ĐẠO ĐỨC ĐẢNG VIÊN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở BẾN TRE HIỆN NAY Để thực hiện thành công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng XHCN, Đảng ta ngoài tập trung việc ban hành các chủ trương chính sách xây dựng đất nước, phát triển kinh tế thì việc phát triển con người trong tình hình mới cũng là yếu tố góp vào sự thành công của công cuộc đổi mới, con người ấy phải có đạo đức, mà đặc biệt là người đảng viên, đạo đức người đảng viên có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách của Đảng. Muốn xây dựng người đảng viên có năng lực chuyên môn, có phẩm chất đạo đức cách mạng cần phải quan tâm nâng cao đạo đức cách mạng cho người đảng viên. Đây là một phạm trù tương đối rộng, bao hàm đạo đức, lối sống, cách ứng xử của người đảng viên không chỉ trong các mối quan hệ xã hội thông thường mà còn trong phạm vi thực hiện nhiệm vụ. Ý thức, hành vi, phương pháp xử lý công việc của người đảng viên trong từng nhiệm vụ là thước đo hiệu quả của tổ chức Đảng. Chất lượng đảng viên quyết định chất lượng của Đảng, trong nền kinh tế thị trường thì đội ngũ này chính là động lực cho tăng trưởng, phát triển. Muốn vậy, cần phải làm tốt việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức của đảng viên, nâng cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách trong sạch, giản dị không bị ảnh hưởng bởi lối sống chạy theo đồng tiền, lợi ích vật chất bằng cách vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng trong giáo dục đạo đức cho người đảng viên, nhất là sự thống nhất hài hòa giữa đức và tài, giữa lợi ích tập thể với lợi ích cá nhân. Trong điều kiện hiện nay, dưới tác động từ mặt trái của KTTT, làm cho những giá trị đạo đức truyền thống đang có nguy cơ bị mai một, cùng với đó là chủ nghĩa cá nhân dường như đang có cơ hội phát triển làm suy giảm, xói mòn đạo đức cách mạng của người đảng viên, thì việc đưa ra những giải pháp nâng cao đạo đức đảng viên trong nền KTTT định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay là hết sức cần thiết. Đặc biệt, Bến Tre là tỉnh đang phát triển về mọi mặt, đang trong giai đoạn xây dựng “để” phát triển, mở ra nhiều cơ hội đầu tư, có cả thuận lợi lẫn khó khăn, thử thách. Trong đó, có một bộ phân đảng viên đã có sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện của sự xa hoa, lãng phí, thực dụng. Điều đó đã ảnh hưởng đến uy tín, vị thế của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Cho nên, người đảng viên Bến Tre hiện nay, phải tự mình tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng để hoàn thiện mình hơn, để trong sáng hơn, trách nhiệm hơn trong công việc. Chỉ có rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì mới làm cho mỗi cán bộ, đảng viên tự giác hơn, tự hoàn thiện mình và đóng góp to lớn cho sự phát triển của quê hương, đất nước.
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9
5 Giả thuyết khoa học 9
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 10
9 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 11
10 Kết cấu của luận văn 12
Chương 1: ĐẠO ĐỨC ĐẢNG VIÊN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HÔI CHỦ NGHĨA Ở BẾN TRE HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản 13
1.1.1 Đạo đức, Đảng viên, đạo đức Đảng viên 13
1.1.2 Kinh tế thị trường, kinh tế thị trường định hướng XHCN 26
1.2 Đặc điểm, vai trò của đội ngũ đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay 34
1.2.1 Đặc điểm đội ngũ đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay 34
1.2.2 Vai trò của đội ngũ đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay 41
1.3 Yêu cầu về đạo đức của đảng viên trong nền kinh tế thị trường
Trang 3Chương 2: ĐẠO ĐỨC ĐẢNG VIÊN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HÔI CHỦ NGHĨA Ở BẾN TRE HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
PHÁP 55
2.1 Thực trạng đạo đức đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Bến Tre hiện nay 55
2.1.1 Những biểu hiện tích cực 55
2.1.2 Những biểu hiện tiêu cực 59
2.2 Một số giải pháp nâng cao đạo đức đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Bến Tre hiện nay 66
2.2.1 Phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, tạo môi trường thuận lợi để nâng cao đạo đức, đạo đức cách mạng cho đảng viên tỉnh Bến Tre hiện nay 67
2.2.2 Phát huy vai trò của tổ chức Đảng các cấp trong giáo dục đạo đức cho đảng viên tỉnh Bến tre hiện nay 72
2.2.3 Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 75
2.2.4 Phát huy tinh thần tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi đảng viên trong rèn luyện đạo đức, đạo đức cách mạng 82
Tiểu kết chương 2 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là một hiện tượng xã hội đặc biệt, sự xuất hiện của đạo đức trong lịchsử loài người đã sớm khẳng định được sự ảnh hưởng của đạo đức trong việcđảm bảo sự ổn định, phát triển bền vững của từng chế độ xã hội Cho nên việcxây dựng đạo đức của con người nói chung, đảng viên nói riêng là vấn đềđược quan tâm ở mọi chế độ xã hội
Để xây dựng và quản lý nhà nước, phát triển đất nước theo những mụctiêu mà Đảng, Nhà nước và dân ta chọn lựa, người đảng viên, người chiến sĩcách mạng đại diện cho nhân dân phải có cả đức lẫn tài, trong đó đức là gốc.Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước,không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấycũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giảiphóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức,không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?" [48,tr.253]
Qua hơn 30 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, nước ta từ một nước cónền sản xuất nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, lương thực, thực phẩm thiếu hụtnay đã trở thành một trong những nước thuộc Khu vực Đông Nam Á có lươngthực xuất khẩu đứng top đầu của khu vực và thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh
tế năm sau cao hơn năm trước, chất lượng đời sống nhân dân không ngừngtăng lên, vị thế của dân tộc ta ngày càng được nâng lên trên chính trườngquốc tế Để làm nên những thắng lợi đó, không thể không kể đến ý nghĩa củaviệc giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, đạo đức cách mạng cho đội ngũđảng viên Bởi lẽ, đó là những con người ưu tú trong hàng ngũ của Đảng, là
“đầy tớ trung thành” của nhân dân, là người tiên phong trực tiếp lãnh đạo
Trang 5quản lý trực tiếp, phục vụ nhân dân trong việc áp dụng, thực thi những chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước để xây dựngđất nước Tuy nhiên, song song với những kết quả tích cực, thì những mặttiêu cực, mặt trái của nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN đã tácđộng không ngừng đến con người nói chung, đến đạo đức, tư tưởng, lối sốngcủa đảng viên nói riêng; đồng thời, cùng với sự chống phá của các thế lực thù
địch bên ngoài, sự non kém trong công tác giáo dục tư tưởng, sự “lười nhát”
trong rèn luyện đạo đức cách mạng của người đảng viên trong những năm vừaqua dẫn tới "Tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng" [14,tr.16] Đều đáng chú ý là sự suy thoái về đạo đức ngày càng gia tăng trong một
bộ phận không nhỏ là đảng viên, làm xói mòn bản chất cách mạng của Đảng,ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, của Đảng, làm suygiảm uy tín của Đảng, gây bất bình trong nhân dân và tác động xấu đến sựnghiệp xây dựng đất nước của toàn dân tộc, tạo thành nguy cơ lớn đe dọa sựsống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nước ta đang hướng tới
Bến Tre là một tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ, giàu truyền thống cáchmạng, nơi xuất phát điểm của phong trào Đồng Khởi, quê hương của đội quântóc dài…, bên cạnh những kết quả đạt được, đạo đức đảng viên Bến Tre cũngkhông nằm ngoài tình trạng đó Cho nên, việc tìm tòi, nghiên cứu đạo đức củađảng viên ở Bến Tre hiện nay, nhằm tìm ra những cái mạnh để tiếp tục pháthuy, cái yếu kém để sửa chữa khắc phục, góp phần xây dựng tỉnh nhà ngàycàng phát triển là đều vô cùng quan trọng
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu vấn đề “ Đạo đức đảng viên trong nền KTTT định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay” làm đề
tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trang 6Đạo đức nói chung và đạo đức đảng viên nói riêng trong nền kinh tế thịtrường ở nước ta hiện nay là đề tài được nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức,
cá nhân quan tâm nghiên cứu Cho đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiềucông trình nghiên cứu được công bố ở những cấp độ, cách tiếp cận khác nhau,trong đó có những công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài như:
Thứ nhất, nhóm những nghiên cứu về đạo đức, đạo đức cách mạng
Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, Viện Mác - Lênin, Trường Đảng cao cấp
Nguyễn Ái Quốc, UBKHXH Việt Nam (1986): Hội thảo khoa học "Chủ tịch
Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng", Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội.
