XÂY DỰNG XÊRI BẢN ĐỒ GIÁO KHOA TREO TƯỜNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG DÙNG ĐỂ DẠY HỌC ĐỊA LÝ ĐỊA PHƯƠNG LỚP 9 TRƯỜNG THCS Những điểm mới và các kết quả nghiên cứu chính mà luận văn đã đạt được bao gồm: Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc thành lập xêri bản đồ giáo khoa treo tường địa lí địa phương thành phố Hải Phòng, dùng để giảng dạy và học tập trong các trường Trung học cơ sở của thành phố. Những cơ sơ và thực tiễn đó, một mặt phát triển lí luận bản đồ giáo khoa theo hướng sử dụng các thành tự của khoa học, mặt khác nó là tài liệu bổ ích cho những nhà khoa học đi theo hướng nghiên cứu của đề tài, đồng thời nó cũng chính là phần đóng góp nhỏ bé vào kho tàng lí luận chung của bản đồ học. Tác giả đã hoàn thành việc xây dựng xêri bản đồ giáo khoa với 07 bản đồ gồm: bản đồ hành chính, bản đồ tự nhiên, bản đồ dân cư, bản đồ nông nghiệp, bản đồ công nghiệp, bản đồ thương mại và bản đồ du lịch của thành phố Hải Phòng dùng để dạy và học địa lí địa phương. Đây là đồ dùng trực quan, nguồn tri thức quý giá có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng phương pháp rèn luyện tính tích cực trong học tập cho học sinh. Sự ra đời của xêri bản đồ này sẽ giải quyết phần nào những khó khăn nan gaiir hiện nay ở các trường Trung học cơ sở Trong quá trình xây dựng xêri bản đồ giáo khoa treo tường địa lí địa phương thành phố Hải Phòng, tác giả đã sử dụng nhiều số liệu từ niên giám thống kê của thành phố trong các năm 2010 – 2016, một số số liệu truy cập từ các trang web của các tổ chức kinh tế xã hội trong thành phố nên các đối tượng địa lí được biểu hiện một cách phù hợp với thức tế khách quan, chính xác trên phạm vi toàn thành phố, có độ tin cậy cao về mặt khoa học và có giá trị sử dụng rộng rãi cho các trường Trung học cơ sở trên toàn thành phố.
Trang 1XÂY DỰNG XÊRI BẢN ĐỒ GIÁO KHOA TREO TƯỜNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG DÙNG ĐỂ DẠY HỌC ĐỊA LÝ ĐỊA
PHƯƠNG LỚP 9 TRƯỜNG THCS
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Phạm vị nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5
7 Những đóng góp mới của đề tài 14
8 Cấu trúc luận văn 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THÀNH LẬP VÀ SỬ DỤNG XÊRI BẢN ĐỒ GIÁO KHOA TREO TƯỜNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 15
1.1 Cơ sở khoa học công nghệ thành lập xêri bản đồ giáo khoa thành phố Hải Phòng 15
1.1.1 Cơ sở lí luận về bản đồ giáo khoa 15
1.1.2 Đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của học sinh 25
1.2 Cơ sở thực tiễn xây dựng xêri bản đồ giáo khoa thành phố Hải Phòng 27 1.2.1 Định hướng đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn Địa lí 27 1.2.2 Yêu cầu tích cực hoá hoạt động học tập, tự học của học sinh 30
1.2.3 Thực hành, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn 31
1.2.4 Tăng cường sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại 31
1.2.5 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 33
1.3 Các công cụ sử dụng để thành lập xêri bản đồ giáo khoa 34
1.3.1 Hệ thống thông tin địa lí 34
1.3.2 Giới thiệu phần mềm ứng dụng Mapinfo 37
1.3.2 Số hóa bản đồ 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG XÊRI BẢN ĐỒ GIÁO KHOA TREO TƯỜNG 42
Trang 32.1 Khái quát chung về thành phố Hải Phòng 42
2.1.1 Vị trí và phạm vi thành phố Hải Phòng 42
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 42
2.1.3 Các điều kiện kinh tế - xã hội 52
2.2 Xác định xêri bản đồ giáo khoa thành phố Hải Phòng 53
2.3 Những vấn đề chung thành lập xê ri bản đồ giáo khoa nhờ sự trợ giúp của máy tính điện tử 53
2.3.1 Mục đích, yêu cầu của xêri bản đồ 53
2.3.2 Tỉ lệ bản đồ 54
2.3.3 Lưới chiếu, mật độ lưới chiếu bản đồ 54
2.3.4 Lãnh thổ biên vẽ trên bản đồ 55
2.3.5 Bố cục bản đồ 55
2.3.6 Cơ sở địa lí 56
2.3.7 Nguồn tài liệu chính để thành lập bản đồ 57
2.3.8 Thiết kế kí hiệu, chữ viết của bản đồ 58
2.3.9 Thiết kế bảng chú giải 67
2.4 Xây dựng xêri bản đồ thành phố Hải Phòng 67
2.4.1 Xây dựng bản đồ hành chính thành phố Hải Phòng 67
2.4.2 Xây dựng bản đồ tự nhiên thành phố Hải Phòng 71
2.4.3 Xây dựng bản đồ dân cư thành phố Hải Phòng 77
2.4.4 Xây dựng bản đồ công nghiệp thành phố Hải Phòng 85
2.4.5 Xây dựng bản đồ nông nghiệp thành phố Hải Phòng 91
2.4.6 Xây dựng bản đồ thương mại thành phố Hải Phòng 96
2.4.7 Xây dựng bản đồ du lịch thành phố Hải Phòng 101
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 106
CHƯƠNG 3 SỬ DỤNG XÊRI BẢN ĐỒ GIÁO KHOA TREO TƯỜNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG PHỤC VỤ HỌC ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG LỚP 9 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 107
Trang 43.2 Những yêu cầu chung khi sử dụng xêri bản đồ thành phố Hải Phòng
108
3.3 Nguyên tắc sử dụng xêri bản đồ giáo khoa thành phố Hải Phòng 109
3.4 Các phương pháp sử dụng xêri bản đồ giáo khoa trong giảng dạy địa lý địa phương 109
3.4.1 Sử dụng xêri bản đồ giáo khoa trong khâu soạn giáo án 109
3.4.2 Sử dụng xêri trong kiểm tra bài cũ 112
3.4.3 Sử dụng xêri trong dạy bài mới 113
3.4.4 Sử dụng xêri trong ôn tập, củng cố bài học 115
3.4.5 Kết hợp xêri bản đồ với các phương tiện trực quan khác 116
3.4.6 Sử dụng xêri trong tìm hiểu địa lý địa phương 117
3.4.7 Sử dụng xêri bản đồ để hướng dẫn học sinh tự học ở nhà 118
3.5 Hướng dẫn sử dụng các trang bản đồ 119
3.5.1 Hướng dẫn sử dụng chung 119
3.5.2 Hướng dẫn sử dụng một số trang bản đồ cụ thể 121
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 126
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 127
1 Kết quả nghiên cứu đề tài 127
2 Kiến nghị 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nội dung kiến thức chương trình địa lí địa phương, hệ thống bản đồ
THCS (lớp 9) 27
Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số các đơn vị hành chính năm 2016 68
Bảng 2.2: phân tầng độ cao địa hình Hải Phòng 71
Bảng 2.3: Ký hiệu một số loại khoáng sản ở Hải Phòng 73
Bảng 2.4: Nhiệt độ, lượng mưa trung bình tháng tại trạm Phù Liễn 73
Bảng 2.5: Nhiệt độ, lượng mưa trung bình tháng tại trạm Hòn Dấu 74
Bảng 2.6: Nhiệt độ, lượng mưa trung bình tháng tại trạm Cát Hải 75
Bảng 2.7: Thang mật độ dân số tương ứng với màu sắc thể hiện trên bản đồ 78
Bảng 2.8: Dân số thành thị thành phố Hải Phòng năm 2016 78
Bảng 2.9: Mật độ dân số các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng năm 2016 80
Bảng 2.10: Dân số thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005 - 2016 82
Bảng 2.11: Giá trị sản xuất công nghiệp của các quận (huyện) so với cả thành phố năm 2016 (đơn vị: %) 85
Bảng 2.12: Thang mật độ giá trị sản xuất công nghiệp tương ứng với màu sắc thể hiện trên bản đồ 86
Bảng 2.13: Một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp chính ở Hải Phòng 86
Bảng 2.14: Giá trị sản xuất công nghiệp thành phố Hải Phòng qua các năm 88
Bảng 2.15: Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 89
Bảng 2.16: Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế 89
Bảng 2.17: Hiện trạng sử dụng đất thành phố Hải Phòng năm 2016 91
Bảng 2.18: Diện tích đất trồng lúa, ngô, khoai Hải Phòng năm 2016 92
Bảng 2.19: Diện tích đất trồng dừa, cây ăn quả, chuối Hải Phòng năm 2016 92
Bảng 2.20: Số lượng gia súc và gia cầm và số lượng kí hiệu thể hiện trên bản đồ phân theo quận, huyện của thành phố Hải Phòng năm 2016 93
Bảng 2.21: GTSXNN thành phố Hải Phòng qua các năm 94
Bảng 2.22: Cơ cấu GTSXNN thành phố Hải Phòng phân theo ngành hoạt động 94
Trang 6Bảng 2.25: Cơ cấu giá trị sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2011 – 2016 95Bảng 2.26: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của các huyện tính theođầu người 96Bảng 2.27: Thang mật độ tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch cụ của các quậnhuyện theo đầu người tương ứng với màu sắc thể hiện trên bản đồ 97Bảng 2.28: Giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa phân theo quận huyện 97Bảng 2.29: Tổng mức bán lẻ hàng hóa theo giá hiện hành của thành phố HảiPhòng phân theo loại hình kinh tế giai đoạn 2010 - 2016 98Bảng 2.30: Cơ cấu trị giá hàng xuất – nhập khẩu Hải Phòng năm 2016 99Bảng 2.31: Mật độ di tích đã được xếp hạng các huyện của thành phố HảiPhòng 102Bảng 2.32: Một số điểm du lịch tiêu biểu ở thành phố Hải Phòng 102Bảng 2.33: Lượng khách và doanh thu từ các hoạt động du lịch giai đoạn 2005 –2016 104
