Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã tạo ra những khó khăn và thử thách cho doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó để có thể khẳng định được mình, doanh nghiệp cần nắm vững được tình hình cũng như kết quả sản xuất kinh doanh. Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến tình hình tài chính trong doanh nghiệp, vì nó quan hệ trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và ngược lại. Việc phân tích tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ được thực trạng hoạt động tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp cũng như xác định được một cách đầy đủ, đúng đắn, nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông tin có thể đánh giá được tiềm năng, hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như những rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanh nghiệp để họ có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý tài chính, nâng cao chất lượng hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tài chính doanh nghiệp vì nó phản ánh một cách tổng hợp nhất tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, những thông tin mà báo cáo tài chính cung cấp là chưa đủ vì nó không giải thích cho người quan tâm biết rõ về hoạt động tài chính, những rủi ro, triển vọng và xu hướng phát triển của doanh nghiệp. Các hệ số tài chính sẽ giúp bổ sung những khiếm khuyết này trong quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp. Phân tích báo cáo tài chính và các hệ số tài chính cơ bản là con đường ngắn nhất để tiếp cận bức tranh toàn cảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp mình, thấy được cả ưu và nhược điểm cũng như nguyên nhân của những nhược điểm đó để có thể định hướng kinh doanh đúng đắn trong tương lai. Với lượng kiến thức còn nhiều hạn chế, nhóm nghiên cứu khó thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện bài đề tài. Nhóm nghiên cứu chọn đề tài “ Phân tích các vấn đề mà doanh nghiệp gặp phải dựa trên báo cáo tài chính”. Thông qua đề tài này, nhóm muốn vận dụng những hiểu biết của mình trình bày cụ thể về quá trình phân tích tài chính tại doanh nghiệp đặc biệt là những nguyên nhân, uu điểm, hạn chế đồng thời đưa ra những giải pháp, kiến nghị để giúp tình hình kinh doanh của doanh nghiệp ngày một tốt hơn.
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÁO CÁO CUỐI KÌ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ MÀ DOANH
NGHIỆP GẶP PHẢI DỰA TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Giảng viên hướng dẫn: ThS PHẠM NGỌC BẢO DUY
Môn: ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH DỮ LIỆU LỚN TRONG QUẢN LÝ Nhóm sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Thái Nguyễn Diệp Phương Ân
Võ Tú Quyên Hoàng Nguyễn Yến Nhi Trịnh Phương Loan
TPHCM, THÁNG 7 NĂM 2019
71505258 71505194 71505065 71505038 71505209
Trang 6BẢNG ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN
ST
Công việc được giao
Tham gia họp nhóm (%)
Mức độ hoàn thành công việc (%)
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Để làm được bài báo cáo cuối kì môn “Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn trong quảnlý” Ngoài sự cố gắng học tập của nhóm, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đếnthầy đã đưa ra những lời hướng dẫn tận tình trong bài cuối kì lần này để chúng em có thểlàm được bài báo cáo theo đúng hướng nhất, hướng làm hướng trình bày của từng phần.Hơn thế nữa, thầy cũng đã hướng dẫn giúp chúng em nhìn ra và phân tích được các vấn
đề mà doanh nghiệp đang gặp thông qua báo cáo tài chính Chính nhờ sự giúp đỡ tận tìnhcủa thầy, chúng em đã thu thập thêm những kiến thức mới về phân tích dữ liệu, hiểu sâuhơn về các vấn đề mà các doanh nghiệp đang gặp phải
Và một lời cám ơn khác, em xin kính gởi đến Khoa Quản trị kinh doanh trường đạihọc Tôn Đức Thắng đã tạo điều kiện cho chúng em có cơ hội để tìm hiểu sâu hơn về môn
“Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn trong quản lý”