Nâng cao đạo đức cho cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh Đó lànhững bài tham luận chuyên sâu về đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vànhững chỉ dẫn của Người về đạo đức cách mạng
"Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1996 là cuốn sách được xuất bản sau chương trình nghiên cứu tư tưởng HồChí Minh (KX02) của Quốc gia do GS Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm Đây làcông trình nghiên cứu khoa học về tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, Tưtưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nói riêng Nó nghiên cứu một cách cơ bản,toàn diện về nguồn gốc, vai trò, đặc trưng của những giá trị cốt lỗi của tưtưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở để quán triệt và vận dụng tư tưởng, tấm gương,đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào lý luận và thực tiễn cách mạng hiện
nay Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu chuyên khảo khác , như: “Hồ Chí Minh về đạo đức” – trích dẫn tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh; “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh – truyền thống và nhân loại”, “Kỷ yếu Hội thảo (1993)”, cùng nhiều bài viết, tài liệu khoa học khác được đăng tải trên các
báo và tạp chí nhằm mục đích phục vụ cho việc nghiên cứu
Vũ Trọng Dung - Chủ biên (2005), “Giáo trình đạo đức học Mác – Lênin”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Nội dung giáo trình viết về nguồn
Trang 7gốc, chức năng, vai trò của đạo đức, các kiểu đạo đức, phân tích mối quan hệgiữa đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác nhau, đối tượng, nhiệm vụcủa đạo đức học Mác – Lênin và một số phạm trù cơ bản của đạo đức học,phân tích vấn đề xây dựng đạo đức mới trong nền KTTT định hướng XHCN
Lê Trọng Ân (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, Tạp chí
Triết học, số 1 (164) Bài viết, tác giả tập trung phân tích, làm rõ những nộidung cơ bản, lý luận và thực tiễn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức;từ đó, khẳng định sự cần thiết phải học tập tư tưởng, tấm gương, đạo đức HồChí Minh, đối tượng chủ yếu là những cán bộ, đảng viên
Phạm Văn Khánh (2008), "Thấm nhuần tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh",
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung tác phẩm là những bài viết, bàiluận về một số vấn đề mà Đảng và Nhà nước, mỗi cán bộ, đảng viên cần phảihọc tập để hiện thực hóa tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng và "mongmuốn" của Người về một Việt Nam trong tương lai "có thể sánh vai với cáccường quốc" trên thế giới
Nguyễn Văn Bạo (2009), “Rèn luyện đạo đức cách mạng một nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1 (218) Tác
giả đã khái quát hóa những nội dung của đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ
Chí Minh: "Nhân (nhân ái), Nghĩa (ngay thẳng), Trí (sáng suốt), Dũng (dũng cảm), Liêm (quang minh), Trung với nước - hiếu với dân"
Trang 8Hoàng Chí Bảo (2009), “Người cán bộ tổ chức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1+2 Trong bài
viết nhấn mạnh, người cán bộ tổ chức, người làm công tác tổ chức cán bộtrong cơ quan Đảng, nhà nước, các tổ chức đoàn thể đã và đang ý thức sâu sắc
về trách nhiệm của mình với người, với việc, với tổ chức, với công việc mìnhphụ trách, song song đó, họ cần phải chú trọng thực hành tính nguyên tắc saukhi học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Nguyễn Hữu Cát (2009), “Hồ Chí Minh với công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6 Bài viết đã cụ thể
hóa những nội dung cơ bản của đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh thể
hiện qua các tiêu chí: "Tuyệt đối trung thành với Đảng với nhân dân; phấn đấu thực hiện mục tiêu của Đảng; trong hoàn cảnh khó khăn kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng "
Chu Đức Tính, Đặng Văn Thái, Nguyễn Văn Công, (2010), "Hồ Chí Minh tấm gương sáng trung với nước, hiếu với dân", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội Nội dung tác phẩm là những phân tích chi tiết về phẩm chất đạo đức cáchmạng của Hồ Chí Minh, qua đó làm nổi bật phẩm chất đạo đức là trung vớinước, hiếu với dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn, nhân ái,
Thứ hai, nhóm những nghiên cứu về đạo đức người cán bộ, đảng viên trong nền KTTT định hướng XHCN hiện nay:
Tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, giá trị quý báu màNgười để lại đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, trong đó có nhữngnội dung tư tưởng về đạo đức Hồ Chí Minh, nội dung được nghiên cứu sâu là đạođức cách mạng của cán bộ, đảng viên Nhiều bài viết, công trình nghiên cứu tưtưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của người cán bộ, đảng viên được xuất bản thành
sách Cụ thể, Hồ Chí Minh về tư tưởng đạo đức có các cuốn sách “Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn
Trang 9đề đạo đức cách mạng”, Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1986; “Tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
Nhiều công trình nghiên cứu về sự tác tác động của nền kinh tế thị trường đốivới đạo đức, đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên và việc nâng cao đạođức đảng viên trong giai đoạn hiện nay Có các công trình nghiên cứu như:
Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Phúc,"Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2003, Cuốn sách giới thiệu những bài viết về vấn đề đạo đức của con ngườinói chung trong điều kiện kinh tế thị trường, từ đó giúp người đọc có đượcmột cái nhìn vừa khái quát vừa cụ thể về đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay
Nguyễn Tĩnh Gia, "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý", Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 4/1996 Tác
giả bài viết nêu lên những mặt trái của cơ chế thị trường tác động tích cực,tiêu cực đến tư tưởng, tình cảm, lối sống, đạo đức của người cán bộ, đặcbiệt là người cán bộ quản lý
Nguyễn Ngọc Anh (2000), "Cán bộ đảng viên hiện nay", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nguyễn Phú Trọng (2001), "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Nguyễn Đình Tường (2002), "Một số biểu hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục", Tạp chí Triết học, số 6 (133) Trên cơ sở phân tích mặt trái mặt
tiêu cực của kinh tế thị trường tác động, làm biến đổi các thang giá trị đạođức, từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp khắc phục nhằm bảo tồn, giữ gìn
và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc trong điều kiệnkinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Trang 10Nguyễn Viết Thông (2004), "Giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn
về đạo đức xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kháiquát những giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc ta, nhữngnguyên tắc, phương hướng, giải pháp giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ,đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đào Duy Quát, Tô Hoài, Vũ Khiêu (2004), "Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ đảng viên hiện nay: Thực trạng và giải pháp", Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Cuốn sách giới thiệu một số vấn đề lý luận chung về
đạo đức, đạo đức cách mạng, nêu lên thực trạng đạo đức, lối sống của ngườicán bộ, đảng viên và công tác giáo dục đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảngviên Từ đó đưa ra giải pháp
Lê Hữu Nghĩa (2005), "Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc nâng cao đạo đức cán bộ, đảng viên hiện nay", Tạp chí Cộng sản số 73 Nội dung
bài viết khái quát về Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong việc nâng caođạo đức cán bộ, đảng viên; vai trò lãnh đạo của Đảng trong giáo dục đạođức cho cán bộ, đảng viên Qua đó, đẩy lùi, ngăn chặn, khắc phục nhữnghiện tượng tha hóa, biến chất, như: quan liêu, tham nhũng, cậy quyền, cậythế, lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây hưởng, tham quyền cố vị, ở trong cả 3mối quan hệ: đối với mình, đối với người và đối với công việc
Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2008), "Thế giới còn đổi thay nhưng
tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Nội dung
cuốn sách tập trung phản ánh một số mặt, vấn đề đang đặt ra hiện nay, nhằm
nêu bật ba nội dung cơ bản: Một là," Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc"; Hai
là, "Hồ Chí Minh - Nhà văn hóa kiệt xuất"; Ba là, "tư tưởng Hồ Chí Minh trong
sự nghiệp đổi mới đất nước hôm nay" Tại phần ba “Tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 11trong sự nghiệp đổi mới đất nước hôm nay”, đặc biệt chú trọng đến các bàiviết về Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực rèn luyện, giáo dục, đào tạo, tu dưỡngđạo đức cách mạng và xây dựng con người phát triển toàn diện cả đạo đức vàtài năng.
Nguyễn Thị Quang, Chu Ngọc Lan (2012), "Về tác phẩm nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân", Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội Cuốn sách giới thiệu tác phẩm "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một vài bài
viết bàn về giá trị lý luận và thực tiễn của tác phẩm nói đến đạo đức cáchmạng và chủ nghĩa cá nhân; nêu bật những ưu điểm, chỉ rõ những hạn chế,thiếu sót và tác động nguy hại của chủ nghĩa cá nhân, đặc biệt chú ý đếncác giải pháp để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên
Tại Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã nêu rõ "xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ trọng tâm, được đặt lên hàng đầu Trong đó, tăng cường đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là nội dung cần thiết và hệ trọng,
có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ
“Tập trung thực hiện mục tiêu: xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về
chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”".
Thứ ba, nhóm những nghiên cứu về đạo đức cán bộ, đảng viên ở Bến Tre hiện nay
Tỉnh ủy Bến Tre đã có nhiều chương trình, kế hoạch nhằm triển khaithực hiện hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp hành
Trung ương Đảng (Khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (Khóa
XII) “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ ChíMinh”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Chỉ thị số 05-CT/TW của BộChính trị khóa XII đi vào thực chất,…) Trong đó tập trung vào mục tiêu kiên
Trang 12quyết đấu tranh đẩy lùi, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,trước hết là đảng viên giữ chức vụ để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiếnđấu của Đảng, củng cố niềm tin trong nhân dân Bên cạnh đó, là việc xâydựng đội ngũ đảng viên có chức vụ, lãnh đạo, quản lý các cấp đáp ứng yêucầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.