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Hải Phòng trong vùng đồng bằng sông Hồng 69
Hình 2.2: Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa tại trạm Phù Liễn 74
Hình 2.3: Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa tại trạm Hòn Dáu 75
Hình 2.4: Biểu đồ nhiệt độ và lượng mưa tại trạm Cát Hải 76
Hình 2.5: Quy mô các điểm dân cư đô thị 79
Hình 2.6: Mật độ dấn số các tỉnh thành vùng đồng bằng sông Hồng 81
năm 2016 81
Hình 2.7: Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế 82
thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005 – 2016 82
Hình 2.8: Biểu đồ thể hiện dân số thành phố Hải Phòng 83
giai đoạn 2005 – 2016 83
Hình 2.9: Biểu đồ thể hiện kết cấu dân số theo nhóm tuổi và giới tính thành phố Hải Phòng năm 2016 84
Hình 2.10: giá trị sản xuất công nghiệp thành phố Hải Phòng 88
giai đoạn 2005 - 2016 88
Hình 2.11: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp 89
phân theo thành phần kinh tế 89
Hình 2.12: Biểu đồ thể hiện tổng mức bán lẻ hàng hóa 98
phân theo loại hình kinh tế giai đoạn 2010 – 2016 98
Hình 2.13: Cơ cấu trị giá hàng xuất – nhập khẩu Hải Phòng năm 2016 99
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bản đồ có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người Bản đồ giúpđiều tra tổng hợp lãnh thổ, đánh giá nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội củamỗi một quốc gia, khu vực, một châu lục giúp cho các nhà quy hoạch quản líđưa ra những chính sách, dự án sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên thiênnhiên phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vùng lãnh thổ
Việc sử dụng bản đồ là rất cần thiết trong nghiên cứu Địa lí nói chung
và giảng dạy địa lí nói riêng Với môn học Địa lý ở nhà trường phổ thông thìbản đồ là cuốn sách giáo khoa thứ hai giúp cho giáo viên giảng dạy tốt hơn,đồng thời giúp học sinh phát huy tính sáng tạo, chủ động trong suy nghĩ, kíchthích sự tò mò, ham hiểu biết khoa học địa lí, góp phần vào sự thành công củaphương pháp lấy học sinh làm trung tâm Trong những năm gần đây, cùng vớiviệc thực hiện đổi mới dạy học theo hướng tích cực thì vai trò của bản đồ giáokhoa càng được nâng cấp cao hơn khi giáo viên tăng cường sử dụng bản đồtrong quá trình giảng dạy
Bên cạnh đó, qua những năm giảng dạy địa lí địa phương ở trườngTrung học cơ sở cho học sinh lớp 8 và cả học sinh lớp 9, tác giả nhận thấy hệthống bản đồ địa lí địa phương cũng rất cần thiết để giúp cho học sinh nắmđược những kiến thức địa lí địa phương một cách đầy đủ và chính xác Trongđiều kiện hệ thống tài liệu, tư liệu phục vụ cho việc giảng dạy và học tập địa líđịa phương ở Hải Phòng còn hạn chế thì hệ thống bản đồ địa phương càng có
ý nghĩa đặc biệt hơn Do đó, việc thành lập xêri bản đồ là rất cần thiết Xêribản đồ được thành lập với mục đích chính là phục vụ cho việc học tập vàgiảng dạy địa lí địa phương trong nhà trường, ngoài ra còn giúp ích cho cácngành khác, đặc biệt cho việc hoạch định chiến lược phát triển của thành phốmột cách toàn diện và tổng thể
Trang 9Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Xây dựng xêri bản đồ giáo khoa treo tường thành phố Hải Phòng dùng để dạy học địa lý địa phương lớp 9 trường THCS” cho luận văn của mình nhằm góp phần
hoàn thiện hệ thống bản đồ giáo khoa để giảng dạy môn Địa lí ở các trườngphổ thông
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn thành lập nhằm đặt được những mục đích sau:
- Nghiên cứu xây dựng và sử dụng xêri bản đồ giáo khoa treo tườngthành phố Hài phòng phục vụ dạy học địa lý lớp 9 ở trường THCS nhằm bổsung phương tiện, thiết bị dạy học và góp phần nâng cao chất lượng giảng dạyđịa lý ở trường THCS trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- Cung cấp nguồn tư liệu, tài liệu phục vụ điều tra nghiên cứu nhữngvấn đề chung của thành phố Hải Phòng Luận văn cho thấy điều kiện tự nhiên,tài nguyên thiên nhiên, khái quát về kinh tế - xã hội của thành phố Đây sẽ lànguồn tư liệu tham khảo để các nhà quản lí, quy hoạch chính sách và địnhhướng phải triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng trong thời gian tới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, cần thực hiện những nhiệm vụnghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn để xây dựng xêri bản đồ giáokhoa treo tường dùng trong dạy học ở trường phổ thông
- Xác định nội dung và phương pháp thể hiện nội dung của xêri bản đồgiáo khoa treo tường thành phố Hải Phòng
- Đưa ra quy trình xây dựng xêri bản đồ giáo khoa treo tường Địa lí HảiPhòng phục vụ dạy học địa lí lớp 9
Trang 10- Xây dựng các bản đồ trong xêri bản đồ giáo khoa treo tường HảiPhòng dùng trong dạy học địa lí lớp 9.
- Hướng dẫn sử dụng xêri bản đồ giáo khoa treo tường trong giảng dạyđịa lý địa phương lớp 9
3 Phạm vị nghiên cứu
- Về không gian: lãnh thổ thành lập xêri bản đồ giáo khoa treo tường làtoàn bộ lãnh thổ thành phố Hải Phòng bao gồm 15 quận huyện, có sự so sánh,liên kết với các tỉnh lân cận và toàn vùng đồng bằng sông Hồng
- Về thời gian: đề tài nghiên cứu chủ yếu các vần đề về tự nhiên và kinh
tế xã hội trong giai đoạn 2000 - 2016, song về cơ bản là số liệu năm 2016
- Về nội dung: luận văn tập trung thành lập 7 trang bản đồ
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của thành phố Hải Phòng
- Dân cư và lao động của thành phố Hải Phòng
- Kinh tế của thành phố Hải Phòng
Khả năng áp dụng của đề tài dành cho học sinh khối lớp 9 bậc Trunghọc cơ sở trong quá trình giảng dạy và tìm hiểu ở nhà
4 Giả thuyết khoa học
Xây dựng xêri bản đồ địa lí địa phương thành phố Hải Phòng đảm bảocác nguyên tắc và yêu cầu đề ra sẽ cung cấp các phương tiện dạy học trựcquan cho giáo viên và tạo nên sự hăng say, hứng thú trong quá trình học tập,tiếp thu tri thức của học sinh Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và họcmôn Địa lí ở trường Trung học cơ sở tại địa phương
5 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về lí luận và phương pháp
xây dựng bản đồ cũng như Atlat sử dụng trong dạy học như: “Nhập môn bản
đồ học” của K.A Xalisev (1986), “Cartography Thematic Map Design” của tác giả Borden D Dent (1999), “Learning to teach Geography in the
Trang 11Secondary School” của tác giả David Lambert và David Balderstone (2009)
… đã nhấn mạnh vai trò của bản đồ cũng như nghiên cứu về lí luận, phươngpháp xây dựng bản đồ, Atlat trong trường học
Ở Việt Nam, Địa lí địa phương đã được nghiên cứu từ rất sớm, như tác
phẩm “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi vào cuối thế kỉ XV được coi là nền
móng đầu tiên cho việc nghiên cứu ĐLĐP, tiếp đến các công trình nghiên cứucủa Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú Năm 1967, tác giả Lê Bá Thảo đã công bốcông trình nghiên cứu quan trọng về ĐLĐP, được biên soạn thành hai tập
“Phương pháp nghiên cứu và giảng dạy địa lí địa phương” Sau Đổi mới một
số tài liệu nghiên cứu ĐLĐP cũng được biên soạn như: “Địa lí địa phương các tỉnh” (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), “Địa lí các tỉnh thành phố Việt Nam” (Lê Thông), “Địa lí Hà Sơn Bình” (Đại học Sư phạm Hà Nội), “Địa phương chí Hà Bắc” (Hoàng Thiếu Sơn chủ biên), “Đất nước ta” (Hoàng Đạo Thúy chủ biên), “Tập bản đồ địa lí địa phương Việt Nam” (Vũ Tự Lập
chủ biên) đây là công trình nghiên cứu đồ sộ, quy mô lớn với tập bản đồĐLĐP 44 tỉnh – thành phố của Việt Nam, được tiến hành trong 3 năm từ 1987– 1989 Đây chính là kho tư liệu bổ ích, có giá trị lớn về lịch sử hình thành,các nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã hội, các thế mạnh nổi bật của các địaphương
Đặc biệt, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bản đồ như “Bản đồ học” của tác giả Ngô Đạt Tam, Lê Ngọc Nam, Nguyễn Trần Cầu, Phạm Ngọc Đĩnh (1983); “Bản đồ học chuyên đề” của tác giả Lâm Quang Dốc, Phạm Ngọc Đĩnh, Vũ Bích Vân, Nguyễn Minh Ngọc (2005); “Thành lập bản đồ kinh tế - xã hội” của tác giả Lâm Quang Dốc (2008).
Ngoài ra, các Luận án , Khóa luận đã nghiên cứu về bản đồ ngày càng
nhiều với nội dung nghiên cứu đa dạng như Luận án Tiến sĩ “Xây dựng Atlat
Trang 12giáo khoa điện tử hỗ trợ dạy học Địa lí lớp 9” của tác giả Kiều Văn Hoan
(2011)
Những công trình nghiên cứu trên là những tài liệu rất bổ ích, là cơ sở
lí luận, nền tảng để tác giả hoàn thiện luận văn của mình.
