Kỷ (Hệ) Cambri là kỷ (hệ) đầu tiên của nguyên đại (giới) Paleozoi, kéo dài khoảng 54 triệu năm, bắt đầu từ cách nay 542 ± 0,3 triệu năm và kết thúc cách nay 488,3 ± 1,7 triệu năm. Hệ Cambri do nhà địa chất người Anh A. Sedgwick xác lập năm 1836, tên hệ gọi của hệ theo địa danh xứ Wales (tiếng Latin là Cambria) ở Tây Nam nước Anh, nơi có mặt cắt của hệ được nghiên cứu đầu tiên. Cambri được chia thành 3 thống, hiện nay việc phân chia các bậc của hệ này chưa có sự thống nhất trên thế giới mà chỉ có sự phân chia ở một số khu vực có trầm tích Cambri phổ biến và được nghiên cứu tốt Bảng 1. Ủy ban Địa tầng Quốc tế (2008) cũng chỉ mới có một sơ đồ dự thảo Bảng 2, trong đó Cambri có 4 thống, nhưng chỉ thống trên cùng và dưới cùng có tên, phần lớn các bậc cũng chưa có tên. Trong số 10 bậc dự kiến, chỉ mới 4 bậc có tên, các bậc khác đều mang số hiệu. Sự phát triển và phong phú động vật biển ở mức độ tiến hóa khá cao là điều đáng chú ý đầu tiên của kỷ Cambri. Sát trước Cambri, động vật còn thưa thớt và nguyên thủy (hệ động vật Ediacara), nhưng ngay từ đầu Cambri sinh vật biển đã hầu như có đủ đại biểu của các ngành động vật không xương sống ở biển. Sự kiện phát triển phong phú, tiến hóa và đa dạng nhanh chóng như vậy của động vật biển ngay trong một thời gian không dài của đầu kỷ Cambri khiến các nhà khoa học ngạc nhiên và đã gọi đây là sự bùng nổ Cambri của sinh giới
Trang 134
Bảng 1 Phân chia địa tầng Cambri ở một số khu vực lớn
Trung
Aus-tralia
Cambri thượng
(Furong)
Ibexi (part) Ayusok-kan Idame Sunwapta Saki Mindyal
Marjum Batyrbay
Cambri trung
Templeton
Cambri
hạ
Changlangpu Montezu-man Botom
Nema- kit-Daldyn
Cambri (Kỷ – Hệ)
Tống Duy Thanh Khoa Địa chất
Trường ĐHKHTN (Đại học Quốc gia Hà Nội)
334 Nguyễn Trãi Thanh Xuân Hà Nội
1 Giới thiệu
Kỷ (Hệ) Cambri là kỷ (hệ) đầu tiên của
nguyên đại (giới) Paleozoi, kéo dài khoảng 54
triệu năm, bắt đầu từ cách nay 542 ± 0,3 triệu
năm và kết thúc cách nay 488,3 ± 1,7 triệu
năm Hệ Cambri do nhà địa chất người Anh
A Sedgwick xác lập năm 1836, tên hệ gọi của
hệ theo địa danh xứ Wales (tiếng Latin là
Cambria) ở Tây Nam nước Anh, nơi có mặt
cắt của hệ được nghiên cứu đầu tiên Cambri
được chia thành 3 thống, hiện nay việc phân
chia các bậc của hệ này chưa có sự thống nhất
trên thế giới mà chỉ có sự phân chia ở một số
khu vực có trầm tìch Cambri phổ biến và
được nghiên cứu tốt [Bảng 1] Ủy ban Địa
tầng Quốc tế (2008) cũng chỉ mới có một sơ
đồ dự thảo [Bảng 2], trong đó Cambri có 4 thống, nhưng chỉ thống trên cùng và dưới cùng có tên, phần lớn các bậc cũng chưa có tên Trong số 10 bậc dự kiến, chỉ mới 4 bậc có tên, các bậc khác đều
mang số hiệu
Sự phát triển và phong phú động vật biển ở mức độ tiến hóa khá cao là điều đáng chú ý đầu tiên của kỷ Cambri Sát trước Cambri, động vật còn thưa thớt và nguyên thủy (hệ động vật Ediacara), nhưng ngay từ đầu Cambri sinh vật biển đã hầu như có đủ đại biểu của các ngành động vật không xương sống ở biển Sự kiện phát triển phong phú, tiến hóa và đa dạng nhanh chóng như vậy của động vật biển ngay trong một thời gian không dài của đầu kỷ Cambri khiến
các nhà khoa học ngạc nhiên và đã gọi đây là sự bùng nổ Cambri của sinh giới [H 1]
Bảng 2 Sơ đồ dự kiến của UBĐT Quốc tế phân chia địa tầng Cambri (2008)
Hệ Thống Bậc Tên tạm thời (triệu năm) Tuổi Thời đoạn (triệu năm)
Furong
Thống 3 “Cambri trung”
Thống 2 Cambri 4 Cambri 3 Botomian (gồm cả Toyon) Atdaban ~ 517? ~ 521? ~ 7? ~ 4?
Terreneuve
Fortun Nemakit-Daldyn, hoặc Ma- nikaya 542 ~ 14
Trang 235
Hình 1 Sự “bùng nổ” sinh giới trong Cambri
Số lượng các bộ của sinh vật xuất hiện trong Cambri nhiều gấp bội so với trước đó
Hình 3 Tái dựng quang cảnh sinh vật biển Cambri giữa
Trên cùng: con Laggania bắt con mồi Bọ ba thùy Ở đáy biển
từ trái đến giữa hình là các loại giun đốt nguyên thủy Wiwaxia
và 3 cá thể Hallucigenia, chúng có dãy gai tự vệ Phía đáy biển bên phải là con Aysheaia và một loại Chân khớp nguyên thủy Opabina – một dạng họ hàng của Laggania – có 5 ổ mắt Nằm trực tiếp trên đáy biển là dạng hậu khẩu Dinomischus (màu vàng) và nhóm hải miên cổ Vauxia (ở phía tận cùng bên phải)
(http://www.palaeos.com/Paleozoic/Cambrian.)
2 Sinh giới trong Cambri
Nếu ở Neoproterozoi mới chỉ gặp hóa thạch dạng sinh
vật còn nguyên thuỷ và cũng còn thưa thớt, chủ yếu là động
vật có cơ thể đối xứng tỏa tia (xem Neoproterozoi) thí ngay
ở những lớp thấp của trầm tìch Cambri hóa thạch động vật
đã khá phong phú, đa dạng và ở mức tiến hóa khá cao, điển
hính là động vật có cấu tạo cơ thể đối xứng hai bên Chịu
ảnh hưởng của những biến động về điều kiện địa lý tự nhiên
bắt nguồn từ sự mở ra và đóng lại của các đại dương, sự di
chuyển của các lục địa mà sinh giới từng thời kỳ biến đổi để
thìch nghi hay bị tuyệt chủng
Ngay từ đầu kỷ Cambri đã có nhiều di tìch sinh vật,
tuy còn mang tình chất rất cổ xưa và kỳ lạ, nhưng cũng đã ở vị trì khá cao trong lịch sử tiến hóa sinh giới, mà phần lớn không còn gặp trong đá của các kỷ sau Trong đá Cambri đã gặp đại diện của vi sinh vật và các ngành Mang lỗ (Porifera), Sợi chìch (Cnidaria), Tay cuộn, Chân khớp, Giun, Động vật có dây sống, tức là có mặt đại biểu gần như đầy đủ các ngành động vật Điều đó chứng
tỏ sinh vật trong Cambri không phải là những sinh vật nguyên thuỷ nhất, đơn giản nhất của hệ thống phát triển và tiến hóa sinh vật Thực vật trong kỷ Cambri chủ yếu là các
dạng tảo thủy sinh Nhín chung, sinh giới Cambri đều còn mang tình chất cổ
xưa và phần lớn không còn tiếp tục sống trong các giai đoạn lịch sử sau đó
2.1 Một số nhóm sinh vật chủ yếu
2.1.1 Bọ ba thùy (Trilobita) Bọ ba thùy là một lớp lớn của ngành Chân
khớp, hóa thạch của lớp này có mặt trong các đá trầm tìch Paleozoi từ Cambri
đến Permi Ngay từ đầu Cambri, Bọ ba thùy đã phát triển phong phú cả về số
lượng giống loài cũng như số lượng cá thể Hóa thạch của chúng thường hay gặp
trong các đá sét cát kết, sét vôi và đôi khi cũng gặp trong đá vôi Bọ ba thùy đóng vai trò ưu trội trong sinh giới Cambri, theo những tài liệu về cổ sinh học hiện biết thí Bọ ba thùy chiếm đến 60% toàn bộ hóa thạch sinh vật biển Cambri, như vậy cũng có nghĩa là chúng chiếm phần chủ yếu của sinh giới, ví lúc đó trên cạn có lẽ chỉ mới có các
loại vi khuẩn Chúng chỉ phồn thịnh trong Cambri,
Ordovic và Silur, từ Devon bị giảm sút và bị tuyệt
diệt vào cuối Permi
Cấu tạo cơ thể của Bọ ba thùy gồm ba phần
cả theo chiều dọc và chiều ngang [H 2] Theo
chiều dọc, thân Bọ ba thùy gồm khiên đầu, khiên
ngực (phần giữa) và khiên đuôi Theo chiều
ngang, thân gồm phần giữa và hai bên là phần
sườn mang hệ thống chân của con vật
Cùng với Bọ ba thùy còn có dạng nguyên
thủy kỳ quái của ngành Chân khớp tương tự như
Bọ ba thùy nhưng có đến 5 ổ mắt như các giống
Laggania, Aysheaia [H 3]
2.1.2 Dạng Chén cổ (Archaeocyatha) Dạng
Hình 2 Hoá thạch
Bọ ba thùy Cambri
Trang 336
Hình 6 Tay cuộn Obolus trong Cambri
Chén cổ là một động vật cũng kỳ lạ như Bọ ba thùy ví chúng chỉ
có trong kỷ Cambri Đó là loại sinh vật biển, đơn thể hoặc quần
thể; bộ xương bằng chất carbonat có hính dạng như một cái chén
hay cái cốc [H 4] Hóa thạch Dạng Chén cổ thường gặp trong
trầm tìch carbonat tướng biển nông và cũng hay gặp cùng di tìch
của tảo Hầu như không gặp hóa thạch Dạng Chén cổ cùng với Bọ
ba thùy, do hai nhóm sinh vật thìch ứng với hai môi trường sống
khác nhau Dạng Chén cổ sống trong biển cạn có đáy biển đá, còn
Bọ ba thùy sống ở đáy biển bùn Một số ìt đại biểu của Dạng Chén
cổ còn tồn tại đến kỷ Ordovic, nhưng vai trò thực sự của chúng
chủ yếu là ở Cambri sớm, một phần ở Cambri giữa
Dạng Chén cổ phát triển phong phú trong các đá trầm tìch Cambri ở Sibiri, Trung Quốc và Australia Tại Australia, Dạng Chén cổ đã trở thành hóa thạch tạo đá, có những lớp đá vôi chỉ do xương của Dạng Chén cổ tạo thành Nhờ vào việc nghiên cứu Dạng Chén cổ mà địa tầng của nhiều trầm tìch Cambri ở Sibiri và Australia đã được phân chia tỉ mỉ
2.1.3 Bút đá (Graptolithina) Bút đá thuộc ngành động vật Nửa dây sống (Hemichordata)
xuất hiện từ Cambri, nhưng còn rất thưa thớt với giống Dictyonema [H
5], sang Ordovic chúng trở nên rất phong phú và còn tiếp tục phát triển
sang Silur Hóa thạch Bút đá thường phong phú và được bảo tồn tốt
trong các đá trầm tìch hạt mịn thuộc tướng nước sâu
2.1.4 Tay cuộn (Brachiopoda) Tay cuộn Cambri chiếm đến 30%
tổng số hóa thạch hiện biết, đứng hàng thứ hai trong thế giới sinh vật ở
kỷ này Tay cuộn trong kỷ Cambri thuộc lớp Không khớp, còn đại biểu
của lớp Có khớp đến cuối Cambri mới xuất hiện và tiến hóa, phát triển phong phú ở các kỷ
sau Ở Việt Nam cũng đã gặp Tay cuộn không khớp tuổi Cambri như Obolus [H 6],
Trematobolus và Lingulella ở Việt Bắc và Bắc Trung Bộ
2.1.5 Thân mềm (Mollusca) Hóa thạch Chân ríu
(Pelecypoda) đã gặp trong trầm tìch Cambri, nhưng chưa có
vai trò lớn; các đại biểu của lớp Chân đầu (như Nautiloidea)
cũng chưa phát triển, nhưng giống Volborthella vỏ thẳng
cũng đã gặp trong trầm tìch Cambri
Hóa thạch của những động vật có xương sống cũng đã
được phát hiện từ trầm tìch Cambri, song cá không hàm chỉ mới phát triển trong đá của các kỷ sau đó
2.1.6 Thực vật trong kỷ Cambri và Ordovic chỉ là những thực vật bậc thấp – Tản thực vật, gồm các loại tảo sống ở môi trường nước, chưa có cấu tạo mô dẫn truyền Ở Việt Nam cũng gặp hóa thạch tảo, như tảo xanh lơ trong trầm tìch Cambri ở Hà Giang
2.2 Tiến hóa và sự tuyệt chủng trong sinh giới
Một trong những vấn đề lớn của lịch sử tiến hóa sinh vật là sự xuất hiện đột ngột nhiều nhóm sinh vật ở đầu Cambri Mặc dù nhiều dạng hóa thạch đã được phát hiện ở Neoproterozoi, nhất là hệ động vật Ediacara, nhưng mối liên hệ giữa chúng với hệ động vật đa dạng ở Cambri
vẫn là vấn đề chưa sáng tỏ
Hình 5 Bút đá Dictyonema
Hình 4 Hoá thạch Dạng Chén cổ
Bên trái là dạng đơn thể, bên phải – dạng quần thể
Trang 437
Hình 7 Sơ đồ cổ địa lý thế giới trong Cambri
Cùng với biển tiến đầu Cambri, đã xuất hiện một thế giới sinh vật không xương sống ở biển gồm đại biểu của nhiều ngành, nhiều lớp Lúc đầu chúng chỉ mới có mặt hạn chế trong một số biển, nhưng qua thời gian chúng phát triển và đa dạng hóa, đồng thời nhanh chóng phát tán rộng rãi trên Trái Đất
Một trong các yếu tố quan trọng thúc đẩy sự đa dạng hóa sinh giới ở đầu Cambri là vào cuối
Neoproterozoi siêu lục địa Pannotia vỡ ra thành nhiều lục địa phân bố gần dọc theo xìch đạo cổ,
làm các biển phân cách với nhau Điều này thúc đẩy sự đa dạng hóa nhanh chóng của sinh giới Paleozoi sớm Trong điều kiện khì hậu ấm của vùng xìch đạo và cận xìch đạo, một nhóm sẽ phát tán, di cư đến các vùng biển nông và trong quá trính đó chúng tiến hóa, nhiều giống loài mới xuất hiện rồi lại phát tán trở lại nơi chúng xuất nguồn Quá trính cứ tiếp diễn và thông qua các biển thông thương nhau, sinh giới nhanh chóng phong phú cả về sinh khối và đa dạng về giống loài
Sự phát triển tỏa tia của Bọ ba thùy là điển hính của sự tiến hóa động vật trong Cambri Bọ
ba thùy đã xuất hiện khá nhiều trong các trầm tìch Cambri hạ, lúc đầu là các dạng có vỏ kitin nhưng không lâu ngay trong Cambri sớm xuất hiện các dạng có vỏ giàu chất vôi, nên dễ dàng được bảo tồn trong các lớp trầm tìch Chúng tiến hóa rất nhanh chóng và phát triển phong phú đến mức chiếm tới hơn 60% tổng số hóa thạch Cambri và ở nhiều nơi hóa thạch Bọ ba thùy thậm chì chiếm đến 90% số lượng hóa thạch Cambri
Trong lịch sử địa chất, hiện tượng tuyệt chủng hàng loạt đã diễn ra nhiều đợt, ngay từ cuối Neoproterozoi đã có thể quan sát được hiện tượng này, nhưng những lần đầu tiên sự tuyệt chủng hàng loạt rõ nét của sinh giới đã thể hiện trong Cambri
Trong kỷ Cambri đã diễn ra một số đợt Bọ ba thùy bị tuyệt chủng và đến cuối kỷ có đến 90% số giống loài Bọ ba thùy đã biến mất Ví Bọ ba thùy chiếm đến 60% số lượng hóa thạch Cambri và ở nhiều nơi thậm chì chúng chiếm đến 90% hóa thạch của kỷ này, nên sự tuyệt chủng hàng loạt của Bọ ba thùy cũng có thể coi là sự tuyệt chủng hàng loạt của sinh giới của Cambri Nếu tình toàn bộ sự tuyệt chủng của đa số Bọ ba thùy, gần toàn bộ Chén cổ và sự mất đi của một
số động vật khác thí có đến hơn 90% giống loài sinh vật Cambri không còn gặp trong kỷ Ordovic sau đó nữa
3 Cổ địa lý và kiến tạo
Sau sự tan vỡ của siêu lục địa Pannotia ở cuối Neoproterozoi, đến đầu Cambri trên bề mặt Trái Đất hính thành những lục địa khác nhau Lớn nhất là lục địa Gondwana nằm ở bán cầu nam, gần Nam Cực (ứng với Nam Mỹ, Châu Phi, Ấn Độ và Australia hiện nay, nhưng khi đó nối liền nhau) Các lục địa lớn tiếp theo, từ tây sang đông gồm Laurentia (ứng với Bắc Mỹ và Greenland hiện nay), Baltica (ứng với Bắc Âu và Nga hiện nay) và Siberia [H 7] Ngoài ra còn một số khối nhỏ bị ngập biển ở Châu Á ngày
nay như Kazakhstan, Hoa Bắc, Thái Lan,
Ma-laysia, Đông Dương Ba lục địa Laurentia,
Bal-tica và Siberia đều hoặc nằm ở gần xìch đạo lúc
đó hoặc ở phìa bán cầu nam, phân cách với lục
địa Gondwana bằng đại dương Iapetus, bao
quanh tất cả các lục địa này là một đại dương
chung gọi là Toàn Đại Dương hay Panthalassa
[H 7]
Trang 538
Từ đây các mảng lục địa lại bắt đầu di chuyển theo cơ chế hội tụ và tách dãn Các lục địa di chuyển theo cơ chế hội tụ sẽ xô húc nhau và tạo nên chuyển động tạo núi, mà sớm nhất là tạo núi Toàn Phi (Pan-Africa) diễn ra ở ría bắc của Gondwana vào cuối Neoproterozoi - đầu Cambri
và tạo núi Salair diễn ra trong Cambri muộn ở ría mảng lục địa Siberia và Mông Cổ
Trong Cambri đã diễn ra biển tiến lớn, thể hiện rõ nét ở Laurentia và Siberia cũng như Bal-tica Phân tìch thành phần trầm tìch cũng cho thấy nền nhiệt bị hạ nhanh có lẽ do chịu ảnh hưởng của sự tan vỡ của siêu lục địa Pannotia Nước biển giàu oxy tràn vào đất liền, tạo nên vùng thềm lục địa giàu dưỡng chất dẫn đến sự hính thành phosphat thứ sinh Trong những khu vực gần xìch đạo, đặc biệt là ở Gondwana, thềm carbonat Neoproterozoi muộn bị chím do quá trính ngập biển nhanh dẫn đến sự trầm đọng phosphorit và đá phiến sét đen, còn trầm tìch bay hơi chỉ gặp ở những bồn nội lục Không có chứng tìch của băng hà, sự biển tiến có lẽ liên quan đến tốc độ tách dãn nhanh của đáy biển
Phần lớn biển thuộc dạng biển nông, nhất là những vùng ven lục địa Biển tiến lớn diễn ra ở Cambri giữa và Cambri muộn, tạo nên những vùng biển nông mới và là môi trường thuận lợi cho phát triển các khu hệ động vật không xương sống Trầm tìch của những vùng biển nông này
có thể gặp ở nhiều lục địa ngày nay, trừ Gondwana, Đông Siberia và Kazakhstania, khi đó là núi
và cao nguyên
Kết quả nghiên cứu trực tiếp các bao thể lỏng cũng như gián tiếp những kết tủa hữu cơ và
vô cơ cho thấy thành phần nước biển Cambri có tỷ lệ Mg/Ca khá thấp Điều này phù hợp với thành phần carbonat calci của xương động vật bị khoáng hóa là calcit hơn là aragonit Giai đoạn chuyển tiếp Neoproterozoi sang Phanerozoi ứng với sự đổi thay từ “biển aragonit” sang “biển calcit”, cũng trùng với sự chuyển từ chế độ khì hậu lạnh sang ấm và thay đổi từ thành phần MgSO4 sang KCl trong trầm tìch bay hơi Sự tách dãn nhanh đáy biển kèm theo sự phá vỡ siêu lục địa Pannotia có lẽ dẫn đến sự thay đổi trong sự trào dâng nước biển, gây nên sự nâng mực nước biển toàn cầu và tăng cường hoạt động núi lửa trên toàn địa cầu
Khì hậu trong Cambri chủ yếu là ấm, ôn hòa và ẩm Do không có những khối lục địa lớn nằm ở vị trì địa cực nên các dòng biển chảy tự do và ví vậy không có những khối băng lớn, do
đó nhiệt độ Trái Đất ôn hòa Thực vậy, Cambri là khoảng thời gian có khì hậu ôn hòa, nằm giữa hai kỳ băng lớn trong lịch sử địa chất là băng hà cuối Neoproterozoi và băng hà cuối Ordovic Những kết quả phân tìch các chứng liệu cổ sinh và trầm tìch còn cho thấy một điều khá thú
vị là do sự giảm tốc độ quay của Trái Đất nên số ngày trong năm của Cambri nhiều hơn hiện nay (năm Cambri có thể gồm đến 420 ngày) và số giờ trong mỗi ngày cũng ìt hơn 24 giờ
4 Cambri ở Việt Nam
Trầm tìch Cambri ở Việt Nam khá phổ biến ở Bắc Bộ và Trung Bộ, khởi đầu chu kỳ trầm tìch đầu tiên của Paleozoi Trầm tìch tuổi Cambri sớm chỉ gặp ở Tây Bắc Bộ, đó là trầm tìch lục nguyên chứa phosphorit ở nơi mà ta quen gọi là “mỏ apatit” Cam Đường (Lào Cai)
Trầm tìch Cambri trung và Cambri thượng gồm hai loại, loại trầm tìch carbonat chứa phong phú hóa thạch Bọ ba thùy ở Hà Giang (hệ tầng Hà Giang và hệ tầng Chang Pung), ở Thanh Hóa
và Tây Bắc Bộ (hệ tầng Hàm Rồng) Trầm tìch Cambri tướng lục nguyên gặp ở Đông Bắc Bộ như Thái Nguyên, Cao Bằng (hệ tầng Thần Sa) và hạ lưu sông Đà (hệ tầng Sông Mã và hệ tầng Bến Khế) Trầm tìch Cambri tướng lục nguyên còn gặp ở Trung Trung Bộ (hệ tầng A Vương) Những dẫn liệu về sự phong phú trầm tìch carbonat và hóa thạch sinh vật đáy cũng như sự có mặt trầm tìch phosphorit cho thấy phần lớn lãnh thổ Việt Nam trong Cambri thuộc vùng biển có khì hậu ấm của khu vực nhiệt đới
Trang 639
Tài liệu đọc thêm
1 Condie K C & Sloan R E, 1998 Origin and Evolution of Earth Principles of Historical Geology Printice-Hall,
Inc 498 pgs
2 Hughes N C., Heim N A Cambrian In Selley R.C, Cocks L.R.M., Plimer I.R (Editors), 2005 Encyclopedia of Geology Volume 4 Elsevier Academic Press
3 Phạm Kim Ngân, Lương Hồng Hược, Trần Văn Trị, Trần Hữu Dần, 2008 Hệ Cambri ở Việt Nam NXB Khoa
học và Kỹ thuật Hà Nội 216 tr
4 Stanley S M., 2009 Earth System History 3 nd Edition W.H Freeman & Company New York 551 pgs
5 Tống Duy Thanh, Vũ Khúc (Chủ biên), 2005 Các phân vị địa tầng Việt Nam NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
504 tr
6 Tống Duy Thanh, 2008 Lịch sử Tiến hóa Trái Đất (Địa sử) NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Hà Nội Tái bản
2009 (Chỉnh sửa, bổ sung và cập nhật tài liệu mới) 340 tr
7 Trần Văn Trị, Vũ Khúc (Đồng chủ biên), 2009 Địa chất và Tài nguyên Việt Nam NXB Khoa học Tự nhiên và Công
nghệ Hà Nội 589 tr
8 Wicander R J & Monroe S., 1993 Historical Geology West Publishing Compagny Minneapolis, St New York,
Los Angeles San Francisco 640 pgs
9 The Cambrian in Free Encyclopedia Wikipedia, http:// Google.com
10 Хаин Β Ε., Коровковский Н.В., Ясамнов Н А., 1997 Историческая геология Издат Московского
Университета Москва 448 стр