1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)

87 221 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 878,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt NamNghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THU THỦY

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ TẠI CÔNG TY

TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MUA BÁN NỢ VIỆT NAM

Ngành: Quản trị kinh doanh

Mã số: 8.34.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN AN HÀ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Em cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của em Những kết quả và các số liệu trong luận văn được thực hiện tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam Không sao chép bất kỳ nguồn nào khác Em hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2019

Học viên

Nguyễn Thu Thủy

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY MUA BÁN NỢ 8 1.1 Các khái niệm cơ bản 8 1.2 Công tác xử lý nợ xấu tại Công ty mua bán nợ 16 1.3 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Công ty mua bán nợ trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY

TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MUA BÁN NỢ VIỆT NAM 28

2.1 Khái quát về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam 28 2.2 Thực trạng nợ xấu ở Việt Nam và công tác xử lý nợ xấu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam 33 2.3 Đánh giá chung về hoạt động xử lý nợ xấu tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam 48 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC XỬ LÝ

NỢ XẤU CỦA CÔNG TY MUA BÁN NỢ VIỆT NAM 58

3.1 Định hướng phát triển của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam 58 3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ việt nam 61

KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DATC Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam

NHTM Ngân hàng thương mại

SXKD Sản xuất kinh doanh

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của DATC 30

Bảng 2.1 Nợ xấu của toàn hệ thống TCTD đến 2018 34

Bảng 2.2 Tổng số xử lý nợ từ năm 2016 - 2018 46

Bảng 2.3 Tình hình thoái vốn của DATC từ năm 2016-2018 47

Bảng 2.4 Lợi nhuận hoạt động mua, xử lý nợ từ 2016-2018 48

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thị trường mua bán nợ xấu góp phần quan trọng vào đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động mua bán nợ xấu đang được xem là một lối thoát của các doanh nghiệp (gồm cả DNNN) đang gặp phải nhiều khó khăn về tài chính trong sản xuất kinh doanh hiện nay Nếu không có công ty nào tham gia vào việc mua các khoản nợ xấu đó thì các công ty sẽ lâm vào sản xuất kinh doanh cầm chừng, hoặc thu hẹp sản xuất kinh doanh, thậm chí chờ phá sản Thị trường mua bán nợ xấu

sẽ giúp khai thông dòng vốn, hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua khó khăn Giải quyết

nợ xấu cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận các nguồn lực tài chính mới phục vụ cho việc tái cơ cấu hoạt động, thay đổi mô hình quản trị doanh nghiệp, từng bước cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Sự tham gia của các nhà đầu tư mới cũng cho phép doanh nghiệp có thể tiếp cận các mô hình quản trị mới, thay đổi cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản phẩm, tạo cơ hội cho việc tham gia vào các thị trường mới thay vì các thị trường cũ

Sự hoạt động của thị trường mua bán nợ xấu tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu Thị trường cung cấp phương tiện huy động số vốn nhàn rỗi trong dân cư cho các doanh nghiệp sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất mới Chức năng này được thực hiện khi công ty bán nợ xấu và doanh nghiệp khác mua nợ xấu Nhờ vào

sự hoạt động của thị trường mà doanh nghiệp có thể tiếp tục huy động được một số lượng lớn vốn cho hoạt động SXKD thay vì việc tạm dừng sản xuất do thiếu vốn Khi mua lại nợ xấu, số tiền nhàn rỗi của các nhà đầu tư đã được đưa vào hoạt động SXKD và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội

Trang 7

Chính thức đi vào hoạt động từ năm 2004 đến nay, sau hơn 15 năm xây dựng, phát triển DATC đã tạo lập cho mình thế và lực vững chắc để phát triển trong bối cảnh hội nhập Bên cạnh các hoạt động mua bán nợ và tài sản tồn đọng tại doanh nghiệp (DN), góp phần đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, đổi mới DNNN, DATC cũng đã không ngừng mở rộng, phát triển nhiều các nghiệp vụ hoạt, đáp ứng yêu cầu mới

Từ năm 2003 đến 2017, Công ty đã hoàn thành việc tiếp nhận nợ và tài sản loại trừ khỏi giá trị DN khi cổ phần hóa của 2.628 DN, với tổng giá trị các khoản nợ

và tài sản tiếp nhận là 4.573,63 tỷ đồng Ngoài việc thực hiện các mục tiêu kế hoạch đặt ra, hàng năm DATC còn thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được Chính phủ, Bộ Tài chính giao, cụ thể là nhiệm vụ mua bán, xử lý nợ Trong giai đoạn 2010 - 2017, DATC đã triển khai thực hiện tốt công tác đàm phán xử lý nợ của các tổ chức tín dụng để hỗ trợ tái cơ cấu một số doanh nghiệp có quy mô lớn, sử dụng nhiều lao động, góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế như Vinashin, Vinalines, Công ty thực phẩm miền Bắc, Công ty Haprosimex Bên cạnh vai trò là công cụ Nhà nước trong

xử lý nợ xấu, DATC còn là một kênh quan trọng tiếp nhận tri thức, hợp tác nước ngoài về tiếp nhận, mua bán, xử lý nợ và tài sản tồn đọng [6]

Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn đặt ra, hoạt động mua và xử lý nợ xấu của DATC vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, bất cập cần phải được khắc phục trong thời gian tới để góp phần xử lý nợ xấu, điểm nghẽn của nền kinh tế nước ta hiện nay Do vậy, thông qua việc nghiên cứu hoạt động của DATC, đề tài tập trung phân tích, đánh giá những hạn chế và tìm ra nguyên nhân, để từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác mua và xử lý nợ xấu tại DATC Với mong muốn đó, học viên lựa chọn đề

tài: “Nghiên cứu công tác xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam” để

nghiên cứu Việc nghiên cứu vấn đề này, không những có ý nghĩa về lý luận, mà còn

Trang 8

có ý nghĩa về mặt thực tiễn giải quyết vấn đề tồn tại đang đặt ra đối với Công ty mua bán nợ Việt nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

DATC không trực tiếp sản xuất mà kinh doanh với loại hàng hóa đặc biệt (nợ xấu, tài sản tồn đọng) thu nợ hay xử lý tài sản để thu nợ mà DATC hoạt động như một tổ chức tái thiết DN thông qua mua nợ xấu thực hiện cơ cấu phục hồi DN vay

nợ DATC có nhiệm vụ xử lý nợ và tài sản tồn đọng nhằm hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, sắp xếp, chuyển đổi sở hữu DNNN DATC không chỉ xử lý nợ xấu giữa ngân hàng với DN mà còn xử lý các khoản nợ giữa DN với DN; DN với các thành phần kinh tế khác Hoạt động của DATC gắn với việc hình thành các loại tài sản khác nhau (do mua tài sản tồn đọng, do tiếp nhận để cấn trừ nợ, do hoán đổi nợ lấy tài sản…) Thực hiện tái cơ cấu DN 100% vốn nhà nước không đủ điều kiện cổ phần hóa và các

DN khác thông qua chuyển nợ thành vốn góp, lành mạnh hóa tài chính DN Đề tài đã tìm hiều và nghiên cứu các đề tài, luận án liên quan đến vấn đề xử lý nợ xấu:

Tác giả Bùi Khắc Tân (2016), Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn -

Hà Nội, luận văn Thạc sĩ Tài chính ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản lý nợ xấu trong Ngân hàng Thương mại Đo lường nợ xấu và chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý nợ xấu Đánh giá thực trạng quản lý nợ xấu của Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội Đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội

Tô Ngọc Hưng (2014), Thực trạng xử lý nợ xấu của ngành ngân hàng Việt Nam năm 2012-2013 và một số khuyến nghị chính sách, Tạp chí Ngân hàng, số 3, trang 7-14

Nguyễn Thị Hoài Phương (2012), Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận văn tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội

Trang 9

Phí Đăng Minh (2012), Làm thế nào để xử lý được nợ xấu, Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ, số 16, trang 27

Đề tài “Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP BIDV-Chi nhánh Đông Đô” của tác giả Nguyễn Quốc Khánh cũng đã hệ thống hóa lại được các kiến thức lý luận cơ bản về nợ xấu và quản lý nợ xấu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, đánh giá được thực trạng của nợ xấu từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị trong công tác quản lý nợ xấu tại BIDV- Đông Đô Mặt hạn chế của đề tài này là mới chỉ nghiên cứu được vấn đề nợ xấu ở tầm vi mô của một chi nhánh của một ngân hàng Chính vì vậy mà những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu cũng chỉ mang tầm vi mô đối với một chi nhánh của ngân hàng đó Mà không được nêu một cách chính xác và cụ thể

Cùng bàn về nợ xấu TS Trịnh Quang Anh Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam với đề tài: “Vấn đề nợ xấu ở các NHTMCP Việt Nam và giải pháp xử lý” Kết quả mà đề tài này đạt được là đã phân tích được một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ xấu, tác động của nó đối với nền kinh tế và những giải pháp để giải quyết các con số về nợ xấu ra sao Nhưng những nguyên nhân mà tác giả phân tích mới chỉ dừng lại ở một vài yếu tố như tốc độ tăng tín dụng, tín dụng/GPD danh nghĩa, tốc độ tăng M2 và lạm phát Đó cũng là những nguyên nhân chính tác động đến nợ xấu Tuy nhiên bên cạnh đó còn rất nhiều các tác nhân bên ngoài ảnh hưởng đến nợ xấu mà tác giả chưa đề cập đến như tốc độ tăng trưởng thị trường bất động sản, lãi suất cho vay hay tỷ giá hối đoái…