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm thực tiễn
Các đề tài và phương pháp và phương tiện dạy học địa lí phải xuất phát
từ thực tiễn, nghiên cứu giải quyết các vấn đề cấp thiết và nan giải đặt ra củathực tiễn dạy học địa lí trên các vùng, miền khác nhau ở nước ta, đúc rút kinhnghiệm có tính lí luận phục vụ dạy học địa lí nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc địa lí ngang tầm với yêu cầu của thời đại Quan điểm thực tiễn phải xuấtphát “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượngđến thức tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, của sựnhận thức hiện thực khách quan” – Lênin Đồng thời cũng phải nhận thức đầy
đủ hai chiều hướng tư duy có liên quan đến việc nhận thức, đó là tư duy củacác khoa học nói chung cũng như tư duy của khoa học địa lí nói riêng có thể
đi từ trừu tượng đến thực tiễn và ngược lại, từ thực tiễn đến khái quát hóa,trừu tượng hóa
- Quan điểm hệ thống
Nghiên cứu phương pháp dạy học địa lí là một mặt cần phải đặt trongmối quan hệ chặt chẽ với các phương pháp trong giáo dục và dạy học nóichung, mặt khác liên quan mật thiết với các yếu tố bên ngoài và bên trong củaquá trình dạy học địa lí Mặt bên ngoài có thể nhìn thấy rõ các yếu tố và cáctác động của chúng trong quá trình dạy học Địa lí và các môn khoa học; mặtbên trong là quá trình nhận thức hệ thống kiến thức, kĩ năng các môn học nóichung, hệ thống kiến thức, kĩ năng địa lí nói riêng và sự tương tác của chúng
Trang 13diễn ra trong đầu học sinh khó nhận thấy Quá trình dạy học địa lí là một quátrình diễn ra đòng thời do tác động của nhiều yếu tố phức tạp có tính hệthống Những yếu tố hình thức bên ngoài cùng với những yếu tố bên trongnằm trong hệ thống của quá trình nhận thức kiến thức địa lí Những tác độngqua lại của các yếu tố bên ngoài và bên trong của quá trình dạy học địa lí sẽhình thành hệ thống kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo hình thành và phát triển phẩmchất, năng lực học sinh phổ thông.
Mỗi đối tượng nghiên cứu dù chỉ là một bộ phận của một chỉnh thể nào
đố cũng là một hệ thống hoàn chỉnh, Trong mỗi hệ địa và giữa các hệ địa vớinhau đều có mối quan hệ tương tác Quan điểm hệ thống không xem lãnh thổHải Phòng là một đơn vị độc lập mà cần đặt nó trong một đơn vị cấu thành tổchức lãnh thổ lớn hơn là vùng đồng bằng sông Hồng Đồng thời có quan hệhữu cơ với các tỉnh khác trong vùng cũng như cả nước
Xêri bản đồ giáo khoa treo tường là một hệ thống, dưới đó là một hệthống nhỏ hơn về hành chính, các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiênnhiên, kinh tế - xã hội Trong các hệ thống nhỏ hơn gồm các hệ thống khác.Trong một lãnh thổ, các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội luôn có mối quan hệmật thiết với nhau, tạo nên một thể tổng hợp thống nhất và hoàn chỉnh
Bản đồ giáo khoa cũng là một hệ thống Trong đó, xêri bản đồ giáokhoa treo tường là một loạt các bản đồ thống nhất với bản đồ trong sách giáokhoa và các thể loại khác thành một hệ thống
Với quan điểm nghiên cứu này, trong quá trình phân tích, đánh giáo cácđối tượng cần phải xem xét toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng và cấu thành nên nómột cách hệ thống và thống nhất, nhằm đảm bảo tính logic của đề tài nghiêncứu
Lí thuyết hệ thống được áp dụng trong quá trình xây dựng bản đồ như:
Trang 14- Quan điểm dạy học tích cực, phát triển năng lực học sinh
Tính tích cực là phẩm chất vốn có của con người sống trong thiên nhiên
và xã hội để tồn tại và phát triển Từ khi xã hội loài người xuất hiện đến nay,con người luôn luôn phải hoạt động, tích lũy kinh nghiệm, học tập và đấutranh chống lại mọi thế lực có hại cho loài người Do đó, việc dạy học đểtruyền lại cho thế hệ sau học tập thế hệ trước rồi truyền lại cho thế hệ sau nữa
là việc làm có tính quy luật Những việc dạy như thế nào, học như thế nào đãđược loài người tích lũy, tổng kết, đúc rút qua bao thế hệ nâng thành quanđiểm dạy học tích cực Chỉ có như thế, con người mới nhanh chóng tiếp cậnvới kiến thức hiện đại để bảo vệ thành quả lao động và phát triển bền vững
Dạy học tích cực đem lại hiệu quả cao trong việc nhận thức kiến thức,
kĩ năng địa lí Song, dạy học ngày nay không dừng ở việc dạy học tích cực,chủ động chiếm lĩnh kiến thức mà còn phải biết vận dụng kiến thức vào giảiquyết tình huống thực tiễn được đặt ra, hình thành phẩm chất và phát triểnnăng lực học sinh Một vấn đề của thực tiễn chứa đựng tri thức của nhiều mônhọc Muốn giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, học sinh cần phảiliên kết các kiến thức của nhiều môn học Nghĩa là dạy học theo phương phápmới phải biết cách liên kết kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, hình thànhphẩm chất và năng lực giải quyết vấn đề trong cuộc sống Đây là một tiếntrình tư duy và nhận thức mang tính phát triển tự nhiên của con người trongmọi lĩnh vực hoạt động, trong đó có lĩnh vực hoạt động dạy học địa lí
- Quan điểm tổng hợp
Địa lí địa phương là cấp lãnh thổ nhỏ được thành lập với tỷ lệ lớn, cácđối tượng địa lí được biểu hiện tương đối đầy đủ và chi tiết Nó được thể hiệntổng hợp các đối tượng địa lí trong không gian địa lí cấp địa phương, nằmtrong một bộ phận không gian lãnh thổ địa lí lớn hơn – đất nước, có mối liên
hệ mật thiết với các đối tượng địa lí ở cấp này Vì vậy, thành lập bản đồ cần
Trang 15phải có quan điểm tổng hợp Hơn nữa, dạy địa lí địa phương trên quan điểmtổng hợp cần phải có xêri bản đồ tổng hợp, nhằm giúp cho giáo viên và họcsinh nhìn nhận rõ các thế mạnh về tự nhiên, kinh tế - xã hội để vận dụng vàphát huy các tiềm năng này phát triển kinh tế địa phương.
Mỗi một thành phần tự nhiên đều phát sinh, phát triển theo những quyluật riêng, song chúng không bao giờ tồn tại độc lập mà luôn có những tácđộng qua lại biện chứng lẫn nhau Chính sự tác động đó đã tạo nên những đặcđiểm riêng của từng thành phần và là động lực của sự phát triển Vì vậy khôngthể thành công trong nghiên cứu nếu thiếu cách nhìn tổng hợp này
Trên cơ sở quan điểm nghiên cứu này, việc tổng hợp các chỉ tiêu quantrọng phản ánh một đơn vị hành chính là rất cần thiết Quan điểm này làm cơ
sở để xác định nội dung của bản đồ Khi nghiên cứu thành lập xêri bản đồgiáo khoa treo tường thành phố Hải Phòng cần nhìn nhận một cách tổng hợpcác yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội với nét đặc thù của nó trong vùng để tìmđược sự khác biệt, độc đáo so với các tỉnh thành khác
- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội về dân cư, lao động, các ngànhkinh tế đều không ngừng biến động theo không gian và thời gian Các biếnđộng đó diễn ra trong những điều kiện địa lí nhất định và trong những thờigian nhất định, với những xu hướng nhất định từ quá khứ từ quá khứ, hiện tại
để đi tới tương lai và đều có mối quan hệ nhân quả diễn ra trong những chutrình khép kín Vì thế, các số liệu trong xêri bản đồ giáo khoa treo tường đượcxem xét trong một thời điểm nhất định và đặt trong mối quan hệ với nhữngthay đổi về thể chế, chính sách phát triển trong từng thời kì lịch sử nhất định.Trong thời gian, các chỉ số này sẽ có sự biến đổi khác nhau
Vì vậy, thành lập xêri bản đồ giáo khoa treo tường cần phải quan tâm
Trang 16những lãnh thổ đã công bố nhằm tham khảo nội dung, phương pháp thể hiện,cách thể hiện màu sắc, đường nét bản đồ
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu trong việc thành lập bản đồ
là rất quan trọng Phương pháp đúng đắn, hợp lí sẽ cho kết quả tốt Trongnghiên cứu bản đồ có nhiều phương pháp khác nhau trong đó có cả phươngpháp truyền thống và phương pháp hiện đại Trong đề tài của mình, tôi đã vậndụng nhưng phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
Khoa học địa lí là số nhiều, là hệ thống các khoa học, là khoa học của
các mối quan hệ Phương pháp tiếp cận hệ thống là cách xem xét đối tượng
trong hệ thống các khoa học địa lí như một hệ toàn vẹn phát triển động, trongquá trình phát sinh và phát triển thông qua giải quyết những mâu thuẫn bêntrong, do những tương tác hợp quy luật giữa các thành tố của hệ thống Tiếpcận hệ thống nhằm vạch ra được bản chất toàn vẹn của hệ thống qua việc pháthiện ra được:
Trang 17tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá Đây là những yếu tố nằm trong hệthống của quá trình nhận thức kiến thức địa lí Những hoạt động tương tác củacác yếu tố bên ngoài và bên trong của quá trình dạy học địa lí nhằm đạt đượcmục tiêu giáo dục, giáo dưỡng trong nhà trường phổ thông hiện nay.