Như vậy, thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức, đạo đứccách mạng, đạo đức đảng viên trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước tahiện nay Tuy nhiên, vấn đề đạo đức của đảng viên ở Bến Tre trong nềnKTTT định hướng XHCN hiện chưa có công trình nghiên cứu nào được đềcập đến một cách có hệ thống dưới góc độ triết học, vì thế việc thực hiện đề
tài "Đạo đức đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở tỉnh Bến Tre hiện nay" với mong muốn lấp đầy khoảng trống đó
Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trước đó sẽ là nguồntài liệu quý giá, nó giúp cho tác giả có được những tư liệu cần thiết choviệc nghiên cứu, tham khảo, làm cơ sở để tác giả tiếp tục nghiên cứu, triểnkhai các nhiệm vụ trong luận văn của mình
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và khảo sát thực trạng đạođức của đội ngũ đảng viên ở tỉnh Bến Tre trong nền KTTT định hướngXHCN hiện nay, từ đó luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản góp phầnnâng cao đạo đức đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ởBến Tre hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ đảng viên ở Bến Tre
* Đối tượng nghiên cứu: Đạo đức đảng viên tại tỉnh Bến Tre trong nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay
Trang 135 Giả thuyết khoa học
Đạo đức nói chung, đạo đức của đảng viên nói riêng có vai trò, ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước Nếu mỗi đảngviên có phẩm chất đạo đức tốt, phát huy được vai trò tiên phong, gươngmẫu, đi đầu của mình trên mọi lĩnh vực thì sẽ góp phần mang lại hiệu quả tolớn trong việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, côngbằng, văn minh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số khái niệm công cụ, như: đạo đức, đảng viên, đạo đứcđảng viên, KTTT, KTTT định hướng XHCN
- Trình bày tầm quan trọng, nội dung và yêu cầu của đạo đức đảng viêntrong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay
- Phân tích thực trạng đạo đức đảng viên trong nền KTTT định hướngXHCN hiện nay ở tỉnh Bến Tre
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao đạo đức đảng viên trong nền KTTTđịnh hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu tất cả các khía cạnh phẩm chất, năng lực,trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đảng viên ở tỉnh Bến Tre trong nền KTTTđịnh hướng XHCN, mà chỉ nghiên cứu phẩm chất đạo đức của đảng viêntrong nền KTTT định hướng XHCN từ năm 2011 đến 2016 Gắn với việc họctập và làm theo phong cách, tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vềxây dựng người cán bộ đảng viên trong nền KTTT định hướng XHCN
Và trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ tập trung vào đốitượng là đảng viên và đạo đức đảng viên là những người cán bộ, công chứcđang làm việc trong các cơ quan nhà nước thuộc đối tượng điều chỉnh của
Trang 14Luật cán bộ, công chức năm 2008, Luật viên chức năm 2010
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản nhưphương pháp phân tích - tổng hợp; lôgic - lịch sử; khái quát hóa; để thực hiệnmục đích và nhiệm vụ đặt ra
9 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
* Những luận điểm cơ bản:
Người đảng viên phải lấy đạo đức làm gốc, đạo đức của người đảngviên cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối
Nghiên cứu đạo đức đảng viên, phát huy mặt mạnh, khắc phục mặtyếu để nâng cao hơn đạo đức của đội ngũ đảng viên trong nền KTTT địnhhướng XHCN hiện nay là một nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách vừa mangtính thường xuyên, liên tục
Luôn nhận thức trau dồi đạo đức, đạo đức cách mạng là một quá trìnhrèn luyện bền bỉ của mỗi đảng viên, của tổ chức cơ sở Đảng Vì vậy, việcnghiên cứu đạo đức đảng viên, tìm ra mặt mạnh để phát huy, mặt yếu để khắcphục cũng phải được đặc biệt quan tâm, như việc soi gương, rửa mặt hàngngày, để giúp họ trở thành những đảng viên đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xâydựng và phát triển đất nước nói chung, Bến Tre nói riêng
* Đóng góp mới của luận văn:
Về mặt lý luận:
Làm rõ khái niệm đạo đức, đảng viên Đặc điểm đội ngũ đảng viên ởBến Tre, nội dung và yêu cầu của đạo đức đảng viên trong điều kiện kinh tếthị trường định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay Phân tích thực trạng, đưa
Trang 15ra các giải pháp nâng cao đạo đức đảng viên trong nền KTTT định hướngXHCN ở Bến Tre hiện nay.
Về mặt thực tiễn:
Luận văn hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giáo dụcđạo đức, đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên các cấp, trong các sinhhoạt chuyên đề về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; làm tài liệutham khảo cho các trung tâm bồi dưỡng chính trị của các huyện trong tỉnhBến Tre
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để đề ra kế hoạch, giải pháp nhằmnâng cao phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên tỉnh Bến Tre trong điều kiệnhiện nay
10 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 16Chương 1 ĐẠO ĐỨC ĐẢNG VIÊN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở BẾN TRE HIỆN NAY - MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Đạo đức, đảng viên, đạo đức đảng viên
Đạo đức: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những
quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giácách ứng xử của mỗi con người trong một quan hệ xã hội, một chế độ nhấtđịnh Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sứcmạnh dư luận xã hội” [19, tr.8]
Là yếu tố cốt lõi trong tính cách của mỗi con người, đạo đức có vai trò
vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, là những phương thức cơ bản điềuchỉnh hành vi con người, làm cho con người tồn tại một cách hợp lý hơn,mang "tính người” nhiều hơn Chính vì thế mà từ xã hội nguyên thủy đến các
xã hội tiến bộ, cách mạng bao giờ cũng xem đạo đức như là một trong nhữngcông cụ cơ bản, động lực nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội Với hệthống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức góp phần điều chỉnhhành vi của con người, hướng con người tới nhận thức những giá trị đạo đứctốt đẹp, biết phân biệt đúng, sai, phải, trái, tốt, xấu để sống phù hợp với chuẩnmực của xã hội
Điều chỉnh hành vi bằng đạo đức được thực hiện thông qua dư luận xãhội, dư luận xã hội ca ngợi, khuyến khích cái đẹp, cái thiện, cái cao cả đồngthời phê phán điều xấu, điều ác, khuyết điểm Trong trường hợp này, giá trịđạo đức lệ thuộc vào sự đánh giá của dư luận xã hội Khi dư luận xã hộiđược củng cố và phát triển, được sự ủng hộ của nhiều người, đạo đức sẽ trở
Trang 17thành sức mạnh vô cùng to lớn trong việc điều chỉnh hành vi, điều chỉnh đạođức Dân tộc ta có câu “Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫncòn trơ trơ”, “thương nhau quả ấu cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũngméo” Quả thật, dư luận xã hội có sự bền vững với thời gian và trở thành
công cụ “lợi hại” trong việc điều chỉnh hành vi của đạo đức Ngược lại,
thông qua dư luận xã hội, con người tự giác, chủ động điều chỉnh hành vi củamình cho phù hợp với yêu cầu của đạo đức xã hội Như vậy, chức năng điềuchỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện từ xã hội và chủ thể của đạo đức
Bên cạnh chức năng điều chỉnh hành vi, đạo đức còn có chức nănggiáo dục, giáo dục đạo đức là sự thống nhất của hai mặt giáo dục và tự giáodục Giáo dục đạo đức là sự tuyên truyền những chuẩn mực, tư tưởng đạođức xã hội, biến nó thành thước đo, tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của conngười, nhằm điều chỉnh hành vi của con người sao cho phù hợp giữa lợi ích
cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội Từ đó, những chuẩn mực, tư tưởng
đó trở thành mục tiêu, thành định hướng cho hoạt động của con người Gópphần hình thành, phát triển nhân cách con người đáp ứng yêu cầu phát triểncủa xã hội
Dựa vào dư luận xã hội, tập quán, truyền thống đạo đức, mỗi cá nhân
tự điều chỉnh hành vi đạo đức của mình bằng sự phán xét của lương tâm, đểđạt tới hành vi ứng xử cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội, vớimong muốn tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của chủ thể Việc tự giáo dục đạođức cá nhân trong trường hợp này chủ yếu phụ thuộc vào ý thức tự giác củachủ thể trong việc tu dưỡng đạo đức
Và những hành vi đạo đức có tính chất lặp đi lặp lại đó sẽ tạo ra cácmối quan hệ đạo đức tương đối ổn định, được duy trì thường xuyên, dần dầnhình thành thói quen, truyền thống, tập quán và trở thành nhân tố tác độngtrực tiếp hay gián tiếp đến sự hình thành đạo đức của thế hệ sau
Trang 18Chức năng nhận thức của đạo đức vừa mang tính hướng nội và hướngngoại, có hai cấp độ là nhận thức thông thường và nhận thức lý luận Việctuyên truyền, giáo dục những tư tưởng đạo đức, chuẩn mực đạo đức xã hội
để nó trở thành các quan hệ đạo đức trong đời sống xã hội ngoài việc phụthuộc vào tính đúng đắn, tư tưởng đạo đức còn phụ thuộc vào khả năng nhậnthức, tiếp thu cũng như truyền tải nó của từng chủ thể đạo đức thông quahoạt động nhận thức, hành vi đạo đức Từ sự lựa chọn, sàng lọc, đánh giá củacác chủ thể đạo đức hình thành những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạođức trong hành vi ứng xử của con người
Các chức năng cơ bản của đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
hỗ trợ nhau Nếu như chức năng giáo dục là cơ sở để thực hiện chức năngnhận thức, ngược lại chức năng nhận thức là điều kiện để phát huy giáo dục
và điều chỉnh hành vi
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, đạo đức không sinh ra đạo đức mà đạo đứcnảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử.Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điềukiện sinh hoạt vật chất xã hội, của cơ sở kinh tế xã hội Ph Ăngghen nhận xét:
“xét cho đến cùng mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sảnphẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [41, tr.137] Sự phát triểncủa ý thức đạo đức của con người từ xã hội nguyên thủy đến ý thức đạo đứccủa xã hội văn minh đều là kết quả của sự phát triển từ thấp đến cao của hoạtđộng thực tiễn và nhận thức của con người Đạo đức xét đến cùng là sự phảnánh các quan hệ kinh tế – xã hội Giá trị đạo đức được đánh giá khi nó phục vụcho lợi ích của con người, vì sự tiến bộ của xã hội
Đạo đức được Hồ Chí Minh vận dụng một cách khá linh hoạt trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, lao động, học tập, chiến đấu đến sinhhoạt hàng ngày Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vừa là đạo đức Việt Nam
Trang 19vừa là đạo đức cộng sản, mang đậm nét văn hóa đạo đức phương Đông, vừamang hơi hướng đạo đức phương Tây Người không định nghĩa đạo đức là
gì, nhưng lại tập trung bàn về đạo đức với nghĩa rộng hẹp khác nhau:
Theo Người, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người
tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, làm giàu nhâncách con người từ các mối quan hệ xã hội, chính trị, tư tưởng, văn hóa Đạođức là các quy tắc, chuẩn mực dùng điều chỉnh hành vi con người trong mốiquan hệ giữa người với người trong hoạt động sống Đó là hành vi đạo đức,hành vi đạo đức là hành động cá nhân thể hiện quan niệm của cá nhân vềnghĩa vụ đối với cá nhân, tập thể, xã hội, thể hiện bổn phận cá nhân khônglặp lại trong những hoàn cảnh đặc thù Sự hình thành đạo đức, ngoài sự chiphối của các điều kiện kinh tế – xã hội, còn chịu sự tác động của sự tự ýthức, niềm tin cá nhân, dân tộc, giai cấp theo những định hướng giá trị và lýtưởng nhất định
Sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp bóc lột đã bị xóa bỏ về cơbản, giai cấp vô sản là giai cấp bị áp bức cuối cùng trong lịch sử loài ngườiđang từng bước được giải phóng về mọi mặt (kinh tế, chính trị, xã hội) Đạođức cộng sản chủ nghĩa là đạo đức của giai cấp vô sản cách mạng, phản ánhcăn bản những lợi ích của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh tự giải phóngmình khỏi mọi áp bức, bóc lột, hướng đến công bằng, hạnh phúc cho conngười “Với sự thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản, từ đạo đức giai cấp củagiai cấp vô sản, đạo đức chủ nghĩa biến thành quy luật đạo đức của toàn xãhội Cùng với việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức cơ bản chungcủa loài người, giai cấp vô sản đã nêu lên những quy phạm đạo đức của riêngmình Trong quá trình vận động và phát triển, những nguyên tắc, phạm trùđạo đức cộng sản không ngừng được bổ sung và áp dụng trên mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội
Trang 20Đạo đức cộng sản chủ nghĩa kế thừa và phát triển những gì tốt đẹp nhấtđược nhân loại sáng tạo ra trong suốt hàng ngàn năm đấu tranh chống ápbức, bất công xã hội, phản đạo đức Đạo đức cộng sản được hình thành vàphát triển trong quá trình đấu tranh của giai cấp vô sản, là kết quả lịch sử tiếnhóa lâu dài của đạo đức
Nếu như đạo đức trong xã hội công xã nguyên thủy xuất hiện mangtính chung chung, cảm tính, trực quan và kinh nghiệm; đạo đức trong xã hộichiếm hữu nô lệ được hình thành trên xã hội có sự phân chia giai cấp, có tínhchất đối kháng giữa chủ nô và nô lệ Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, trình độnhận thức của con người ngày càng được nâng lên, đã có sự phân công laođộng (lao động trí óc và lao động chân tay), từ đó con người đã biết phân biệt
ý thức đạo đức với thực tiễn đạo đức; đạo đức trong xã hội phong kiến là tưtưởng đạo đức của giai cấp địa chủ, phong kiến yêu cầu chung của đạo đứctrong xã hội phong kiến là bầy tôi với vua chúa, là nông dân với địa chủ Từ
đó, xuất hiện các quan điểm đạo đức đối lập nhau, mâu thuẫn đối kháng giaicấp ngày càng mạnh mẽ bởi người nông dân đã ý thức được quyền của mình,
tự do hơn nô lệ; đạo đức trong xã hội tư bản chủ nghĩa ; đạo đức trong xãhội cộng sản chủ nghĩa là giai đoạn cao trên con đường tiến lên của đạo đứcloài người Nó kế thừa và phát triển tất cả những gì tốt đẹp nhất được nhânloại sáng tạo ra trong suốt hàng ngàn năm đấu tranh chống áp bức, bất côngtrong xã hội cũng như những thói hư tật xấu Đạo đức cộng sản là một nềnđạo đức của tương lai Tư tưởng nhân đạo trong đạo đức cộng sản là tất cả vìcon người, tôn trọng con người, thương yêu con người, giải phóng conngười, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển tự do và toàn diện trongmối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và tập thể, cộng đồng và tự nhiên
Theo Lênin, đạo đức mới là những gì “góp phần phá hủy xã hội cũcủa bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung
Trang 21quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộngsản ”[28, tr.369] Có thể nói, đạo đức cộng sản – đạo đức cách mạng đối lậphoàn toàn với đạo đức của giai cấp bóc lột Vì đạo đức cộng sản là nền đạođức có giá trị phổ biến, mang tính quần chúng rộng rãi, chứa đựng ý nghĩacao cả và vì con người.
Trong lịch sử Việt Nam, Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa ra kháiniệm đạo đức cách mạng “Đạo đức cách mạng là sự phát triển cao của cácgiá trị truyền thống đạo đức Việt Nam, hình thành trong quá trình đấu tranhcách mạng, là đạo đức của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạngXHCN”
Và theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là đạo đức của người cáchmạng, xuất hiện và phát triển trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam , góp phần vào thắng lợi của cách mạng
XHCN Theo Người, “đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù n ào cũng đánh thắng; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; sống có tình, có nghĩa và tinh thần quốc tế trong sáng, Và đạo đức cách mạng là cái gốc của nhân cách, là nền tảng của người cách mạng.”[3, tr.73,74].
Hồ Chí Minh đã nhiều lần chỉ rõ “sức có mạnh mới gánh được nặng và
đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, nếukhông có đạo đức làm nền tảng, làm cái căn bản thì dù tài giỏi mấy cũngkhông lãnh đạo được nhân dân”[3, tr.68] Hồ Chí Minh nói về vai trò của sứcmạnh đạo đức trên các phương diện:
Đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng, bởi lẽ có tâm, có đức mới giữvững được chủ nghĩa Mác – Lênin, đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào cuộcsống Trong mối quan hệ giữa đạo đức và trí tuệ, đức và tài, Hồ Chí Minh đã
Trang 22nêu lên một quan điểm lớn: phải có đức để đi đến cái trí Vì khi đã có cái trí,thì cái đức chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững chủ nghĩa
mà mình đã giác ngộ, đã chấp nhận, đã đi theo
Đạo đức là tiêu chí đánh giá sự văn minh, cao thượng của xã hội, conngười Đạo đức luôn giúp con người giữ vững nhân cách, bản lĩnh làmngười Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnhnào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác,sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu Cónhư thế mới thắng được địch và thực hiện nhiệm vụ cách mạng [52, tr.198];đạo đức cách mạng là “tuyệt đối trung thành với nhân dân”, “ra sức phấn đấu
vì mục tiêu của đảng”, “làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng”, “đặtlợi ích của đảng lên trên hết”.v.v
Đạo đức cách mạng của người đảng viên là bất kỳ khó khăn nào cũngkiên quyết làm đúng chính sách và Nghị quyết của Đảng, làm gương mẫucho quần chúng Mọi đảng viên phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trướcnhân dân, trước Đảng, phải ngăn ngừa và kiên quyết chống lại chủ nghĩa cánhân”[52, tr.199] Đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện xuyên suốt từ cáchmạng giải phóng dân tộc đến xây dựng XHCN
Những phẩm chất cơ bản của đạo đức cách mạng:
+ Trung với nước, hiếu với dân
+ Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
+ Yêu thương con người, sống có nghĩa có tình, có tinh thần quốc tế vôsản
Và ở Người, khái niệm đạo đức cách mạng được vận dụng linh hoạttrong mọi tình huống, hoàn cảnh khác nhau, tùy vào những điều kiện lịch sử
cụ thể Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh hình thành trên nguyên tắc kế thừacác giá trị truyền thống đạo đức dân tộc kết hợp với tư tưởng đạo đức
Trang 23phương Đông, phương Tây, mà đặc biệt là những tư tưởng đạo đức Mác –Lênin, được Người vận dụng một cách nhuần nhuyễn và trở thành nguyêntắc có tính chất chỉ đạo trong xây dựng một nền đạo đức mới – đó là đạo đứccách mạng Những quan điểm của Người về đạo đức là những quan điểmthực sự khoa học, biện chứng, mác-xít; phù hợp với sự tiến hóa của xã hộiloài người Người quan tâm đến đạo đức trên cả hai phương diện lý luận vàthực tiễn Về lý luận, đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm sâusắc và toàn diện; về thực tiễn, Người coi thực hành đạo đức là một mặtkhông thể thiếu của người đảng viên Người coi đạo đức của người đảng viên
là gốc, là nền tảng Vì đạo đức cách mạng là “Quyết tâm suốt đời đấu tranhcho Đảng, cho cách mạng Đó là điều chủ chốt”, “Ra sức làm việc cho Đảng,giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng.Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên hết, lên trước lợi íchcủa cá nhân mình Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng, vì dân màđấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc Ra sức học tập chủ nghĩaMác – Lênin, luôn luôn dùng phê bình và tự phê bình để nâng cao tư tưởng
và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí tiến bộ [43, tr.285]
Đạo đức cách mạng được hình thành, phát triển từ cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc, đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng giành độc lập dân tộc, tiến lên CNXH Các lý tưởng và nguyên tắc đạođức cách mạng là cơ sở để Đảng và Nhà nước hoạch định các chính sáchkinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa Ở đây, đạo đức và chính trị có chungmục đích là bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp vô sản Kết quả làđạo đức cách mạng, theo một nghĩa nhất định, nó vừa mang tính chính trị,vừa mang tính pháp quyền; đạo đức cách mạng đã nhân đạo hóa một cáchphổ biến mọi quan hệ xã hội nhờ tính phổ biến của các giá trị nhân đạo củamình vì hành vi của giai cấp vô sản đều nhằm mục đích giải phóng con
Trang 24người, mong muốn mọi người được tự do, hạnh phúc
Đạo đức cách mạng phản ánh cái bản chất của tồn tại xã hội, nó kếthừa những tinh hoa của đạo đức nhân loại, phản ánh quan hệ xã hội, quan hệgiữa các giai cấp khác nhau trong xã hội Đạo đức cách mạng là đạo đức củagiai cấp công nhân, các giai cấp và tầng lớp khác nhau trong xã hội, nó mangbản chất giai cấp công nhân
Mục tiêu lý tưởng của giai cấp công nhân là đấu tranh giải phóng dântộc, tiến lên xây dựng CNXH, mục tiêu lý tưởng đó phù hợp với quy luật vậnđộng tất yếu của xã hội, sự tiến bộ của các giá trị đạo đức; hướng tới giảiphóng con người khỏi áp bức, bất công mà theo cách nói của Mác “Phải lậttất cả những quan hệ biến con người thành một sinh vật bị làm nhục, bị nôdịch, bị bỏ rơi, bị khinh rẻ…”[39, tr.581]
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh những giá trị đạo đứccách mạng là hệ giá trị hàng đầu trong hệ thống những giá trị đạo đức của xãhội Việt Nam Đạo đức cách mạng là sự kế thừa những yếu tố hợp lý của cácyếu tố đạo đức của các học thuyết phương Đông, phương Tây, gắn vớiphương pháp duy vật biện chứng của Mác cùng với thực tiễn cách mạng ViệtNam
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Học thuyết của Khổng Tử là sự tudưỡng của đạo đức cá nhân, Tôn giáo Giêsu là lòng nhân ái cao cả, ChủNghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiệncủa nước ta, Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biệnchứng,… Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy,…” [60, tr.92].Hoàn cảnh nước ta cũng đã chứng minh những giá trị đạo đức cách mạng làmột phần quan trọng trong hệ thống giá trị đạo đức xã hội bởi tính khoa học
và cách mạng, đạo đức cách mạng hình thành và phát triển từ thực tiễn cáchmạng Ở mỗi giai đoạn khác nhau, đạo đức cách mạng được bổ sung và phát
Trang 25triển cho phù hợp với yêu cầu xã hội và được thể hiện cụ thể trong tư tưởngcủa Hồ Chí Minh.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc
nhở cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận, nâng cao tư tưởng vàtình cảm cách mạng, nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong công tác củangười cán bộ cách mạng, nâng cao năng lực lãnh đạo nhằm đáp ứng các yêucầu mới của cách mạng Qua đó Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán “chủ nghĩa
cá nhân” vì đó là một thứ “vi trùng rất độc” nó sinh ra các khuyết điểmnghiêm trọng như bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷluật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh “hữu danh vô thực”, kéo bè,kéo cánh, bệnh cận thị không biết nhìn xa, trông rộng
Hoặc trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng” Người đã tập trung nói
về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán
bộ, cách thức, phương pháp lãnh đạo và công tác quần chúng của Đảng trongđiều kiện kháng chiến, kiến quốc
Như vậy, đạo đức cách mạng là đạo đức phản ánh qua thực tiễn cáchmạng, là tổng hòa các phẩm chất đạo đức của người cách mạng, đó là yêunước, yêu đồng bào, là trung thành vô hạn với mục tiêu, lý tưởng của Đảng,của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, là tinh thần đoàn kết, lao độngcần cù, sáng tạo, là tinh thần quốc tế trong sáng kết hợp cùng những phẩmchất đạo đức cá nhân như thật thà, dũng cảm, giản dị, chân thành,… Đạo đứccách mạng không ngừng được củng cố và phát triển qua cuộc cách mạngXHCN và trở thành nền đạo đức chung mà mọi người đang hướng đến
Đảng viên: theo Từ điển tiếng Việt, có những nghĩa sau: 1) là “người
ở trong tổ chức của một chính đảng” , 2) là “đảng viên Đảng cộng sản ViệtNam ” [65, tr.291]
Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Đảng viên Đảng cộng
Trang 26sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp côngnhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợicủa Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cánhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các Nghịquyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có lao động, hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết vớinhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhấttrong Đảng,
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi hiểu đảng viên theo nghĩa
“đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam” theo những tiêu chuẩn, quy định củaĐiều lệ Đảng và là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, thuộcbiên chế nhà nước Và nhà nước ta, do Đảng cộng sản cầm quyền, người cán
bộ thường là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam Như vậy, xét ở một góc độnhất định thì người đảng viên cũng là người cán bộ, công chức nhà nước
Người đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam có vị trí vô cùng quantrọng trong sự phát triển của đất nước Họ là chiến sĩ cách mạng trong độitiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, từng đảng viên là chiến sĩ tiênphong vì lợi ích giai cấp Sức mạnh, năng lực lãnh đạo của Đảng được tạothành từ đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấpcông nhân Việt Nam Vì vậy, đảng viên là người tiên tiến nhất trong nhândân lao động và của cả dân tộc
Đạo đức đảng viên: Đảng là đại biểu trung thành cho giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc nên mỗi đảng viên đều đặt lợi ích giaicấp và lợi ích dân tộc lên trên hết và mỗi đảng viên phải là người tiên phong,gương mẫu trước quần chúng Đảng viên là những người có trách nhiêm gópphần xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng và có trách nhiệm tổ chứcthực hiện các đường lối đó trên thực tế Vì vậy, người đảng viên phải có vai
Trang 27trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện các chủ trương, đồng thời có tráchnhiệm tham gia vào việc xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng pháp luật của Nhà nước, là tấm gương tốt cho quần chúng nhân dânnoi theo Đảng viên dù ở cương vị nào cũng vừa là người lãnh đạo vừa làngười phục vụ quần chúng Do đó, đảng viên phải giác ngộ lý tưởng củaĐảng, đem đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước tuyêntruyền cho quần chúng nhân dân và bằng hành động của mình thuyết phục họthực hiện.
Phạm vi hoạt động của người đảng viên rất rộng lớn, trên tất cả cácvùng miền, lĩnh vực hoạt động của đất nước (sản xuất, kinh doanh, khoa họccông nghệ, văn hóa, chính trị, ) đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sựgiám sát của nhân dân Người đảng viên là người tiên phong, gương mẫutrong thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước Đối tượng tác động của người đảng viên là mọi tầng lớp nhân dân vàcủa cả dân tộc Phương thức hoạt động của người đảng viên cũng rất đadạng, trực tiếp hoặc gián tiếp Trước hết người đảng viên phải tiên phong,gương mẫu trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước; tuyên truyền, vận động, giáo dục người dân thực hiện
Có thể nói phạm vi của người đảng viên rất rộng lớn với từng đốitượng cụ thể, nhiều thành phần và có phương thức tác động rất đa dạng,phong phú nhằm thực hiện và hoàn thành mục tiêu mà Đảng đề ra
1.1.2 Kinh tế thị trường, kinh tế thị trường định hướng XHCN
KTTT là một kiểu tổ chức kinh tế với các quan hệ kinh tế, hoạt độngkinh tế được thực hiện thông qua thị trường, là nền kinh tế vận động theo cácquy luật thị trường trong đó, quy luật giá trị giữ vai trò chi phối thông quaquan hệ cung – cầu trên thị trường
Trong KTTT quan hệ giữa người với người là quan hệ kinh tế, thông
Trang 28qua trao đổi hàng hóa, lợi ích kinh tế để thỏa mãn nhu cầu của mình KTTT
là một phương thức hoạt động do con người tạo ra để giải quyết vấn đề sinhtồn và phát triển KTTT là sản xuất để thu lợi nhuận, là căn cứ nhu cầu của
xã hội – do quan hệ cung cầu hàng hóa phản ánh để quyết định sản xuất cái
gì, sản xuất bao nhiêu chứ không phải căn cứ vào truyền thống, tập tục haymệnh lệnh, là đua nhau sản xuất hàng hóa thu lợi nhuận, ra sức cải tiến công
cụ, kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất Trong quá trình sản xuất của xã hội,mọi người không ngừng tăng thêm tích lũy, mở rộng thị trường, kích thíchtiêu dùng, mở rộng sản xuất, kinh doanh, kích thích tiêu dùng để mở rộng thịtrường, đó là những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kinh tế thị trường
KTTT định hướng XHCN bắt đầu xuất hiện trong Văn kiện Đại hội VIcủa Đảng, thừa nhận có sản xuất hàng hóa trong chủ nghĩa xã hội Qua các
kỳ Đại hội VII, VIII và IX, vai trò khách quan của kinh tế thị trường từng
bước được nhận thức rõ hơn.
Đại hội X, trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới (1986 - 2006) Đảngkhẳng định: “Để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa… chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” [15, tr.306] Đại hội XIcủa Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩacủa nền kinh tế thị trường và nêu lên những quan điểm mới Đại hội nêu rõ:
“Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Đây là một hình thái kinh tế thị trườngvừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở vàđược dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”[16, tr.34] Đại hội XII của Đảng xác định phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong
Trang 29thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời tiếp tục làm rõ hơn nhữngvấn đề cốt lõi về bản chất nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta, trong đó khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quyluật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩaphù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”[18, tr.25]
Như vậy, tại Đại hội IX Đảng đã khẳng định những thành tựu to lớntrên các mặt, nhất là kinh tế trong quá trình đổi mới Đại hội đã chỉ rõ, chúng
ta xây dựng CNXH ở một nước mà trình độ kinh tế còn thấp kém, bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa Trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế,chúng ta không chỉ thấp kém hơn trình độ so với các nước trong khu vực màtrình độ khoa học công nghệ của nước ta còn thuộc vào loại thấp so với hầuhết các nước Những đặc điểm đó không cho phép chúng ta tiến thẳng lênCNXH mà phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường vànhiều hình thức tổ chức kinh tế – xã hội có tính chất quá độ Đại hội coi chủtrương xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướngXHCN (gọi là KTTT định hướng XHCN) là thể hiện sự vận dụng sáng tạocủa Đảng ta về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độcủa lực lượng sản xuất Đó là mô hình tổng quát của nước ta trong thời kỳquá độ lên CNXH
Đến Đại hội XII, mô hình KTTT định hướng XHCN ở nước ta đã đượckhắc họa rõ nét và ngày càng hoàn thiện hơn Theo Báo cáo do Tổng Bí thưNguyễn Phú Trọng trình bày tại Đại hội XII của Đảng sáng ngày 21/12/2016
đã khẳng định “Thống nhất nhận thức nền KTTT định hướng XHCN ViệtNam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT,đồng thời đảm bảo định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triểncủa đất nước Đó là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý
Trang 30của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo,nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”, cóquan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tếnhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng củanền kinh tế, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác vàcạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động vàphân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giảiphóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược,quy hoạch, kế hoạch, phù hợp với cơ chế thị trường Nhà nước đóng vai tròđịnh hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnhtranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách
và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúcđẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển Phát huy vai trò làmchủ của nhân dân trong phát triển kinh tế – xã hội, ” [71, tr.102,103]
Mục đích của nền KTTT định hướng XHCN là phát triển lực lượng sảnxuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế– xã hội, đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học– công nghệ, từ đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội, hướng tới mục tiêuxây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh Phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với quan hệ sản xuất mớiphù hợp với yêu cầu của thị trường về sở hữu, quản lý và phân phối Cácthành phần kinh tế phát triển bình đẳng, hình thức sở hữu đa dạng, phân phốirộng khắp, vừa hợp tác vừa cạnh tranh để cùng phát triển Trong đó, kinh tếnhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền KTTT định hướng XHCN với nhiềuthành phần kinh tế và tất yếu phải có sự quản lý của nhà nước Đó là sự khác
Trang 31biệt của KTTT định hướng XHCN với KTTT tư bản chủ nghĩa Nhà nướcquản lý kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, sách lược Đồng thời sử dụng cơchế KTTT, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của KTTTthực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập để kích thích sản xuất, giảiphóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế củaKTTT, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động Như vậy, định hướng XHCN làđịnh hướng chính trị căn bản cho sự phát triển của KTTT.
Sự lựa chọn KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam xuất phát từ sự lựachọn và nhận thức đúng đắn của Đảng, Đảng ta coi KTTT là sản phẩm tiến
bộ của nhân loại, nó tồn tại, phát triển và thích ứng với nhiều hình thái xã hộikhác nhau, KTTT phát triển ở trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản không cónghĩa là nó đồng nhất với chủ nghĩa tư bản và cũng không đối lập với chủnghĩa xã hội, KTTT dù trong hình thái xã hội nào cũng là cơ chế kinh tế cósức huy động, phân bổ nguồn lực, thúc đẩy sự sáng tạo, phát triển được coi là
ưu việt nhất hiện nay “Một quốc gia dựa trên nền tảng thị trường để pháttriển kinh tế có thể chưa chắc thành công, song một quốc gia không có nềnKTTT chắc chắn sẽ không thể phát triển trong dài hạn Tự thân KTTT khôngđưa đến CNXH, nhưng muốn xây dựng CNXH thành công dứt khoát phảiphát triển KTTT” [60, tr.5]
Có thể thấy, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là một quá trình hoàn thiện, đổi mới và sáng tạo không ngừng trong nhậnthức, tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng, phù hợp yêu cầu của đổi mới
Quan hệ giữa KTTT và đạo đức
Giữa KTTT và đạo đức có mối quan hệ với nhau, đó là mối quan hệbiện chứng tác động qua lại, trong đó KTTT đóng vai trò quyết định đối vớiđạo đức
Sự tác động của kinh tế đến đạo đức được thực hiện thông qua các hoạt
Trang 32động kinh tế, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, chế độ chính trị, tác độngđến các giá trị chuẩn mực của đạo đức xã hội Xét cho cùng đạo đức và kinh tế
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng vàkiến trúc thượng tầng, các quan hệ kinh tế được phản ánh qua đạo đức, đó làcác chính sách kinh tế – xã hội được thể hiện trong thực tế đời sống; cácnguyên tắc, chuẩn mực, giá trị đạo đức chung của xã hội là khuôn mẫu ứng xửcủa xã hội buộc mọi người phải tuân theo, nó điều chỉnh hành vi của conngười nhằm đáp ứng những yêu cầu và lợi ích chung của xã hội Sự điều chỉnhhành vi của đạo đức từ phía xã hội được thực hiện thông qua cơ chế dư luận xãhội, đó là những tập quán, truyền thống đoàn kết, niềm tin cá nhân, tinh thầncộng đồng là môi trường thuận lợi cho các giá trị, chuẩn mực đạo đức có tácđộng tích cực và mang tính bắt buộc trong việc đánh giá, điều chỉnh hành viđạo đức cá nhân, chủ thể kinh tế trong hoạt động kinh doanh, nó làm thay đổinhận thức, tình cảm cá nhân, điều chỉnh lợi ích cá nhân phù hợp với lợi ích xãhội và là tiêu chuẩn khách quan của các giá trị đạo đức Giá trị đạo đức đượcxác định bởi mức độ phù hợp giữa lợi ích cá nhân với yêu cầu của tiến bộ xãhội Từ đó khẳng định vai trò các chính sách kinh tế – xã hội trong việc địnhhình và phát triển các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội, hoàn thiện cácgiá trị đạo đức; các chính sách kinh tế – xã hội tác động đến các nguyên tắc,chuẩn mực đạo đức góp phần điều chỉnh hành vi đạo đức của cá nhân Thôngqua chính sách kinh tế – xã hội khuyến khích cái đẹp, cái thiện, phê phán, triệttiêu cái xấu, cái ác và một khi dư luận xã hội được củng cố, phát triển sẽ tạonên một sức mạnh vô hình trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức Chính sáchkinh tế - xã hội tạo nên tập quán, truyền thống xã hội, giáo dục ý thức đạo đứccho cá nhân, phổ biến những giá trị đạo đức tốt đẹp cho cá nhân, biến nhữngchuẩn mực đạo đức xã hội thành công cụ điều chỉnh hành vi con người nhằmtiến đến sự phù hợp giữa đạo đức cá nhân với đạo đức xã hội, góp phần nâng
Trang 33cao nhận thức đạo đức cá nhân.
Sự tác động của KTTT đối với đạo đức luôn tuân theo quy luật chung
về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng, giữa tồntại xã hội và ý thức xã hội Theo C.Mác, phương thức sản xuất quyết địnhcác quá trình sinh hoạt chính trị, xã hội, tinh thần, nói cách khác tồn tại xãhội quyết định ý thức xã hội
Thông qua quá trình sản xuất vật chất đã không ngừng giải phóng conngười cả về vật chất lẫn tinh thần, con người hoàn thiện khi xã hội phát triển,kinh tế phát triển Tuy nhiên, thực tế chứng minh không phải lúc nào kinh tếcũng tác động đến đạo đức theo một chiều mà là có sự thuận nghịch vớinhau Ví dụ: khi kinh tế phát triển cao, đối với nhiều người vì lợi ích cá nhânđạo đức bắt đầu có sự tha hóa, thụt lùi Ph.Ăngghen đã từng chỉ ra rằng:
"Đáng lẽ phải giải thích hoạt động của mình từ nhu cầu của mình…, thìngười ta lại quen giải thích hoạt động của mình từ tư duy của mình…" [38,tr.34] Nhu cầu là động lực hết sức quan trọng thúc đẩy con người hànhđộng Sự thoả mãn nhu cầu ấy, đối với chủ thể hành động, là lợi ích Vì vậy,lợi ích là cái đáp ứng nhu cầu và nó chỉ có nghĩa là lợi ích khi được đặt trongquan hệ với nhu cầu Ngoài mối quan hệ đó, cái được coi là lợi ích khôngcòn là lợi ích nữa Xét về bản chất, lợi ích chính là mối quan hệ giữa các sựvật, hiện tượng của thế giới bên ngoài chủ thể với nhu cầu của chủ thể, còn
về mặt nội dung, lợi ích là cái thoả mãn nhu cầu, đáp ứng lại nhu cầu C.Mác
đã từng nói, tất cả những gì con người đấu tranh để giành lấy đều gắn liềnvới lợi ích của cá nhân họ Trong cuộc sống ngoài nhu cầu cá nhân lợi ích cánhân, con người có nhu cầu chung thì phải liên kết với nhau, song song vớilợi ích cộng đồng – xã hội về vật chất, tinh thần và những nhu cầu này là
cơ sở để hình thành nên các lợi ích Song các lợi ích này không phải lúc nàocũng có ý nghĩa tích cực là hỗ trợ nhau cùng phát triển (lợi ích chung phù
Trang 34hợp với lợi ích riêng, lợi ích cá nhân phù hợp với lợi ích tập thể) mà nó cóthể đối kháng nhau, trái ngược nhau Để những hành vi và hoạt động của mỗi
cá nhân không triệt tiêu nhau, mâu thuẫn, xung đột với lợi ích tập thể thì đạođức là một trong những phương thức điều chỉnh hành vi con người NhưC.Mác và Ph.Ăngghen đã từng nói, lợi ích được hiểu một cách đúng đắn làtoàn bộ cơ sở của đạo đức Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợpnhững nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, là phương thức điều chỉnh vàđánh giá hành vi của con người trong quan hệ xã hội Do đó, đạo đức bao giờcũng có mối quan hệ giữa con người với con người, con người với xã hội, nó
là một bộ phận hợp thành của quan hệ xã hội Đạo đức nảy sinh từ các quan
hệ kinh tế và nó tác động ngược lại các hoạt động kinh tế và có vai trò nhấtđịnh trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội
Kinh tế quyết định đạo đức, nhưng đạo đức lại có sự tác động trở lạiđối với kinh tế Thông qua các chức năng của nó và mức độ tác động nhiềuhay ít còn phụ thuộc bản thân ý thức đạo đức tiến bộ hay lạc hậu, nếu ý thứcđạo đức tiến bộ sẽ kích thích các hoạt động kinh tế phát triển cao, còn nếuđạo đức lạc hậu sẽ làm kinh tế kém phát triển, lạc hậu và kìm hãm sự pháttriển kinh tế; phụ thuộc vào chức năng giáo dục của đạo đức đến các chủ thểkinh tế sẽ tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế thông qua khả năngđánh giá, lựa chọn các giá trị đạo đức xã hội để hình thành các phẩm chấtđạo đức cá nhân, làm tăng tính tích cực của cá nhân, làm cho con người cótrách nhiệm trước hành vi của mình trong thực hiện các mục tiêu kinh tế – xãhội; Ý thức đạo đức của người lãnh đạo trong việc thực hiện các chính sáchkinh tế – xã hội Nếu người lãnh đạo có tư tưởng, ý thức đạo đức tiến bộ, có
ý thức trách nhiệm trước cuộc sống sẽ đề ra những đường lối chính sáchđúng đắn, lãnh đạo nhân dân xây dựng kinh tế – xã hội, còn ngược lại, ngườilãnh đạo có ý thức đạo đức lạc hậu, phản tiến bộ, đường lối cục bộ, thiếu ý
Trang 35thức trách nhiệm, mâu thuẫn với lợi ích nhân dân sẽ kìm hãm sự phát triểncủa xã hội; đạo đức góp phần điều tiết các quan hệ lợi ích trong KTTT, cácchuẩn mực đạo đức giúp duy trì trật tự lợi ích chung trong hoạt động kinh tế,điều hòa mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người.
Như vậy, mối quan hệ giữa kinh tế và đạo đức là mối quan hệ biệnchứng, trong đó kinh tế đóng vai trò quyết định, là điều kiện tất yếu để xâydựng đạo đức mới, đạo đức là động lực cho sự phát triển kinh tế, là yếu tốbên trong của chính nền KTTT định hướng XHCN Đặc biệt, trong điều kiệnKTTT định hướng CNXH ở Việt Nam, thì mối quan hệ giữa kinh tế và đạođức cần được quan tâm đúng mức, đặc biệt là đạo đức của người đảng viêntrong nền KTTT định hướng XNCN
1.2 Đặc điểm, vai trò của đội ngũ đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay
1.2.1 Đặc điểm đội ngũ đảng viên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay
Bến Tre là tỉnh đồng bằng nằm cuối nguồn sông Cửu Long, có hìnhdáng rẻ quạt, các nhánh sông lớn chảy qua Bến Tre tựa như những nan quạt,xòe rộng về phía Đông, có diện tích tự nhiên là 2.360 km2 Với tổng dân sốkhoảng 1,255 triệu người với 64,5% dân số trong độ tuổi lao động Bến Tređược hợp thành bởi cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của
4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ thành (sông Tiền, sông Ba Lai, sông HàmLuông, sông Cổ Chiên) Bến Tre cách thành phố Hồ Chí Minh 86 km, cáchthành phố Cần Thơ 120 km, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và phíaNam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông Và làtỉnh có nguồn tài nguyên đất phong phú, với nhiều loại đất như: đất cát, đấtphù sa, đất phèn, đất mặn Sản xuất nông nghiệp của tỉnh ngày càng mởrộng, nhu cầu thâm canh, tăng vụ ngày càng được chú trọng
Trang 36Tính chất đa dạng và phong phú về điều kiện tự nhiên, xã hội đã làmcho Bến Tre trở thành tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển về kinh tế – xãhội Đặc biệt, với lợi thế về nguồn lợi thủy sản, với 65 km chiều dài bờ biểnnên thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, tạo ra nguồn tàinguyên biển phong phú với các loại tôm, cua, cá, mực,… Đây còn là vùngđất phù sa trù phú, sản sinh ra vựa lúa lớn của đồng bằng sông Cửu Long vànhiều loại nông sản mang lại hiệu quả kinh tế cao
Đặc biệt, với tinh thần Đồng Khởi trong đấu tranh giải phóng dântộc, Bến Tre đã đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam, được nhân dân cảnước và thế giới biết đến với hình ảnh cô Ba Định cùng Đảng bộ vànhân dân Bến Tre đấu tranh kiên cường giành độc lập, tự do cho nhân
dân Bến Tre nói riêng cả nước nói chung Hình ảnh “đội quân tóc dài ”
trung dũng, kiên cường trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc,bảo vệ đất nước; năng động, sáng tạo trong xây dựng quê hương là hìnhảnh tốt đẹp của con người Bến Tre, những con người ấy có ý nghĩa tíchcực đối với việc hình thành, phát triển nhân cách, phẩm chất đạo đứccách mạng của con người Bến Tre nói chung, người đảng viên nói riêng
Cùng với thời gian, những giá trị đạo đức ấy được lưu truyền quacác thế hệ, trở thành truyền thống tốt đẹp của người dân nơi đây Hòacùng dòng chảy ấy, đất và người Bến Tre chứa đựng cả bề dày về sựphong phú, độc đáo của văn hóa đồng bằng sông Cửu Long, phát huy cácgiá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc Những thế hệ con người Bến Tremang trong mình dòng máu của người Việt Nam với đầy đủ các giá trị đạođức truyền thống: yêu quê hương, đất nước; đoàn kết, anh dũng trong cải tạothiên nhiên và chống giặc ngoại xâm; cần cù, sáng tạo trong lao động sảnxuất; ham học hỏi và giàu lòng nhân nghĩa, thủy chung, trọng nghĩa tình,trung thực, tinh thần trách nhiệm,
Trang 37Hiện nay, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh mặttích cực thì mặt trái của cơ chế thị trường cũng tác động xấu đến quá trìnhxây dựng, phát triển văn hóa và con người trong giai đoạn hiện nay Trongnền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Bến Tre hiện nay, người đảngviên ở đây có những đặc điểm sau:
Một là, người đảng viên Bến Tre có truyền thống yêu nước, yêu quê hương nồng nàn, tha thiết
Với vị trí địa lý mà sử sách ghi lại là đất cù lao có địa hình hiểm trở,mảnh đất ba dãy cù lao xứ dừa Bến Tre trở thành căn cứ cách mạng vữngchắc, là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và che chở cho hàng ngàn chiến sĩ cáchmạng Và với truyền thống yêu nước bất khuất của người Bến Tre được cácthế hệ bền bỉ nối tiếp nhau kế thừa một cách xuất sắc, từ buổi đầu chốngquân xâm lược, qua thời thành lập Đảng, rồi thời kỳ kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ Đặc biệt nhất là dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Bến Tre thờichống Mỹ, hàng vạn đồng bào đã đoàn kết, chung lòng, sáng tạo với sự kếthợp phương châm “hai chân, ba mũi giáp công”, làm nên cuộc Đồng Khởilong trời lở đất trên quê hương Bến Tre vào ngày 17/1/1960 Cao trào ĐồngKhởi tại ba xã (Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp - huyện Mỏ Cày), BếnTre bùng lên thành ngọn lửa, thành phong trào lan rộng ra cả huyện, cả tỉnh,
cả miền Nam, làm thay đổi cục diện ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệthống chính quyền cơ sở của địch
Có thể nói, cuộc Đồng Khởi thần kỳ trên đất xứ dừa Bến Tre năm
1960, đã diễn ra vô cùng oai hùng, quật khởi, phá rã chính quyền tề ngụy tại
cơ sở, làm kẻ thù khiếp sợ, nhụt khí và báo hiệu sự sụp đổ của chế độ Mỹ Diệm Đến nay những người trong cuộc, những nhân chứng lịch sử, nhữngthế hệ hôm nay và cả mai sau có lẽ cũng chưa hiểu được hết: “Vì sao với bộmáy ngụy quyền, với một quân đội, một mạng lưới mật vụ hùng hậu đàn áp
Trang 38-vô cùng dã man, tàn bạo và thâm độc, lại được Mỹ điều khiển, mà chỉ có 162đảng viên Cộng sản lãnh đạo nhân dân - đúng nghĩa từ toàn dân trong tỉnhnổi dậy từ tay không Đồng Khởi diệt ác, phá kìm, giành chính quyền làmchủ, lại đánh bại cuộc hành quân phản kích của 10.000 quân, bảo toàn lựclượng, giải phóng phần lớn nông thôn? Sự thật Đồng Khởi ở Bến Tre là rấtvĩ đại, rất kỳ diệu, thần kỳ, như huyền thoại và cũng rất đại chúng, do quầnchúng làm lại rất lạ, rất hay, rất tài giỏi Nếu không phải là người cách mạng,không phải là người Cộng sản thì không làm sao làm được! Và phong tràoĐồng Khởi Bến Tre đã đi vào lịch sử truyền thống cách mạng Việt Nam, mãiluôn âm vang cả nước; mãi mãi là niềm tự hào và trở thành ngày hội truyềnthống cách mạng vẻ vang của người dân ba dải cù lao xứ dừa Bến Tre” [7,tr.15]
Đó là một giá trị tinh thần vô cùng quý giá, làm nên sức mạnh to lớn
để người đảng viên cùng nhân dân Bến Tre vượt qua những khó khăn, thửthách đấu tranh xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước Tinh thần yêunước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có
ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhândân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội được nhân lên và không ngừng củng cố, phát triển dưới sựlãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và ngày nay nó vẫn được kế thừa,phát huy trong điều kiện mới Truyền thống yêu nước ấy hình thành phẩmchất trung dũng kiên cường cho người đảng viên và được phát huy cao độ,tạo nên sức mạnh, niềm tin trong thời kỳ mới, thời đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa; xây dựng quê hương giàu mạnh, dân chủ, văn minh.Những giá trị tinh thần vô giá ấy còn được thể hiện công cuộc xây dựng quêhương giàu mạnh, xóa đói giảm nghèo
Hai là, người đảng viên Bến Tre có tinh thần yêu lao động, lao động
Trang 39cần cù, sáng tạo
Lao động là hoạt động sáng tạo của con người, nhờ có lao động conngười cải biến được tự nhiên, xã hội và hoàn thiện chính bản thân mình, phùhợp với nhu cầu, lợi ích của con người vì sự phát triển và tiến bộ xã hội
Để đánh giá phẩm chất của một con người, có rất nhiều tiêu chuẩnkhác nhau nhưng tinh thần, thái độ đối với lao động là một trong những tiêuchuẩn mực cần thiết vì dựa vào căn cứ đó chúng ta có thể đánh giá con người
đó làm việc có nghiêm túc, trung thực, trách nhiệm, sáng tạo, thái độ lao động
có chủ động và có tính kỷ luật, chất lượng và hiệu quả có phải là mục đích đểngười lao động hướng đến, nó thể hiện bản chất của người lao động
Và tinh thần yêu lao động, lao động cần cù, sáng tạo của người dânBến Tre, cũng là những giá trị tốt đẹp và quan trọng của người đảng viênBến Tre Phẩm chất ấy được hình thành và phát triển qua lịch sử đấu tranhchống giặc ngoại xâm, trong xây dựng quê hương Đồng Khởi; tinh thần yêulao động, cần cù, sáng tạo trong lao động còn được bồi đắp và phát huy đổimới trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Bến Tre Đặcbiệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, sự n ỗ lực không ngừng của ngườiđảng viên và tinh thần lao động không mệt mỏi của người dân trong quátrình xây dựng và phát triển của con người Bến Tre trong giai đoạn mới tạonên những chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.Bến Tre được nhân dân cả nước biết đến là quê hương của những rặng dừaxanh, trĩu quả, là quê hương xứ dừa và những cánh đồng lúa bạ t ngàn, vớiđiều kiện tự nhiên tương đối bằng phẳng, khí hậu ôn hòa, mà đó cũng làthành quả của người dân Bến Tre trong cải tạo tự nhiên, cải tạo những vùngđất trống, hoang sơ, ngập mặn thành những cánh đồng lúa, vườn cây ăn trái,rặng dừa xanh Không chỉ giỏi trồng trọt, người Bến Tre còn khéo tay nghề,rất năng động và làm nên những làng nghề truyền thống của tỉnh, với những
Trang 40sản phẩm đan lát cung cấp cho cả nước Song, tính kiên cường, chịu thương,chịu khó, bền bỉ nhất là công cuộc chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên vớicông trình cống ngăn mặn, đê chống bão đó là những công trình thuỷ lợikhổng lồ, biểu dương ý chí và nghị lực của người nông dân Trong nhữngthành quả ấy, luôn có sự tham gia lãnh, chỉ đạo của người đảng viên Họ cùngnhân dân tham gia xây dựng đất nước, tham gia cùng nhân dân lao động sảnxuất, kinh doanh bằng việc đưa ra các chủ trương chính sách, biện pháp giảiquyết khó khăn cho nhân dân, tìm kiếm giải pháp phát triển kinh tế, chăm lođời sống nhân dân,… Hiện nay, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn,người đảng viên phải vừa tham gia cùng nhân dân xây dựng và phát triển quêhương, vừa là người tiên phong thực hiện các chính sách đối nội, đối ngoại đểđưa Bến Tre hòa nhập vào xu thế chung của thế giới.
Ba là, người đảng viên Bến Tre có tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng
Thắng lợi của cuộc Đồng Khởi ở Bến Tre là một minh chứng cho tinhthần đoàn kết cộng đồng của người dân Bến Tre, nó đã tạo nên sức mạnh tolớn, góp phần đưa nhân dân Bến Tre vượt qua biết bao thử thách, gian nguy,giành và giữ vững quyền độc lập, sự bình yên cho quê hương, và thắng lợi sẽkhông có nếu không có tinh thần đoàn kết Nối tiếp truyền thống đó, ngườidân Bến Tre đã xây dựng khối đại đoàn kết dựa trên tư tưởng đại đoàn kếtcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính là nền tảng của sức mạnh để Đảng bộ tỉnh
và người đảng viên Bến Tre hội nhập và phát triển, mở rộng và nâng khối đạiđoàn kết lên một tầm cao mới
Bước vào thời kỳ đổi mới, tinh thần đoàn kết của người dân Bến Trenói chung, đảng viên Bến Tre nói riêng lại được tiếp tục phát huy, tạo nên sứcmạnh đại đoàn kết, góp phần thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giáo, tạonên sức mạnh trong đấu tranh chống lại các thế lực thù địch đang chống phá