Bài báo “Lựa chọn mô hình xử lý nợ xấu ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh (2012) đăng trên Tạp chí Tài chính số 11-2012 trang 14-20 Trong bài viết, tác giả đã đánh giá thực trạng nợ xấu của các NHTM Việt Nam và một số giải pháp xử lý nợ xấu NHNN đã và đang thực hiện, đồng thời tác giả đã đề xuất một số giải pháp để xử lý nợ xấu của NHTM Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của một số

Trang 10

quốc gia trên thế giới như: chính phủ hỗ trợ nguồn vốn ban đầu cho công ty mua bán

nợ để xử lý nợ xấu; trao quyền lực rõ ràng cho công ty mua bán nợ như quyền tịch thu tài sản, quyền khôi phục lại hoạt động của doanh nghiệp khách nợ để tối đa hóa giá trị thu hồi nợ xấu; áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu phù hợp với trình độ phát triển của thị trường tài chính như chuyển nợ xấu thành vốn cổ phần, chứng khoán hóa

nợ xấu, bán nợ xấu trực tiếp cho các nhà đầu tư Luận văn này kế thừa những nghiên cứu của tác giả về các biện pháp xử lý nợ xấu nêu trên

Xem xét một cách tổng quát, những vấn đề về nợ xấu và xử lý nợ xấu đã có nhiều tác giả nghiêm túc nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu khoa học Tuy nhiên do thời gian ngắn, phạm vi đề tài rộng nên các tác giả chưa đề cập một cách có

hệ thống về công tác xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp mua bán nợ xấu như DATC

Từ đó tiếp tục bổ sung vào hệ thống các giải pháp nhằm khắc phục và giảm thiểu tối

đa tình trạng nợ xấu hiện nay tại các Ngân hàng và các DN Với đề tài nghiên cứu này tôi sẽ tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề mà các tác giả trước đây chưa đề cập hoặc chưa nghiên cứu một cách tổng thể nhằm bổ sung đầy đủ cả về lý luận lẫn thực tiễn góp phần làm giảm tình trạng nợ xấu trong những năm tới thông qua phương thức mua lại của các Công ty mua bán nợ xấu tại Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác mua và xử lý nợ của Công ty mua bán nợ Việt Nam một cách có hệ thống, phát huy tối đa năng lực của DATC trong việc xử lý nợ xấu tại các doanh nghiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý

luận và thực tiễn trong công tác quản lý hoạt động xử lý nợ của Công ty mua bán nợ

Việt Nam

Trang 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Đề tài tập trung vào công tác xử lý nợ xấu và tiêu chí đánh giá

công tác xử lý nợ xấu, nghiên cứu thực tiễn tại Công ty DATC

Về không gian: Tài liệu, số liệu nghiên cứu công tác xử lý nợ xấu chủ yếu tại

DATC, các ngân hàng thương mại và các DN để đưa ra những giải pháp phù hợp,

hiệu quả trong thời gian tới

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng hoạt động xử lý tại Công ty trong

giai đoạn 2016 - 2018

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đường lối, chủ trường của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về xử lý nợ xấu cũng như hoạt động mua bán nợ

xấu, kết hợp với các phương pháp:

- Phương pháp thu thập số liệu: Phương pháp tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài từ các luận án, sách chuyên khảo, bài báo khoa học; Phương pháp tìm hiểu, sưu tầm tài liệu về Công ty DATC như các báo cáo hoạt động về mua

bán nợ xấu của Công ty

- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Phương pháp xử lý thông tin;

Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu

- Phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp chuyên gia, phương pháp so

sánh, phương pháp sử dụng đồ thị, bảng biểu

- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu tổng hợp trong thời gian nghiên cứu

để đưa ra các nhận xét, đánh giá diễn giải và quy nạp nhằm làm sáng tỏ vấn đề

nghiên cứu

Trang 12

Ngoài ra, đề tài vận dụng kết quả của một số công trình nghiên cứu khoa học

có liên quan để làm cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề

lý luận và thực tiễn về công tác xử lý nợ xấu tại Công ty mua bán nợ Việt Nam Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý, nghiên cứu và DATC tham khảo vận dụng trong quản

lý hoạt động của Công ty

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY MUA BÁN NỢ

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Nợ xấu

Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp

Bản chất của nợ xấu: Là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước [10]

Nợ xấu là một số tiền được viết bởi các doanh nghiệp như là một tổn thất cho doanh nghiệp và được phân loại như là một khoản chi phí vì nợ cho doanh nghiệp là không thể được thu thập, và tất cả những nỗ lực hợp lý đã được tận dụng để thu thập các số tiền nợ Điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc chi phí của việc theo đuổi hành động hơn nữa trong một nỗ lực để thu thập các khoản nợ vượt quá các khoản nợ của chính nó [8]

Nợ được ngay lập tức bằng văn bản của tín dụng con nợ tài khoản và do đó loại bỏ bất kỳ số dư còn lại trong tài khoản đó Nợ xấu đại diện cho tiền bị mất do một doanh nghiệp là lý do tại sao nó được coi là một khoản chi phí

Trang 14

Phân loại nợ xấu: Trong Thông tư 24/2013/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành có quy định về việc phân loại nợ thì nợ xấu thuộc 3 nhóm:

Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm: Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không có đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

Nhóm nợ nghi ngờ bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần 2 quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai

Nhóm nợ có khả năng mất vốn bao gồm: Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần 2 quá hạn từ 30 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn Vấn đề nợ xấu đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động và tính lành mạnh của các ngân hàng Trên thực tế, nợ xấu đang bào mòn lợi nhuận và làm hụt vốn của các ngân hàng, trong đó, nhiều ngân hàng đã rơi vào trạng thái âm vốn chủ sở hữu

Nguyên nhân của nợ xấu

Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ngân hàng, có thể kể ra một số nguyên nhân sau:

* Nguyên nhân khách quan bên ngoài các tổ chức tín dụng:

Nguyên nhân thuộc về môi trường tự nhiên là sự thay đổi bất ngờ của tự nhiên mang lại thiệt hại nặng nề cho con người

Trang 15

Nguyên nhân thuộc về môi trường kinh tế: chính sách kinh tế vĩ mô như cơ chế điều hành lãi suất, tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu, quy hoạch đất đai, Tình hình kinh tế vĩ mô, chính trị bất ổn, bị cấm vận

Nhân tố thuộc về khách hàng vay: khách hàng sử dụng vay nợ quá mức, sử dụng vốn sai mục đích, năng lực quản trị điều hành yếu kém,cung cấp thông tin không trung thực, rủi ro đạo đức của khách hàng vay,…

* Nguyên nhân chủ quan của các tổ chức tín dung:

Năng lực yếu kém của tổ chức tín dung: Chưa hoàn thiện hoặc chậm đổi mới chính sách tín dụng, chính sách quản trị rui ro rín dụng, thiếu kiểm tra giám sát quy trình cho vay,

Trình độ yếu kém của cán bộ tín dụng không am hiểu năng lực, uy tín, lĩnh vực kinh doanh, triển vọng hiệu quả dự án của khách hang Trình độ, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng còn hạn chế

Rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng có biểu hiện động cơ trục lợi cố tình không tuân thủ quy trình tín dụng, cho vay sai nguyên tắc dẫn đến không thu hồi được nợ vay…

Tác hại của nợ xấu

Thứ nhất, nợ xấu sẽ làm cho tình trạng các bảng cân đối kế toán của các ngân

hàng (NH) vẫn chiếm tỷ lệ nợ xấu cao, đồng nghĩa với việc NH sẽ không thể cho vay

và các DN không tiếp cận được vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Tình trạng này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế của đất nước

trong những năm tiếp theo [10]

Thứ hai, nợ xấu làm cho các chi phí bỏ ra về mặt hữu hình và vô hình đối với

xử lý nợ xấu càng lớn Về mặt hữu hình là việc các tài sản cầm cố tại ngân hàng sẽ ngày càng bị hao mòn, hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng sẽ mất dần, nếu nợ xấu

