1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI CÁC CƯ DÂN NÔNG THÔN TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

133 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 205,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI CÁC CƯ DÂN NÔNG THÔN TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAMGiao tiếp là một KN tất yếu không thể thiếu được trong hoạt động của con người. Nhân cách con người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của chính con người. Trong hoạt động giảng dạy và học tập, giao tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng. Hai hoạt động này cùng diễn ra và được trao đổi trong mối quan hệ thầytrò. Thông qua mối quan hệ này SV chiếm lĩnh tri thức trong chương trình học và làm cơ sở cho sự phát triển nhân cách bản thân.Giao tiếp của SV với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ là quá trình SV tiếp xúc với các cư dân nhằm trao đổi thông tin về kiến thức nông nghiệp, tư tưởng, tình cảm, KN, kinh nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp. Giao tiếp của SV với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ diễn ra với nhiều hình thức khác nhau, khả năng giao tiếp của SV phụ thuộc vào sự tự tin, phụ thuộc vào sự luyện tập, rèn luyện do các hoạt động GD KNGT mang lại.KNGT của SV bao gồm các KN: KN lắng nghe, KN truyền đạt thông tin; KN thuyết trình; KN viết biên bản. Các KNGT đặc trưng với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ gồm 6 KN: KN làm quen; KN tạo niềm tin; KN thu thập thông tin và phân tích thông tin; KN chia sẻ thông tin và kiến thức nông nghiệp; KN điều kiển quá trình giao tiếp; KN thuyết phục. Qua nghiên cứu thực trạng KNGT của SV và GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ của SV HVNN Việt Nam, đa phần GV, SV nhận thức được tầm quan trọng của việc GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ. Bước đầu, SV đã được GD và hình thành một số KNGT cơ bản thông qua các môn học. Tuy nhiên, nội dung GD KNGT với các cư dân nông thôn chưa được diễn ra thường xuyên nên SV vẫn còn yếu ở một số KN. Bên cạnh đó, yếu tố tâm lý, tính chủ động tích cực, của SV cũng là những khó khăn không nhỏ trong GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ.

Trang 1

GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI CÁC CƯ DÂN NÔNG THÔN TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN

NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

MỤC LỤ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI CÁC CƯ DÂN NÔNG THÔN TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG CHO SINH VIÊN 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.2 Tại Việt Nam 9

1.2 Các khái niệm cơ bản 13

1.2.1 Giao tiếp 13

1.2.2 Kỹ năng 16

1.2.3 Giáo dục 17

Trang 3

1.2.4 Giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung

tâm học tập cộng dồng cho sinh viên 18

1.2.5 Sinh viên 20

1.2.6 Cư dân nông thôn 21

1.2.7 Trung tâm học tập cộng đồng 23

1.3 Kỹ năng giao tiếp của sinh viên 24

1.3.1 Ý nghĩa của kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên 24

1.3.2 Mục tiêu giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên 26

1.3.3 Các kỹ năng giao tiếp cơ bản 26

1.3.4 Các hình thức giao tiếp của sinh viên 29

1.4 Giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng 31

1.4.1 Ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng 31

1.4.2 Mục tiêu của giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng 33

1.4.3 Nội dung giáo dục các kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng 34

1.4.4 Hình thức giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn cho sinh viên tại các trung tâm học tập cộng đồng 39

1.5 Các yếu tổ ảnh hưởng đến quá trình giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng cho sinh viên 43

1.5.1 Yếu tố khách quan 43

1.5.2 Yếu tố chủ quan 45

Kết luận chương 1 47

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI CÁC

CƯ DÂN NÔNG THÔN TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG

CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 48

2.1 Khái quát về điều tra khảo sát 48

2.1.1 Khái quát về địa bàn khảo sát 48

2.1.2 Mục đích khảo sát 52

2.1.3 Nội dung khảo sát 52

2.1.4 Phương pháp khảo sát 53

2.1.5 Đối tượng khảo sát 53

2.1.6 Xử lý số liệu bằng thống kê toán học 53

2.2 Kết quả thực trạng 54

2.2.1 Thực trạng về kỹ năng giao tiếp của sinh viên Học viện nông nghiệp Việt Nam 54

2.2.2 Thực trạng giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng cho sinh viên Học viện nông nghiệp Việt Nam 64

2.2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn cho sinh viên 74

2.3 Đánh giá chung về thực trạng 75

2.3.1 Ưu điểm 75

2.3.2 Hạn chế 76

Kết luận chương 2 78

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI CÁC CƯ DÂN NÔNG THÔN TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 79

3.1 Nguyên tắc đề xuất 79

3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa 79

Trang 5

3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 79

3.1.3 Đảm bảo tính liên tục 79

3.1.4 Đảm bảo tính chủ động, tích cực của sinh viên 80

3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 80

3.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục giao tiếp với các cư dân cho sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam 80

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 97

Kết luận chương 3 101

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

1 Kết luận 102

2 Kiến nghị 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢN

Bảng 2.1 Quy ước mức độ thang đo cho điểm 54

Bảng 2.2 Nhận thức của GV, SV về khái niệm KNGT 54

Bảng 2.3 Thực trạng nhận thức về ý nghĩa KNGT đối với SV 56

Bảng 2.4 Thực trạng các mức độ về KNGT của SV HVNN Việt Nam 58

Bảng 2.5 Các hình thức giao tiếp của SV 60

Bảng 2.6 Thực trạng nhận thức về ý nghĩa GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ đối SV HVNN Việt Nam 64

Bảng 2.7 Mức độ đạt được mục tiêu GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ 67

Bảng 2.8 Thực trạng KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ của SV HVNN Việt Nam 68

Bảng 2.9 Mức độ thực hiện nội dung GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ 70

Bảng 2.10 Thực trạng mức độ thực hiện các biện pháp GD KNGT với các cư dân nông thôn cho SV HVNN Việt Nam 72

Bảng 2.11 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ 74

Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam 99

Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của các biện pháp GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam .100

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.2 Thực trạng các hình thức GD KNGT cho SV HVNN Việt Nam 62

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi ASEAN ngày càng đông các thành viên tham gia, cơ hội về chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng được mở rộng ASEAN sẽ trở thànhmột cộng đồng kinh tế, một thị trường chung, nơi sản xuất và phân phối lớnnhất Đông Nam Á Lúc này, ASEAN sẽ luân chuyển các yếu tố căn bản đó là:Vốn, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động Khi người lao động được làmviệc, định cư và được đối xử bình đẳng tại các nước thành viên ASEAN thìđây lại là khó khăn, thách thức cho đội ngũ người lao động tại Việt Nam [13]

Theo thống kê Tổ chức lao động quốc tế (2015) chất lượng nguồn nhânlực Việt Nam thấp hơn Singapore 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấphơn Hàn Quốc 10 lần Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia

và 2/5 Thái Lan Điều này không những là thách thức lớn đối với nền kinh tế

mà còn là bài toán khó cho những cơ sở GD ở Việt Nam, nơi cung cấp nguồnnhân lực trí thức cho đất nước SV tốt nghiệp ra trường giỏi về kiến thứcchuyên môn, KN nghề nghiệp đó là điều kiện cần nhưng chưa đủ Theo khảosát của các nhà xã hội học, ở một người thành đạt chỉ dựa vào 25% kiến thứcchuyên môn, còn lại 75% do KN mềm ở họ quyết định, trong đó KNGT là

KN mềm được đề cập đầu tiên [13]

Nhưng thực tế hiện nay, bên cạnh những SV ý thức được tầm quantrọng của giao tiếp và luôn rèn luyện, học hỏi, tham gia các khóa đào tạo bênngoài trường về KNGT thì một bộ phận không nhỏ SV hầu như chưa quan tâm

để rèn luyện KNGT, chưa chuẩn bị cho mình hành trang trong cuộc sống hằngngày và sau khi rời giảng đường đại học Chính việc không ý thức về tầm quantrọng của giao tiếp, đã khiến cho KNGT của SV còn yếu, rất nhiều SV khôngbiết cách bắt đầu một câu chuyện dù là đơn giản nhất, không biết ứng xử và thểhiện thế mạnh của mình khi đứng trước nhà tuyển dụng hay đơn giản là viết

Trang 10

một lá đơn xin việc như thế nào Do đó, SV không trình bày được ý tưởng,kinh nghiệm, cũng như năng lực của bản thân,… một cách hiệu quả trướcngười khác Đối với mỗi cá nhân, KNGT là một lợi thế để thể hiện bản thâncũng như nắm bắt cơ hội trong cuộc sống Mỗi người, trong quá trình sống vàhọc tập, làm việc luôn cần phải cố gắng để trau dồi và hoàn thiện KNGT quantrọng này Đặc biệt, đối với SV thì KNGT này không chỉ góp phần nâng cao

KN tiếp cận kiến thức, mà còn mở ra cho SV KN nắm bắt các cơ hội nghềnghiệp đến với mình và thành công trong nghề nghiệp tương lai

Đặc thù của SV HVNN Việt Nam, đối tượng tiếp xúc trực tiếp và nhiềunhất khi đi thực tập nghề nghiệp và trong công việc sau này chính là các các

cư dân nông thôn Ngay từ năm thứ hai, thứ ba khi xuống các cơ sở thực tập,

SV sẽ tiếp xúc và làm việc với các cư dân nông thôn chủ yếu tại các trung tâmHTCĐ, trên đồng ruộng, tại các trang trại chăn nuôi, hoặc khu thí nghiệmnông nghiệp trung tâm HTCĐ là những cơ sở GD trong hệ thống GD quốcdân, nơi tạo điều kiện thuận lợi cho mọi lứa tuổi học tập thường xuyên, họctập suốt đời, được phổ biến kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm trong sảnxuất và cuộc sống nhằm tăng năng suất lao động SV khi đi thực tập nghềnghiệp thường sẽ giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ

để giảng dạy kiến thức nông nghiệp được học tại HVNN Việt Nam, chia sẻ,trao đổi, trò chuyện với các cư dân nông thôn về những KN trong trồng trọthay chăn nuôi, hay những kiến thức liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp… Vìvậy, muốn thực hiện tốt công việc của mình và học hỏi được nhiều kinhnghiệm sản xuất thực tiễn buộc SV phải biết cách giao tiếp, hợp tác với cưdân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ Nhưng hiện nay, SV HVNN ViệtNam vẫn chưa chú trọng vào các KNGT, đa số SV còn e ngại trong giao tiếp,ngại thể hiện bản thân trước đám đông, thậm chí ngại tham gia phát biểu xâydựng bài và nêu quan điểm cá nhân trong các giờ học Điều này dần tạo ramột thói quen không tốt, làm hạn chế KN giao tiếp của bản thân, và xa hơn,

Trang 11

có thể làm giảm KN tiếp cận thông tin, giảm hiệu quả công việc Nguyênnhân là do đa số SV chưa nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng về vai trò,

ý nghĩa của KNGT; mặt khác việc học trên lớp, SV mới chỉ được tiếp cận với

học phần “KN giao tiếp” với thời lượng 30 tiết (đây là học phần tự chọn của

một số ngành học tại HVNN Việt Nam quản lý và một trong tổ hợp 6 họcphần KN mềm do Trung tâm KN mềm quản lý), nên mức độ nhận thức và cácKNGT áp dụng chưa được nhiều, đặc biệt chưa có một nội dung kiến thứcnào hướng dẫn SV KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ.Chính vì lý do này, khi đi thực tập tại các cơ sở và khi được tiếp xúc với cáccác cư dân nông thôn, đặc biệt tại các trung tâm HTCĐ SV trở nên lúng túng,ngại giao tiếp, chưa biết cách giao tiếp đúng chuẩn mực

Xuất phát từ phân tích trên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Giáo

dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng cho sinh viên Học viện nông nghiệp Việt Nam.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng GD KNGT với các các cư dânnông thôn tại các trung tâm HTCĐ của SV HVNN Việt Nam, từ đó đề ra cácbiện pháp nhằm khắc phục những tồn tại, nâng cao KNGT với các cư dânnông thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình GD KNGT với các cư dân nông thôntại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam

- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp GD KNGT với các cư dân nôngthôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam

4 Giả thuyết khoa học

KNGT của SV với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ cònthiếu tính chủ động trong quá trình giao tiếp Nếu đưa ra được các biện pháp

Trang 12

GD KNGT khoa học, phù hợp sẽ nâng cao được KNGT với các cư dân nôngthôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giao tiếp, GD KNGT với các cư dânnông thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV

- Nghiên cứu khảo sát, đánh giá về thực trạng KNGT của SV, GDKNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV HVNNViệt Nam

- Đề xuất các biện pháp GD KNGT với các cư dân nông thôn tại cáctrung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng khảo sát:

Bao gồm 100 SV khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, 100 SV khoaThú y, 100 SV khoa Nông học, 300 SV này đang học năm thứ hai và năm thứ

ba, đã đi thực tập nghề nghiệp tại cơ sở

Khảo sát 30 GV, cán bộ quản lý thường xuyên đưa SV đi thực tập tạicác cơ sở

- Nội dung nghiên cứu:

Nghiên cứu các KNGT cơ bản của SV hiện nay gồm 4 KN như: KNlắng nghe, KN truyền đạt thông tin; KN thuyết trình; KN viết văn bản

Các KNGT đặc trưng với các cư dân nông thôn tại các trung tâmHTCĐ gồm 6 KN: KN làm quen; KN tạo niềm tin; KN chia sẻ thông tin, kiếnthức nông nghiệp; KN thu thập thông tin và phân tích thông tin; KN điều kiểnquá trình giao tiếp; KN thuyết phục

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích các vấn đề liên quan tới đề tài như các quan điểm, các lýthuyết của các tác giả, các công trình nghiên cứu Từ đó, hệ thống lại các vấn

Trang 13

đề lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở lýluận, khái niệm, công cụ của đề tài.

Cách tiến hành: Tìm hiểu, đọc, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệthống hóa những tài liệu (trong và ngoài nước) có liên quan tới đề tài

7.2 Phương pháp điều tra

Mục đích sử dụng phương pháp là thông qua các phiếu hỏi nhằm tìmhiểu nhận thức về ý nghĩa của KNGT nói chung và KNGT với các cư dânnông thôn tại các trung tâm HTCĐ nói riêng Các hình thức GD KNGT cho

SV, GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ của HVNNViệt Nam, nội dung GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâmHTCĐ Tìm ra thực trạng GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trungtâm HTCĐ của SV HVNN Việt Nam, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nângcao các KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV

Cách tiến hành: Thiết kế phiếu điều tra, sau đó phát cho GV, SV nhằmthu thập số liệu, làm căn cứ để phân tích đề tài

7.3 Phương pháp quan sát

Tiến hành quan sát các hoạt động cũng như cách thức giao tiếp của SV

để có thêm căn cứ đánh giá khách quan, chính xác hơn về nội dung nghiêncứu trong đề tài

7.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

Thu thập thông tin bằng cách trao đổi trực tiếp một số GV đưa SV đithực tập và SV khi tham gia giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trungtâm HTCĐ Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ, làm tăng độ tin cậy và sức thuyếtphục của phương pháp điều tra

7.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng toán thống kê để thu thập, xử lý số liệu nghiên cứu thực trạng

Trang 14

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, phần nội dung gồm có bachương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về GD KNGT với các cư dân nông thôn tại

các trung tâm HTCĐ cho SV

Chương 2: Thực trạng GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các

trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam

Chương 3: Biện pháp GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các

trung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC

KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI CÁC CƯ DÂN NÔNG THÔN TẠI CÁC TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG CHO SINH VIÊN 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Ngay từ thời cổ đại, các nhà GD, triết học đã quan tâm đến các vấn đềgiao tiếp Khổng Tử (551 - 497 trước công nguyên) là một triết gia, là một

nhà GD lỗi lạc của Trung Quốc thời cổ đại, người khẳng định: “Đọc thuộc ba

trăm thước kinh thư giỏi, giao việc đi sứ không có KN đối đáp, học kiểu như vậy chẳng có ích gì” Tư tưởng đó của Khổng Tử cho thấy ngoài việc học

kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hóa còn phải học cách giao tiếp để giaotiếp thành công và hiệu quả trong công việc [4]

Theo J.A.Comenxki (1592-1670) nhà GD lỗi lạc người Nga ông khẳng

định: “học tập không phải là lĩnh hội kiến thức bên trong sách vở mà còn lĩnh

hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, cầy sồi, cây dẻ” Điều này càng khẳng định

một lần nữa ngoài việc học lấy kiến thức chuyên môn, người học cần phảibiết cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, mọi vật xung quanh [32]

Trang 16

Từ những năm đầu của thế kỷ XX, có nhiều nhà triết học, tâm lý học,

xã hội học đã tiếp tục quan tâm đến lĩnh vực giao tiếp Nhà triết học và tâm lýhọc người Mỹ G.Mít, nhà bác học người Đức C.Giaspe, nhà triết học NhậtBản Mactin Babo… đã có những nghiên cứu trong lĩnh vực giao tiếp Trong

đó, các nhà nghiên cứu khoa học cũng chú ý về hiện tượng tiếp xúc giữa conngười với con người [32]

Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ trước, hàng loạt các nhà tâm lýhọc hiện đại, với nhiều công trình nghiên cứu, đã đưa ra phạm trù giao tiếp

như là một phạm trù cơ bản Nó được thể hiện trong các công trình “giao tiếp

là vấn đề của tâm lý học đại cương” của B.Ph.Lotnov, “tâm lý học giao tiếp”

của AA.Bodaliov [32]

Một trong bốn trụ cột của nền GD toàn cầu trong thế kỷ XXI đã được

UNESCO đề xuất “học để chung sống” và được coi là một trong những trụ cột quan trọng, then chốt của GD hiện đại Câu hỏi đặt ra là “KN nào là cần

thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và cuộc sống?”, một

trong những KN toàn cầu đòi hỏi ở mỗi người hoàn thiện là phải có “KNGT”.

Chương trình GD các giá trị sống của UNESCO được coi là đối tác của cácnhà GD trên toàn cầu [34]

Từ những năm 90 của thể kỷ XX, thuật ngữ “KN sống” đã xuất hiện

trong các công trình nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc

(UNICEF), trước tiên là chương trình “GD những giá trị sống” với 12 giá trị

cơ bản cần GD cho thế hệ trẻ Phần lớn các công trình nghiên cứu quan niệm

KN sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất với KN xã hội Dự án do UNICEF tiếnhành ở các nước Đông Nam Á là những nghiên cứu có tính hệ thống Trong

xu thế hội nhập mỗi quốc gia phải có những định hướng cơ bản trong GD và

GD những KN sống nhằm đào tạo thế hệ trẻ có đủ phẩm chất, năng lực đápứng nhu cầu phát triển của xã hội [4]

Trang 17

Tại Úc, hội đồng Kinh doanh (The Business Council of Australia –

BCA) cùng với Phòng thương mại và công nghiệp (the Australian Chamber of Commerce and Industry – ACCI) với sự bảo trợ của Bộ GD - Đào tạo và

Khoa học, hội đồng quốc gia tại Úc đã đề xuất cuốn “KN hành nghề cho

tương lai” Cuốn sách đã đề cập tới các kiến thức, KN mà yêu cầu người lao

động phải có Các KN hành nghề do cuốn sách trình bày bao gồm 8 KN:

KNGT, KN làm việc nhóm, KN giải quyết vấn đề, KN sáng tạo và mạo hiểm,

KN lập kế hoạch và tổ chức công việc, KN quản lý bản thân, KN học tập, KN công nghệ, trong 8 KN đề cập trên thì KNGT là một trong những KN được đề

1.1.2 Tại Việt Nam

Trong lịch sử phát triển của dân tộc, của nhà nước Việt Nam, vấn đềgiao tiếp đã được coi trọng, nó được coi là nền tảng, là một trong những tiêuchuẩn, thước đo đánh giá nhân cách, đạo đức của con người, là biểu hiện của

nét đẹp văn hóa “tiền của phân giàu nghèo, giao tiếp phân tầng văn hóa”.

Người Việt xưa ảnh hưởng nhiều văn hóa Trung Quốc qua tác động bởi

sự đô hộ gần một nghìn năm của phương Bắc, tác động của Khổng giáo, họ

Trang 18

có những biểu hiện giao tiếp hoàn toàn khác nhau với cách giao tiếp củangười Việt Nam hiện đại Trong hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội, conngười luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau và những hoạt động giao tiếp đượcmỗi người quan tâm, nó được lưu truyền, gìn giữ, dạy và học… giữa mọingười trong xã hội [17]

Tại Việt Nam, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ trước, có nhiều bàiviết và công trình nghiên cứu về vấn đề giao tiếp dưới góc độ tâm lý học củacác nhà tâm lý học có thể chia thành một số hướng nghiên cứu như sau:

- Hướng thứ nhất: Nghiên cứu bản chất tâm lý học của giao tiếp, đặcđiểm giao tiếp của con người, chỉ ra nội dung, phương tiện giao tiếp… cócông trình của Phạm Minh Hạc, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn,Nguyễn Ngọc Bích, Trần trọng Thủy, Nguyễn Sinh Huy…[24][42][47]

- Hướng thứ hai: Nghiên cứu giao tiếp như là một tiến trình truyền đạtthông tin, đặc điểm giao tiếp của người tham gia vào truyền thông, có côngtrình của Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Khắc Viện…[33]

- Hướng thứ ba: Nghiên cứu thực trạng đặc điểm giao tiếp của một sốđối tượng là SV sư phạm, đề xuất các tác động nhằm nâng cao hiệu quả giaotiếp của họ như đề tài của Tống Duy Riêm, Bùi Ngọc Thiết, Trần Thị KimThoa…[33]

- Hướng thứ tư: Nghiên cứu về KNGT trong lãnh đạo, quản lý kinh tế,kinh doanh, du lịch, sư phạm… có công trình của Mai Hữu Khuê, NguyễnThạc, Hoàng Anh, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Văn Đính…[33]

Như vậy, vấn đề giao tiếp đã được nhiều nhà xã hội học, tâm lý họcnghiên cứu bình diện lý luận và thực tiễn

Ngoài ra, có thể kể tên một số tài liệu và đề tài nghiên cứu về KNGT sau:Nghiên cứu về KNGT sư phạm của SV dưới góc độ Tâm lý học, tác giảHoàng Anh (2007) đã đề xuất những hoạt động giao tiếp hình thành nhâncách của con người [2]

Trang 19

“Giáo trình KNGT” của Chu Văn Đức năm 2005 viết cho SV các

trường cao đẳng, đại học Nội dung của cuốn giáo trình, tác giả có đề cập tớinhững cơ sở lý luận của giao tiếp, các KNGT cơ bản, cách rèn luyện cácKNGT cho SV [21]

Giáo trình “Giao tiếp sư phạm” của Đặng Thị Vân năm 2009, dành cho

SV HVNN Việt Nam Tác giả cũng đã đề cập tới các KNGT sư phạm cơ bản

nhất cho SV, đặc biệt là SV của HVNN Việt nam [48]

Luận án tiến sĩ khoa GD với đề tài“Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học

sinh phổ thông vùng nông thôn miền núi phía Bắc” của Ngô Giang Nam

(2013) – Trường Đại học Thái Nguyên nghiên cứu sâu về thực trạng giáo dục

KN sống liên quan đến KNGT cho học sinh miền núi phía Bắc, đồng thời đềxuất giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung này [33]

Luận án tiến sĩ khoa học GD với đề tài “Phát triển môi trường giao

tiếp cho SV sư phạm ở các trường cao đẳng miền núi phía Bắc” của tác giả

Đoàn Thị Cúc (2013) cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giaotiếp của SV, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục [12]

Luận án tiến sĩ với đề tài “KNGT sư phạm của SV các ngành sư phạm

trường Đại học sư phạm Đại học Đà Nẵng” của tác giả Lê Duy Hùng (2009)

đã nêu ra ba nhóm kỹ năng chính: KN định hướng giao tiếp, KN điều khiểnbản thân, KN điều khiển đối phương [27]

Luận án tiến sĩ khoa học với đề tài “Hệ thống kỹ năng giảng dạy trên

lớp về môn giáo dục học và quy trình rèn kỹ năng đó cho sinh viên khoa Tâm

lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Như An (1993) [1].

Luận án tiến sĩ khoa học với đề tài “GD KN sống cho học sinh trung

học phổ thông thông qua hoạt động GD ngoài giờ lên lớp” của tác giả Phan

Thanh Vân (2010) cũng chỉ ra được những KN sống cơ bản cho học sinhtrung học phổ thông trong các hoạt động trải nghiệm ngoài giờ lên lớp [50]

Trang 20

Năm 2010, tập thể tác giả do Nguyễn Hữu Độ làm chủ biên đã biên

soạn tài liệu “GD nếp sống thanh lịch – văn minh cho học sinh Hà Nội” và đã

thí điểm đối với học sinh lớp 5 qua thực hiện các KNGT ứng xử trong mốiquan hệ gia đình, nhà trường và xã hội Đây là một tài liệu có tính thực tiễntrong GD KNGT cho học sinh tại Hà Nội [20][8]

Hà Thị Thư đã nghiên cứu đề tài “KN tổ chức giao tiếp nhóm của SV

ngành công tác xã hội” đăng trên tạp chí Tâm lý học xã hội số 10, trang

36-46/2015 Trong bài viết tác giả có đề cập tới KNGT của SV khi làm việcnhóm, đặc biệt đó là KN thu hút/lôi cuốn mọi người trong nhóm [43]

Có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu về KNGT trong một số lĩnh vực,

nghề nghiệp cụ thể Tác giả Trần Trọng Thủy trong bài: “Tình người, giao

tiếp và văn hóa giao tiếp” (1998) đã phân tích mối quan hệ giữa tình người,

văn hóa và giao tiếp, tác giả khẳng định: “Văn hóa giao tiếp có liên quan mật

thiết với các KNGT, có một số KNGT đặc trưng của con người như: KN chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình về người khác khi mới làm quen với họ; KN bước vào giao tiếp với người khác một cách không có định kiến Những KNGT này không có sẵn, mà thông qua học tập, rèn luyện” [42] Tác

giả Nguyễn Đình Xuân trong cuốn “Giáo trình tâm lý học quản lý” (2011) cũng đề cập đến một số kỹ thuật giao tiếp như: “Lựa chọn địa điểm, thời gian

tiếp khách, làm chủ cảm xúc của mình trong giao tiếp, thuật nghe và dẫn dắt mọi người để tin những điều mình nói [52].

Tác giả Thái Chí Dũngtrong tác phẩm “KNGT và thương lượng trong

kinh doanh” (2015) [16] và Đinh Văn Tiến với “Nghệ thuật đàm phán trong kinh doanh” (2014) [39] đã quan tâm trình bày một số KNGT trong công

trình của mình: KN lắng nghe, KN đặt câu hỏi, KN nói, KN viết

Có một vài tác giả đã nghiên cứu KNGT với cư dân nông thôn như bài

giảng “KNGT trong khuyến nông” của nhóm tác giả trường đại học Nông lâm

Trang 21

thành phố Hồ Chí Minh (2010) cũng khẳng định: Giao tiếp là hình thức đặc

trưng cho mối quan hệ giữa con người với con người mà cụ thể là các cư dân nông thôn trong nông nghiệp qua đó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và được biểu hiện ở các quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau Cuốn sách“Giới thiệu về lâm nghiệp cộng đồng” (1999) do

Ulrich Apel biên soạn thuộc dự án phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà của

Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Tài liệu cũng chỉ ra những đặc điểmgiao tiếp với nông dân, các KNGT với nông dân như KN lắng nghe, các ngônngữ cử chỉ, các làm quen, những câu hỏi khi giao tiếp với người dân cách tiếpcận bằng sử dụng PRA và RRA [46],

Các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu ở trên dù mang tính kháiquát hay phân tích chuyên sâu về một khía cạnh nào đó trong quản lý GD nóichung và GD KNGT nói riêng đều là những công trình có giá trị về mặt lýluận và thực tiễn trong GD KNGT cho học sinh, SV Nhưng, đến nay chưa có

đề tài hay nghiên cứu nào về GD KNGT với các cư dân nông thôn tại cáctrung tâm HTCĐ cho SV HVNN Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu thựctrạng để đề xuất những giải pháp đẩy mạnh GD KNGT cho SV là có ý nghĩa

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Giao tiếp

Giao tiếp là điều kiện tất yếu cho sự phát triển và tồn tại của con người

Nó đóng vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cáchcủa mỗi cá nhân, giao tiếp ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tinh thần củamỗi con người Không ai có thể hình thành và phát triển nhân cách hoàn thiện

mà không cần giao tiếp Vậy giao tiếp là gì?

Theo LX.Vưgôtxki: “Giao tiếp là sự thông báo hoặc là quan hệ qua lại

một cách thuần túy giữa người với người như là một sự trao đổi quan điểm

và cảm xúc” [48]

Trang 22

Theo Panferov: “Giao tiếp là sự tác động qua lại, trao đổi thông tin,

nhờ sự giúp đỡ của những phương tiện khác, của sự thông báo với mục đích xây dựng mối quan hệ qua lại có lợi đối với hoạt động chung” [48].

Theo BB.Bôgôxlovxki: “Giao tiếp là sự tác động qua lại giữa con

người với con người trong đó diễn ra sự tiếp xúc tâm lý, biểu hiện sự trao đổi thông tin, rung cảm lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau và ảnh hưởng lẫn nhau”.

Đây là khái niệm tiến bộ nhất vì đã nên lên được bản chất và chức năng củatâm lý [9]

Theo A.N Leonchiev: “Giao tiếp là hệ thống quá trình có mục đích,

có động cơ, đảm bảo sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, sử dụng các công

cụ đặc thù trước hết là ngôn ngữ” Quan điểm của nhà nghiên cứu tâm lý học

Macxit cho chúng ta cái nhìn khái quát về giao tiếp, giao tiếp là hoạt độngđộng xác lập và vận hành các mối quan hệ người – người nhằm hiện thực hóacác mối quan hệ xã hội con người với nhau [28]

Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp đã nhận được sự quan tâm rất nhiều củacác nhà Tâm lý học và GD học, nó được khai thác khác nhau dưới nhiều góc

độ khác nhau như giao tiếp thông thường ở các lứa tuổi, giao tiếp công vụ [5][23]

Theo Ngô Công Hoàn: “Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người

với con người nhằm mục đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn kinh nghiệm sống, KN, kỹ xảo, nghề nghiệp” [24].

Theo từ điểm bách khoa toàn thư mở Wikipedia giao tiếp được chiathành ba loại [45]:

- Giao tiếp truyền thống: là các mối quan hệ giữa người và người hình

thành trong quá trình phát triển xã hội, đó là quan hệ giữa ông bà, cha me, concái, hàng xóm,… và cuối cùng trở thành văn hoá ứng xử riêng trong xã hội

Trang 23

- Giao tiếp chức năng: xuất phát từ sự chuyên hoá trong xã hội, ngôn

ngữ,… đó là những quy ước, những chuẩn mực, thông lệ chung trong xã hộicho phép mọi người không quen biết nhau, rất khác nhau nhưng khi thực hiệnnhững vai trò xã hội đều sử dụng kiểu giao tiếp đó (như quan hệ giữa lãnh đạo

và nhân viên, người bán và người mua, chánh án và bị cáo )

- Giao tiếp tự do: là những quy tắc và mục đích giao tiếp không quy

định trước như khuôn mẫu, nó xuất hiện trong quá trình tiếp xúc, tuỳ theo sựphát triển của các mối quan hệ Loại hình giao tiếp này trong cuộc sống thực

tế là vô cùng phong phú, trên cơ sở những thông tin có được và để giải toảxung đột mỗi cá nhân

Nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lý của giao tiếp, tác giả Trần Trọng

Thủy quan niệm: “giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay

không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà là trong đó, các cảm xúc và tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng phi ngôn ngữ”.

Khái niệm giao tiếp của tác giả được khai thác là một quá trình có chủ địnhhoặc không chủ định, thực hiện bằng lời hoặc không bằng lời, có thể kiểmsoát được và có thể không kiểm soát được bằng ý thức con người [42]

Tiếp cận dưới góc độ mối quan hệ liên nhân cách của con người, tác

giả Nguyễn Quang Uẩn viết: “giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và

người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về tình cảm, tri giác lẫn nhau Hay nói cách khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các mối quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” Ở đây, tác giả đã xem giao tiếp như điều kiện của sự tồn

tại và phát triển của con người Thông qua giao tiếp, các mối quan hệ của conngười được phát triển [47]

Tóm lại: Từ các cách hiểu khái quát về giao tiếp, dựa vào nội hàm của

giao tiếp chúng ta có thể hiểu giao tiếp một cách cụ thể như sau: Giao tiếp là

Trang 24

quá trình tiếp xúc, quan hệ giữa con người với con người, nhằm mục đích trao đổi các thông tin, hiểu biết lẫn nhau, tâm tư tình cảm của nhau.

1.2.2 Kỹ năng

KN là một vấn đề rất phức tạp Cho tới thời điểm này trên thế giới và ởngay trong nước ta cũng có những cái nhìn, những khía cạnh, những quanđiểm khác nhau về KN:

Theo các nhà tâm lý học trên thế giới: “KN không đơn thuần là mặt kỹ

thuật mà nó còn biểu hiện về năng lực của con người” [29].

Theo các nhà GD Việt Nam: “KN là khả năng của con người thực hiện

có kết quả hành động tương ứng với mục đích và điều kiện trong đó hành động xảy ra” [29].

Theo Lê Văn Hồng “KN là khả vận dụng kiến thức để giải quyết một

nhiệm vụ mới” [26] Tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng “KN là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể”[19] hay tác giả Nguyễn Quang

Uẩn cho rằng: “KN là năng lực của con người biết vận hành các thao tác của

- KN là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động cá nhân

- KN luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằmđạt được mục đích đặt ra

Tóm lại: Từ những phân tích trên chúng tôi hiểu khái niệm của KN

như sau: KN là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó

bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động, thao tác đúng đắn để đạt được mục đích đề ra

Trang 25

1.2.3 Giáo dục

Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học vànhà cải cách GD người Mỹ, ông cho rằng cá nhân con người không bao giờvượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức,kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xãhội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượtqua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội

GD là “KN” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội, xã hội không chỉ tồn

tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy.John Dewey, cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mụctiêu cuối cùng của việc GD, là dạy dỗ [36]

Theo Nguyễn Văn Hộ (2002): GD là một hiện tượng xã hội, trong đómột tập hợp xã hội (nhóm) đã tích lũy được vốn kinh nghiệm nhất định truyềnđạt lại cho nhóm xã hội khác nhằm giúp họ tham gia vào đời sống xã hội,giúp họ hiểu được các chuẩn mực, khuôn mẫu, giá trị xã hội để trở thànhnhững nhân cách phù hợp với đòi hỏi của lợi ích xã hội Đây chính là nét đặctrưng cơ bản của GD với tư cách là hiện tượng xã hội [25]

Theo Nguyễn Văn Hộ (2002): GD là hiện tượng xã hội đặc biệt của xãhội loài người, một hiện tượng có mục đích và chỉ có xã hội loài người mới

có Các hiện tượng GD đó được nảy sinh ngay từ khi có xã hội loài người vànhu cầu cấp thiết của sự phát triển xã hội Nhờ đó các thế hệ sau chiếm lĩnhđược kinh nghiệm, những tri thức có thể giúp họ tham gia tích cực vào mọihoạt động trong cuộc sống và những lĩnh vực hoạt động khác, làm cho xã hộiloài người luôn tồn tại và phát triển không ngừng [25]

Như vậy: GD là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục

đích phát triển con người và phát triển xã hội.

Trang 26

1.2.4 Giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng dồng cho sinh viên

* Kỹ năng giao tiếp

KNGT là một trong những KN mềm cực kỳ quan trọng trong thế kỷXXI Đó là một tập hợp những qui tắc, nghệ thuật, cách ứng xử, đối đáp đượcđúc rút qua kinh nghiệm thực tế hằng ngày giúp mọi người giao tiếp hiệu quảthuyết phục hơn khi áp dụng thuần thục KNGT Có thể nói KNGT đã đượcnâng lên thành nghệ thuật giao tiếp bởi trong KNGT có rất nhiều KN nhỏkhác như KN lắng nghe, KN thấu hiểu, KN sử dụng ngôn ngữ cơ thể, KN sửdụng ngôn từ, âm điệu… Để có được KNGT tốt đòi hỏi người sử dụng phảithực hành thường xuyên, áp dụng vào mọi hoàn cảnh mới có thể cải thiện tốtKNGT của mình

Nghiên cứu về KNGT, các nhà nghiên cứu có những quan niệm khácnhau, cách nhìn khác nhau và cách khai thác khác nhau

Tác giả Nguyễn Thị Bích Thu (2010) quan niệm “KNGT là năng lực

của người biểu hiện trong quá trình giao tiếp Đó là khả năng sử dụng hợp lý các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ… là hệ thống các thao tác cử chỉ, điệu bộ hành vi được chủ thể giao tiếp phối hợp hài hòa” Trong thực tế,

KNGT không chỉ phụ thuộc vào phương tiện mà nó phụ thuộc khá nhiều vàovốn sống, vốn kinh nghiệm, phụ thuộc vào những nét văn hóa đặc trưng vùngmiền mà người đó sinh sống, có khi chịu ảnh hưởng của sự GD, quản lý củagia đình [41]

Theo tác giả Ngô Công Hoàn (1998), “KNGT là khả năng tri giác hiểu

được những biểu hiện bên ngoài cũng như những diễn biến bên trong của các hiện tượng, trạng thái, phẩm chất tâm lý của đối tượng giao tiếp” Hay nói

cách khác KNGT là toàn bộ những cử chỉ, thái độ, thao tác, ngôn ngữ đượcphối hợp hài hòa, của cá nhân với cá nhân, cá nhân với một nhóm xã hội

Trang 27

nhằm điều chỉnh đối tượng giao tiếp để thực hiện mục tiêu của chủ thể giaotiếp [24].

Tác giả Nguyễn Bá Minh (2008) “KNGT là nhóm KN bao gồm các

hành động liên quan đến việc hình thành mối quan hệ hợp tác giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp, giữa đối tượng giao tiếp với nhau” Ở đây, KNGT được

hiểu là nhóm KN hỗ trợ cho người giao tiếp nhằm thực hiện có hiệu quả hoạtđộng giao tiếp trong xã hội Trong xã hội và trong hoạt động giao tiếp của conngười, KNGT là khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng biểu cảm của conngười, với sự phối hợp hài hòa giữa lời nói và cử chỉ của chủ thể và đối tượnggiao tiếp [32]

Tóm lại: KNGT là năng lực tiến hành các thao tác, hành động, kể cả

năng lực thực hiện xúc cảm, thái độ nhằm giúp chủ thể giao tiếp trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với đối tượng giao tiếp một cách hiệu quả nhất nhằm đạt được mục đích giao tiếp.

* Giáo dục kỹ năng giao tiếp

GD KNGT là quá trình tổ chức các hoạt động GD nhằm giúp người họchình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận và xử lýthông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong mối quan hệ của SV với mọingười xung quanh

* Giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng cho sinh viên

GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ là quátrình tổ chức các hoạt động GD nhằm giúp SV hình thành và rèn luyện cácthao tác và hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lý thông tin bằng ngôn ngữ vàphi ngôn ngữ để hướng dẫn, định hướng, trao đổi, cũng như hình thành cácKNGT khi tiếp xúc với cư dân nông thôn

Trang 28

1.2.5 Sinh viên

* Khái niệm

SV là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Ở đó

họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho côngviệc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt đượctrong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là

họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học

* Đặc điểm tâm lý của sinh viên

Theo Nguyễn Kế Hào (2004) tuổi SV bao gồm từ 18 đến 25 tuổi, tươngứng với thời kỳ thứ 3 của tuổi thanh thiếu niên Các nhà nghiên cứu thườngchia tuổi thanh thiếu niên thành ba thời kỳ chủ yếu: 1) 11/12 tuổi – 14/15 tuổi– thời kỳ “một nửa trẻ con”; 2) 14/15 tuổi – 17/18 tuổi – thời kỳ “một nửangười lớn”; và 3) 17/18 tuổi – 23/25 tuổi – thời kỳ tiền trưởng thành [22]

SV là một nhóm xã hội đặc biệt, là những người đang theo học ở bậccao đẳng, đại học để chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thầncủa xã hội Nhóm xã hội đặc biệt này là nguồn bổ sung cho đội ngũ trí thức,được đào tạo cho lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vàohoạt động đa dạng có ích cho xã hội [38]

Ở lứa tuổi thanh niên, SV đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìnnhận đánh giá, vấn đề xoay quanh cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày

SV là người đại diện cho lớp trẻ, ở các em nảy sinh nhu cầu, khát vọng thànhđạt cao Học tập ở đại học là cơ hội tốt để các em được trải nghiệm bản thân

vì thế SV thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời họ thích bộ lộ thế mạnhcủa bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình,đối mặt với thách thức để khẳng định mình [38]

Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là đời sống tình cảm tươngđối ổn định bao gồm tình cảm nghề nghiệp – một động lực giúp SV học tập mộtcách sáng tạo, đặc biệt khi học thực sự yêu thích ngành nghề lựa chọn [38]

Trang 29

Tóm lại, lứa tuổi SV có những nét tâm lý điển hình, nổi bật đó là sựphát triển của tự ý thức, sự ổn định của tình cảm nghề nghiệp, tình cảm trí tuệ(khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọngthành đạt, nhiều ước mơ và thích trải nghiệm, đối mặt với thử thách Chínhnhững yếu tố tâm lý này là những động cơ bên trong thúc đẩy SV học tập mộtcách sáng tạo.

1.2.6 Cư dân nông thôn

* Khái niệm

Theo từ điển Tiếng việt (1999) cư dân nông thôn là người sống bằngnghề làm ruộng, là người sống bằng việc sản xuất và cung cấp các sản phẩmtrồng trọt và chăn nuôi cho xã hội [44]

Theo Trần Văn Điền (2015) cư dân nông thôn là những người lao động,

cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông lâm nghiệp Cư dân nông thônđược sống chủ yếu bằng ruộng vườn, chuồng trại chăn nuôi, sau đó đến cácngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời

kỳ lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng - một tư liệusản xuất đặc biệt Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhấtđịnh trong xã hội [18]

* Về đặc điểm tâm lý cư dân nông thôn

Tâm lý cư dân nông thôn (thực chất là tâm lý xã hội nông thôn) là cáchiện tượng ý thức như tình cảm, tâm trạng, ước muốn, thói quen, tập quán,động cơ, thái độ, hứng thú, sở thích, nhu cầu, xu hướng của tầng lớp nôngdân, được hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ

và chi phối thái độ, hành vi, cách ứng xử của họ

Từ các yếu tố kết cấu chặt chẽ và đóng kín của cộng đồng xã hội nôngthôn diễn ra trong phạm vi làng xã; dựa trên quan hệ huyết thống, lãnh thổ;quan hệ ứng xử giữa con người với con người; Mối quan hệ giữa cộng đồngvới văn hóa cổ truyền… tạo nên “nếp sống làng”; kinh tế tiểu nông, sản xuất

Trang 30

nhỏ, manh mún, phân tán, tình trạng kém phát triển của sự phân công laođộng xã hội Dẫn đến một số yếu tố tâm lý điển hình của các cư dân nôngthôn như sau:

- Thái độ nhẫn nhục, cam chịu, tuân phục bề trên

- Sống khép kín, tĩnh, hài hòa giữa con người với con người, giữa vậtchất và tâm linh, giữa thiên nhiên và con người nông thôn

- Vai trò của cộng đồng lớn hơn vai trò cá nhân

- Sống rụt rè, thụ động (do phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên)

- Tầm nhìn hạn hẹp, thiển cận

- Tích lũy kinh nghiệm bằng con đường kinh nghiệm, chủ quan, cảm tính

- Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau là một môi trường thuận lợi

để cư dân nông thôn tạo ra một cuộc sống hoà thuận trên cơ sở lấy tình nghĩalàm đầu

- Tính tôn ti trong trật tự của các dòng tộc đã dẫn đến mặt trái của nó là tâm

lý gia trưởng, trọng nam khinh nữ và đặc biệt là tâm lý địa phương, cục bộ

- Làng xã Việt Nam như một vương quốc thu nhỏ với luật pháp riêng(hương ước) tạo nên một sự cố kết, bền vững của làng xã và cũng đã tạo nêntâm lý bè phái, địa phương, ích kỷ

- Sự đồng nhất (giống nhau) dẫn đến chỗ người nông dân Việt Nam cóthói quen dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, vào số đông [10][18][40]

Theo Đỗ Long (2002) nổi bật của tâm lý các cư dân nông thôn (nông thôn):

- Tâm trạng băn khoăn, lo lắng của nông dân về các khoản nợ ngân hàng,không dám vay và sử dụng vốn vay, sợ rủi ro và chụp giật, sợ lừa gạt, thua lỗ, sợnông sản không được bao nhiêu, bị ép giá, hạ phẩm cấp… còn khá phổ biến

- Những băn khoăn suy nghĩ của nông dân về công ăn việc làm tronglúc nông nhàn, về năng lực quản lý, quản trị kinh doanh, về ứng dụng tiến bộ

Trang 31

khoa học kỹ thuật, về sự thay đổi chính sách (đất đai, giá cả, thuế má…) cònchưa có phương hướng để tháo gỡ.

- Những trăn trở của nông dân về các tệ nạn: tham những, quan liêu,mất dân chủ, cờ bạc, rượu chè, trật tự an toàn xã hội, về những nỗi oan ức,những đơn kiếu tố sẽ được xử lý ra sao, cấp nào và khi nào giải quyết… cònchậm xử lý

Các yếu tố tâm lý đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động lao động sảnxuất và giao tiếp, sinh hoạt hàng ngày của nông dân [30]

1.2.7 Trung tâm học tập cộng đồng

* Khái niệm

Trung tâm HTCĐ là cơ sở GD thường xuyên trong hệ thống GD quốcdân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý, hỗ trợcủa Nhà nước; đồng thời phải phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp củanhân dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâmtheo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm [37]

* Chức năng của trung tâm HTCĐ

Hoạt động của trung tâm HTCĐ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọingười ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời; được phổbiến kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống gópphần xoá đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm; nângcao chất lượng cuộc sống của từng người dân và cả cộng đồng; là nơi thựchiện việc phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến với mọi người dân[37]

* Nhiệm vụ của trung tâm HTCĐ

- Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xoá mù chữ và GD tiếp tụcsau khi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập GD; tăng cường công tác tuyêntruyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức và cảithiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong cộng đồng; phối hợp triển khai

Trang 32

các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư và các dự án,chương trình tại địa phương.

- Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao,đọc sách báo, tư vấn khuyến học, GD cho con em nhân dân địa phương,phòng chống tệ nạn xã hội

- Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng, xây dựng nội dung và hìnhthức học tập phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng [37]

* Hình thức giao tiếp tại các trung tâm HTCĐ

- Thông qua giảng dạy kiến thức theo nội dung, chương trình đã quy định

- Thông qua tổ chức các buổi hội nghị, hội thảo, chuyên đề…

- Thông qua tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dụcthể thao, đọc sách báo, tư vấn khuyến học [37]

1.3 Kỹ năng giao tiếp của sinh viên

1.3.1 Ý nghĩa của kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên

Giao tiếp xã hội giữa con người với con người đã góp phần tạo nênnhững truyền thống nghi thức, quy tắc đạo đức, giá trị, chuẩn mực xã hội và

cả luật pháp Tất cả cùng nhau tạo nên những nền tảng của xã hội loài người

Có thể nói giao tiếp xã hội là một trong những thuộc tính đặc biệt và duy nhấtgiúp loài người khác biệt so với các sinh vật khác Đó là sự tương tác giữacon người, với con người, với cá nhân, tập thể, một cộng đồng Có thể nói,con người có thể sống mà thiếu đi sợi dây kết nối ngày càng mở rộng Điều

đó làm cho sự tương tác giữa con người với con người không chỉ theo chiềurộng mà còn phát triển theo cả chiều sâu Do đó, KNGT là một trong những

KN vô cùng quan trọng đối với con người nói chung và đối với SV nói riêng

Với SV, việc học tập trau dồi KNGT lại càng quan trọng Khi trở thành

SV, SV phải tự học, làm quen với cuộc sống tự lập, nhất là SV đi học xa nhà

SV phải làm quen với cuộc sống mới, với những con người mới đến từ các

Trang 33

vùng miền khác nhau Không chỉ làm quen với cuộc sống mới mà SV cònphải làm quen với phương pháp học tập mới Để đạt được kết quả học tập caotrong trường đại học SV cần phải tự mình nghiên cứu tài liệu, cần sáng tạotrong học tập Môi trường đại học yêu cầu bạn không chỉ tiếp thu ý kiến từphía thầy cô mà bạn cần phải lên ý tưởng của bản thân mình, điều này yêu cầu

SV cần phải tự tin trong giao tiếp Hơn thế nữa, hiện nay rất nhiều trường đạihọc đào tạo theo hình thức tín chỉ yêu cầu KN học và tự học ở SV với nhữngbuổi thuyết trình cũng như phản biện rất sôi nổi và bổ ích trên lớp Vì vậy,KNGT giúp SV khắc phục tính rụt rè, nhút nhát, và tự tin hơn, mạnh dạn hơnkhi nói trước đám đông để thuyết trình, hay báo cáo vấn đề nào đó… từ đó

SV có thể đạt được những kết quả mong muốn

Ngoài ra, việc được trang bị những KNGT đầy đủ và sớm sẽ giúp SVnhanh chóng thích ứng và hòa nhập với môi trường học tập, lao động Bên cạnh

đó còn có thêm động lực, sự tự tin, lý tưởng để theo đuổi ngành nghề, có phươngpháp làm việc nhanh chóng, hiệu quả, khoa học, phát triển được năng lựcchuyên môn của bản thân… SV biết tạo cho mình những điều kiện thuận lợi để

hỗ trợ phát triển năng lực ngành nghề, hoàn thiện các KNGT cho bản thân

Một nghiên cứu khác của L&A cho thấy, khoảng 70% SV ra trườngkhó xin việc vì không có kinh nghiệm và thiếu các KN cần thiết Cơ hội tìmđược công việc thích hợp, lương cao, môi trường làm việc tốt ở các công tylớn hay tập đoàn nước ngoài khá xa vời Ở các công ty, tập đoàn có bề dàyhoạt động lâu năm và tổ chức hoàn chỉnh, việc một nhân viên thiếu các KNmềm và đặc biệt là KNGT là những hạn chế khiến họ khó có thể hòa đồng vàtồn tại lâu Chính vì vậy, SV nếu có KNGT thì đây sẽ là lợi thế rất lớn để cóthể tìm kiếm việc làm sau khi ra trường

Qua những phân tích trên chúng ta cũng thấy được ý nghĩa rất quantrọng của KNGT đới với SV hiện nay, không những giúp SV có thể xin việc

Trang 34

được dễ dàng, hòa nhập vào cuộc sống mà còn giúp SV hoàn thiện được cácKNGT của bản thân, tự tin hơn trong giao tiếp.

1.3.2 Mục tiêu giáo dục kỹ năng giao tiếp đối với sinh viên

- SV có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, vai trò của các KNGT cơ bản

- SV xác định rõ các KNGT nói chung của SV hiện nay

- SV tự tin khi giao tiếp với mọi đối tượng, mọi hoàn cảnh khác nhaungay khi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường

- SV hình thành và thay đổi hành vi ứng xử của mình theo hướng tíchcực đối với bản thân, môi trường xung quanh, và các vấn đề của cuộc sống

- SV ý thức được việc rèn luyện thường xuyên, liên tục, xây dựng mộtcuộc sống học tập, làm việc tốt đẹp cho bản thân và cho xã hội

1.3.3 Các kỹ năng giao tiếp cơ bản

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề giao tiếp và KNGT, tổng hợplại có thể kể đến các KNGT sau:

1.3.3.1 Kỹ năng lắng nghe

Theo Phan Quốc Việt (2009) giao tiếp là quá trình tương hỗ hai chiềubao giờ cũng có người nói – người nghe, người gửi – người nhận Chúng tathường lầm tưởng rằng hiệu quả giao tiếp phụ thuộc vào KN ăn nói khéo léo,hoạt bát, cuốn hút Thực tế cho thấy nghe khó hơn nói rất nhiều Có nhiều cấp

độ nghe: nghe phớt lờ, nghe giả vờ, nghe từng phần, nghe hiểu (lắng nghe),nghe thấu cảm Đa số mọi người chưa hiểu hết tầm quan trọng của việc nghe

có hiệu quả, nó được coi là “chìa khóa của giao tiếp” vì lợi ích của nó manglại như sau:

- Tiếp nhận được nhiều thông tin

- Giải quyết vấn đề nhanh chóng và hiệu quả

- Thảo mãn nhu cầu người nói Kích thích người nói hay hơn, chia sẻnhiều hơn

Trang 35

- Hiểu biết hơn về đối tượng giao tiếp với mình

- Tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa các bên giao tiếp

Lắng nghe sẽ làm thỏa mãn người nói, thể hiện mình tôn trọng ngườinói Lắng nghe sẽ nhận nhiều thông tin dẫn đến việc ra quyết định chính xáchơn Lắng nghe người khác sẽ làm cho người khác có cảm tình với mình, thânthiện với mình khi làm việc, tạo ra không khí trao đổi thẳng thắn, hiểu nhaudẫn tới giải quyết mâu thuẫn, tìm kiếm giải pháp nhanh hơn [51]

1.3.3.2 Kỹ năng diễn đạt thông tin

Theo Phan Quốc Việt (2009) KN diễn đạt thông tin vô cùng quantrọng Thông tin rõ ràng, chính xác thì mọi người sẽ hiểu nhau, hiểu nhiệm vụ

để hợp tác với nhau Thông tin có nguồn phát ra và có nơi tiếp nhận qua mộtkênh truyền nào đó, rồi lại phản hồi lại nơi phát thông tin Cơ chế này phảithông suốt trong quá trình nói và quá trình thông tin luôn tiếp diễn khôngngừng

Một số lưu ý khi nói trước đám đông:

- Nói to, rõ ràng, có sức thuyết phục

- Giao tiếp bằng mắt với người nghe

- Nói ngắn gọn và tập trung vào chủ đề

- Liên hệ với kinh nghiệm sẵn có của người nghe

- Chuẩn bị dàn ý cho bài nói của mình

- Lắng nghe ý kiến phản hồi của người nghe

- Chú ý phản ứng của người nghe [51]

1.3.3.3 Kỹ năng thuyết trình

Theo Chu Văn Đức (2005) thuyết trình là trình bày trước một số hoặcnhiều người về một vấn đề nào đó Thuyết trình có thể chỉ trong một vài phút,những cũng có thể nhiều giờ Thuyết trình có thể với mục đích thông báo (báocáo với mọi người về việc mình đã làm hoặc về vấn đề thuộc mối quan tâm

Trang 36

của mọi người) hoặc thuyết phục (báo cáo về lợi ích của vấn đề nào đó và kêugọi sự đồng tình của mọi người, dẫn tới hành động sau thuyết trình) Thuyếttrình tốt cần có sự chuẩn bị và người ta thường chia thành 3 công việc làchuẩn bị thuyết trình, tiến hành thuyết trình và đánh giá kết quả thuyết trình.Hai công việc đầu bắt buộc phải có ở mỗi bài thuyết trình.

- Chuẩn bị thuyết trình, trước khi thuyết trình bạn phải tự đặt các câu

hỏi: bạn có hứng thú với chủ đề đó và có đủ kiến thức để thuyết trình haykhông? Mục tiêu của bài nói của bạn là thông tin, thông báo hay thuyết phục?Bạn có bao nhiêu thời gian cho chuẩn bị, thực hiện? Đối tượng người nghebạn thuyết trình là ai (người lao động nông thôn, miền núi, các bộ, công chức,thanh niên, SV, học sinh, nhà khoa học, hội đồng xét duyệt, tuyển chọn…)?Ngôn ngữ nào được sử dụng? Thông điệp chính của buổi thuyết trình của bạn

là gì? Bạn thuyết trình ở đâu và các phương tiện được sử dụng hỗ trợ khithuyết trình là các phương tiện nào? Kiểm tra cơ sở vật chất nơi thuyết trìnhxem tất cả mọi người có thể nghe rõ không, có thiết bị âm thanh tốt không,nhìn rõ không? Ánh sáng trong phòng có vừa đủ…

- Thực hành thuyết trình theo thứ tự, vào đề (mở đầu), nội dung chính

và kết luận (kết thúc) Nên nhớ rằng mức độ chú ý của người nghe giảm dần

về cuối buổi thuyết trình và gần cuối có thể tăng lên chút ít, do đó, khoảnggiữa buổi phải làm thế nào để kéo sự tập trung của người nghe, giảm căngthẳng [21]

1.3.3.4 Kỹ năng viết văn bản

Theo Chu Văn Đức (2005) viết là một công cụ tốt để giao tiếp có hiệuquả, muốn rèn kỹ năng viết tốt cần phải luyện tập Viết giúp người gửi thôngtin có thể xem xét tất cả các khía cạnh chi tiết của thông tin mà mình gửi dướidạng văn bản chính xác và chau chuốt Viết làm người nhận thông tin có thểxem qua thông tin sau đó nghiên cứu nó chi tiết hơn, lưu lại thông tin lâu dài

Trang 37

Viết cũng là để truyền tải thông tin và kỹ năng viết tốt mở ra nhiều cơ hội chochúng ta trong công việc và thăng tiến.

Để viết một văn bản nào đó người ta chú ý đến các yếu tố: đề cương,nội dung, văn phong, câu văn và độ chính xác Lập đề cương cho văn bản cóthể theo cách truyền thống, liệt kê các ý chính cấp một, cấp hai rồi cấp nhỏhơn nữa Hoặc lập đề cương theo sơ đồ tư duy, từ một ý chính phân ra các ýchính cấp một, ý chính cấp hai và nhỏ hơn nữa liên hệ với nhau như các dâythần kinh Các bước soạn thảo một văn bản gồm chuẩn bị, thực hiện viết vàhoàn thiện bài viết

- Chuẩn bị: Đầu tiên là phải xác định đối tượng đọc; Thứ hai là xác

định nội dung bài viết; Thứ ba, xác định văn phong của bài viết; Thứ tư, xácđịnh hình thức trình bày

- Thực hiện viết: Một bài viết thường có phần giới thiệu, phần triển

khai ý tưởng và phần kết luận

- Hoàn thiện bài viết: Sau khi chỉnh sửa bạn thêm hay bớt đi những

nội dung cần phải thay đổi và hoàn chỉnh lại bài viết bằng cách thêm hay bớt

đi những liên từ nối các đoạn văn, xem xét bài viết có theo logic không, sau

đó sửa chúng theo đúng hình thức quy định và mặc định [21]

1.3.4 Các hình thức giao tiếp của sinh viên

1.3.4.1 Thông qua làm việc theo nhóm

Làm việc theo nhóm là hình thức giao tiếp phổ biến hiện nay, đây làhình thức chia các đối tượng giao tiếp thành các nhóm nhỏ (số lượng cácthành viên tùy vào mục đích giao tiếp) Trên lớp SV sẽ được các GV giaonhiệm vụ học tập nào đó và yêu cầu thảo luận và làm việc theo nhóm Sau đó,

SV sẽ trao đổi, thảo luận, giải quyết vấn đề mà GV giao cho nhóm, bên ngoàilớp học, SV cũng lập các nhóm khác nhau như: nhóm học tập, nhóm nhạc,nhóm múa, nhóm tình nguyện,… để trao đổi thông tin, giao tiếp với nhau.Làm việc theo nhóm giúp SV tự tin hơn, mạnh dạn giao tiếp, hình thức này

Trang 38

giúp SV rèn luyện được KN lắng nghe, KN trình bày một vấn đề, KN đưa vànhận thông tin phản hồi, KN hợp tác…

1.3.4.2 Thông qua thuyết trình, báo cáo kết quả

Hình thức này thường được diễn ra trong lớp học, hoặc ở các buổi hộithảo, báo cáo khoa học… GV sẽ giao cho SV hoặc nhóm SV một chủ đề nào

đó yêu cầu SV làm báo cáo sau đó sẽ lên trước lớp báo cáo, thuyết trình vềchủ đề của mình Sau khi thuyết trình xong, GV yêu cầu SV khác trong lớpđặt câu hỏi, nhận xét, bổ sung cho bài của bạn… Với hình thức này, SV sẽ rènluyện được KN thuyết trình trước đám đông, KN diễn đạt thông tin, KN lắngnghe, KN đặt câu hỏi, KN nhận xét, KN chứng minh bác bỏ, KN sử dụng cácphương tiện phi ngôn ngữ…

1.3.4.3 Thông qua trả lời câu hỏi, phát biểu ý kiến trên lớp

Hình thức này thường diễn ra tại các buổi học nhằm tăng sự tương tácgiữa GV và SV GV sẽ đưa ra các câu hỏi yêu cầu SV trả lời câu hỏi, hoặcđưa ra những tình huống, vấn đề, yêu cầu SV nêu quan điểm bản thân, hoặchướng giải quyết vấn đề, hoặc sau các phần báo cáo, thuyết trình GV cũngyêu cầu các nhóm đặt câu hỏi, nhận xét, bổ sung cho bài của nhóm khác…Hình thức này giúp SV tự tin trước đám đông, KN nói, KN biểu lộ tình cảmtrong giao tiếp…

1.3.4.4 Thông qua trò chơi

Được diễn ra trong và ngoài lớp học, nhằm tạo sự thư dãn, thoải máicho SV, tạo sự hứng khởi cho buổi học GV có thể tổ chức các trò chơi tronglớp học, hoặc trong quá trình giao tiếp của SV, SV tổ chức trò chơi vớinhau… Hình thức này giúp SV tự tin hơn trong giao tiếp, tạo tinh thần thoảimái, vui vẻ

1.3.4.5 Thông qua các câu lạc bộ

Trang 39

Có nhiều câu lạc bộ trong HVNN Việt Nam, mối câu lạc bộ có nhữngcách thức giao tiếp riêng như câu lạc bộ nhảy, câu lạc bộ tiếng anh, câu lạc bộ

âm nhạc… Với hình thức này SV sẽ tự tin giao tiếp với người khác, rèn luyệnđược KN nói, trình bày một vấn đề nào đó, KN đứng trước đám đông, KN thểhiện điểm mạnh của bản thân…

1.4 Giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng

1.4.1 Ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng giao tiếp với các cư dân nông thôn tại các trung tâm học tập cộng đồng

Có một câu nói mà người đời đi trước đã truyền lại và chắc chắn vẫn là

một bài học giá trị đến ngàn đời sau, đó là: “học ăn, học nói, học gói, học

mở” Tuy nhiên, nhiều SV nghĩ rằng giao tiếp là một chuyện đương nhiên mà

không cần học hành SV vẫn có thể làm tốt Và với những suy nghĩ đó đã dẫnđến những tình huống mâu thuẫn, xung đột không đáng có, SV có thể nói rấtnhiều nhưng người khác không hiểu ý, hoặc những điều SV nghĩ trong đầu vànhững điều nói ra miệng không trùng khớp với nhau…

Vậy nên, giao tiếp là một KN rất quan trọng để SV quan tâm rèn luyệnnhằm nâng cao KN truyền thông của bản thân cũng như đem lại nhiều thiệncảm và ấn tượng với những người SV có dịp tiếp xúc Một trong lợi ích đầutiên khi SV giao tiếp tốt là SV luôn tự tin khi tiếp chuyện và chia sẻ với mọingười Rất nhiều SV do chưa được trang bị những cách thức giao tiếp hayđược GD KNGT nên thường xuyên e ngại, đặc biệt là khi tiếp xúc với nhữngngười lần đầu gặp mặt Điều này đã khiến cho không ít người đánh mất một

cơ hội có thêm một người tâm giao tốt, một đối tác kinh doanh, một người tưvấn hỗ trợ… Điều này thường gặp ở những SV lần đầu đi thực tập, tâm lý SVtrở nên lo lắng, áp lực, không biết giao tiếp với mọi người… Chính vì vậy,khi xuống các cơ sở thực tập gặp những đối tượng là các cán bộ quản lý, cán

Trang 40

bộ xã, thôn hay gặp gỡ các các cư dân ở những vùng nông thôn, các địa điểmthực tập như: tại các trung tâm HTCĐ, trang trại, khu thí nghiệm, khu đồngruộng… SV cảm thấy vô cùng bỡ ngỡ, không biết cách giao tiếp SV cảmthấy thiếu tự tin vào bản thân, chính điều đó làm cho quá trình giao tiếp bịhạn chế và kết quả công việc không đạt được như mong muốn đặt ra.

Bên cạnh đó, khi giao tiếp tốt sẽ giúp SV tăng tính tự tin, tạo đượcthiện cảm của mình đối với đối tượng đang tiếp xúc Từ đó những lời SV phátngôn ra luôn có trọng lượng với mọi người và ít khi bị rơi vào trường hợpngười khác bằng mặt mà bằng lòng với mình Hơn thế nữa, nếu biết cách nắmbắt được tâm lý của những người tiếp xúc, SV sẽ chủ động điều chỉnh linhhoạt để phù hợp với những câu chuyện trao đổi và luôn làm cho người đốidiện cảm thấy gần gũi vì những vấn đề của họ luôn được quan tâm trong quátrình giao tiếp Chính vì vậy, nếu GD KNGT cho SV trước khi đi thực tập thì

SV hoàn toàn có thể nâng cao KN thuyết phục và tạo ra một sức hút mãnh liệtvới các cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ nơi SV sẽ thực tập nghềnghiệp

Khi xuống các cơ sở thực tập SV phải tiếp xúc, giao tiếp với nhiều cưdân nông thôn có độ tuổi và tính cách khác nhau, nếu được GD KNGT vớicác cư dân nông thôn tại các trung tâm HTCĐ cho SV, SV sẽ biết cách lắngnghe, kiềm chế và bộc lộ cảm xúc tốt khi giao tiếp, biết tạo niềm tin khi giaotiếp, biết cách thu thập thông tin và chia sẻ những kiến thức nông nghiệp vớicác cư dân nông thôn SV sẽ rèn luyện và sử dụng phương tiện ngôn ngữ, phingôn ngữ trong nhiều hoàn cảnh khác nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếpcủa mình

Thực tập nghề nghiệp là cơ hội giúp SV rèn luyện kiến thức chuyênmôn được học trên trường, là cơ hội thực tập, tiếp xúc với các đối tượng làmviệc sau này Nên việc GD KNGT với các cư dân nông thôn tại các trung tâm

Ngày đăng: 23/07/2019, 18:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như An (1993), Hệ thống kỹ năng giảng dạy trên lớp về môn giáo dục học và quy trình rèn kỹ năng đó cho sinh viên khoa Tâm lý giáo dục. Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống kỹ năng giảng dạy trên lớp về môngiáo dục học và quy trình rèn kỹ năng đó cho sinh viên khoa Tâm lý giáodục
Tác giả: Nguyễn Như An
Năm: 1993
2. Hoàng Anh (2007), Hoạt động giao tiếp nhân cách, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giao tiếp nhân cách
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcSư phạm
Năm: 2007
3. Hoàng Thị Anh (1992), KNGT sư phạm của SV. Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: KNGT sư phạm của SV
Tác giả: Hoàng Thị Anh
Năm: 1992
4. Đào Thanh Âm (2004), Lịch sử giáo dục thế giới. Nhà xuất bản GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục thế giới
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: Nhà xuất bản GD
Năm: 2004
5. Nguyễn Thanh Bình (2004), “GD KN sống ở Việt Nam”. Tạp chí GD, (86), tr.4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GD KN sống ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2004
6. Nguyễn Thanh Bình (2009), “GD KN sống dựa vào trải nghiệm”. Tạp chí GD (203), tr.18-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: GD KN sống dựa vào trải nghiệm
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2009
7. Bộ GD và Đào tạo (2009), GD KN sống. Kỷ yếu hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: GD KN sống
Tác giả: Bộ GD và Đào tạo
Năm: 2009
9. Lê Thị Bừng (2003), Tâm lý học ứng xử. Nhà xuất bản GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học ứng xử
Tác giả: Lê Thị Bừng
Nhà XB: Nhà xuất bản GD
Năm: 2003
10. Tống Văn Chung (2000), Xã hội học nông thôn. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học nông thôn
Tác giả: Tống Văn Chung
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2000
11. Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học GD. Nhà xuất bản GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa họcGD
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nhà xuất bản GD
Năm: 1983
12. Đoàn Thị Cúc (2013), Phát triển môi trường giao tiếp cho sinh viên sư phạm ở các trường cao đẳng miền núi phía Bắc. Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển môi trường giao tiếp cho sinh viên sưphạm ở các trường cao đẳng miền núi phía Bắc
Tác giả: Đoàn Thị Cúc
Năm: 2013
13. Viết Cường (2015), Năng suất lao động người Việt Nam. Bài viết trên phần kinh doanh của kênh Zing.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất lao động người Việt Nam
Tác giả: Viết Cường
Năm: 2015
14. Dale Lanrnegie (2009). Nghệ thuật nói trước công chúng, biên dịch Song Hà. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật nói trước công chúng, biên dịch SongHà
Tác giả: Dale Lanrnegie
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin
Năm: 2009
15. Diane Tilman (2009), Những giá trị sống cho tuổi trẻ, biên dịch Đỗ Ngọc Khánh, Ph.D. Thanh Tùng – Minh Tươi. Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giá trị sống cho tuổi trẻ
Tác giả: Diane Tilman
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp thànhphố Hồ Chí Minh
Năm: 2009
16. Thái Trí Dũng (2003), Kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong kinh doanh. Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong kinhdoanh
Tác giả: Thái Trí Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2003
18. Trần Văn Điền (2015), Tâm lý học nông dân. Nhà xuất bản nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nông dân
Tác giả: Trần Văn Điền
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2015
19. Nguyễn Văn Đồng (2009), Tâm lý học giao tiếp. Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học giao tiếp
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị -Hành chính
Năm: 2009
20. Nguyễn Hữu Độ (2010), Giáo dục nếp sống thanh lịch-văn minh cho học sinh Hà Nội, Tạp chí giáo dục, số 40, tr.16, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí giáo dục
Tác giả: Nguyễn Hữu Độ
Năm: 2010
21. Chu Văn Đức (2005), KN giao tiếp. Nhà xuất bản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: KN giao tiếp
Tác giả: Chu Văn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 2005
22. Nguyễn Kế Hào (2004), Giáo trình tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm. Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sưphạm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w