thần quá độ, ngũ chíquá cực đến nỗi Tâm âm bị hao tổn ngấm ngầm, Tâm dương quá thịnh, Tâm hoảkhông thể giao với Thận ở dưới, Tâm hoả không giáng xuống, Thận thuỷ khôngthăng lên tạo thành tình thế thuỷ hoả của Tâm Thận không giúp đỡ nhau sẽ hìnhthành bệnh biến Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là hư phiền không ngủ, hay mê, ngũtâm phiền nhiệt, miệng khô ít tân dịch, lại kiêm cả chứng trạng váng đầu, ù tai, hồihộp, lưỡi đỏ, mạch tế sác Pháp điều trị là tư âm giáng hỏa [910]

- Tâm đởm khí hư: Đởm trọc nội nhiễu làm nhiễu tâm khiếu nên tâmthần không yên gây mất ngủ hay mê, dễ bị kinh sợ mà gây hồi hộp Khí hư

gây nên hụt hơi, mệt mỏi, uể oải, tiểu tiện trong, mà số lượng nhiều, chất

Trang 36

lưỡi nhợt, mạch huyền vi Pháp điều trị là ích khí trấn kinh, an thần định trí [510], [95].

- Can uất hóa hỏa: Cáu giận làm tổn thương can, can uất hóa hỏa, hỏa

thăng bốc lên trên gây loạn tâm thần gây rối loạn giấc ngủ và dễ cáu giận.Can khí uất kết gây nên dau tức sườn Can khí phạm vị gây nên không muốn

ăn Can uất hóa hỏa nên càng càng khắc chế tỳ vị mạnh hơn làm cho vị nhiệtgây khát nước hỏa nhiệt nhiễu loạn lên trên gây miệng đắng mắt đỏ ù tai, tiểutiện ít màu sẫm, chất luỡi hồng rêu lưỡi vàng Mạch huyền sác Pháp điều trị

là thanh can tả hỏa để an thần[510],[95]

Tóm lại nguyên nhân gây mất ngủ do Tâm, Tỳ, Can, Thận, gây ra VìTâm thống huyết, Tỳ sinh huyết, Can tàng huyết, nếu lo nghĩ buồn rầu quá mứchuyết dịch của ba tạng Tâm, Tỳ, Can đều gây mất ngủ Thận tàng tinh, tinhtàng trí, do Thận âm suy yếu hoặc vì sợ hãi tổn thương đến thận, tinh kém thìtình trí không ổn định đều có thể gây mất ngủ Khi chữa bệnh ngoài việc dùngthuốc còn phải chú ý đến nhân tố tình trí người bệnh Khuyên người bệnhkhông để tinh thần kích động hạn chế chất kích thích, luyện khí công dưỡngsinh, những điều đó là phương pháp hữu hiệu phòng ngừa mất ngủ [5],[910],

Trang 37

con người; tập thở, vận động, (10 phép đạo dẫn, 6 phép vận động, 24 độngtác) để tăng sức khoẻ.

Những năm 60 của thế kỷ 20, Bệnh viện Y học cổ truyền đã mở nhiềukhoá hướng dẫn luyện tập Khí công, Thái cực quyền, Xoa bóp vận động đểphòng, chữa bệnh

Cuốn “Khí công” của Hoàng Bảo Châu (NXB Y học 1972) đã nêu lênmột cách hệ thống và hoàn chỉnh tác dụng và phương pháp tập luyện Khí công

Dựa vào kinh nghiệm cổ truyền trong nước, kinh nghiệm ngoài nước vàkinh nghiệm bản thân Bác sỹ Nguyễn Văn Hưởng đã soạn cuốn “Phươngpháp dưỡng sinh” Phương pháp này đã được Bệnh viện y học cổ truyềnnghiên cứu áp dụng từ năm 1975 đế nay [30]