Vì là lần đầu tiên được tiếp xúc với một môn học mới lạ, nên còn gặp phải nhiều saisót trong quá trình làm bài báo cáo Nhưng đây là bài báo cáo mà nhóm chúng em đã đặtnhiều tâm huyết và đầu tư Nếu có sự sai sót gì xin thầy cho chúng em xin thêm nhữnglời nhận xét để hoàn thiện vốn kiến thức hơn
Trang 8MỤC LỤC
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sựhội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữacác thành phần kinh tế đã tạo ra những khó khăn và thử thách cho doanh nghiệp Trongbối cảnh đó để có thể khẳng định được mình, doanh nghiệp cần nắm vững được tình hìnhcũng như kết quả sản xuất kinh doanh Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp phải luônquan tâm đến tình hình tài chính trong doanh nghiệp, vì nó quan hệ trực tiếp đến kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh và ngược lại
Việc phân tích tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấptrên thấy rõ được thực trạng hoạt động tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳcủa doanh nghiệp cũng như xác định được một cách đầy đủ, đúng đắn, nguyên nhân vàmức độ ảnh hưởng của các nhân tố thông tin có thể đánh giá được tiềm năng, hiệu quảsản xuất kinh doanh cũng như những rủi ro và triển vọng trong tương lai của doanhnghiệp để họ có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu, những quyết định chính xác nhằmnâng cao chất lượng công tác quản lý tài chính, nâng cao chất lượng hiệu quả sản xuấtkinh doanh trong doanh nghiệp
Báo cáo tài chính là tài liệu chủ yếu dùng để phân tích tài chính doanh nghiệp vì nóphản ánh một cách tổng hợp nhất tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, những thông tin mà báo cáo tàichính cung cấp là chưa đủ vì nó không giải thích cho người quan tâm biết rõ về hoạt độngtài chính, những rủi ro, triển vọng và xu hướng phát triển của doanh nghiệp Các hệ sốtài chính sẽ giúp bổ sung những khiếm khuyết này trong quá trình phân tích tài chínhdoanh nghiệp Phân tích báo cáo tài chính và các hệ số tài chính cơ bản là con đườngngắn nhất để tiếp cận bức tranh toàn cảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp mình,thấy được cả ưu và nhược điểm cũng như nguyên nhân của những nhược điểm đó để cóthể định hướng kinh doanh đúng đắn trong tương lai
Với lượng kiến thức còn nhiều hạn chế, nhóm nghiên cứu khó thể tránh khỏi những
thiếu sót trong quá trình thực hiện bài đề tài Nhóm nghiên cứu chọn đề tài “ Phân tích
các vấn đề mà doanh nghiệp gặp phải dựa trên báo cáo tài chính” Thông qua đề tài
này, nhóm muốn vận dụng những hiểu biết của mình trình bày cụ thể về quá trình phântích tài chính tại doanh nghiệp đặc biệt là những nguyên nhân, uu điểm, hạn chế đồngthời đưa ra những giải pháp, kiến nghị để giúp tình hình kinh doanh của doanh nghiệpngày một tốt hơn
Trang 10PHÂN TÍCH CÁC VẤN ĐỀ MÀ DOANH NGHIỆP GẶP PHẢI DỰA TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CHƯƠNG I: TÓM TẮT QUÁ TRÌNH ỨNG DỤNG CƠ SỞ DỮ LIỆU LỚN VÀO HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ NÊU RA VẤN ĐỀ
1 Tóm tắt quá trình ứng dụng cơ sở dữ liệu lớn vào hoạt động kinh doanh 1.1 Giới thiệu cơ sở dữ liệu lớn và những lợi ích mang lại
Trong cuộc sống ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng về kinh tế, xã hội, ytế,… ngành công nghệ cũng có sự tăng trưởng vượt bậc Sự ra đời của nhiều phần mềm
và thiết bị công nghệ cao dần thay thế những phương thức thủ công truyền thống Khi đềcập đến công nghệ và đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ 4.0, không thể nào khôngnhắc tới công nghệ dữ liệu lớn Chúng ta có thể nhận biết về chức năng, quy trình sửdụng và tầm quan trọng của việc áp dụng và quản trị cơ sở dữ liệu lớn vào các hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp
Tháng 8 năm 2015, “công nghệ dữ liệu lớn” đã vượt ra khỏi bảng xếp hạng nhữngcông nghệ mới nổi Cycle Hype của Gartner và tạo một tiếng vang lớn cho xu hướng côngnghệ của thế giới Có lẽ, khi nhắc đến thuật ngữ này nhiều người trong chúng ta cònhoang mang không xác định cụ thể rằng “công nghệ dữ liệu lớn” là gì ? Chúng ta có thểhiểu một cách nôm na rằng: “công nghệ dữ liệu lớn” là tài sản thông tin, mà những thôngtin này có khối lượng dữ liệu lớn, tốc độ cao và dữ liệu đa dạng, đòi hỏi phải có côngnghệ mới để xử lý hiệu quả nhằm đưa ra được các quyết định hiệu quả, khám phá đượccác yếu tố ẩn sâu trong dữ liệu và tối ưu hóa được quá trình xử lý dữ liệu
Sự tiến bộ của công nghệ, sự ra đời của các kênh truyền thông mới như mạng xã hội
và các thiết bị công nghệ mới tiên tiến hơn đã đặt ra thách thức cho các nền công nghiệpkhác nhau phải tìm những cách khác để xử lý dữ liệu Tính đến hết năm 2003, trên thếgiới chỉ có khoảng 5 tỷ gigabyte dữ liệu Cũng cùng một lượng dữ liệu như vậy trongnăm 2011 tạo ra chỉ trong 2 ngày Nhưng tính đến năm 2013, khối lượng dữ liệu nàyđược tạo ra cứ sau mỗi 10 phút Do đó, không có gì ngạc nhiên khi mà 90% dữ liệu củatoàn thế giới hiện nay được tạo ra trong một vài năm qua
1.2 Công nghệ dữ liệu lớn trong ngành Nhà hàng – Khách sạn
Công nghệ đã chạm đến mọi mặt trong cuộc sống của chúng ta Với sự trỗi dậy mạnh
mẽ của các thiết bị di động và điện toán đám mây, ảnh hưởng của công nghệ ngày càngsâu rộng hơn bao giờ hết Những tiện ích mà chúng đem lại có mặt ở khắp mọi nơi.Không những thay đổi diện mạo cuộc sống hằng ngày của chúng ta, công nghệ còn thayđổi cách thức kinh doanh của nhiều ngành nghề truyền thống Một trong những ngànhchứng kiến nhiều sự thay đổi do công nghệ đem lại chính là ‘công nghiệp không khói’:Ngành Nhà hàng- Khách sạn
Trang 11Cũng như những nền công nghiệp khác, ngành quản trị nhà hàng - khách sạn cũng gặpnhiều khó khăn trong việc xử lí số liệu, do khối lượng dữ liệu khổng lồ được thu thập từcác loại hình kinh doanh, dữ liệu lớn đã trở thành ưu tiên hàng đầu của nhiều doanhnghiệp, điều này đặc biệt đúng trong ngành quản trị dịch vụ nhà hàng - khách sạn Việc
sử dụng dữ liệu lớn rất đa dạng, nó đặc biệt hữu ích cho các công ty về nhà hàng - kháchsạn, cho phép phân tích và dự đoán hành vi của khách hàng cũng như đưa ra các chínhsách cải thiện doanh thu và giảm chi phí
Để quản lý các trải nghiệm cá nhân, ngành khách sạn cần có giải pháp phân tích dữliệu tiên tiến Khách hàng để lại một lượng lớn dữ liệu sau mỗi lần sử dụng dịch vụ tạikhách sạn Không chỉ gồm dữ liệu cá nhân và thông tin liên lạc mà còn về các loại dịch
vụ phụ mà họ sử dụng trong quá trình lưu trú, món ăn họ thưởng thức, các cơ sở vật chấtnhư phòng họp, sân tennis và hồ bơi họ đã dùng
Như vậy chúng ta có thể thấy, “công nghệ dữ liệu lớn” hiện nay rất cần được áp dụngrất nhiều vào ngành nhà hàng - khách sạn và đã giúp cho doanh nghiệp rất nhiều trong
việc điều hành cũng như quản lí dữ liệu khách hàng, công nghệ dữ liệu lớn có thể tác
động đến hệ thống quản trị khách sạn, cách phân phối thông tin thông qua các công cụtrực tuyến và số hóa Một trong những ứng dụng dữ liệu lớn hiệu quả nhất vào ngành dulịch khách sạn là quản lý doanh thu Để tối đa hóa kết quả tài chính, khách sạn và cáccông ty du lịch khác cần có khả năng bán đúng sản phẩm, đúng khách hàng, đúng thờiđiểm, với mức giá phù hợp, thông qua kênh phù hợp và dữ liệu lớn có thể là vô giá trongtrường hợp này Cụ thể, dữ liệu nội bộ như tỷ lệ lấp đầy trong quá khứ, doanh thu phòng
và đặt phòng hiện tại kết hợp với dữ liệu bên ngoài như thông tin về các sự kiện địaphương, chuyến bay và ngày nghỉ lễ, để dự đoán và dự đoán chính xác hơn nhu cầu Do
đó, các khách sạn có khả năng quản lý giá phòng tốt hơn, tăng giá vào những thời điểmnhu cầu cao, để tối đa hóa doanh thu bán phòng
Hơn thế nữa, ứng dụng quan trọng khác cho ngành du lịch khách sạn là quản lý danhtiếng Trong thời đại của mạng internet, khách hàng có thể để lại đánh giá trên một loạtcác nền tảng khác nhau, bao gồm các trang truyền thông xã hội, công cụ tìm kiếm và cáctrang web đánh giá chuyên dụng, họ chia sẻ ý kiến và kinh nghiệm mình, những kháchhàng khác kiểm tra các đánh giá này và so sánh các khách sạn khác nhau trước khi họ đặtphòng Dữ liệu này, kết hợp với phản hồi có được trong nội bộ, có thể được sử dụng đểphát hiện những điểm mạnh và điểm yếu, nơi khách hàng bị ấn tượng hoặc thất vọng Khithông tin được thu thập, các khách sạn có thể sử dụng để xây dựng chiến lược đào tạonhằm cải thiện và đảm bảo có được đánh giá tích cực trong tương lai
Ngoài ra, trong ngành dịch vụ du lịch lưu trú, việc xây dựng các chiến lược tiếp thịgặp đôi chút khó khăn vì khách hàng tiềm năng rất đa dạng, họ đến từ khắp mọi nơi trênthế giới, khó mà nắm bắt được họ đang tìm kiếm điều gì Tuy nhiên, dữ liệu lớn có thểgiúp các công ty du lịch tiếp cận đúng đối tượng, đúng thời điểm Cụ thể hơn, dữ liệu lớn
Trang 12cho phép các doanh nghiệp xác định các xu hướng chính tồn tại giữa các khách hàng, nơi
có sự tương đồng và cơ hội tiếp thị tốt nhất là gì Nó cũng cho phép các doanh nghiệphiểu những người đó ở đâu và khi nào tiếp thị phù hợp nhất với họ Điều này cho phépcác thông điệp tiếp thị được gửi, dựa trên thời gian, địa điểm và dữ liệu khác, cho phépphân phối nhiều nội dung quảng cáo được nhắm mục tiêu hơn
Cuối cùng, chính doanh nghiệp có thể tận dụng việc sử dụng dữ liệu lớn để biên dịch
và phân tích thông tin về các đối thủ cạnh tranh, để hiểu rõ về những gì khách sạn hoặcdoanh nghiệp khác đang cung cấp cho khách hàng Một lần nữa, dữ liệu này có thể đượclấy từ nhiều nguồn khác nhau, vì không thiếu nơi khách hàng đến để chia sẻ ý kiến của
họ về khách sạn và công ty du lịch, đặc biệt là trực tuyến
Tuy nhiên, mặt trái của “công nghệ dữ liệu lớn” cũng như cuộc cách mạng 4.0 là nó
có thể gây ra sự bất bình đẳng Đặc biệt là có thể phá vỡ thị trường người lao động Khi
tự động hóa thay thế lao động chân tay bằng việc sử dụng máy móc, robot thay thế conngười trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong ngành nhà hàng - khách sạn, một trong nhữngngành về cảm nhận và thái độ phục vụ, điều đó có thể làm sai lệch cảm xúc của kháchhàng và có thể làm hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp.Tổng quan lại, tuy có lợi và hại, nhưng việc áp dụng công nghệ dữ liệu lớn trong quảntrị doanh nghiệp để phân tích các con số, dữ liệu là xu hướng tất yếu Các vấn đề củadoanh nghiệp sau khi được xử lý bằng công nghệ dữ liệu lớn sẽ thể hiện rõ trên báo cáotài chính mà doanh nghiệp phải làm vào kỳ họp đại hội cổ đông để tổng kết hoạt độngkinh doanh trong năm
2 Nêu ra các vấn đề được nhận thấy trong báo cáo tài chính và quá trình hình thành nên dữ liệu của vấn đề
Để có cái nhìn trực quan hơn về việc áp dụng cơ sở dữ liệu lớn vào thống kê và đưa racon số chuẩn xác về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, từ đó nhìn ra những vấn đề
mà họ gặp phải, dựa trên báo cáo tài chính của tập đoàn khách sạn NH Group - nơi sở hữu 380 khách sạn với 60,000 phòng ở 31 nước trên toàn thế giới, quản lí một lượng dữ liệu khổng lồ - có 10 vấn đề mà nhóm thấy được như sau:
2.1 Vấn đề tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản – Return On Asset
Tỷ suất sinh lời về tài sản được tính dựa trên các số liệu về tổng tài sản và tổng lợinhuận ròng Đây là chỉ số đo lường mức sinh lời của một công ty so với chính tài sản của
nó Vì vậy, chỉ số này sẽ cho biết một công ty quản lý việc sử dụng tài sản để kiếm lờihiệu quả như thế nào
Tình hình tài sản của doanh nghiệp được liên tục cập nhật trong suốt quá trình hoạtđộng trong năm, khi chuẩn bị lập báo cáo tài chính, ban lãnh đạo sẽ thành lập hội đồngkiểm kê tài sản, tập hợp số liệu, xử lý số liệu và lập biên bản kiểm kê căn cứ vào số liệukiểm kê tài sản thực tế có tại doanh nghiệp, sau đó đối chiếu với số liệu ở bộ phân quản
Trang 13lý, cập nhật tình hình tài sản, các bộ phận sử dụng tài sản và kế toán và đưa ra báo cáo sốliệu về tổng tài sản hiện tại của doanh nghiệp.
Tổng lợi nhuận ròng có được sau khi phòng kế toán trừ đi thuế từ lợi nhuận thuần củadoanh nghiệp
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản được tính bằng cách lấy tổng lợi nhuận ròng chia chotổng tài sản
2.2 Vấn đề tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu – Return On Equity
Vấn đề tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu – Return on Equity ratio (ROE) thể hiệnhiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được các chủ sở hữu(các nhà đầu tư) đặc biệt quan tâm do phản ánh trực tiếp mỗi đồng vốn chủ sở hữu đầu tưvào doanh nghiệp có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Nếu tỷ số này manggiá trị dương, là công ty làm ăn có lãi ngược lại nếu nó mang giá trị âm chứng tỏ công tylàm ăn thua lỗ
Cũng như tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinh doanh.Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của công ty Để so sánh chínhxác, cần so sánh tỷ số này với tỷ số bình quân của toàn ngành, hoặc với tỷ số của công tytương đương trong cùng ngành
Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay được đem so sánh với tỷ số lợi nhuận trêntài sản (ROA) Nếu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu lớn hơn tỷ suất lợi nhuận trêntổng tài sản thì có nghĩa là đòn bẩy tài chính của công ty đã có tác dụng tích cực, công ty
đã thành công trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với tỷ suất caohơn tỷ lệ tiền lãi mà công ty phải trả cho các cổ đông
Tổng lợi nhuận ròng có được sau khi phòng kế toán trừ đi thuế từ lợi nhuận thuần củadoanh nghiệp
Vốn chủ sở hữu của cổ đông đại diện cho cổ phần nắm giữ trên sổ sách của các cổđông của một công ty Vốn chủ sở hữu có thể được tính toán bằng cách lấy tổng tài sảncủa công ty trừ đi tổng nợ phải trả của nó hoặc vốn cổ phần cộng với lợi nhuận giữ lại trừ
đi cổ phiếu quỹ
Công thức tính tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu được hình thành từ các chỉ số vềlợi nhuận ròng và vốn chủ sở hữu
2.3 Vấn đề về chỉ số thanh toán hiện hành- Current Ratio
Là hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, dùng để đo lường khả năng chuyển đổi tàisản ngắn hạn thành tiền để trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Chỉ số này được
đo lường bằng cách lấy tài sản hiện tại chia cho nợ phải trả hiện tại
Trang 14Tình hình tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp được liên tục cập nhật trong suốt quátrình hoạt động trong năm, khi chuẩn bị lập báo cáo tài chính, ban lãnh đạo sẽ thành lậphội đồng kiểm kê tài sản, tập hợp số liệu, xử lý số liệu và lập biên bản kiểm kê căn cứ vào
số liệu kiểm kê tài sản thực tế có tại doanh nghiệp, sau đó đối chiếu với số liệu ở bộ phânquản lý, cập nhật tình hình tài sản, các bộ phận sử dụng tài sản và kế toán và đưa ra báocáo số liệu về tổng tài sản hiện tại của doanh nghiệp
Nợ ngắn hạn là khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả trong vòng mộtnăm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh bình thường, ví dụ các khoản nợ ngắn hạn như:vay ngắn hạn, tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng phải trả cho người lao động… được phòng
kế toán tổng hợp lại và hạch toán trong báo cáo
2.4 Vấn đề về biên lợi nhuận ròng – Net Profit Margin
Biên lợi nhuận là chỉ số hình thành dựa trên các số liệu về lợi nhuận ròng và doanhthu, độ tăng trưởng của biên lợi nhuận phụ thuộc vào chi phí hoạt động, cho biết mỗiđồng doanh thu thu về tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
Lợi nhuận ròng của doanh nghiệp được thống kê bằng cách lấy doanh thu trừ đi chiphí và thuế Số liệu thống kê về doanh thu và chi phí từ các phòng ban được tổng hợp về
bộ phận kế toán và sau khi bộ phận này trừ thêm thuế doanh nghiệp phải đóng cho chínhphủ thì có được thông số về lợi nhuận ròng
Số liệu về doanh thu và chi phí được doanh nghiệp cập nhật liên tục xuyên suốt quátrình hoạt động trong năm tài khóa và được tổng hợp, báo cáo theo ngày, theo tuần, theotháng và theo quý, các số liệu này được lưu trữ tại hệ thống quản lí cơ sở dữ liệu màdoanh nghiệp sử dụng Khi chuẩn bị thành lập báo cáo tài chính, phòng kế toán sẽ tiếnhành thống kê, định khoản theo nghiệp vụ kế toán và cho ra con số cuối về chi phí vàdoanh thu trên báo cáo tài chính
2.5 Vấn đề về chi phí hoạt động – Operating Expenses
Chi phí hoạt động của một doanh nghiệp được đưa ra dựa trên các số liệu về doanhthu, lợi nhuận trước thuế, tổng chi phí và chi phí nhân sự
Số liệu về doanh thu được doanh nghiệp cập nhật liên tục xuyên suốt quá trình hoạtđộng trong năm tài khóa và được tổng hợp, báo cáo theo ngày, theo tuần, theo tháng vàtheo quý, các số liệu này được lưu trữ tại hệ thống quản lí cơ sở dữ liệu mà doanh nghiệp
sử dụng Khi chuẩn bị thành lập báo cáo tài chính, phòng kế toán sẽ tiến hành thống kê,định khoản theo nghiệp vụ kế toán và cho ra con số cuối về doanh thu trên báo cáo Lợi nhuận trước thuế được phòng kế toán tính bằng cách lấy thu nhập trừ đi các chiphí, nhưng chưa trừ thuế thu nhập, sau đó được kế toán trưởng kê ra trong bảng báo cáotài chính của doanh nghiệp
Trang 15Phòng kế toán và nhân sự phối hợp để tổng hợp các loại phí dành để chi trả cho tiềnlương nhân viên, phúc lợi, bảo hiểm, phụ cấp, chi phí khám sức khỏe định kỳ, thưởng,chi phí đào tạo và tái đào tạo để kê ra được một loại chi phí có tên gọi là chi phí nhân sự.Các chi phí hoạt động được cập nhật liên tục và được tổng hợp để đưa vào báo cáo tương
tự như doanh thu
2.6 Vấn đề về chi phí nhân sự - Staff Expenses
Nhân sự bao gồm tất cả người lao động là thành viên trong doanh nghiệp (kể cả cácthành viên trong ban lãnh đạo) sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạođức của mình để thành lập, vận hành và phát triển doanh nghiệp
Chi phí nhân sự trong một doanh nghiệp bao gồm các khoản phí mà doanh nghiệpphải bỏ ra để trả lương và thưởng cho nhân viên cũng như trang trải cho chi phí mà nhânviên phải chịu trong quá trình họ thực hiện nhiệm vụ tại doanh nghiệp của mình Chi phínhân sự luôn gắn liền với tổng chi phí của doanh nghiệp
Chi phí nhân sự giúp doanh nghiệp tính toán được chi phí trung bình của mỗi nhânviên tại các vị trí cụ thể để từ đó hoạch định ra những chính sách quản lý nhân sự hiệuquả hơn
Chi phí nhân sự được cấu thành dựa trên các khoản chi phí nhỏ như lương, phúc lợi, bảohiểm, phụ cấp, chi phí khám sức khỏe định kỳ, chi phí đào tạo và tái tạo, chi phí cung cấpphương tiện làm việc và chế độ khen thưởng định kỳ Số liệu về chi phí nhân sự được bộphận nhân sự lưu trữ và cập nhật thường xuyên theo mỗi kì (tháng, quý, năm) Các số liệunày sẽ được thể hiện rõ trong báo cáo tài chính cuối năm của doanh nghiệp sau khi đượcphối hợp thống kê bởi phòng kế toán và nhân sự
2.7 Vấn đề về chỉ số vòng quay nhân sự - Staff Turn-over
Tỷ lệ thôi việc - Staff turnover là tