1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tích hợp GD kỹ năng sống trong môn ngữ văn lớp 6

19 259 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 200,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển của người học và nhu cầu hội nhập quốc tế, và nhằm tiếp cận kĩ năng : Học để biết, học để làm, học để tự

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU I/ Lí do chọn đề tài.

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự nghiệp xây dựng XHCN ở nước ta đang phát triển với tốc độ ngày càng cao, với qui mô ngày càng lớn và đang được tiến hành trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, nó tác động một cách toàn diện lên mọi đối tượng, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội

Song song với điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, con trẻ ngày nay luôn bị bủa vây bởi game online, Internet, cùng những chương trình ti-vi với đầy rẫy những bộ phim đầy ắp các cảnh quay bạo lực, sex, lừa lọc

Trong xã hội hiện đại ngày nay, việc trang bị vốn sống cho học sinh và con cái là một điều rất cần thiết giúp chúng có thể ứng phó trước tình huống, quản lý cảm xúc, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người xung quanh, làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn trong mối quan hệ, làm thế nào để thể hiện bản thân một cách tích cực, lành mạnh, ứng phó tích cực nhất khi phải đối mặt trước những tình huống thử thách hoặc sẽ dễ dàng bị sa ngã, bị ảnh hưởng tiêu cực bởi môi trường sống

Trước những yêu cầu thách thức của thời đại, một trong những trọng tâm của

sự phát triển đất nước là đổi mới nền giáo dục là “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” nhằm đào tạo ra những con người năng động, độc lập, sáng tạo, có năng lực thích ứng với nền kinh tế thị trường, có năng lực giải quyết được những vấn đề thường gặp, biết hợp tác giúp đỡ nhau trong cuộc sống cùng ứng phó với những tình huống xảy ra trong đời sống hằng ngày Mỗi học sinh đều biết vận dụng những kỹ năng sống cho bản thân cũng như xã hội

Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát

triển của người học và nhu cầu hội nhập quốc tế, và nhằm tiếp cận kĩ năng : Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống, giáo dục

phổ thông đã và đang từng bước đổi mới theo hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Nhận thức rõ tầm quan trọng, cần thiết của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông nói chung, Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng ghép trong các môn học và hoạt động giáo dục

ở các cấp học

Trang 2

Nội dung giáo dục kĩ năng sống trong các nhà trường phổ thông được tích hợp trong các môn học nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ

và kĩ năng phù hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức Bên cạnh đó, Giáo dục kĩ năng sống cũng là nội dung được đông đảo phụ huynh, dư luận quan tâm bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết đối với học sinh

Đặc biệt, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một trong

những nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các nhà trường phổ thông hiện nay.

Giáo dục kĩ năng sống được lồng ghép vào chương trình học, các môn học, các hoạt động trong nhà nhà trường chứ không tạo thành môn học riêng.Trong năm học vừa qua, nhiều trường học đã chú trọng rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh nhưng tài liệu hướng dẫn còn chưa chi tiết, cụ thể nên mỗi trường thực hiện mỗi kiểu

Thực tế hiện nay, có một bộ phận nhỏ học sinh trong các trường thiếu hụt hiểu biết về môi trường xung quanh, lúng túng khi ứng xử trong cuộc sống Điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong hành vi, lối sống đạo đức của nhiều học sinh Bởi lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động….Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực có, tiêu cực cũng có Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, thiếu kĩ năng sống, các

em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, thực dụng,

dễ bị phát triển lệch lạc nhân cách

Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là điều cần thiết.Với đối tượng là học sinh Trung học cơ sở, đặc biệt là học sinh lớp 6, các em vừa chuyển từ cấp Tiểu học lên, bắt đầu một chu trình mới thì việc giáo dục kĩ năng sống là điều

vô cùng hệ trọng để ngay từ năm đầu cấp học này, các em sẽ được trang bị những kiến thức, giá trị, thái độ, kĩ năng để phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức

Là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn , tôi nhận thấy Ngữ văn không chỉ

có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt, có những hiểu biết về xã hội, văn hóa, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm con người

mà còn giúp các em bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu cảm xúc, thẩm mĩ và định hướng thị hiếu để hoàn thiện nhân cách Như vậy, giáo dục kĩ năng sống được tích hợp trong môn Ngữ văn là việc cần thiết để tạo điều kiện giúp học sinh nâng cao năng lực lĩnh hội trong học tập, hình thành thái độ, hành vi, có động lực tìm hiểu, cân nhắc, lựa chọn và có quyết định đúng đắn để giải quyết mọi vấn đề

Chính sự cần thiết ấy, bản thân tôi cũng như bao đồng nghiệp khác luôn trăn trở làm sao để có hiệu quả khi lồng ghép nội dung giáo dục kĩ năng sống vào trong

Trang 3

phân môn mình được phân công giảng dạy Đó là lý do khiến tôi chọn đề tài “Tích hợp GD kỹ năng sống trong môn Ngữ văn lớp 6” cho chuyên đề này

II/ Mục đích của đề tài

Trang bị cho học sinh những kiến thức, thái độ, kĩ năng phù hợp Trên cơ sở

đó hình thành cho các em những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ hành vi và thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, tình huống và hoạt động hằng ngày Cụ thể:

Giúp học sinh mạnh dạn trong trình bày suy nghĩ, ý tưởng, thảo luận và chia

sẻ những cảm nhận cá nhân Từ đó các em ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội, có hành vi và thói quen ứng xử văn hóa

Giúp các em có đủ khả năng thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ, độc lập, tự tin khi giải quyết công việc

III/ Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Đề tài này được thực hiện trong phạm vi một số tiết theo quy định ở khối lớp 6 với đối tượng là học sinh khối lớp 6 nói riêng và các khối lớp 7,8,9 nói chung của trường THCS Hồng Châu.- Yên Lạc- Vĩnh Phúc

IV Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh lớp 6,7,8,9 trường THCS Hồng Châu

- Tư liệu cho giáo viên

V/Phương pháp tiến hành:

- Nghiên cứu thực tiễn từ các đồng nghiệp ở trường THCS Hồng Châu

- Đúc kết từ những trải nghiệm bản thân qua quá trình giảng dạy

- Dùng phương pháp hệ thống

- Dùng phương pháp đối sánh giữa thực tiễn dạy- học với lý luận dạy-học

- Dùng phương pháp phân tích- tổng hợp

B.PHẦN NỘI DUNG

I/Thực trạng của vấn đề.

Theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT thì có quá nhiều kĩ năng, khó khăn lớn nhất khi giảng dạy kĩ năng sống cho học sinh là phần lớn giáo viên chưa quen việc, chưa được đào tạo cơ bản để dạy về kĩ năng sống , hoang mang không biết dạy như thế nào nên vẫn dạy theo lối mòn đã chuẩn bị trong giáo án như trước đây Thực tế trong chương trình, nội dung kiến thức các bài học đã nhiều, thời lượng mỗi tiết có 45 phút nên rất khó lồng ghép kĩ năng sống vào Hoặc có khi giáo viên chưa chuẩn bị chu đáo, hướng dẫn học sinh thực hành kĩ năng sống chưa cụ thể, chưa dễ hiểu.Hoặc do nội dung, phương pháp, cách thức truyền tải chưa phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học trò nên hiệu quả lồng ghép, tích hợp chưa cao

Về phía học sinh Trung học cơ sở, đặc biệt là khối lớp 6, các em đã có sự phát triển về trí tuệ, tâm hồn; thích để ý quan sát hơn, khả năng tư duy và tình cảm nhạy cảm hơn so với tuổi còn ngồi trên ghế của trường Tiểu học Khi được giáo dục kĩ năng sống qua các môn học, các em rất khó xác định mình vừa tiếp cận

kĩ năng nào , mình đã có được kĩ năng nào và vận dụng kĩ năng nào cho phù hợp

Trang 4

mục đích giao tiếp Khi được hỏi về kĩ năng sống, có một số em chưa hiểu và quan điểm kĩ năng sống là một cái gì đó mơ hồ, không thiết thực…

Về phía phụ huynh học sinh, có ý kiến cho rằng việc giáo dục con em chủ yếu nhờ thầy cô giáo, nhà trường dạy như thế nào thì các em sẽ như thế đó Đa

số phụ huynh chưa hiểu kĩ năng sống thực chất là gì, chưa hiểu được giáo dục kĩ năng sống không phải chỉ trong ngày một ngày hai mà là một quá trình lâu dài, liên tục Vì vậy, hơn bao giờ hết giáo dục kĩ năng sống cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường- Gia đình- Xã hội.Bản thân tôi đã chọn một số kỹ năng cần thiết

để lồng ghép vào nội dung những tiết dạy theo qui định

Ví dụ cụ thể: Khi học văn bản: Bài học đường đời đầu tiên ( Trích Dế mèn phiêu lưu kí-Tô Hoài), đến phần Luyện tập, tôi đã ra câu hỏi tại lớp 6A:

? Hãy trình bày suy nghĩ của em về cách xử sự của các nhân vật trong đoạn trích? Từ nội dung câu chuyện, em xác định cho mình lối sống như thế nào cho hữu ích?

* Gợi ý: Các kĩ năng cần đạt được theo yêu cầu của đề bài trên:

-Kĩ năng tự nhận thức: Tự nhận thức và xác định cách ứng xử

+ Sống khiêm tốn

+ Biết tôn trọng người khác

-Kĩ năng giao tiếp:

+ Biết lắng nghe tích cực

+ Trình bày suy nghĩ, ý tưởng, cảm nhận của bản thân về nội dung, nghệ thuật

+ Thảo luận nhóm, chia sẻ suy nghĩ

+ Phản hồi ý kiến

* Thực tế học sinh đã thực hành còn những tồn tại sau:

- Chưa mạnh dạn thể hiện kĩ năng của bản thân

- Ngại nói, ngại bộc lộ chia sẻ

- Kĩ năng phản hồi ý kiến còn hạn chế

* Kết quả thu được như sau:

Số bài KT Kĩ năng tốt Có hình thànhkĩ năng

Kĩ năng chưa tốt

lượng

Tỉ lệ

II.Những biện pháp tác động và giải pháp của đề tài

1.Nắm vững nội dung giáo dục kĩ năng sống.

nắm vững một số khái niệm liên quan:

- Kĩ năng sống: Là những kĩ năng tâm lí- xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trong cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều cơ hội trong thực tại… Kĩ năng sống đơn

Trang 5

giản là tất cả những điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra trong cuộc sống

- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phải đảm bảo các yếu tố: Giúp HS ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội, giúp HS hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình, có hành vi, thói quen ứng xử có văn hóa, hiểu biết và chấp hành pháp luật…Tuy nhiên, giáo dục kĩ năng sống đẻ đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chưa không chỉ từ bài giảng

- Kĩ năng sống là cái có sau những trải nghiệm thực tế nên việc lồng ghép này sẽ không dừng lại ở mức giảng dạy lí thuyết mà sẽ cụ thể hóa thành từng trường hợp, hoàn cảnh và yêu cầu học sinh xử lí

-Trong chương trình dạy kĩ năng sống, không có khái niệm vâng lời, chỉ có khái niệm lắng nghe, đồng cảm, chia sẻ Mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống là rèn

luyện cách tư duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập trải nghiệm.Giúp học sinh hiểu công dân toàn cầu là người biết suy nghĩ bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng sai, quyết định làm điều này điều khác và

chịu trách nhiệm về điều đã làm chứ không chỉ có biết nghe lời.

*Thứ hai: Giáo viên phải nắm vững một số kĩ năng sống được lồng ghép trong môn Ngữ văn:

Kĩ năng tự nhận thức

Kĩ năng xác định giá trị

Kĩ năng thể hiện sự tự tin

Kĩ năng giao tiếp

Kĩ năng lắng nghe tích cực

Kĩ năng thể hiện sự cảm thông

Kĩ năng hợp tác

Kĩ năng tư duy sáng tạo

Kĩ năng ra quyết định

Kĩ năng tự giải quyết vấn đề

Kĩ năng kiên định

Kĩ năng giải thích

Kĩ năng đảm nhận trách nhiệm

Kĩ năng đặt mục tiêu

Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin

-Tương tác: Khi cho học sinh hoạt động nhóm, các em cùng thảo luận về câu hỏi chốt kiến thức hoặc bình những câu văn, ý thơ hay , nhiều kĩ năng sống được hình thành trong quá trình tương tác với bạn cùng học và những người xung quanh( kĩ năng thương lượng, giải quyết vấn đề…) Khi tham gia hoạt động có tính tương tác, các em có dịp thể hiện ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác… -Trải nghiệm: Qua các tình huống thực tế như các câu hỏi tình huống, câu hỏi thảo luận nhóm, các em được trải nghiệm để từ đó hình thành những kĩ năng sống hữu ích

-Tiến trình: Giáo dục kĩ năng sống không chỉ hình thành trong ngày một, ngày hai

mà đòi hỏi cả một quá trình: nhận thức- hình thành thái độ-thay đổi hành vi

-Thay đổi hành vi: Qua các bài học được lồng ghép kĩ năng sống, học sinh có dịp thay đổi hay định hướng lại các giá trị, thái độ, hành động của mình…

học hữu ích cho mình từ bài học đường đời đầu tiên của Dế Mèn, sẽ không dẫm

Trang 6

lên vết xe đổ của Mèn (huênh hoang, tự đắc, kiêu ngạo) mà sống vui vẻ, hòa đồng, đoàn kết hơn, biết giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn…

-Thời gian, môi trường giáo dục: Giáo dục kĩ năng sống cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em

2 Những công việc giáo viên cần chuẩn bị:

a Chọn những kĩ năng sống thiết thực, phù hợp với nội dung bài học và thực tế địa phương.

Giáo viên chọn những kĩ năng phù hợp, gần gũi, thiết thực với học sinh để các

em có khả năng thực hành kĩ năng sau khi tiếp cận

tiếp, kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp học sinh ứng xử lịch sự, xưng hô đúng mực trong giao tiếp, nói năng lưu loát trước tập thể

mượn, Tiết 10:Nghĩa của từ…)giáo viên chọn kĩ năng ra quyết định lựa chọn cách dùng từ theo những tình huống cụ thể, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đặt mục tiêu

để các em … không lạm dụng hoặc “sính chữ” khi dùng từ mượn vừa để để giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt vừa đạt được hiệu qủa giao tiếp như mong muốn

chọn kĩ thuật động não để học sinh suy nghĩ, phân tích các ví dụ để rút ra những bài học thiết thực về cách sử dụng từ địa phương, chọn kĩ năng giao tiếp, chia sẻ, để các em tự tin tương tác chia sẻ học hỏi những kinh nghiệm cá nhân về cách dùng

từ địa phương…

b Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo giáo án có lồng ghép kĩ năng sống.

-Thể hiện rõ trong giáo án: Ghi rõ kĩ năng, phương pháp, kĩ thuật giáo dục kĩ năng sống trong Mục tiêu cần đạt và thể hiện cụ thể trong các câu hỏi thảo luận nhóm, trong các bài tập vận dụng hoặc bài tập củng cố

-Thể hiện ở các phương tiện cần thiết phục vụ cho tiết dạy( Bảng phụ, tranh ảnh, tư liệu, máy chiếu…)

c Hướng dẫn học sinh làm quen các kĩ năng sống:

- Giáo viên phải chuẩn bị các câu hỏi gợi ý, tình huống để hướng dẫn các em

tự xác định, làm quen các kĩ năng sống cần đạt

- Vấn đề chính được đề cập trong bài học là vấn đề gì?

-Trọng tâm bài học là ở phần nào?

-Sau khi học xong bài học em rút ra điều gì bổ ích cho mình?

- Em sẽ xử sự như thế nào? Làm gì trong cuộc sống hằng ngày nếu gặp những trường hợp như trong bài học

Giáo viên hướng dẫn học sinh áp dụng phương pháp, kĩ thuật động não để suy nghĩ, thảo luận nhóm để trình bày, cặp đôi để chia sẻ- hợp tác … để tự tin bộc

lộ những suy nghĩ của mình

Trang 7

Khi dạy văn bản: Bức tranh của em gái tôi (tiết 81-82) ở phần Tổng kết-Luyện tập, giáo viên đưa tình huống: Khi bố mẹ vắng nhà, anh trai (hoặc chị gái) cứ hay xét nét những việc em làm, bắt em làm hết các công việc bố mẹ giao, thế nhưng khi bố

mẹ về lại tranh công bảo rằng mình đã làm hết công việc Nếu là người em gái đó,

em sẽ nói gì với bố mẹ? Xử sự như thế nào với người anh (chị) đó?

-Giáo viên hướng dẫn học sinh áp dụng phương pháp, kĩ thuật động não để suy nghĩ, cặp đôi để chia sẻ, kĩ năng giải thích, kiên định với ý kiến của mình, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng thể hiện sự cảm thông.…

Gợi ý: -Em sẽ giải thích để bố mẹ hiểu

- Đề nghị anh làm lại những công việc đó , bố mẹ nhìn chất lượng công việc

sẽ biết ai đã làm

- Lúc vắng mặt anh, em sẽ tâm sự với mẹ về thái độ của người anh để mẹ nhắc nhở anh rút kinh nghiệm, không tái phạm…

d Dự đoán kĩ năng:

Trong bước hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, giáo viên yêu cầu học sinh đọc nội dung bài học, gợi ý dự đoán các kĩ năng và yêu cầu của kĩ năng cần đạt được sau nội dung bài học

đỏ-tiết 125-126, giáo viên yêu cầu các em đọc kĩ nội dung văn bản, phần chú thích và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa, sau đó đưa một số câu hỏi:

- Văn bản đem đến cho chúng ta những giá trị thiết thực nào với cuộc sống?

Em dùng kĩ năng nào để xác định được giá trị đó?

Sau khi học sinh suy nghĩ, giáo viên gọi 1-2 em trả lời Khi học sinh trả lời cũng là lúc các em rèn kĩ năng giao tiếp, tự tin, lắng nghe…

Định hướng: Kĩ năng giao tiếp để trao đổi, trình bày suy nghĩ, ý tưởng, cảm nhận của bản thân về những giá trị của bức thư.Kĩ năng tự nhận thức về giá trị của lối sống tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên, môi trường sống Kĩ năng làm chủ bản thân, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường

3 Tổ chức cho học sinh thực hành kĩ năng sống vừa được học

Tùy theo nội dung từng bài học, giáo viên tổ chức cho các em hoạt động ngay tại lớp với các tình huống tương tự bài học để học sinh tìm ra hướng giải quyết vấn đề, sau đó học sinh tự nêu ra kĩ năng mà các em đã ứng dụng để giải quyết vấn đề đó

Trong lớp em có một bạn học thì không giỏi nhưng kiêu căng, tự đắc, lúc nào cũng ra vẻ ta đây hiểu biết hết mọi thứ trên đời, không cần biết đến ai và bạn còn

tự đặt cho mình một cái tên rất “VÍP” Nhiều bạn trong lớp không ưa tính tình ấy của bạn và không thích chơi cùng với bạn ấy ,lại còn nói bóng gió bạn là “Ếch”

Em có tán thành với thái độ của các bạn trong lớp như vậy không? Cách xử sự của

em sẽ như thế nào ?

Ở tình huống này, học sinh cần vận dụng kĩ năng cảm thông, giải thích, chia

sẻ, giao tiếp để bạn có tính kiêu căng đó tự nhận ra giá trị của bản thân, biết cách

Trang 8

ứng xử khiêm tốn, học hỏi Còn các bạn trong lớp hiểu ra vấn đề sẽ không có thái

độ kì thị, định kiến mà phải sống đoàn kết, hòa đồng Từ đó, các em hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa , bài học từ những câu chuyện ngụ ngôn để sống tốt đẹp hơn

4.Thực hiện đúng quy trình lên lớp với các tiết có nội dung lồng ghép giáo dục

kĩ năng sống.

Bước 1: Khám phá

Mục đích: Kích thích học sinh tự tìm hiểu xem các em đã biết gì về những khái niệm, kĩ năng, kiến thức…sẽ được học Giáo viên đánh giá , xác định được thực trạng( kiến thức, kĩ năng…) của học sinh trước khi giới thiệu vấn đề

Phương pháp: Giáo viên đặt câu hỏi nhằm gợi lại những hiểu biết đã có nhằm giúp học sinh xử lí, phân tích các hiểu biết hoặc trải nghiệm

Giáo viên đóng vai trò khởi động, nêu vấn đề; học sinh chia sẻ, trao đổi, phản hồi,

xử lí thông tin…

Bước 2: Kết nối

Mục đích: giới thiệu thông tin, kiến thức và kĩ năng mới thông qua việc tạo cầu nối liên kết cái đã biết và cái chưa biết Cầu nối này sẽ kết nối kinh nghiệm hiện có của học sinh với bài học mới

Phương pháp: Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, học sinh phản hồi, trình bày quan điểm, ý kiến, trả lời Có thể chia nhóm để học sinh thảo luận hoặc đóng vai…

Bước 3: Thực hành, luyện tập:

Mục đích: Tạo cơ hội cho học sinh thực hành vận dụng kiến thức và kĩ năng vào một bối cảnh, hoàn cảnh, điều kiện có ý nghĩa, định hướng để các em trả lời đúng, điều chỉnh những hiểu biết hoặc kĩ năng không sai lệch

Phương pháp: Giáo viên thiết kế, chuẩn bị hoạt động mà theo đó yêu cầu học sinh phải sử dụng kiến thức, kĩ năng mới, Học sinh làm việc theo nhóm hoặc hoạt động độc lập Ở bước này, giáo viên giám sát tất cả mọi hoạt động và đều chỉnh khi cần thiết, khuyến khích học sinh thể hiện những điều các em suy nghĩ hoặc mới lĩnh hội được, tuyệt đối không áp đặt học sinh

Bước 4: Vận dụng

Mục đích: Tạo cơ hội cho học sinh tích hợp mở rộng và vận dụng kiến thức,

kĩ năng có được vào các tình huống mới

Phương pháp: Giáo viên lập kế hoạch hoạt động (các câu hỏi, bài tập, tình huống) học sinh làm việc theo nhóm hoặc độc lập và trình bày kết quả vận dụng Cuối cùng, giáo viên đánh giá kết quả học tập của các em

Các bước trên được áp dụng lồng ghép vào các bước lên lớp trong một tiết dạy như sau:

-Ổn định tổ chức

-Kiểm tra bài cũ

-Bài mới

+ Giới thiệu bài, viết tên bài học lên bảng (Khám phá)

+Tìm hiểu bài (Kết nối)

Trang 9

+ Luyện tập: (Thực hành, vận dụng)

- Củng cố, hướng dẫn về nhà.(vận dụng)

==================================================== MINH HỌA BẰNG MỘT GIÁO ÁN CỤ THỂ.

Tiết 39:ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG

( Truyện ngụ ngôn )

I Mục tiêu bài học:

1 Kiến thức:

- Đặc điểm nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong một tác phẩm ngụ ngôn

- Ý nghĩa giáo huấn sâu sắc của truyện ngụ ngôn

- Nghệ thuật đặc sắc của truyện: Mượn chuyện loài vật để nói chuyện con người,

ẩn bài học triết lí; tình huống bất ngờ, hài hước, độc đáo

2 Kĩ năng:

- Đọc - hiểu văn bản truyện ngụ ngôn

- Liên hệ các sự việc trong truyện với những tình huống, hoàn cảnh thực tế

- Kể lại được truyện

3 Thái độ:

Giáo dục học sinh tinh thần học hỏi, mở mang kiến thức để có thể nhìn xa trông rộng nhiều vấn đề của cuộc sống

II Kỹ năng sống:

- Tự nhận thức giá trị của cách ứng xử khiêm tốn, dũng cảm, biết học hỏi trong cuộc sống

- Giao tiếp: Phản hồi, lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ, ý tưởng, cảm nhận của bản thân về giḠtrị nội dung, nghệ thuật và bài học của các truyện ngụ ngôn

III Chuẩn bị:

* GV: - Đọc và nghiên cứu bài Giáo án , sgk, sgv.

* HS: - Đọc và soạn bài theo câu hỏi SGK.

IV Tiến trình bài dạy:

1 Ổn định lớp: 6A

2 Kiểm tra bài cũ

Thế nào là truyện cổ tích?

-Truyện cổ tích là loại truyện dân gian kể về cuộc đời của một số kiểu nhân vật

quen thuộc:

- Nhân vật bất hạnh; Nhân vật là dũng sĩ; Nhân vật thông minh và nhân vật ngốc nghếch; Nhân vật là động vật.

-Truyện cổ tích thường có yếu tố hoang đường, thể hiện ước mơ, niềm tin của nhân dân về chiến thắng cuối cùng của cái thiện đối với cái ác, cái tốt đối với cái xấu, sự công bằng đối với sự bất công

3 Bài mới:

Gv: Dẫn dắt vào chủ đề

Trang 10

Các em thân mến ! Nhân dân ta đã sáng tạo ra truyền thuyết để giải thích các hiện tượng tự nhiên và xã hội Sáng tạo ra truyện cổ tích để nói lên ước mơ

về những điều tốt đẹp ở đời Bên cạnh đó nhân dân còn tưởng tượng ra những câu chuyện nhằm khuyên răn cách sống khôn ngoan cho đồng loại, đem đến cho người đọc những bài học bổ ích về đạo lí và lẽ sống ở đời những truyện ấy được gọi là ngụ ngôn.Truyện“ Ếch ngồi đáy giếng” là một truyện ngụ ngôn như thế.Tiết học này thầy và các em cùng nhau đi tìm hiểu nội dung của truyện

Hoạt động 1: Hướng dẫn HS Đọc - Tìm hiểu chú thích.

Hoạt động 1:

* GV h/dẫn đọc toàn bài : Đọc theo giọng

kể, nhấn mạnh vào các chi tiết đặc tả hành

động, cử chỉ, lời nói của nhân vật với sắc

thái mỉa mai, giễu cợt

? Gọi HS đọc? nhận xét bạn đọc

- Gv cho hs nghe đoạn đọc mẫu.

- Hãy kể lại câu chuyện theo tranh

* Kể chuyện theo tranh (5 tranh)

- Dựa vào chú thích SGK, em hãy trình bày

hiểu biết của mình về truyện ngụ ngôn?

Gv mở rộng: :

Trong lịch sử văn học, truyện ngụ ngôn ra

đời từ rất sớm

Từ thời cổ đại đã có Ê- dốp, một nhà thơ Hi

lạp chuyên viết truyện ngụ ngôn bằng thơ

Sau này có La-phông-ten của Pháp thế kỉ

XVII Ở Việt Nam truyện ngụ ngôn tiêu

biểu là của dân gian Cùng với tục ngữ,

truyện ngụ ngôn Việt Nam là pho tượng

triết lí dân gian độc đáo

- Em hiểu thế nào là chúa tể, dềnh lên,

nhâng nháo?

- Các chú thích đó giải nghĩa theo mấy

cách? Đó là những cách nào ?

I Đọc-Tìm hiểu chú thích

1 Đọc,

- Đọc:

- Kể :

2 Tìm hiểu chú thích

a Khái niệm truyện ngụ ngôn:

-Hình thức: Truyện kể bằng văn xuôi hoặc văn vần

-Đối tượng: Mượn truyện đồ vật, loài vật hoặc chính con

người để nói bóng nói gió, kín đáo chuyện con người

-Mục đích: khuyên nhủ, răn dạy người ta bài học nào đó trong cuộc sống

b Giải nghĩa từ :(SGK-100)

- Hs trả lời

- Chúa tể: Kẻ có quyền lực cao nhất, chi phối kẻ khác

- Dềnh lên: (nước) dâng cao

- Nhâng nháo: ngông nghênh, không coi ai ra gì

- Từ: “chúa tể”; “nhâng nháo”:

trình bày khái niệm mà từ biểu thị

- Từ: “dềnh lên”: Đưa ra các từ

Ngày đăng: 23/07/2019, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w