1.4.2 Trung Quốc

Kinh dịch có thuyết 1 thành 2: thái cực sinh lưỡng nghi, có cương nhu,sinh sát, thuận nghịch Thuyết 2 thành 1 (ổn định lại): sự sống bản thân cóthuỷ hoả tương tế nghĩa là thuỷ thăng lên tâm để mát tâm, hoả giáng xuống đểlàm ấm thận tạo nên cân bằng âm dương

Cuốn “Hoàng đế nội kinh” (tài liệu sớm nhất của y học đông phươngthế kỷ 5-3 TCN), đã đề xuất quan điểm phòng bệnh, đưa dưỡng sinh lên vịtrí hàng đầu: “Người thượng cổ biết phép dưỡng sinh, thuận theo quy luật

âm dương, thích ứng với thời tiết bốn mùa, biết phép tu thân dưỡng tính, ănuống tiết độ, sinh hoạt chừng mực, không làm lụng bừa bãi mệt nhọc, nênthể xác và tinh thần đều được khoẻ mạnh, hưởng hết tuổi trời cho 100 nămmới chết” [30]

1.4.3 Ở một số nước khác

Ở Ấn Độ có phương pháp Yoga: Yoga là khoa học cổ truyền, giúp chocon người thống nhất tốt hơn thể xác và tâm hồn, để trong khi thức giữ được sựthanh thản của tâm hồn, sự yên tĩnh nhất của đầu óc Có nhiều phương phápYoga nhưng phương pháp của Pantajali là quan trọng nhất Nó gồm có cải thiện

Trang 38

của tập tính xã hội, cải thiện hành vi cá nhân, tập động tác, tập tư thế tĩnh, tậpthở, tập khống chế hoạt động của các giác quan, luyện tập trung tư tưởng [30] 1.4.4 Phương pháp dưỡng sinh

Dưỡng sinh là phương pháp tự rèn luyện để nâng cao thể chất, giữ sứckhoẻ, phòng bệnh, chữa bệnh mạn tính để sống lâu, sống có ích

Nói đến dưỡng sinh sách Nội kinh viết: “Người đời thượng cổ biếtphép dưỡng sinh, thuận theo quy luật âm dương, thích ứng với thời tiết 4 mùa,biết tu thân dưỡng tính, ăn uống có tiết độ sinh hoạt có chừng mực, không làmlụng bừa bãi mệt nhọc, cho nên hình thể và tinh thần đều được khoẻ mạnh,

mà hưởng hết tuổi trời 100 năm mới mất”[30]

Rèn luyện thân thể:

Y học phương Đông cũng như y học phương Tây đều có nhiều phươngpháp tập luyện thân thể như đi bộ, tập bơi, tập thể dục buổi sáng, thể dục nhịpđiệu…Thể dục dưỡng sinh còn gọi là tập luyện dưỡng sinh có tác dụng toàndiện và phù hợp với người phương Đông, người Việt Nam hơn

Điều quan trọng là phải tập luyện thường xuyên, coi tập luyện thân thể

là cần thiết hàng ngày, là một thói quen tốt [30]

Mục đích của phương pháp dưỡng sinh

Về phương pháp dưỡng sinh trong nội kinh là một phương pháp tự lựccánh sinh, tự mình tập luyện cho mình nhằm 4 mục đích:

- Tăng cường sức khoẻ

- Phòng bệnh

- Trị một số bệnh mạn tính

- Tiến tới sống lâu và sống có ích

Bốn mục đích này gắn chặt vào nhau và thúc đẩy nhau một cách lô-gic.Mỗi ngày tập luyện, ăn ngon, thở tốt, ngủ say, thích thú lao động, thì sức khoẻ

Trang 39

càng ngày càng tăng lên biểu hiện bằng cảm giác nhẹ nhàng, cảm giác khoẻkhoắn, có khi cảm giác sảng khoái yêu đời [30].

1.4.5 Thực hành tập dưỡng sinh

1.4.5.1 Luyện thư giãn

Thư: nghĩa là thư thái, trong lòng lúc nào cũng thư thái, đầu óc thư thái.Giãn: nghĩa là nới ra, giãn ra như dây xích giãn ra

Thư giãn nghĩa là ở gốc trung tâm võ não thì phải thư thái, ở ngọn các

cơ vân và cơ trơn thì phải giãn ra Gốc thư thái thì ngọn sẽ giãn tốt, mà ngọngiãn tốt lại giúp cho gốc thư thái [18][30]

Kỹ thuật làm thư giãn (phụ lục)

1.4.5.2 Tác dụng của thư giãn

Thư giãn có nhiều tác dụng cả về thể chất lẫn tinh thần

- Về tinh thần:

+ Giúp vỏ não chủ động nghỉ ngơi

+ Làm cho tinh thần thoải mái không căng thẳng

-Về mặt thể chất:

+ Làm giảm chuyển hoá cơ bản vì toàn bộ cơ bắp được buông thả và từ

đó làm giảm sự tiêu thụ oxygen của cơ thể tiết kiệm được năng lượng + Giúp máu về tim dễ hơn và nhiều hơn

+ Giúp làm chủ được giác quan và cảm giác

+ Không để những xung kích bên ngoài tác động vào cơ thể

Trang 40

Thở bốn thì có giơ chân và kê mông là luyện tổng hợp thần kinh, khíhuyết, trọng tâm là luyện thần kinh, chủ động về hưng phấn và ức chế nhằmmục đích ngủ tốt, đồng thời làm cho khí huyết lưu thông[18][30].

Kĩ thuật thở 4 thì (phụ lục)

1.4.5.4 Tự xoa bóp bấm huyệt (phụ lục)

- Xoa bóp là một kích thích vật lý, trực tiếp tác động vào da thịt và các

cơ quan cảm thụ của da và cơ, gây nên những thay đổi về thần kinh thể dịch,nội tiết từ đó ảnh hưởng đến toàn thân [ 18 ][ 30 ]

Động tác xoa bóp: đầu mặt, ngực, bụng, chi trên, chi dưới (phụ lục)

- Tự day bấm huyệt: Nội quan, Thần môn, Tam âm giao (phụ lục)

Nội quan là huyệt thuộc kinh Thủ thiếu âm Tâm bào lạc, là lạc huyệt nối với kinh Thủ thiếu dương Tam tiêu, giao hội của Thủ quyết âm và Âm duy mạch Nội quan có tác dụng thanh tâm bào, sơ tam tiêu, định tâm an thần, thư trung, hòa vị, lý khí, trấn thống [8] [26].

Thần môn là nguyên huyệt của kinh thủ thiếu âm Tâm, có tác dụnglên huyết mạch và thần chí, có công năng thanh Tâm nhiệt, an thần, thanhhỏa, lương vinh, điều khí nghịch [9]

Tam Âm Giao là một trong số rất ít huyệt vị châm cứu có đặc tính tựđiều chỉnh rất cao giữa Âm và Dương, giữa bất cập và thái quá, giữa hưngphấn và ức chế đối với các bệnh lý có liên quan đến 3 tạng Tỳ, Can, Thận.Ngoài ra tác dụng làm êm dịu thần kinh còn do công năng "giáng khí" hoặc

“điều khí nghịch” của huyệt [8]

Sự kết hợp Nội quan, Thần môn, Tam âm giao với nhau thì có tác dụng

tư âm dưỡng huyết, kiện tỳ, ích vị, giao tế được thủy hỏa, quân bình được âmdương, bởi vì Nội quan, Thần môn có tác dụng thanh ở phần trên, Tam âmgiao có tác dụng ôn bổ phần dưới, trước là để hòa dương, sau là cố âm, âmdương hòa thì mới có thể tư sinh hóa dục

Ngày đăng: 24/07/2019, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w