- Phương pháp giả thiết – diễn dịch
Trong nghiên cứu khoa học địa lí và phương pháp giảng dạy địa lí,phương pháp giả thiết – diễn dịch thường được áp dụng Phương pháp giảthiết – diễn dịch là phương pháp được sử dụng để chứng minh tính đúng đắncủa các giả thuyết, các luận điểm khoa học, rút ra các luận điểm khoa họcmới, xây dựng các lí thuyết khoa học mới Trên cơ sở các sự kiện mới đượctích lũy, người nghiên cứu đưa ra các giả thuyết để giải thích, sau đó nhờphương pháp diễn dịch (suy diễn), rút ra giả thuyết các hệ quả, và so sánh các
hệ quả này với nhau, với thực tiễn để kiểm tra tính chân lí của giả thuyết.Trong việc xây dựng các lí thuyết khoa học mới, trên cơ sở các tài liệu đượctích lũy, người nghiên cứu đưa ra một hay một số giả thuyết biểu thị với tưcách là tiền đề của lí thuyết mới, sau đó từ tiền đề rút ra tất cả các khẳng địnhcòn lại của lí thuyết nhờ diễn dịch lôgic Đương nhiên, tính chân lí của líthuyết mới cần được kiểm tra, trước hết là kiểm tra tính chân lí của các giảthuyết được chọn làm tiền đề của lí thuyết Phương pháp này thường đượcdùng nghiên cứu các phương pháp đã, đang và sẽ vận dụng trong giáo dục địa
lí để kiểm tra tính hiệu quả dạy học ở các trường phổ thông, bổ sung và hoànthiện phương pháp Khi nghiên cứu các đề tài về phương pháp dạy học địa lí,người nghiên cứu cần phải sử dụng phương pháp này để nêu giả thiết, thựcnghiệm, kiểm chứng, xây dựng lí thuyết khoa học mới của đề tài thì kết quảnghiên cứu mới đảm bảo tính pháp lí và đủ độ tin cậy về mặt khoa học
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phân tích được xem xét như là một trong số phương pháp đào sâu vô
Trang 18vô kể các bộ phận và các mặt khỏc nhau Những mặt này có thể đến với nhậnthức bằng con đường phân tích, liên tục được đào sâu trong mỗi giai đoạn pháttriển khoa học Tất cả mọi ngành khoa học, trong đó cả phương phỏp dạy họcđịa lý đó sử dụng phép phân tích như thể là một yếu tố của phương pháp nhậnthức chung trong phép biện chứng duy vật.
Tổng hợp là phương pháp nhận thức lôgic, nó liên quan một cách trựctiếp với việc phân tích mà nó là sự kế tục Hơn nữa, mỗi sự phân tích đềuđược tiến hành có chủ định nhằm để tổng hợp tiếp sau đó, nghĩa là sự thốngnhất các yếu tố của đối tượng nhận thức đã được tách ra và nghiên cứu khiphân tích Kết quả tổng hợp sẽ nhận được thụng tin mới – bản chất khốithống nhất toàn vẹn, tức là quy luật liên kết nhất định giữa các yếu tố của nó.Nhưng sau khi đã xuất hiện nguồn thông tin thực tế mới, áp dụng các phươngpháp mới xử lý nguồn thông tin này và các khía cạnh nghiên cứu mới ở trình
độ tri thức cao hơn thì tiếp tục phân tích nhằm mục đích tổng hợp tiếp theo
Sự tham gia của phương phỏp phõn tớch, tổng hợp thể hiện những nội dung
có mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố trong hệ thống, là kết quả của sự nhậnthức hiện tượng
Phân tích, đánh giá, tổng hợp và dự báo sự phát triển của một ngànhkinh tế trong một thời gian dài là một vấn đề phức tạp Do vậy, việc tiến hànhthu thập tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu và vận dụng cơ sở lí luận vàoviệc phân tích các tài liệu thu thập để rút ra những nhận xét, kết luận về sựphát triển của ngành nông nghiệp là công việc cần thiết
Do đó, sau khi thu thập được tài liệu cần phải tiến hành xử lí nhữngthông tin thông qua phương pháp so sánh tổng hợp kết hợp nội suy và ngoạisuy để đưa ra những số liệu cần thiết sử dụng cho đề tài
- Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát là phương pháp nghiên cứu dùng tri giác (các
hiện tượng địa lí, quá trình dạy – học ) hay các công cụ chuyên môn (bản đồ,
Trang 19tranh ảnh, hình vẽ, chụp ảnh, quay phim, ghi âm, truyền hình, ) để cảm nhận
và ghi lại hoạt động của đối tượng được nghiên cứu Phương pháp quan sátcòn gọi là phương pháp quan sát khách quan Trong nghiên cứu thường có haingười hoặc nhóm người cùng quan sát đối tượng một cách độc lập với nhau
và điều nào nhất trí thì mới coi là tài liệu khách quan (quan sát nhiệt độ, gió,mưa ở vườn địa lí, quan sát các đối tượng thí nghiệm, quan sát vật hậuhọc, ) Phương pháp này còn được áp dụng khi thực nghiệm một phươngpháp dạy học địa lí mới với đối tượng học sinh mới, quan sát các hoạt động ởtrên lớp của giáo viên và học sinh khi giảng dạy và học tập Quan sát học sinhtrong lớp học khi nghe bài mới, khi nhìn các phương tiện trực quan xem họcsinh có cảm nhận được thông tin, có hiểu bài hoặc có khó khăn gì khi tiếp thubài mới
Phương pháp quan sát có thể tiến hành ở một lớp học, một trường họcnhưng cũng có thể ở nhiều lớp, nhiều trường, nhiều địa phương khác nhau tuỳtheo mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Số lượng lần quansát và thời gian quan sát tuỳ theo yêu cầu của đề tài, tuỳ theo cấp bậc của đềtài, cấp càng cao (ví dụ, cấp nhà nước) số lượt quan sát càng nhiều, thời gianquan sát càng dài, phạm vi quan sát càng rộng Nghĩa là số lượt quan sát,phương pháp quan sát, thời gian và không gian tiến hành quan sát cần phảiđảm bào đủ lượng, đủ độ tin cậy về mặt khoa học Những số liệu thu thậpđược bằng phương pháp này cần phải xử lí bằng phương pháp thống kê toánhọc
- Phương pháp điều tra
Trước, trong và sau khi nghiên cứu đề tài về phương pháp dạy học địa
lí, người nghiên cứu cần phải tiến hành tìm hiểu, xem xét tình hình thực tiễngiáo dục ở các địa phương Tiến hành điều tra trước khi nghiên cứu nhằm xác
Trang 20với xu thế thời đại không, vấn đề nghiên cứu có cần thiêt và cấp báchkhông Tóm lại, điều tra để nhận rõ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tàinghiên cứu Trong khi nghiên cứu đề tài, nhất là trong thực nghiệm, phản ứngcủa xã hội nói chung, của giáo viên và học sinh nói riêng có ủng hộ hay phảnđối, nhằm điều chỉnh kịp thời nội dung, phương pháp và các bước thực hiện
đề tài Sau khi nghiên cứu, nhất là sau khi có kết quả và triển khai áp dụngvào thực tế, dư luận chung của xã hội như thế nào Muốn vậy, cần phải điềutra tình hình thực tế Muốn tìm hiểu, xem xét để biết rõ sự thật về vấn đề thìphải có phương pháp điều tra Phương pháp ăngket là phương pháp điều tra,trắc nghiệm thu thập ý kiến về một số vấn đề nào đó nhằm mục đích thống kê
Có nhiều loại: ăngket câu hỏi mở hay tự do, ăngkét đóng hay hình thức hóa;ăng ket kiểu phỏng vấn tự do, nhóm cá nhân, Trong một số loại ăngket,nghiệm viên có thể không trực tiếp tiếp xúc với các nghiệm thể mà ăngketđược đăng báo, in và phát hành, trên mạng xã hội v.v Gía trị của ăngket phụthuộc nhiều vào nghệ thuật đặt câu hỏi và mức độ ngụy trang của vấn đề, vào
số lượng và đặc điểm của các nghiệm thể, Phương pháp này xử lí phiếu điềutra bằng phương pháp toán học đảm bảo tính khách quan, khoa học và chínhxác, đủ độ tin cậy về mặt khoa học
- Phương pháp chuyên gia
Nghiên cứu các đề tài về phương pháp dạy học địa lí muốn có kết qủatối ưu thì phải thực nghiệm với số lượng đông, với phạm vi rộng và trongnhiều vòng thực nghiệm, rất khó khăn và tốn kém Vì vậy, người nghiên cứuthường phải giới hạn phạm vi nghiên cứu nhưng vẫn không làm giảm kết quảnghiên cứu đề tài Muốn vậy, cần phải bổ sung bằng phương pháp chuyên gia.Phương pháp chuyên gia là phương pháp thăm dò ý kiến chuyên gia nghiêncứu sâu một lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ nào đó và có hiểu biết sâu sắc
về lĩnh vực đó Thực hiện phương pháp này người ta thường dùng phương
Trang 21pháp điều tra, trắc nghiệm nhiều chuyên gia Tổng hợp các phiếu điều tra (có
xử lí bằng phương pháp toán học) sẽ cho kết quả đáng tin cậy về đề tài nghiêncứu
7 Những đóng góp mới của đề tài
- Làm rõ cơ sở lí luận về bản đồ giáo khoa địa lí địa phương.
- Xây dựng được xêri bản đồ phục vụ dạy học địa lí địa phương thànhphố Hải Phòng
- Hướng dẫn sử dụng xêri bản đồ treo tường trong dạy học địa lí địaphương
- Giải quyết khó khăn cho gv và hs trong giảng dạy và học tập địa lí
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Luận văn được cấutrúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học công nghệ và thực tiễn của việc thành lập
và sử dụng xêri bản đồ giáo khoa treo tường thành phố Hải Phòng
Chương 2: Xây dựng xêri bản đồ giáo khoa treo tường thành phố Hải
Phòng
Chương 3: Sử dụng xêri bản đồ giáo khoa treo tường thành phố Hải
Phòng phục vụ dạy học địa lí địa phương lớp 9 ở trường Trung học cơ sở
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC THÀNH LẬP VÀ SỬ DỤNG XÊRI BẢN ĐỒ GIÁO KHOA
TREO TƯỜNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 1.1 Cơ sở khoa học công nghệ thành lập xêri bản đồ giáo khoa thành phố Hải Phòng
1.1.1 Cơ sở lí luận về bản đồ giáo khoa
1.1.1.1 Khái niệm, tính chất và phân loại Bản đồ giáo khoa
1.1.1.1.1 Khái niệm về Bản đồ giáo khoa
Bản đồ giáo khoa bao gồm các bản đồ địa lí tự nhiên, kinh tế - xã hộitrong nhà trường nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân
Bản đồ giáo khoa phục vụ cho giáo dục, từ cấp phổ thông cho đến giáodục chuyên nghiệp, các hình thức đào tạo (chính quy, không chính quy)
Tác giả U.C.Bilich và A.C.Vasmut đã định nghĩa: Bản đồ giáo khoa làbiểu hiện thu nhỏ bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng dựa trên cơ sở toán học.Bằng ngôn ngữ bản đồ, phương tiện (đồ hoạ) phản ánh sự phân bố, trạng tháimối liên hệ tương hỗ của khách thể – tương ứng với mục đích, nội dung vàphương pháp của môn học trên những nguyên tắc chặt chẽ của tổng quát hoábản đồ; phù hợp với trình độ phát triển trí óc của lứa tuổi học sinh, có xét đến
cả yêu cầu giáo dục thẩm mĩ và vệ sinh học đường
PGS.TS Lâm Quang Dốc cho rằng: “Bản đồ giáo khoa là biển hiện thunhỏ bề mặt Trái Đất lên bề mặt phẳng dựa trên cơ sở toán học Bằng ngônngữ bản đồ, phương tiện (đồ họa) phản ánh sự phân bố, trạng thái, mối liên hệtương hỗ của khách thể - tương ứng với mục đích, nội dung và phương phápcủa môn học dựa trên những nguyên tắc chặt chẽ của tổng quát hóa bản đồ;phù hợp với trình độ phát triển trí óc của lứa tuổi học sinh, có xét đến cả yêucầu giáo dục thẩm mĩ và vệ sinh học đường”
Trang 23Các khái niệm trên đã làm rõ được bản chất của bản đồ giáo khoa làbản đồ địa lí, có những đặt trưng riêng như thu nhỏ bề mặt Trái Đất dựa trên
cơ sở toán học; thể hiện qua ngôn ngữ bản đồ (cho biết sự phân bố, trạng tháicũng như mối liên hệ tương quan, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhâu của kháchthể - tương ứng với mục đích, nội dung cũng như phương pháp của môn học).Việc tổng quát háo bản đồ hoàn toàn phù hợp với khả năng tiếp thu của lứatuổi học sinh cũng như giáo dục thẩm mĩ
1.1.1.1.2 Tính chất của bản đồ giáo khoa
Trong bản đồ giáo khoa chứa đựng các tính chất của bản đồ địa lí như
cơ sở toán bản đồ, ngôn ngữ bản đồ, tổng quát hoá bản đồ, đồng thời nó cũngmang trong mình những điểm đặc trưng của bản đồ dùng trong nhà trường.Những điểm đặc trưng đó là:
a Tính khoa học của bản đồ giáo khoa
Bản đồ địa lý dùng trong nhà trường khác với những bản đồ tra cứu ởchỗ: “trọng tải” của bản đồ không lớn và có nội dung phù hợp với chươngtrình giảng dạy của từng lớp, từng cấp học và từng bậc học Do đó bản đồ làmột tư liệu khoa học độc lập trong nhà trường, nó được sử dụng như mộtcuốn sách giáo khoa thứ hai
Để đáp ứng yêu cầu đó, bản đồ phải có tính khoa học Tính khoa họccủa bản đồ biểu hiện trước hết ở tính chính xác của cơ sở toán học Bản đồ địa
lý giáo khoa được xây dựng theo quy luật toán nhất định, theo tỷ lệ nhất định.Quy luật toán học biểu hiện rõ ở tính đơn trị và tính liên tục của việc biểuhiện bản đồ Tính đơn vị biểu hiện ở chỗ một điểm bất kỳ trên bản đồ, có toạ
độ x và y, chỉ tương ứng với một điểm trên bề mặt đất, và mỗi ký hiệu đặttrên điểm này chỉ có một ý nghĩa cố định rõ ràng trong bản chú giải Tính liêntục biểu hiện ở chỗ bản đồ “không có khoảng trống” Điều đó nói lên trên
Trang 24đã có tài liệu chính xác Tỷ lệ và các đơn vị đo, thang màu và sự phân cấp chỉ
số số lượng, sự phân cấp kí hiệu cho phép thực hiện trên bản đồ mọi khả năng
đo tính và nhận biết đặc điểm khác nhau của các hiện tượng Tính khoa họccủa bản đồ còn biểu hiện ở chỗ mỗi đối tượng, hiện tượng địa lý có đặc điểmriêng phù hợp với một phương pháp biểu hiện nhất định và trên bản đồ có đầy
đủ lượng thông tin tương ứng với tỷ lệ bản đồ Lượng thông tin càng cao, dĩnhiên, tính khoa học càng cao, nhưng vượt quá lượng thông tin cần thiết thìbản đồ sẽ “quá tải” gây khó khăn cho người sử dụng, tính khoa học giảm Cấutrúc nội dung của một bản đồ vừa truyền đạt đủ nội dung địa lý cơ bản đã viếttrong sách giáo khoa vừa giúp học sinh hiểu và trình bày được mối quan hệbiện chứng với những đối tượng khác Tính khoa học còn biểu hiện ở tínhtrừu tượng, tính chọn lọc và tính tổng hợp, tính bao quát, tính đồng dạng vàtính lôgic
- Tính trừu tượng của bản đồ
Bất kì bản đồ nào, đặc biệt là bản đồ tỷ lệ nhỏ, khi biên vẽ đều trải quamột quá trình trừu tượng hoá Trừu tượng hoá bản đồ dựa trên tổng quát hoá
và ký hiệu bản đồ Đó là kết quả của sự lựa chọn có mục đích rõ rệt, sự loại
bỏ cái thứ yếu, ít quan trọng, không cơ bản, đặc biệt chú ý đến những đặcđiểm chính, sự cường điệu hoá cao đối tượng và hiện tượng có ý nghĩa quantrọng đối với địa phương Đây là nhiệm vụ chủ yếu khi thành lập bất cứ mộtbản đồ hoặc một xêri bản đồ nào Khi thành lập bản đồ dùng trong trườnghọc, các nhà chuyên môn, các nhà phương pháp giảng dạy và các nhà bản đồkhông chỉ làm việc với tài liệu giáo khoa, mà cả với những hình ảnh của cácđối tượng địa lý nguyên vẹn, với hệ thống khái niệm xuất hiện trong quá trìnhbiên vẽ và tổng quát hoá bản đồ, nghĩa là sự trừu tượng hoá diễn ra từ lúckhởi thảo cho đến lúc hoàn thành bản vẽ cuối cùng Sự trừu tượng hoá các đốitượng địa lý biểu hiện trên bản đồ được giáo viên khai thác trong giảng dạy,
Trang 25được học sinh lĩnh hội khi học tập Trừu tượng hoá khoa học có vai trò quantrọng trong việc nhận thức các khía cạnh này khác của thực tế khách quan.Lênin nói: “Tư duy, khi có nguồn gốc từ cụ thể đến trừu tượng, nó sẽ không
đi xa chân lí – nếu nó đúng đắn Từ chân lí, nó sẽ tiếp cận chân lí Sự trừutượng hoá vật chất, sự trừu tượng hoá quy luật tự nhiên, trừu tượng hoá giátrị là một từ, tất cả trừu tượng hoá khoa học (đúng đắn, nghiêm túc, không
vô lí) đều phản ánh tự nhiên sâu sắc hơn, đúng đắn hơn, đầy đủ hơn Từ trựcquan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tế - đó
là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực kháchquan” Tổng quát hoá ở nhiều mức độ khác nhau là đặc tính của mô hình bản
đồ Sự trừu tượng hoá khoa học cao là đặc điểm của mô hình toán học, nhưngtính chất trừu tượng hoá này thuộc loại khác nếu nêu đặc điểm rất tóm tắt về
sự khác nhau chủ yếu của mô hình bản đồ và mô hình toán học, khi bỏ quacác đặc điểm khác nhau của chúng, thì có thể nói rằng, mô hình toán học (vídụ: phương trình toán học) đã lãng quên các tính chất cụ thể của các đốitượng thực tế, còn mô hình bản đồ tổng quát hoá các tính chất cụ thể
- Tính chọn lọc và tính tổng hợp của bản đồ
Tất cả những quá trình riêng biệt và những hiện tượng trong thực tếnhiều khi không biểu hiện được đầy đủ lên bản đồ mà có sự chọn lọc Chẳnghạn, trong tất cả các nhân tố hình thành khí hậu trên lãnh thổ, người ta chỉ lựachọn lượng mưa để biểu hiện trên bản đồ phân bố lượng mưa của lãnh thổ đó.Các nhân tố khác như áp suất không khí, gió, nhiệt độ đều bị loại bỏ
Bản đồ không chỉ có tính chất chọn lọc, mà còn có cả tính chất tổnghợp nữa Tính chất tổng hợp của bản đồ biểu hiện ở sự thống nhất các hiệntượng và quá trình trong thực tế Chẳng hạn, muốn hiểu biết đặc điểm pháttriển kinh tế của một đất nước phải biểu hiện tổng hợp các nhân tố như trình
Trang 26nguyên thiên nhiên và tài nguyên lao động Tính tổng hợp của bản đồ baogiờ cũng liên quan đến những khái niêm, những chỉ tiêu và những ký hiệumới, chính nhờ chúng mà có thể phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa cáchiện tượng và các quá trình.
Tính chất chọn lọc và tính chất tổng hợp vốn có trong nhiều mô hìnhđịa lý Sự khác nhau của các tính chất này trong các mô hình chỉ là ở mức độ
và tính chất trực quan
- Tính bao quát của bản đồ
Bản đồ cho phép nhà địa lý nhìn bao quát và nghiên cứu khoảng khônggian bao la của bất kì một lãnh thổ nào Chính tính chất đó của bản đồ đã giúpcho các nhà địa lý và địa chất khám phá ra nhiều quy luật trên quy mô hànhtinh và khu vực rộng lớn Không có một loại mô hình địa lý nào lại có đặctính này ở mức độ rõ rệt như bản đồ
- Tính đồng dạng hình học và sự phù hợp địa lý của bản đồ
Việc chuyển các điểm phản ánh hình dạng và kích thước của các đốitượng được biên vẽ trong điều kiện tỷ lệ và lưới chiếu cho trước gọi là sựđồng dạng hình học Nhờ tính chất đồng dạng này nhà địa lý không những chỉtìm thấy sự biểu hiện các vị trí tương hỗ và sự phụ thuộc lẫn nhau của các đốitượng trên lãnh thổ, mà còn hỡnh dung được cả hình dạng và kích thước củacác đối tượng nghiên cứu, nghĩa là nắm được cấu trúc không gian của chúng.Những bức ảnh hàng không và ảnh vũ trụ, các bình đồ, mặt cắt cũng có tínhchất tưong tự Sự đồng dạng hình học của bản đồ, tất nhiên, không nên hiểumột cách cứng nhắc như việc tính tỷ lệ đơn giản của đối tượng trên địaphương và trên bản đồ, bởi vì bản đồ đã sử dụng các ký hiệu ngoài tỷ lệ đểbiểu hiện các đối tượng địa lớ, cũn khụng gian trên bản đồ được biểu hiệntheo tỷ lệ Trong một số trường hợp, trên bản đồ tỷ lệ nhỏ, sự đồng dạng hìnhhọc (độ chính xác hình học) đã bị phá vỡ một cách có ý thức, để biểu hiện rõ
Trang 27các đường bình độ có thể hơi chuyển dịch tương đối so với vị trí thực củachúng để biểu hiện đúng đặc điểm lồi lõm của mặt dốc.
- Tính lôgic của bản đồ
Bản đồ nào cũng kèm theo bản chú giải Nó là chìa khoá cho mọi bản
đồ và là cơ sở logic của mọi bản đồ Không phải vô cớ việc thành lập bản đồbao giờ cũng bắt đầu từ việc chuẩn bị bản chú giải Bản chú giải của bản đồkhông chỉ giải thích ký hiệu mà nó còn là đơn vị phân loại (địa hình, khoángsản, công nghiệp, nông nghiệp ), phân cấp bậc (bậc độ cao và độ sâu, cấpmật độ dân số, cỏc cấp giỏ trị sản lượng cụng, nụng nghiệp ), là cơ sở đotính (thước tỷ lệ, thước đo độ dốc, độ cao cột biểu đồ ), giúp người đọc bản
đồ hiểu mô hình bản đồ với các đặc trưng chất lượng, số lượng và các cấutrúc, các mối tương quan không gian và mọi biến đổi theo thời gian
Những bản đồ có biểu đồ bổ sung thể hiện tính kết cấu logic đặc biệt vàtính trực quan Những ký hiệu đường nét, màu sắc dùng trên bản chú giảicùng với sự sắp xếp thứ tự giải thích, đã được lưạ chọn, cân nhắc kỹ lưỡng,nhằm nhấn mạnh ý nghĩa, tình trạng phụ thuộc và tính thống nhất của cáchiện tượng được biểu hiện Như vậy, khi sử dụng bản đồ không chỉ sử dụng
mô hình ký hiệu, mà còn phải dùng cả mô hình logic nữa Ký hiệu bản đồdùng trong bản chú giải là ngôn ngữ bản đồ phổ thông dùng cho mọi đốitượng đọc bản đồ
Những tính chất trên đây của bản đồ có khả năng phản ánh đầy đủ thực
tế giống như mô hình thực tế, chúng liên kết lại với nhau một cách chặt chẽđến mức có thể biết được một tính chất từ các tính chất khác Sự liên kết cáctính chất cuả bản đồ tạo nên sức chứa thông tin trên bản đồ Các nhà khoa học
đã chứng minh rằng: sức chứa thông tin trên trang bản đồ cao gấp hàng chụclần sức chứa thông tin của một trang in Lượng thông tin của một bản đồ đượcxác định bằng nội dung của nó, biểu hiện không chỉ dưới dạng “trọng tải” của
Trang 28thông qua mối quan hệ giữa các hiện tượng được biểu hiện (mối quan hệtương hỗ, sự phụ thuộc, cấu trúc và tình trạng ) Chính nguồn thông tin tiềmtàng này đã đem lại nhiều hứng thú hơn cả cho những người dạy và học địalý.
b Tính trực quan của bản đồ giáo khoa
Tính trực quan biểu hiện ở hình dáng trực quan bao trùm lên đối tượng
và hiện tượng với tất cả các tính chất nguyên vẹn và phức tạp của nó, với mọichi tiết riêng phù hợp với quy luật Bản đồ dùng trong trường học, nhất là loạibản đồ treo tường đòi hỏi có tính trực quan cao Đây là tính đặc trưng quantrọng nhất của bản đồ dùng trong trường học Tính trực quan thể hiện ở tốc độnhận biết các đối tượng và hiện tượng biểu hiện trên bản đồ Tốc độ nhận biếtcác đối tượng và hiện tượng biểu hiện trên bản đồ càng nhanh, tính tích trựcquan càng cao Tính trực quan càng cao thì mức độ cường điệu hoá càng lớn,việc biểu hiện các đối tượng và hiện tượng trên bản đồ càng kém chính xác,tính khoa học giảm Tính trực quan mâu thuẫn với tính khoa học Chúng tacần hiểu được các mặt đối lập của tính trực quan và tính khoa học để kết hợpchúng một cách chặt chẽ khi thành lập cũng như khi khai thác nội dung khoahọc trên bản đồ phục vụ cho mục đích giảng dạy và học tập địa lý
Bản đồ địa lý dùng trong nhà trường thường sử dụng nhiều màu sắcđẹp, nhiều ký hiệu tượng trưng gần gũi với đối tượng và nhiều ký hiệu tượnghình gây hứng thú cho học sinh, tạo ra phản ứng tư duy nhanh khi giáo viêngiảng bài Tính trực quan trong bản đồ được đánh giá rất cao, nó được thựcnghiệm xác nhận là có hiệu quả tri giác cao trong hoạt động nhận thức
c Tính sư phạm của bản đồ giáo khoa
Hệ thống bản đồ giáo khoa bao gồm các thể loại bản đồ mang nhữngđặc điểm khác nhau, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vị trí, chứcnăng và nhiệm vụ của mỗi thể loại bản đồ giải quyết một khâu hình thànhkiến thức địa lý cho học sinh Quá trình sử dụng phối hợp các thể loại bản đồ
Trang 29trong trường học sẽ hình thành hệ thống kiến thức bản đồ trong học sinh, giúpcác em học tập bộ môn địa lý có kết qủa Đó là yêu cầu khách quan xuất hiệntrong quá trính sử dụng bản đồ Phù hợp với điểu đó, tính sư phạm của bản đồbiểu hiện:
a Bản đồ giáo khoa phù hợp với chương trình địa lý của từng bậc học,từng cấp học và từng bài học, phù hợp với trình độ người học Một bản đồ thànhlập theo chương trình lớp 12 thì nó khó và quá sức đối với học sinh lớp 8 vàngược lại
b Nội dung bản đồ liên hệ chặt chẽ với tài liệu giáo khoa Nó đượctổng quát hoá phù hợp với nội dung điạ lý cơ bản của bài học, phục vụ mụcđích và nhiệm vụ học tập Sách giáo khoa là tiêu chuẩn nội dung để thành lậpbản đồ giáo khoa nếu sách giáo khoa thay đổi, thì nội dung bản đồ giáo khoacũng phải thay đổi theo
c Lưới chiếu bản đồ (mạng lưới kinh và vĩ tuyến) cùng với tỷ lệ là cơ
sở khoa học để tính toán toạ độ, phương hướng, chiều dài và diện tích trênbản đồ
Lưới chiếu bản đồ giáo khoa phù hợp với nội dung bài học, phù hợpvới lứa tuổi học sinh
Ở những lớp đầu cấp, lưới chiếu là phần nội dung bài học, giúp các emhình dung được hình dạng Trái Đất, sự chuyển động từ Tây sang Đông củaTrái Đất, ngày và đêm, Bán cầu Đông – Tây, vĩ độ Bắc – Nam, sự phân chiakinh – vĩ độ, kinh độ Đông – Tây, vĩ độ Bắc – Nam, múi giờ, các đới khí hậu
và biến dạng bản đồ Khi biểu hiện một phần hay toàn bộ Trái Đất cần dùnglưới chiếu đúng hình dạng để học sinh nhận biết dễ dàng Lên học ở các lớpcao hơn, các em đã có vốn kiến thức địa lý khá hơn, tư duy địa lý đã pháttriển, việc biên vẽ các bản đồ nên dùng các lưới chiếu khỏc nhau biểu hiện
Trang 30Trên cùng một lãnh thổ biên vẽ bản đồ, các loại bản đồ có tỷ lệ khácnhau nên dùng một loại lưới chiếu để học sinh tiện so sánh, đối chiếu.
Tỷ lệ của chúng tốt nhất là bội số của nhau, hoặc là tỉ lệ chẵn giúp họcsinh sử dụng bản đồ được thuận tiện
Chữ đề trên bản đồ phải biểu hiện thống nhất trong các loại bản đồ từlớp đầu cấp đến lớp cuối cấp Chẳng hạn, không nên có một địa danh mà mỗiloại bản đồ đề tên khác nhau Như vậy, học sinh khó tiếp thu bài giảng
Trên các loại bản đồ phải dùng thống nhất hệ thống ký hiệu và phươngpháp biểu hiện mà học sinh đã quen biết, nhất là đối với những bản đồ tựnhiên và kinh tế Hệ thống ký hiệu và phương pháp biểu hiện phải tuân theotính kế thừa, bằng cách phát triển dần dần và làm phức tạp thêm nội dung bản
đồ và phương pháp truyền đạt nó từ lớp dưới lên lớp trên
Bố cục của bản đồ hợp lý và sự trình bày đẹp, vừa có vai trò quan trọngtrong việc giáo dục óc thẩm mỹ cho học sinh, vừa kích thích học sinh say mêlàm việc với bản đồ, đem lại cho các em hứng thú học môn địa lý
Những biểu hiện trên đây liên quan chặt chẽ với nhau cùng thống nhất
ở mục tiêu giảng dạy, học tập và được trình bày một cách có hệ thống trên cácthể loại bản đồ từ lớp dưới lên lớp trên Sử dụng bản đồ giáo khoa chỉ đạtđược hiệu quả cao nhất khi chúng thành một hệ thống thống nhất
1.1.1.1.3 Các loại bản đồ giáo khoa
Bản đồ giáo khoa là loại bản đồ ứng dụng trong giáo dục nên nó kháccác loại bản đồ địa lí nhưng vẫn mang trong mình các tính chất của bản đồ địa
lí Nó được phân chia ra các loại hình bản đồ tương ứng với đặc điểm sử dụngtrong công việc dạy học địa lí
Những loại hình đó là:
- Bản đồ trong sách giáo khoa, là bản đồ in trong sách giáo khoa Nó
có kích thước nhỏ, in ít màu, nên lương thông tin rất hạn chế, chỉ biểu hiệnđược những nội dung cốt lõi nhất của bài học
Trang 31- Bản đồ giáo khoa treo tường, là bản đồ có kích thước lớn, treo trêntường trước mặt học sinh Do bản đồ có kích thước lớn nên lượng thông tinđược biểu hiện nhiều hơn bản đồ trong sách giáo khoa Nó dùng để giáo viên
và học sinh cùng sử dụng ở trên lớp Học sinh nhìn từ khoảng cách xa từ 5đến 7 mét Vì vậy kích thước kí hiệu phải lớn, chữ viết có kích thước đủ đểhọc sinh có thể nhìn thấy những đối tượng địa lí lớn
- Atlat địa lí hoặc xêri bản đồ giáo khoa, là những bản đồ có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau về nội dung, cơ sở toán học và các yếu tố khác trên bản
đồ, giúp giáo viên và học sinh sử dụng thuận tiện
- Quả Địa Cầu – mô hình Trái Đất, dạy về các hiện tượng tự nhiên cóquan hệ với toàn cầu
- Bản đồ câm (trống), là những bản đồ dùng cho học sinh làm bài tập ởnhà, ôn tập kiến thức cũ
1.1.1.2 Khái niệm về xêri bản đồ giáo khoa treo tường
Bản đồ giáo khoa treo tường là loại bản đồ dùng để học ở trên lớp Nóđược dùng để nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong nhiều lĩnh vực, nhất làtrong lĩnh vực địa lý và lịch sử
Bản đồ giáo khoa treo tường thể hiện được nội dung địa lý trong cácmối quan hệ và cấu trúc không gian, đảm bảo được tính lôgic khoa học củavấn đề giáo viên trình bày Mỗi điểm, mỗi đối tượng địa lý trên bản đồ đềugiữ đúng vị trí địa lý của mình trên bề mặt đất Đặc điểm của mỗi đối tượngcũng được biểu hiện bằng các phương pháp hoạ đồ phù hợp Trên bản đồ,lượng thông tin khoa học phải tương xứng với tỷ lệ của nó, các đối tượng địa
lý trên bản đồ được khái quát hoá cao, có đối tượng phải cường điệu hoá đếnmức cần thiết Nhiều ký hiệu tượng trưng, tượng hình, nhiều màu sắc đẹp gầngũi đối tượng đã được sử dụng làm cho bản đồ có tính trực quan cao, gây
Trang 32bày trên bản đồ còn phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, với thị lực học sinhtrong khoảng cách từ 5 đến 10 m, với trình độ nhận thức của từng cấp học Vìvậy, bản đồ treo tường có hệ thống ký hiệu lớn, chữ viết to, màu sắc rực rỡ,đẹp, có độ tương phản mạnh Bản đồ treo tường, được thày trò cùng sử dụng
ở trên lớp để giảng dạy và học tập bài mới, ôn tập và kiểm tra những kiếnthức cũ Chúng thường được sử dụng kết hợp với các bản đồ và sơ lược, lược
đồ trong sách giáo khoa, với atlat và bản đồ bài tập
1.1.2 Đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của học sinh
Ở lứa tuổi học sinh cấp giáo dục tiểu học, trung học cơ sở hệ thần kinhtrung ương dễ chịu tác động của các tác nhân kích thích hơn so với người lớn
Do đó trẻ em rất dễ tích luỹ nhanh và dự trữ một số lượng lớn hình ảnh trựcquan Đồng thời khả năng bẩm sinh của não là thụ cảm đặc điểm của vật thể(đối tượng và hiện tượng địa lí) được tri giác như môt vật thể toàn vẹn hoặcnhóm các đối tượng có liên quan Việc hướng dẫn của giáo viên có ý nghĩa rấtlớn để phát triển hình ảnh - biểu tượng (hình ảnh của các đối tượng và hiệntượng địa lí) Các biểu tượng này hình thành trên cơ sở tri giác, cảm giác vàđược lưu giữ trong ý thức học sinh Chức năng chính của biểu tượng (biểutượng ngôn ngữ bản đồ) là các tín hiệu hình ảnh ẩn chứa lượng thông tin, làtín hiệu lựa chọn thông tin, là định lượng thông tin (nhiều ít) Hệ thống kíhiệu, hệ thống khái niệm trình bày trên bản đồ phải đi từ hình ảnh đến biểutượng, từ tổng thể đến chi tiết, từ đơn giản đến phức tạp, từ cấu trúc chungđến đặc điểm riêng của từng thành phần Biểu tượng chứa đựng yếu tố kháiquát cho nên nó là bậc thang chuyển tiếp từ hình ảnh cụ thể đến khái niệmtrừu tượng, từ cảm giác và tri giác đến tư duy Quy luật đi từ hình ảnh cụ thểđến biểu tượng, đến tư duy, đến khái niệm đòi hỏi ứng dụng thích hợp vớitừng lứa tuổi học sinh từ thấp lên cao trong quá trình hình thành nội dung địa
lí thông qua các phương tiện biểu hiện trên các thể loại bản đồ giáo khoa
Trang 33Mặt khác, tri giác của người sử dụng bản đồ là tri giác không gian,tri giác thời gian và tri giác vận động Tri giác không gian là tri giác trừutượng không gian, tri giác hình dạng, độ lớn, khối lượng, cao thấp, cấu trúc và
sự sắp xếp tương quan (mối quan hệ địa lí), vị trí địa lí, độ sáng tối, Tri giáckhông gian nhằm giáo dục khả năng nhìn không gian, tư duy không gian Trigiác thời gian là tri giác độ dài thời gian, tốc độ, tính tuần tự, sự phát triển củahiện tượng qua các thời kì, tạo nên biểu tượng về các quá trình phát triển củalớp vỏ Trái Đất, biểu tượng về quá khứ, hiện tại, tương lai của các đối tượngđịa lí thông qua các hình vẽ, các màu sắc, các con số gây nên sự hứng thútrong học tập địa lí Tri giác vận động là tri giác các kí hiệu diễn tả sự dịchchuyển của hiện tượng trong không gian như các hình thức biểu hiện củaphương pháp kí hiệu chuyển động, các loại kí hiệu nằm trong các phươngpháp khác nhau biểu hiện sự phát triển của hiện tượng theo thời gian, biểuhiện biên độ và cường độ hiện tượng, tần suất của hiện tượng, sự vận độngnâng lên hạ xuống của lớp vỏ Trái Đất
Ngoài ra, khi thiết kế và trình bày bản đồ tác giả đã chú ý đến tâm,sinh lí thị giác và khả năng cảm nhận thông tin trên bản đồ
Bản đồ địa lí dùng trong nhà trường là mô hình hình ảnh của thực tếđịa lí có chức năng nhận thức, là nơi tàng trữ tri thức về thực tế khách quan
mà chúng ta nhận biết được nhờ thị giác Khoảng 90% lượng thông tin đượcđưa vào não nhờ thị giác Hình ảnh kí hiệu có đủ độ lớn và màu sắc có đủ độtương phản, độ rõ, có tới được mắt người đọc thì học sinh mới nhìn thấychúng Trong quá trình nhận thức các đối tượng và hiện tượng địa lí, cảm giácnhìn của con người đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động tâm lí, đó là
cơ sở của nhận thức
Dựa trên tâm sinh lí thị giác, người đọc bản đồ hoàn toàn có khả
Trang 34đồ thông qua cảm giác , tri giác của người đọc bản đồ Cảm giác là sự phânbiệt những dấu hiệu đơn giản nổi bật trên bản đồ (độ sáng, màu sắc, độ tươngphản), sau đó là sự phân tích từng yếu tố, từng bộ phận của kí hiệu để nhậndạng, cuối cùng đi sâu vào các chi tiết, các đặc điểm, phân tích tìm hiểu vềkhông gian, về các mối quan hệ Từ đó tiến tới tri giác, một trình độ nhậnthức mới về chất, là sự hình thành trong đầu chủ thể hình ảnh về đối tượng,hiện tượng địa lí đang học tập, nghiên cứu.
1.2 Cơ sở thực tiễn xây dựng xêri bản đồ giáo khoa thành phố Hải Phòng
1.2.1 Định hướng đổi mới nội dung và phương pháp dạy học môn Địa lí
Nội dung chương trình địa lí địa phương lớp 9 và các bản đồ cần thiết
để hỗ trợ giảng dạy được cấu trúc như sau:
Bảng 1.1: Nội dung kiến thức chương trình địa lí địa phương,
- Bản đồ tự nhiên thànhphố Hải Phòng
Bài 42: Địa lí III Dân cư và nguồn lao động - Bản đồ dân số thành
Trang 35- Bản đồ công nghiệpthành phố Hải Phòng
- Bản đồ thương mạithành phố Hải Phòng
- Bản đồ du lịch thànhphố Hải Phòng
- Bản đồ tự nhiên thànhphố Hải Phòng
- Bản đồ dân số thànhphố Hải Phòng
- Bản đồ nông nghiệpthành phố Hải Phòng
- Bản đồ công nghiệpthành phố Hải Phòng
- Bản đồ thương mạithành phố Hải Phòng
- Bản đồ du lịch thànhphố Hải Phòng
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học được coi là
Trang 36chất lượng dạy và học Điều này được cụ thể hóa bằng nhiều phong trào đổimới phương pháp tại hầu hết các cơ sở đào tạo; những nghiên cứu đổi mớiphương pháp được tiến hành theo nhiều định hướng khác nhau, rất đa dạng vàphong phú… Tuy nhiên, theo tác giả Thái Duy Tuyên, các hoạt động đổi mớinói chung diễn ra theo ba hướng chính là phát triển năng lực nội sinh của ngườiđọc; đổi mới quan hệ thầy trò theo hướng lấy học sinh làm trung tâm; đưa côngnghệ hiện đại vào nhà trường với tư cách là những phương tiện hỗ trợ quá trìnhdạy học Những biện pháp dưới đây sẽ góp phần đổi mới toàn diện phươngpháp dạy học.
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đảo tạo đã thực hiện xong Dự án thay sáchgiáo khoa, cải tiến nội dung chương trình nhiều môn học, trong đó có mônĐịa lí Trong nhiều nội dung cải tiến, có hai định hướng đổi mới quan trọngsau:
Một là, xu hướng hiện đại hóa nội dung Với định hướng này, kiến thứccần phải hiện đại, đòi hỏi sự cập nhật đồng thời tăng cường nội dung thựchành, vận dụng Theo dõi, nội dung kiến thức sẽ là những đối tượng, quá trìnhmang tính hiện đại hơn Điều này tất yếu dẫn tới mức độ trừu tượng của kiếnthức sẽ cao hơn, nội dung thực hành, vận dụng sẽ được bàn tới nhiều hơn
Hai là, giảm tính hàn lâm, chú trọng ứng dụng cụ thể và tăng cườngthực hành đảm bảo cho học sinh những chi tiết mà còn phải làm được Cả haiđịnh hướng đổi mới trên đều cho thấy: việc trang bị cơ sở vật chất phục vụxây dựng các bản đồ là điều cần thiết và cần được chuẩn bị sớm Xây dựng và
sử dụng xêri bản đồ giáo khoa là một trong những định hướng giải quyết yêucầu đổi mới trên
1.2.2 Yêu cầu tích cực hoá hoạt động học tập, tự học của học sinh
Trang 37Để tích cực hóa hoạt động của học sinh, nội dung dạy học không đượctrình bày một cách tường minh, có sẵn để học sinh công nhận một cách thụđộng mà chỉ đưa ra những thông tin liên quan để học sinh tự xử lí và đưa rakết luận (kiến thức, kỹ năng) cho riêng mình Do đó, thông tin đưa ra phảisinh động, đa dạng hấp dẫn (dưới dạng kênh chữ, kênh hình, màu sắc, sựtương tác giữa học sinh với nội dung học tập…) để lôi cuốn vào hoạt độnghọc tập cụ thể
Thực tiễn trên đòi hỏi về phía học sinh phải chủ động, tích cực tronghoạt động nhận thức Cụ thể hơn, học sinh phải được khuyến khích làm việcmột cách chủ động, tích cực lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo từ các
“nguồn” thông tin khác nhau như sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, bàigiảng của giáo viên, các bài thực hành, thí nghiệm, thực tiễn… Về phía giáoviên, nhà trường, xã hội thì phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho các em
có được trang thiết bị, tài liệu, môi trường học tập tốt nhất Yêu cầu trêncũng chính là một thuận lợi cho việc xây dựng và sử dụng xêri bản đồ giáokhoa trong dạy học
Trong quá trình dạy học, hoạt động nhận thức của học sinh đóng vai tròchủ đạo và quyết định tới chất lượng dạy học Nếu học sinh không nỗ lực họctập thì quá trình dạy học sẽ không có kết quả
Thực tế hiện nay, giáo viên thường làm việc quá nhiều, đưa ra quánhiều thông tin trong quá trình dạy học Điều này sẽ đưa học sinh vào trạngthái bị động ghi nhớ, không tạo điều kiện cho các em độc lập suy nghĩ, sángtạo Kết quả là khi bắt gặp những khó khăn, những vấn đề mới lạ học sinh sẽ
bỡ ngỡ, lúng túng, không đủ phương pháp và bản lĩnh để giải quyết nhữngvấn đề phức tạp trong cuộc sống
Trang 38Do vậy, vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học chỉ là tổ chức,hướng dẫn, giúp đỡ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhận thức, từng bướcnâng cao khả năng tự học của học sinh.
Để tăng cường hoạt động tự học của học sinh, hoạt động không chỉđược tổ chức khi học tập ở nhà mà cần được coi trọng ngay cả trong giờ họctrên lớp Bên cạnh đó, cần tổ chức hoạt động độc lập của học sinh thông quanhiều hình thức như đọc sách, thực hành, làm bài tập, thảo luận… Cuối cùng,cần đặc biệt coi trọng hoạt động tự lực có tính sáng tạo và cần phối hợp hoạtđộng tự học sáng tạo và hoạt động tự học tái hiện một cách hợp lý
1.2.3 Thực hành, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Kết hợp học với hành là một trong những quan điểm giáo dục quantrọng của Đảng Việc nắm vững lý thuyết chỉ là để biết, để nhận thức bản chất
sự vật, hiện tượng… vận dụng được, làm được mới là mục tiêu quan trọngcủa giáo dục
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau công tác thực hành trongdạy học thường không được coi trọng Thực tế rất ít trường hợp thực hiệnđúng, đủ các bài thực hành theo quy định của chương trình Tình trạng nàyảnh hưởng lớn tới chất lượng dạy và học
Do vậy, tăng cường tổ chức các hoạt động trên cơ sở sử dụng các phầnmềm hỗ trợ sẽ là một hướng quan trọng cần được quan tâm khi đổi mớiphương pháp dạy học
1.2.4 Tăng cường sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại
Thực tiễn cho thấy, phương tiện dạy học ngày càng đóng vai trò quantrọng trong quá trình dạy học Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệcũng như những thành tựu về khoa học sư phạm, các phương tiện ngày cànghiện đại và đã thự sự góp phần giải quyết được nhiều khó khăn trong quá trình
Trang 39nhận thức của người học Các phương tiện kỹ thuật hiện đại như các loại máychiếu (máy chiếu bản trọng, máy chiếu vật thể, máy chiếu slide, máy chiếu đaphương tiện…), máy tính… giúp giáo viên cung cấp cho học sinh kiến thứcchắc chắn, phong phú và sinh động
Ngày nay, các phương tiện thông tin đại chúng đã trở thành một mạnglưới rộng khắp với nội dung và các loại hình thông tin phong phú, đa dạng, chấtlượng ngày càng cao Trong đó có nhiều vấn đề liên quan mật thiết đến chươngtrình học tập đã có ảnh hưởng lớn đến trình độ nhận thức của học sinh Bêncạnh đó, tình hình trang bị cho nhà trường và cơ sở vật chất nói chung đangđược cải thiện
Vì vậy, việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại nói chung vàxêri bản đồ nói riêng trong dạy học cần phải được xem là một hướng quantrọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học
Ngày nay, việc dạy học địa lí địa phương không được chú trọng và quantâm nhiều, đặc biệt trong quá trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đổimới phương pháp dạy học định hướng phát triển năng lực Việc dạy và học địa líđịa phương thành phố Hải Phòng được đưa vào trường phổ thông từ khi Bộ Giáodục và Đào tạo biên soạn sách hoáp khoa theo hướng đổi mới Về phía Sở Giáodục và Đào tạo Hải Phòng cũng đã biên soạn nhiều tài liệu để phục vụ cho côngtác dạy và học địa lí địa phương lớp 9 ở trường Trung học cơ sở Tuy nhiên, docòn nhiều yếu tố khách quan nên việc dạy học địa lí địa phương còn nhiều hạnchế như: thiếu phương tiên dạy học trực quan, những số liệu chưa được cập nhậtmới… Chính vì vậy, khi học xong học sinh còn mơ hồ, không nhớ được nhiềukiến thức và không được cập nhật những thông tin, số liệu mang tính thời sựnóng hổi để có được cái nhìn tổng quan, khái quát cũng như có sự so sánh theothời gian và không gian…
Trang 40Trong thời đại công nghệ số hiện nay, việc thành lập những trang bản đồ
đã dễ dàng và thuận tiện hơn với sự trợ giúp đắc lực của công nghệ thông tin vàcác phần mềm xây dựng bản đồ chuyên nghiệp phải kể đến như ArcGIS,Mapinfo, Global Mapper… Việc ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống thôngtin địa lí vào trong giảng dạy giúp giáo viên có thể cập nhật số liệu mới, chỉnhsửa nhanh chóng và chính xác trong quá trình xây dựng và sử dụng bản đồ
1.2.5 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.2.5.1 Thiết bị và phương tiện dạy học
Cho đến nay, phải nói rằng không một ai nghi ngờ về vai trò to lớn vànhững tác dụng kỳ diệu của công nghệ thông tin Những năm qua, việc đổimới nội dung, chương trình sách giáo khoa được thực hiện khá đồng bộ Việcđổi mới nội dung, chương trình đòi hỏi phải sử dụng thiết bị và phương tiệndạy học phù hợp Từ những phương tiện này, giáo viên có thể khai thác, sửdụng, cập nhật và trao đổi thông tin Ví dụ: giáo viên có thể khai thác mạngInternet với các công cụ tìm kiếm như google, wiki, hay các trang mạng có uytín… Việc khai thác mạng giúp giáo viên có thể cập nhật thông tin một cáchnhanh chóng và có hiệu quả Đây là một trong những yêu cầu đặc biệt cầnthiết đối với giáo viên giảng dạy bộ môn địa lí, bởi địa lí là một môn học rấtnhạy bén với những vấn đề xã hội, việc cung cấp thông tin, liên hệ thực tế làmột trong những yêu cầu quan trọng xuất phát từ đặc trưng của bộ môn
1.2.5.2 Đội ngũ giáo viên
Trong quá trình ứng dụng công nghệ thông tin đổi mới phương phápgiảng dạy, điều cần lưu ý công nghệ thông tin chỉ là phương tiện hỗ trợ đắclực cho đổi mới phương pháp dạy học chứ không phải tất cả Muốn ứng dụngcông nghệ thông tin để phục vụ tốt công tác giảng dạy của mình, trước hết,người giáo viên phải nắm được công cụ đó, nghĩa là giáo viên phải có nhữngkiến thức cơ bản về tin học, các kỹ năng sử dụng máy tính và một số thiết bị