Trang 16

được xử lý nhanh thì các tài sản này sẽ được đem ra sử dụng nhanh chóng, tạo nên giá trị và giá trị thặng dư cho nền kinh tế Về mặt vô hình khi quá trình xử lý nợ xấu kéo dài, dẫn tới hệ số tín nhiệm của Việt Nam sẽ khó mà duy trì được mức tín nhiệm

như hiện nay, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư

Thứ ba, tỷ lệ nợ xấu đối với lĩnh vực cho vay bất động sản thương mại và bất

động sản dân dụng mặc dù trong các báo cáo là không thật sự lớn, tuy nhiên có thể vì

lý do nào đó trong phương án kinh doanh, số tiền cho vay lẽ ra được rót vào các lĩnh vực sản xuất nhưng kỳ thực lại được rót vào bất động sản hoặc lĩnh vực phi sản xuất Không thể có số liệu thống kê chính thức trong lĩnh vực này nhưng có thể dư nợ cho vay loại này không hề nhỏ đối với nền kinh tế, tình trạng bất động sản xuống giá như thời gian vừa qua càng làm cho nhu cầu đối với bất động sản giảm mạnh, hàng tồn kho về bất động sản ngày càng tăng lên, các DN bất động sản bắt buộc phải liên tục

hạ giá bán nhưng vẫn không thể bán được, quá trình này diễn ra liên tục trong thời gian dài dẫn tới hiện tượng bán tháo, tuột dốc không phanh, khi đã dẫn tới tình trạng bán tháo mà vẫn không có người mua thì số tiền mà các DN bất động sản bán được

cũng không thể nào trả được hết nợ gốc cho ngân hàng [10]

Thứ tư, giải quyết nợ xấu không được xử lý sẽ không cải thiện được năng lực

tài chính của các NH, năng lực tài chính của các NH là tốt thì việc điều hành chính sách tiền tệ mới dễ dàng và hoạt động cung cấp tín dụng cho nền kinh tế mới thực sự

tốt

Thứ năm, tác động của nợ xấu đối với nền kinh tế, đó là cục máu động trong

nền kinh tế Nợ xấu ở mức cao làm cho ngân hang bị sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống, gây tình trạng rối loạn trong hệ thống lưu thông tiên tệ, khủng hoảng

kinh tế, nền kinh tế ách tắc

1.1.2 Xử lý nợ xấu

Trang 17

1.1.2.1 Quan điểm về xử lý nợ xấu

Trong điều kiện nợ xấu ở mức bình thường, chưa đe dọa đến sự an toàn hệ thống tài chính của quốc gia thì việc xử lý nợ xấu được thực hiện theo cơ chế ngân hàng tự xử lý Tuy nhiên, một khi nợ xấu của các TCTD tích tụ đến một quy mô khá lớn, đe dọa trực tiếp đến sự an toàn của hệ thống tài chính, chính phủ các nước thường có những chính sách can thiệp nhằm ứng phó với khủng hoảng và giải quyết hậu quả của nợ xấu như sau:

Nhà nước hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM: Tỷ lệ nợ xấu cao sẽ làm cho các ngân hàng gặp khó khăn trong thanh khoản Để giúp các ngân hàng duy trì hoạt động bình thường và tránh xảy ra hiện tượng rút tiền gửi hàng loạt trong toàn hệ thống, chính phủ thông qua NHTW sử dụng các công cụ khác nhau như tái cấp vốn, cho vay trên thị trường mở, thị trường liên ngân hàng để hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM, ngăn chặn hiệu ứng đỗ vỡ hàng loạt, ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống [8]

Tái cấp vốn và cơ cấu nợ: Chính phủ có thể hỗ trợ cho các thành phần kinh tế vay vốn từ NHTW với lãi suất và kỳ hạn ưu đãi để thanh toán nợ vay NHTM Ngoài

ra, chính phủ còn tái cấp vốn cho các NHTM bằng cách mua cổ phần của các NHTM

để gia tăng thanh khoản cho ngân hàng [8]

Thành lập các tổ chức xử lý nợ xấu: Để giải quyết nợ xấu, ngoài việc hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng, chính phủ còn thành lập các tổ chức với quyền hạn đặc biệt để xử lý nợ xấu Thông thường chính phủ các nước thành lập các công ty xử

lý nợ để tiếp nhận hoặc mua lại nợ xấu từ các ngân hàng và tổ chức tài chính để xử lý thu hồi

1.1.2.2 Phương pháp xử lý nợ xấu

Thông thường, khi xử lý nợ thường có 3 phương pháp cơ bản các ngân hàng đang thực hiện

Trang 18

Thứ nhất, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi vốn

Đây là phương án khả dĩ nhất, nhanh nhất và truyền thống nhất trong các phương án Tuy phải "đấu lý" với khách hàng tại tòa án và phải trải qua đủ các bước kiện tụng và chờ thi hành án thì tài sản đảm bảo mới được phát mại thu được tiền về Trên con đường này, các ngân hàng thường nắm chắc 100% phần thắng vì hợp đồng cầm cố, thế chấp khi cho vay đã quá rõ ràng Việc phát mại tài sản thường đem về cho ngân hàng sự đảm bảo thu hồi vốn vì giá trị tài sản đảm bảo thường được định giá thấp hơn giá trị thực Tuy nhiên, cái khó hiện nay của các ngân hàng là rất nhiều tài sản đảm bảo là bất động sản, nên trong bối cảnh thị trường bất động sản đóng băng hiện nay thì việc xử lý nợ sẽ khó khăn hơn Hiện tại, các Ngân hàng đã thành lập Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) trực thuộc thì nhiệm vụ xử lý các tài sản đảm bảo thường giao cho AMC, đặc biệt là lĩnh vực bất động sản vì luật không cho phép ngân hàng tham gia thị trường bất động sản [8]

Thứ hai, tái cơ cấu nợ và hỗ trợ khách hàng để có thể trả nợ

Đây là biện pháp xử lý tài nợ xấu không mới, nhưng đang được áp dụng ngày càng nhiều hơn và có vẻ nhân đạo hơn Các ngân hàng thay vì đẩy người dân ra khỏi nhà thì ngồi lại bàn bạc, tái cấu trúc và bàn phương án trả nợ như miễn giảm lãi, miễn giảm các khoản phải chi trả thay vì tịch thu nhà đất, đẩy khách hàng của mình ra đường Cách xử lý nợ xấu này ở Việt Nam có lẽ sẽ phù hợp nhiều hơn với các doanh nghiệp Bản thân ngân hàng khi cho vay cần phải kiểm soát được mục đích và quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng Khi có dấu hiệu không trả được nợ, họ có đủ

tư cách để yêu cầu doanh nghiệp tái cấu trúc, đồng thời áp dụng nhiều biện pháp hỗ trợ để doanh nghiệp không bị đẩy vào bước đường phá sản, xuất hiện thêm cơ hội doanh nghiệp làm mới mình, có khả năng trả nợ trong tương lai Ngoài ra, việc biến các khoản nợ thành một phần góp vốn của chủ nợ ở các doanh nghiệp cũng đã được

Trang 19

áp dụng khá nhiều Và thực tế, DN có sự tham gia của ngân hàng đều có một tương lai mới tốt đẹp hơn

Cái quan trọng nhất của biện pháp này là ngân hàng phải nắm được phương án trả nợ cam kết, cũng như các dự định tiến hành của khách hàng để từ đó kiểm soát được tình hình, tránh nợ xấu thêm, cung cấp các tư vấn tài chính, thậm chí là hỗ trợ khi cần thiết Thực tế, Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của Bộ Tài chính (DATC) đã có những thành công khi xử lý các khoản nợ tồn đọng cho các công ty theo hình thức này Tuy nhiên, nhược điểm rất lớn của hình thức này chính là thời gian xử lý một món nợ tương đối lâu, nên rất khó để đáp ứng khối lượng nợ xấu hiện tại của ngân hàng thương mại

Hiện nay, một ý kiến đang gây bất ngờ rất lớn là việc bán các khoản nợ có tài sản đảm bảo cho DATC Tuy nhiên, bản chất việc xử lý nợ có tài sản đảm bảo thường ngân hàng tự xử lý được, không phải bán đi Còn biện pháp tái cơ cấu nợ, chuyển nợ thành vốn góp thì sức lực của ngân hàng Việt Nam không đủ, thì có thể bán sang DATC [8]

Thứ ba, là những khoản nợ chịu không làm gì được

Các khoản nợ dạng không tài sản đảm bảo, không có khả năng tái cơ cấu để trả nợ được và gần như không thể áp dụng các biện pháp thu hồi nợ nào cả Những khoản nợ này thường đã rơi vào nợ nhóm 5 - nợ có nguy cơ mất vốn theo phân loại của NHNN Bản thân các ngân hàng đã phải trích lập 100% dự phòng rủi ro cho các khoản nợ này, rồi tách từ bảng cân đối nội bảng sang ngoại bảng để theo dõi riêng nhằm thu hồi triệt để Tuy nhiên, việc nợ đã rơi vào nhóm 5, đã xuất sang ngoại bảng thì theo dõi thường cũng không có biện pháp gì thu hồi nợ triệt để và ngân hàng đã

bỏ tiền túi của mình ra từ lợi nhuận để bù đắp

1.1.2.3 Mô hình tổ chức xử lý nợ xấu

Trang 20

Mô hình AMC trực thuộc NHTM: vào năm 2001, thông qua Quyết định số 151/2001/QĐ-TTg ngày 05/10/2001 Chính phủ cho phép thành lập các AMC trực thuộc NHTM để xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM Cho đến nay, đã có khoảng 27 AMC trực thuộc các NHTM Do nguồn vốn của các AMC khá nhỏ, quy định pháp lý cho hoạt động mua bán nợ ở Việt Nam còn thiếu nên các AMC này không đủ điều kiện xử lý nợ xấu của ngân hàng mẹ, hoạt động của các AMC này là quản lý, khai thác tài sản xấu cho ngân hàng mẹ

Mô hình các công ty mua bán nợ thuộc sở hữu nhà nước: Nhằm mục đích xử

lý nợ xấu của hệ thống NHTM và hỗ trợ sắp xếp đổi mới DNNN có nợ xấu, vào năm

2003 Chính phủ thành lập DATC trực thuộc Bộ Tài chính để mua và xử lý nợ xấu của các NHTM DATC là tổ chức xử lý nợ xấu tập trung đầu tiên do Chính phủ thành lập nhưng không có địa vị pháp lý đặc biệt nào so với các công ty mua bán nợ trên thế giới

Vào năm 2013, khi nợ xấu gia tăng đến mức báo động, Chính phủ tiếp tục thành lập thêm một tổ chức xử lý nợ tập trung là VAMC trực thuộc NHNN Mục tiêu hoạt động của VAMC là không vì mục tiêu lợi nhuận, được Chính phủ trao cho một

số thẩm quyền đặc biệt như (1) phát hành trái phiếu đặc biệt để mua nợ xấu của TCTD; (2) hỗ trợ tài chính cho khách nợ như cho vay trực tiếp, bảo lãnh vay vốn, mua trái phiếu doanh nghiệp; (3) buộc các TCTD có tỷ lệ nợ xấu trên 3% phải bán nợ cho VAMC Sau một thời gian tập trung mua nợ, VAMC cũng đã triển khai xử lý nợ xấu để thu hồi, tạo thanh khoản cho hệ thống ngân hàng

Như vậy, để giải quyết nợ xấu, ứng phó với khủng hoảng tài chính, ngoài các biện pháp hỗ trợ thanh khoản, tái cấp vốn và cơ cấu lại nợ cho các NHTM, chính phủ các nước thường thành lập các công ty mua bán nợ để xử lý nợ xấu Điều này chứng

Trang 21

tỏ rằng, các công ty mua bán nợ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết

nợ xấu của nền kinh tế

1.2 Công tác xử lý nợ xấu tại Công ty mua bán nợ

1.2.1 Sự hình thành và vai trò của Công ty mua bán nợ trong nền kinh tế thị trường

Khi nợ xấu tăng liên tục ở mức cao mà hệ thống ngân hàng khó có thể giải quyết, chính phủ các nước sẽ phải can thiệp để giảm tỷ lệ này xuống mức an toàn thông qua việc thành lập các công ty quản lý tài sản, công ty mua bán nợ hoặc xây dựng các cơ chế xử lý nợ xấu Nhiều quốc gia châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia… đã thành lập các các công ty quản lý tài sản, hoặc các công ty mua bán nợ với kỳ vọng có thể tối đa hoá giá trị phục hồi của các khoản nợ xấu với

chi phí thấp nhất

Với quy mô nợ xấu trong hệ thống tín dụng rất cần thành lập một công ty mua bán nợ có đủ tiềm lực để xử lý Giải pháp thành lập công ty mua bán nợ để xử lý nợ xấu của hệ thống NHTM là giải pháp tốt để giúp hệ thống NHTM xử lý các khoản nợ xấu Để lý giải vấn đề này, chúng ta hãy xem xét lại tình hình xử lý nợ xấu trên thị

trường và các giải pháp hiện có

Các khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng (TCTD) được xử lý bằng hai cách: cách 1 là bán đấu giá các tài sản đảm bảo của các khoản nợ xấu đã xử lý; cách 2 là

bán nợ xấu cho các TCTD khác hoặc các công ty quản lý tài sản (AMC)

Đối với cách 1, việc bán đấu giá mất rất nhiều thời gian do TCTD phải hoàn thành nhiều thủ tục pháp lý, định giá tài sản, bán đấu giá… Mỗi khi cần bán nợ hoặc bán tài sản siết nợ, TCTD phải thành lập hội đồng xử lý nợ và còn phải mất nhiều công sức hơn để tìm kiếm người mua, chào bán với giá hợp lý để đảm bảo TCTD

không bị thiệt hại

Trang 22

Đối với cách 2, về bản chất, khi các khoản nợ xấu được mua bán giữa các TCTD hoặc qua công ty AMC thì nợ xấu vẫn nằm trong hệ thống ngân hàng nhưng dưới hình thức khác, vì công ty AMC là công ty con, công ty trực thuộc của TCTD Khi các TCTD thực hiện hợp nhất báo cáo tài chính thì những khoản nợ xấu này vẫn nằm trong bảng cân đối kế toán hợp nhất, nhưng dưới một tên gọi khác, ví dụ như là

tài sản Có khác

Công ty mua bán nợ có khả năng huy động các nguồn vốn dài hạn để có thể mua lại các khoản nợ xấu Ở các nước, các quỹ hưu trí, quỹ đầu tư mạo hiểm cũng tham gia rất tích cực trong việc đầu tư vào các công ty hay các quỹ có tính chất tương

tự như công ty mua bán nợ theo đề xuất của nhà nước và có các nguồn vốn dài hạn

để đầu tư mua lại các khoản nợ, các tài sản xấu này Với tình hình và bản chất nguồn vốn ở Việt Nam là phần lớn mang tính ngắn hạn, đây là một yêu cầu lớn đối với công

ty mua bán nợ để có thể hoạt động ổn định và bền vững

Công ty mua bán nợ không những phải có năng lực tài chính mà phải có đội ngũ chuyên gia có khả năng tham gia trực tiếp tái cấu trúc DN, hoặc phải có cơ chế thuê các chuyên gia tư vấn hàng đầu để tái cấu trúc DN Bên cạnh đó, đội ngũ thẩm định, đánh giá tài sản… để hỗ trợ cho các hoạt động của công ty cũng cần được

chuyên nghiệp hóa

Công ty có thể xem xét việc thuê tư vấn bên ngoài để thực hiện các nhiệm vụ trên Trong trường hợp đó, cơ chế thuê tư vấn, tổ chức thực hiện, bảo mật thông tin…

phải được thực hiện hết sức nghiêm túc và chặt chẽ

Một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến hoạt động của công ty mua bán nợ là phương pháp hạch toán kế toán và định giá tài sản vì thông thường, khi thực hiện mua tài sản xấu từ các TCTD, giá mua có thể rất khác so với giá trị thật của tài sản Vì vậy, phương pháp ghi nhận nên được đo lường khi mua như thế nào và sau

Trang 23

đó ghi nhận tiếp theo ra sao, ví dụ tăng giá, giảm giá trong các kỳ kế toán là một vấn

đề cần được xem xét để đảm bảo hoạt động tài chính của công ty mua bán nợ là minh

bạch và rõ ràng

Có thể nói, sự tham gia của công ty mua bán nợ sẽ bổ sung thêm giải pháp thực hiện tái cơ cấu hệ thống NHTM Có thể hình dung công ty mua bán nợ sẽ giúp

giải quyết các vấn đề sau:

- Giúp các TCTD xử lý nhanh các tài sản xấu để thu hồi nguồn tiền TCTD

không phải dùng nguồn lực để theo đuổi các vụ thanh lý tài sản, bán nợ… như trước

đây để tập trung cho hoạt động kinh doanh chính

- Tách các tài sản xấu của các TCTD ra khỏi hệ thống ngân hàng và công ty

mua bán nợ thực hiện các biện pháp tái cơ cấu dễ dàng hơn, ví dụ có thể thành lập các pháp nhân mới, thành lập các liên doanh để xử lý và khai thác tài sản Đây là những nghiệp vụ mà TCTD không dễ dàng thực hiện do bị hạn chế về phạm vi hoạt động, theo đó, các TCTD chỉ tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh ngân hàng và không tập trung vào các lĩnh vực khác ngoài một số lĩnh vực rất hạn chế mà Luật Các

TCTD cho phép;

- Giữ vai trò điều tiết trong trường hợp thị trường có biến động;

- Bên cạnh NHNN là người cho vay cuối cùng, công ty mua bán nợ cũng có

thể được coi là một định chế có thể mua lại tài sản của các TCTD trong trường hợp TCTD có nhu cầu bán để giải quyết nhu cầu thanh khoản hay thu hẹp hoạt động kinh

doanh;

- Thu hút các khoản đầu tư dài hạn của các tổ chức có nguồn vốn dài hạn, ví

dụ từ các công ty bảo hiểm do đặc thù hoạt động của công ty mua bán nợ là đầu tư

vào các tài sản dài hạn

Trang 24

Công ty mua bán nợ phải hoạt động theo mô hình công ty, mà Nhà nước là

một cổ đông lớn và có sự tham gia của các tổ chức tín dụng

1.2.2 Nội dung xử lý nợ xấu của Công ty mua bán nợ

Sau khi mua nợ xấu và nhận chuyển giao quyền chủ nợ, công ty mua bán nợ trở thành chủ nợ mới của các khoản nợ xấu đó Để xử lý thu hồi nợ xấu, công ty mua bán nợ sử dụng các biện pháp như sau :

Đòi nợ trực tiếp từ khách nợ: Cách thức này được áp dụng khi khách nợ tạm

thời gặp khó khăn về tài chính nhưng có thiện chí trả nợ Các biện pháp hỗ trợ đi kèm

là cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng trả nợ của khách nợ, giảm lãi suất Đây là cách thức vừa ít tốn kém chi phí và thời gian, vừa tạo điều kiện cho

khách nợ duy trì và phát triển SXKD, tạo nguồn trả nợ cho công ty mua bán nợ

Tái cơ cấu doanh nghiệp khách nợ: Thông thườngcác doanh nghiệp có nợ xấu

đều có đặc điểm là (i) tình hình tài chính không lành mạnh như quy mô nợ phải trả lớn, tổng nợ phải trả lớn hơn tổng tài sản, lỗ lũy kế lớn dẫn đến vốn chủ sở hữu bị giảm hoặc mất vốn chủ sở hữu, mất khả năng thanh khoản, thiếu vốn kinh doanh; (ii) hoạt động SXKD yếu kém, thua lỗ, năng lực quản trị điều hành yếu kém Để tái cơ cấu doanh nghiệp, công ty mua bán nợ phải phân tích thực trạng tài chính, hoạt động SXKD của khách nợ, nếu đánh giá khách nợ có khả năng phục hồi, giá trị doanh nghiệp khi phục hồi lớn hơn giá trị thanh lý doanh nghiệp thì công ty mua bán nợ áp

dụng biện pháp tái cơ cấu doanh nghiệp để thu hồi nợ:

- Tái cơ cấu tài chính: để lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp,

công ty mua bán nợ triển khai một số biện pháp như đề nghị cổ đông hiện hữu thực hiện giảm vốn cổ phần để đảm bảo vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm về giá trị thực tại thời điểm đánh giá; chuyển một phần nợ xấu thành vốn cổ phần tại doanh nghiệp, gia hạn nợ, giảm lãi suất, xóa bớt nợ cho doanh nghiệp; bổ sung nguồn vốn

Trang 25

mới cho doanh nghiệp hoạt động như phát hành cổ phần cho các nhà đầu tư, tìm

kiếm ngân hàng cho vay vốn mới

- Tái cơ cấu hoạt động: để có thể giám sát chặt chẽ quá trình tái cơ cấu hoạt

động của doanh nghiệp, công ty mua bán nợ sẽ cử người đảm nhiệm các chức vụ trong bộ máy điều hành doanh nghiệp từ vị trí cao nhất đến các cấp trung gian (trưởng, phó phòng ban) Nội dung biện pháp tái cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp là: cắt giảm chi phí, tổ chức lại hoạt động SXKD, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao công tác quản trị doanh nghiệp, tổ chức lại thị trường, tổ chức lại nhân sự, cắt giảm lao động, tập trung vào hoạt động SXKD cốt lõi, cắt giảm những hoạt động SXKD thua lỗ, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp Sau khi doanh nghiệp phục hồi thì công ty mua bán nợ thực hiện thu hồi nợ, bán vốn cổ phần đã góp bằng nợ xấu tại

doanh nghiệp

Có thể nói rằng, tái cơ cấu doanh nghiệp là công việc hết sức khó khăn và phức tạp Để tái cơ cấu doanh nghiệp được thành công thì đòi hỏi phải có sự đồng thuận của tất cả các chủ nợ, cổ đông, ban lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà đầu tư và

các ngân hàng tài trợ vốn mới

Bán nợ: mục đích của việc bán nợ là để rút ngắn thời gian xử lý nợ, tạo thanh

khoản và giảm thiểu rủi ro cho công ty mua bán nợ Phương thức bán nợ là bán thỏa

thuận hoặc bán đấu giá, bán lẻ từng khoản nợ hoặc bán theo lô nhiều khoản nợ

Xử lý tài sản bảo đảm, đòi nợ bên bảo lãnh: đối với các khoản nợ xấu không

thể cơ cấu lại nợ, công ty mua bán nợ phải xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo các hình thức: tịch thu tài sản để gán trừ nợ, sau đó sửa chữa nâng cấp tài sản để bán lại, tự tổ chức bán hoặc ủy thác cho công ty dịch vụ bán đấu giá bán tài sản, thỏa thuận chủ tài sản đứng chủ bán tài sản để trả nợ Đối với các khoản cho vay có bảo lãnh của bên thứ ba, công ty mua bán nợ yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả

Trang 26

nợ thay Xử lý tài sản bảo đảm và đòi nợ bên bảo lãnh không phải là biện pháp ưu tiên của các công ty mua bán nợ: vì thủ tục xử lý rất phức tạp, mất nhiều thời gian và tốn kém chi phí, hiệu quả thu hồi thường không cao Trường hợp này nếu khách nợ

không hợp tác thì sẽ không xử lý được tài sản đảm bảo để thu hồi nợ [26]

Sử dụng các biện pháp pháp lý để xử lý thu hồi nợ: biện pháp này được các

công ty mua bán nợ áp dụng khi khách nợ không hợp tác, thiếu thiện chí trả nợ Cách thức thực hiện biện pháp này là các công ty mua bán nợ khởi kiện khách nợ ra Tòa án

để buộc khách nợ trả nợ, chuyển giao tài sản bảo đảm nợ, phát mại tài sản của khách

nợ, yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo Luật phá sản để thu hồi nợ Việc sử dụng các biện pháp pháp lý để thu hồi nợ thường ít đem lại hiệu quả cao cho các công ty mua bán nợ vì thủ tục phức tạp, mất nhiều thời gian cho việc xử lý tài sản

để thu hồi nợ, tốn kém chi phí [26]

1.2.3 Tiêu chí đánh giá kết quả xử lý nợ xấu

Sự đa dạng cách thức xử lý nợ: đây là chỉ tiêu cho biết công ty mua bán nợ áp

dụng những biện pháp nào để xử lý thu hồi nợ xấu, biện pháp được áp dụng có đa

dạng và linh hoạt hay không

Số trường hợp và tỷ lệ tái cơ cấu doanh nghiệp thành công: chỉ tiêu này phản

ảnh số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp được công ty mua bán nợ tái cơ cấu thành công trong tổng số doanh nghiệp được tái cơ cấu Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả tái cơ cấu doanh nghiệp của công ty mua bán nợ Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả tái cơ cấu

doanh nghiệp càng lớn

Hiệu suất thu hồi nợ: đây là chỉ tiêu phản ảnh chung tỷ lệ của tổng số tiền đã

thu hồi trên tổng giá vốn mua nợ Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả chung về xử lý thu hồi nợ Tuy nhiên, chỉ tiêu này không cho biết mức độ tổn thất của từng phương án

mua nợ riêng lẻ

Trang 27

Tỷ lệ giá trị thu hồi trên giá vốn mua nợ: đây là chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ giá vốn

mua nợ không được thu hồi được trên tổng giá vốn mua nợ trong một chu kỳ nhất định (thường đánh giá trong năm tài chính) Chỉ tiêu này cho biết mức độ tổn thất giá

1.2.4.2 Về nguồn lực của công ty mua bán nợ

Hoạt động xử lý có nhiều rủi ro do chất lượng tài sản rất xấu và khó thu hồi, thời gian thu hồi nợ xấu thường kéo dài nhiều năm Trong khi đó giao dịch mua bán

nợ thường được thực hiện theo phương thức chuyển nhượng nợ, nghĩa là công ty mua bán nợ phải thanh toán ngay tiền mua nợ cho bên bán nợ Để có thể tham gia mua khối lượng lớn nợ xấu từ các ngân hàng thì đòi hỏi quy mô nguồn vốn của công

ty mua bán nợ phải đủ lớn

Hoạt động xử lý nợ xấu có hai vấn đề phức tạp nhất là (i) định giá nợ xấu và (ii) xử lý thu hồi nợ xấu Để giải quyết được hai vấn đề nêu trên, đòi hỏi công ty mua bán nợ phải có những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, kế toán,

Trang 28

kiểm toán, định giá, chứng khoán, mua bán sáp nhập và tái cơ cấu doanh nghiệp Nếu thiếu đội ngũ chuyên gia này thì công ty mua bán nợ sẽ gặp nhiều rủi ro trong hoạt động mua bán nợ xấu

1.2.4.3 Về chính sách xử lý nợ của công ty mua bán nợ

Một trong những nhân tố quyết định mức độ thành công của DATC là chính sách xử lý nợ, nếu biện pháp xử lý nợ của công ty mua bán nợ kém đa dạng sẽ dẫn đến khó thu hồi nợ xấu, thời gian thu hồi có thể kéo dài

1.3 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Công ty mua bán nợ trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3.1 Kinh nghiệm của các công ty mua bán nợ trên thế giới

Kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy, trong khâu xử lý các khoản nợ xấu đã mua

về, hay phục hồi giá trị các tài sản xấu, các AMC quốc gia muốn thành công phải lựa chọn cơ chế xử lý phù hợp với trình độ phát triển của thị trường tài chính quốc gia đó

1.3.1.1 Kinh nghiệm tại Trung Quốc

Nợ xấu tăng cao đang gây nhiều hệ lụy cho nền kinh tế, đòi hỏi phải khẩn trương được xử lý Thế nhưng, xử lý nợ xấu là một vấn đề rất phức tạp Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia có mức nợ cao như Trung Quốc (1995-1996) với tỷ

lệ nợ xấu trên tổng dư nợ lên tới 40% Bên cạnh đó, việc xử lý nợ xấu phải được tiến hành song song với quá trình cơ cấu lại hoạt động của các DN, cơ cấu lại nền kinh tế Nguồn tài chính để xử lý nợ xấu ban đầu thường do ngân sách Nhà nước (NSNN) bỏ

ra với nhiều hình thức khác nhau như cấp ngân sách, trái phiếu và các khoản vay khác [12]

Trung Quốc là quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam đã thực hiện 3 biện pháp tái cấu trúc nợ của DNNN Phương thức thứ nhất, là thông qua hệ thống ngân hàng và được thực hiện thông qua Quỹ bảo hiểm tiền gửi của ngân hàng

Trang 29

Phương thức thứ hai, thông qua nguồn từ NSNN và Chính phủ bơm vốn cho các DNNN để trả nợ ngân hàng Phương thức thứ ba, là thông qua các định chế tài chính trung gian, thực chất của biện pháp này là chuyển nợ thành cổ phần Theo kết quả mà Trung Quốc đã xử lý nợ xấu từ 3 biện pháp trên thì cách tốt nhất là xử lý nợ xấu thông qua các định chế trung gian Trong giai đoạn xử lý nợ xấu khối DNNN, Ủy ban Quản lý giám sát tài sản Nhà nước Trung Quốc (SASAC) đóng vai trò trung tâm trong quá trình xử lý nợ và phân loại nợ cũng như đàm phán với các DN, các chủ nợ

để đưa ra các phương án mua lại hay tham gia vào quá trình tái cấu trúc DNNN

SASAC cùng với 4 công ty lớn quản lý tài sản Nhà nước (AMC) gồm: Công

ty Quản lý tài sản Đông Phương, Công ty Quản lý tài sản Tín Đạt, Công ty Quản lý tài sản Hoa Dung, Công ty Quản lý tài sản Trường Thành đã góp phần phát triển thị trường mua bán nợ ở Trung Quốc Và thị trường mua bán nợ được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Ở thị trường sơ cấp các AMC tiến hành mua lại nợ xấu của các DN hay tài sản xấu của các NHTM, sau đó một phần được xử lý trực tiếp, một phần được bán lại trên thị trường thứ cấp Trong kết quả điều tra các nhà đầu tư mua bán nợ trên thị trường tài sản Trung Quốc năm 2008, có đến 41,13% nhà đầu tư có xu hướng mua những gói tài sản, 58,87% có xu hướng mua những tài sản đã phân tách Điều này cho thấy, các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào những khoản tài sản xấu được liệt

kê rõ ràng, giá trị nhỏ, đã được phân tách

1.3.1.2 Kinh nghiệm tại Nhật Bản

Cũng xử lý nợ xấu thông qua Tổng công ty tái thiết công nghiệp (IRCJ), Nhật Bản đã định vị IRCJ có một vai trò quan trọng trong xử lý nợ kết hợp với tái cấu trúc của các DN Việc phục hồi nợ thông qua tái cấu trúc được IRCJ thực hiện qua từng bước: Tiết giảm các khoản nợ của các DN từ các ngân hàng, bơm vốn trực tiếp hoặc

Trang 30

kêu gọi các nhà đầu tư bơm vốn vào DN Tham gia vào quá trình tái cấu trúc làm sạch tình hình tài chính của DN, nâng cao năng lực quản trị DN cũng như phát triển mảng kinh doanh của DN Tuy nhiên, IRCJ không tham gia vào quá trình kinh doanh

mà chỉ đóng vai trò là cơ quan hỗ trợ DN trong việc xây dựng các chiến lược kinh doanh, giúp DN cải thiện trình độ của đội ngũ quản lý Khi hoàn thành tái cấu trúc Tổng công ty này rút vốn khỏi DN thông qua các hoạt động mua bán và sáp nhập [12]

Tính đến cuối năm 2016, trước khi giải thể, IRCJ đã hỗ trợ xử lý nợ xấu và tái cấu trúc cho 41 công ty, loại bỏ 10% tổng số nợ xấu và giảm tỷ lệ nợ xấu còn 1,8% vào tháng 3/2016 Hệ thống ngân hàng Nhật Bản đã phải sử dụng tương đương khoảng 25% GDP để tiến hành xử lý nợ, trong đó Chính phủ đóng góp 7% GDP

1.3.1.3 Kinh nghiệm tại Hàn Quốc

Điều quan trọng nhất trong việc xử lý nợ xấu là công tác định giá nợ xấu Đối với mỗi quốc gia, hoạt động tiếp nhận nợ xấu được áp dụng theo nhiều cách khác nhau và phụ thuộc vào hành lang pháp lý, chính sách của mỗi quốc gia đó Đơn cử tại Hàn Quốc, Công ty Quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) mua các khoản nợ xấu của các tổ chức tài chính dựa trên các tiêu chí nhất định, bằng nhiều phương pháp khác nhau Khi một tổ chức tài chính đề nghị bán nợ xấu, KAMCO sẽ phân tích, định giá

và đàm phán với bên bán về giá bán cuối cùng

Vào thời gian đầu, việc định giá nợ xấu của KAMCO được dựa trên khả năng mất vốn của các khoản nợ, theo các quy định về an toàn vốn Vào giai đoạn sau, KAMCO tiến hành định giá nợ xấu dựa trên đặc điểm của từng khoản nợ Tính trung bình, KAMCO trả 36% giá trị sổ sách các khoản nợ xấu công ty này mua (tức được chiết khấu 64%) Các khoản nợ xấu có thế chấp có giá trung bình bằng 67% giá trị sổ

Trang 31

sách, còn các khoản nợ xấu không có thế chấp có giá trị trung bình khoảng 11% giá trị sổ sách

Xét tổng thể thì KAMCO đã định giá cao hơn mức giá trung bình trong giai đoạn đầu Sau đó, việc định giá sát với thị trường hơn, kích thích các công ty mua bán nợ xấu tư nhân tham gia mạnh hơn vào quá trình này

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt nam

Tổng kết kinh nghiệm xử lý nợ xấu trong tiến trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng trên thế giới, có thể đưa ra 3 bước cơ bản để xử lý nợ xấu đối với Việt Nam Cụ thể:

Thứ nhất, hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ thông qua việc bơm vốn cho các ngân hàng và định chế tài chính nhằm đối phó với khủng hoảng Thứ hai, thành lập công ty quản lý tài sản hoặc công ty mua bán nợ để thu mua nợ xấu Cơ quan này sẽ đứng ra mua lại các khoản nợ xấu ngân hàng, sau đó xử lý để bán lại các khoản nợ đã mua này Thứ ba, tạo ra một cơ chế thỏa thuận xử lý nợ xấu giữa các tổ chức tín dụng và bên đi vay nhằm thương lượng phương án xử lý nợ dưới nhiều hình thức như: thanh

lý tài sản, gia hạn hợp đồng và điều chỉnh một số điều khoản của hợp đồng

Từ những ưu và khuyết điểm của mô hình công ty mua bán nợ do nhà nước cấp vốn và tư nhân góp vốn và thực tiễn mô hình này ở tại các công ty xử lý nợ ở châu Á, từ những kinh nghiệm này vận dụng hiệu quả mô hình công ty mua bán nợ xấu tại Việt Nam cho phù hợp Nhiều ý kiến cho rằng việc đặt ra thành lập một công

ty mua bán nợ xấu của hệ thống ngân hàng có lẽ không phù hợp bởi lẽ nợ xấu của nền kinh tế tập trung vào nợ xấu ngân hàng mà trên thực tế DATC cũng đã xử lý chủ yếu số nợ của doanh nghiệp cũng có nguồn gốc là nợ xấu ngân hàng Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì nợ xấu luôn tồn tại một cách khách quan, chỉ mức độ là khác nhau ở những thời kỳ khác nhau nên mua bán nợ cũng là một thị trường, cần có

Trang 32

một định chế của Nhà nước là rất quan trọng bởi nợ xấu cần phải kiểm soát và điều tiết chủ động bằng biện pháp kinh tế

Thứ tư, Việc xử lý nợ xấu thành công còn phụ thuộc vào việc phân loại các khoản vay và nợ xấu của ngân hàng, mà vấn đề này không có một quy định chung trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, việc này được coi là một trong những chính sách thận trọng để đảm bảo hệ thống ngân hàng vận hành ổn định và có thể chịu được các

cú sốc Khi nợ xấu đã ở một phạm vi lớn, cần tới vai trò của Nhà nước mới có thể xử

lý được, nhiều quốc gia đã thành lập các AMC quốc gia

Kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy, trong khâu xử lý các khoản nợ xấu đã mua

về, hay phục hồi giá trị các tài sản xấu, các AMC quốc gia muốn thành công phải lựa chọn cơ chế xử lý phù hợp với trình độ phát triển của thị trường tài chính quốc gia đó

Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã thành lập Công ty mua bán nợ quốc gia Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, ý tưởng này là cần thiết, nhằm khơi thông dòng vốn đang tắc nghẽn từ ngân hàng đến DN Vì với khoảng 20 Công ty mua bán tài sản

và xử lý nợ của các NHTM, khó xử lý khối nợ xấu khá lớn và liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như hiện nay

Tiểu kết chương

Chương 1 trình bày những lý luận cơ bản về mua bán nợ nói chung trong thị trường tài chính và hoạt động mua bán, xử lý nợ của các công ty mua bán nợ trên thế giới Với những nội dung Nợ xấu; Nguyên nhân và tác hại của nợ xấu, phương thức

xử lý nợ xấu; Công tác mua và xử lý nợ xấu tại Công ty Mua bán nợ; Nhân tố ảnh hưởng mua và xử lý nợ của công ty mua bán nợ và Kinh nghiệm xử lý nợ xấu thế giới đối với Công ty mua bán nợ và bài học kinh nghiệm cho Việt nam Đây là những

cơ sở lý luận, tiền đề quan trọng cho việc khảo sát, phân tích thực trạng xử lý nợ của DATC và đưa ra các giải pháp hoàn thiện có căn cứ khoa học

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY

TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MUA BÁN NỢ VIỆT NAM

2.1 Khái quát về Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Ngày 05 tháng 06 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 109/2003/QĐ-TTg thành lập Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) trực thuộc Bộ Tài chính DATC hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0106000093 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 12 tháng 12 năm 2003, DATC có trụ sở chính tại 51 Quang Trung, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội [2] [3]

Theo Quyết định 109/2003/QĐ-TTg ngày 05/06/2003 của Thủ tướng Chính phủ, DATC được thành lập để xử lý nợ xấu và tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, vật tư hàng hóa kém phẩm chất, nhằm góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình sắp xếp và chuyển đổi DNNN

Việc ra đời của DATC gắn liền với định hướng chính trị và phát triển kinh tế của nhà nước theo tinh thần Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX là nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN và NHTM Nhà nước, làm lành mạnh hóa tình hình tài chính cho các doanh nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế

2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý

DATC hoạt động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

do nhà nước làm chủ sở hữu, mô hình quản lý có Hội đồng thành viên theo quy định

Trang 34

của Luật doanh nghiệp Theo Quyết định số 1494/2011/QĐ-BTC ngày 30/6/2011 của

Bộ trưởng Bộ Tài chính thì cơ cấu tổ chức của DATC gồm:

- Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước và thực hiện chức năng giám sát hoạt động của DATC là Bộ Tài chính thông qua Cục Tài chính doanh nghiệp

- Cơ quan quản lý của DATC là Hội đồng thành viên gồm có 5 thành viên chuyên trách, đứng đầu là Chủ tịch Hội đồng thành viên

- Giúp việc cho Hội đồng thành viên là Ban kiểm soát gồm có 3 thành viên hoạt động chuyên trách

- Cơ quan điều hành DATC là Ban giám đốc gồm có Tổng giám đốc, 3 phó Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của DATC

- Bộ máy giúp việc gồm 10 Ban chức năng, 2 Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, 1 Trung tâm giao dịch mua bán nợ tại Hà Nội

Qua thời gian hoạt động hơn 10 năm, DATC đã thiết lập được quan hệ kinh doanh với hệ thống các NHTM trong nước như BIDV, Vietcombank, Vietinbank, Agribank và các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước

Ngoài ra, DATC cũng đã mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xử

lý nợ xấu với nhiều tổ chức như WB, ADB, KAMCO, WOORI, Công ty tư vấn Luật Baker & Mckenzie, Ernst & Young … nhằm nâng cao năng lực hoạt động cho DATC Có thể nói, đây là hướng đi đúng đắn giúp DATC học hỏi được những kinh nghiệm, kỹ thuật xử lý nợ xấu từ các tổ chức tài chính quốc tế, tạo tiền đề cho DATC phát triển thành một tổ chức xử lý nợ xấu chuyên nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam [3]

Trang 35

Sơ đồ tổ chức của DATC như sau:

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của DATC

Tổng số cán bộ của DATC đến thời điểmcuối năm 2018 là 230người, trong đó

có 132 người làm việc tại trụ sở chính và 60 người làm việc tại các Chi nhánh, Trung tâm Lao động được phân loại theo trình độ chuyên môn như sau:

+ Trình độ trên đại học : 50 người

+ Trình độ đại học : 142 người

+ Trình độ cao đẳng : 02 người

+ Trình độ trung cấp, sơ cấp : 17 người

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty mua bán nợ Việt Nam

2.1.3.1 Chức năng của DATC

Theo Quyết định 109/2003/QĐ-TTg ngày 05/06/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập DATC và Thông tư số 135/2015/TT-BTC ngày 31/8/2015 của

Trang 36

Bộ Tài chính về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của DATC, có thể thấy DATC thực hiện đồng thời hai chức năng:

- Chức năng kinh doanh: DATC sử dụng vốn nhà nước giao để kinh doanh những ngành nghề đã đăng ký (chủ yếu là mua bán nợ xấu và tài sản tồn đọng) theo nguyên tắc thị trường, đảm bảo có lãi, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước giao

- Chức năng chính trị - xã hội: DATC được xác định là công cụ của Chính phủ

để xử lý nợ xấu của NHTM tại các doanh nghiệp, nhằm góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp và các NHTM, thúc đẩy chuyển đổi sở hữu DNNN [2] [3]

2.1.3.2 Nhiệm vụ của DATC

Theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của DATC ban hành kèm theo Thông tư số 135/2015/TT-BTC ngày 31/8/2015 của Bộ Tài chính, DATC được giao nhiệm vụ là mua các khoản nợ tồn đọng để xử lý thu hồi [3]

Như vậy, cùng với các TCTD và định chế tài chính khác, DATC đã được Chính phủ giao nhiệm vụ xử lý nợ xấu trong hệ thống các TCTD, hỗ trợ xử lý tài chính và tái cơ cấu doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng Các hoạt động của DATC được quy định như sau:

+ Mua các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng bằng các hình thức: thỏa thuận trực tiếp với chủ nợ; mua thông qua đấu thầu, đấu giá; mua theo chỉ định của Chính phủ

+ Tiếp nhận để xử lý các khoản nợ và tài sản loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN Đây không phải là nhiệm vụ kinh doanh của DATC Các khoản nợ phải thu khó đòi và tài sản kém, mất phẩm chất, không cần dùng bị loại khỏi giá trị sổ sách của DNNN khi cổ phần hóa được DATC tiếp nhận và xử lý thu hồi nộp NSNN

Trang 37

+ Xử lý các khoản nợ và tài sản đã mua bằng các biện pháp: đòi nợ trực tiếp từ khách nợ hoặc đòi nợ thông qua các tổ chức cung cấp dịch vụ đòi nợ hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; bán các khoản nợ và tài sản đã mua theo phương thức thỏa thuận trực tiếp, chào giá cạnh tranh, đấu giá công khai; tái cơ cấu doanh nghiệp khách nợ; sửa chữa, nâng cấp tài sản để bán, cho thuê, đầu tư, tổ chức SXKD, liên doanh khai thác tài sản

+ Được sử dụng vốn để đầu tư trực tiếp bằng các hình thức mua cổ phiếu, trái phiếu, góp vốn liên doanh và thoái vốn để thu hồi vốn đầu tư

+ Triển khai các hoạt động tư vấn và môi giới về xử lý nợ, mua bán và sáp nhập doanh nghiệp, tái cơ cấu doanh nghiệp

+ Thực hiện các hoạt động thẩm định giá, bán đấu giá nợ và tài sản

Theo quy định, hoạt động chính của DATC là mua và xử lý nợ tồn đọng của các chủ nợ Trong thời gian vừa qua, DATC chủ yếu mua và xử lý nợ xấu của các NHTM Đây là hoạt động trọng tâm, phù hợp với mục tiêu của Chính phủ trong giai đoạn tái cơ cấu hệ thống TCTD Việt Nam

2.1.4 Các hoạt động của DATC thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính

+ Mua, bán, xử lý các khoản nợ và tài sản (bao gồm cả tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản trên đất được sử dụng để đảm bảo cho các khoản nợ)

+ Tiếp nhận, xử lý các khoản nợ và tài sản đã loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp khi thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu DNNN

+ Mua, bán, xử lý các khoản nợ và tài sản gắn với tái cơ cấu doanh nghiệp + Tư vấn xử lý nợ, tài sản

+ Tư vấn mua, bán, sáp nhập, tái cơ cấu doanh nghiệp

Trang 38

+ Quản lý, xử lý, khai thác tài sản đảm bảo khoản nợ, tài sản nhận gán nợ và tài sản đã mua (bao gồm tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản trên đất được sử dụng

để đảm bảo cho các khoản nợ)

+ Thực hiện các hoạt động thẩm định giá, đấu giá trên cơ sở đảm bảo đầy đủ các điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật

2.2 Thực trạng nợ xấu ở Việt Nam và công tác xử lý nợ xấu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam

2.2.1 Thực trang nợ xấu ở Việt Nam

Theo các Báo cáo của Ngân hàng nhà nước, tỷ lệ nợ xấu của các TCTD ở nước ta tăng từ 2,5% vào năm 2009; 2,1% năm 2010, lên 3,3% vào 2011, đến tháng 3/2012 con số này đã là 8,6%, vào tháng 6/2012 đạt mức 10% ứng với số tuyệt đối về tổng nợ xấu là 256.000 tỷ đồng Giai đoạn tiếp theo, dư nợ xấu có xu hướng giảm nhanh, tính đến tháng 2/2013 tổng nợ xấu là 176.258 tỷ đồng, chiếm 6% tổng dư nợ Đến cuối tháng 9/2013 (thời điểm VAMC bắt đầu mua nợ), tổng nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống TCTD tiếp tục giảm nhẹ, chiếm 4,62% tổng dư nợ, tương đương 152.600 tỷ đồng và tính đến 31/12/2013 tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ còn là 3,74%, tương đương 125.555 tỷ đồng Cũng theo Ngân hàng Nhà nước, nếu không thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 cho phép

Trang 39

cơ cấu lại nợ và không xử lý bằng dự phòng rủi ro trong năm 2012 và năm 2013, thì

tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống các TCTD lên tới 12,7% [13]

Theo số liệu mới nhất về nợ xấu khối ngân hàng, tính đến cuối tháng 12/2015,

nợ xấu toàn ngành chiếm 2,93% tổng dư nợ (4.215.059 tỷ đồng), tương đương 123.549 tỷ đồng, mặc dù từ 01/10/2013 đến tháng 8/2015, VAMC đã mua được 245.000 tỷ đồng nợ xấu từ các tổ chức tín dụng nhưng số nợ xấu của các tổ chức tín dụng vẫn tiếp tục phát sinh Theo đánh giá tại Báo cáo ngày 25/12/2016 của Ủy Ban giám sát tài chính quốc gia tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn hệ thống giảm nhẹ từ 2,9% năm 2015 xuống 2,8% tổng dư nợ (5.505.406 tỷ đồng) năm 2016 tương đương 154.636 tỷ đồng (Bảng 2.1)

Nhìn chung về bản chất, nợ xấu là do khách hàng vay và sử dụng vốn vay không hiệu quả, nó thường phát sinh sau một chu kỳ vay vốn, thậm chí sau một thời gian dài Do đó nợ xấu là vấn đề luôn tồn tại trong hoạt động của các TCTD, nếu tính

số nợ xấu của nền kinh tế và số nợ xấu VAMC đang quản lý thì tổng số nợ xấu chưa

xử lý khoảng 400.000 tỷ đồng [13]

Bảng 2.1 Nợ xấu của toàn hệ thống TCTD đến 2018

Nguồn: Báo cáo của NHNN

Trang 40

Những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu của nước ta

Thứ nhất, do môi trường kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình kinh doanh

và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm

Kể từ cuối năm 2008, nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao Những tác động tiêu cực này khiến cho Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tổng cầu chậm lại, trong 6 tháng đầu năm 2012, tăng trưởng kinh tế ước chỉ đạt 4,38% so với cùng kỳ năm 2011 Các chỉ số tiêu dùng (Gồm cả chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp và chỉ số tiêu dùng cá nhân) tăng chậm so với cùng kỳ các năm trước Trong khi đó, tại các doanh nghiệp chỉ số tồn kho tăng mạnh và ở mức cao so với cùng kỳ các năm trước, tại thời điểm 01/6/2012, chỉ số hàng tồn kho của ngành công nghiệp chế biến tăng 26% so với cùng kỳ năm 2011 Hàng tồn kho nhiều dẫn đến đọng vốn trong sản xuất kinh doanh và làm tăng nợ xấu của các TCTD Bên cạnh đó, rất nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế

Vì vậy, khi môi trường kinh doanh xấu đi, chính sách kinh tế vĩ mô thắt chặt, lãi suất tăng, đồng thời tiêu thụ hàng hoá khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến điều kiện tài chính, kết quả kinh doanh và khả năng trả nợ vay ngân hàng của doanh nghiệp Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động tăng nhanh: Năm 2011 có 79.014 doanh nghiệp và tính từ đầu năm đến ngày 21/6/2012 có khoảng 25.250 doanh nghiệp, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2011 (23.358 doanh nghiệp bị phá sản trong 6 tháng đầu năm 2011)

Thứ hai, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ngân hàng là do năng lực quản trị rủi ro

tại mỗi ngân hàng còn kém

Ngày đăng: 23/07/2019, 06:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2010), Quyết định số 1494/QĐ-BTC ngày 30/6/2010 về việc phê duyệt đề án chuyển đổi Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán nợ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1494/QĐ-BTC ngày 30/6/2010 về việc phê duyệt đề án chuyển đổi Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán nợ Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
2. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 135/2015/TT-BTC ngày 31/8/2015 về việc Ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 135/2015/TT-BTC ngày 31/8/2015 về việc Ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty trách nhiệm hữu hạn Mua bán nợ Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2015
3. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 134/2016/TT-BTC ngày 08/9/2016 của Bộ Tài chính về việc Ban hành Quy chế quản lý tài chính của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán nợ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 134/2016/TT-BTC ngày 08/9/2016 của Bộ Tài chính về việc Ban hành Quy chế quản lý tài chính của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Mua bán nợ Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
4. Chính phủ (2014), Nghị định số 01/2014/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 03/01/2014 Nghị định về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 01/2014/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 03/01/2014 Nghị định về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
5. Chính phủ (2015), Nghị định số 34/2015/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 31/03/2015 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 53/2013/NĐCP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 34/2015/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 31/03/2015 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 53/2013/NĐCP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
7. Phan Hoài Hiệp (2012), “Trả giá vì chậm phản ứng nợ xấu, bài học từ Nhật Bản”, Tạp chí Đầu tư chứng khoán, 145 (1241), tr. 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trả giá vì chậm phản ứng nợ xấu, bài học từ Nhật Bản”
Tác giả: Phan Hoài Hiệp
Năm: 2012
8. Đào Duy Huân (2013), “Hiện trạng thị trường mua bán nợ Việt Nam và chính sách phát triển”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, 8(18),tr. 21-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng thị trường mua bán nợ Việt Nam và chính sách phát triển”
Tác giả: Đào Duy Huân
Năm: 2013
9. Tô Ngọc Hưng (2012), “Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và những bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học đào tạo ngân hàng, (125), tr.60-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và những bài học cho Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học đào tạo ngân hàng
Tác giả: Tô Ngọc Hưng
Năm: 2012
10. Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc (2011), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Kinh Tế TP.HCM, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Tác giả: Trầm Thị Xuân Hương, Hoàng Thị Minh Ngọc
Nhà XB: NXB Kinh Tế TP.HCM
Năm: 2011
11. Joel Bessis (2012), Quản trị rủi ro trong ngân hàng, NXB Lao Động Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị rủi ro trong ngân hàng
Tác giả: Joel Bessis
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội
Năm: 2012
12. Nguyễn Thị Mùi (2012), “Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam và giải pháp tháo gỡ”, Tạp chí Tài chính, (11), tr. 6-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam và giải pháp tháo gỡ”, "Tạp chí Tài chính
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi
Năm: 2012
13. Ngân hàng thế giới (2013), Điểm lại cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm lại cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Năm: 2013
16. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng và các văn bản sửa đổi, bổ sung, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng và các văn bản sửa đổi, bổ sung
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2010
18. Ngân hàng Nhà nước (2013), Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 6/9/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 6/9/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2013
19. Ngân hàng Nhà nước (2014), Thông tư số 09/2014/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 18/03/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 09/2014/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 18/03/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2014
20. Ngân hàng Nhà nước (2015), Thông tư số 14/2015/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 28/08/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 19/2013/TT-NHNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 14/2015/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước ngày 28/08/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 19/2013/TT-NHNN
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2015
23. Quỹ tín thác ASEM II (2006), Dự án hỗ trợ xử lý nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án hỗ trợ xử lý nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp
Tác giả: Quỹ tín thác ASEM II
Năm: 2006
25. Thủ Tướng Chính phủ (2013), Đề án “xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng” và Đề án “thành lập Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)” theo Quyết định số 843/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ banh hành ngày 31/5/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng” và Đề án “thành lập Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)
Tác giả: Thủ Tướng Chính phủ
Năm: 2013
26. Nguyễn Thị Kim Thanh (2012), “Lựa chọn mô hình xử lý nợ xấu ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, (11), tr. 14-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn mô hình xử lý nợ xấu ở Việt Nam”, "Tạp chí Tài chính, (11)
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Thanh
Năm: 2012
27. Phạm Mạnh Thường (2005), “Xử lý nợ tồn đọng doanh nghiệp thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế: Kinh nghiệm Hàn Quốc và bài học với Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế chính trị thế giới, 10(114), tr. 23-37.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý nợ tồn đọng doanh nghiệp thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế: Kinh nghiệm Hàn Quốc và bài học với Việt Nam
Tác giả: Phạm Mạnh Thường
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm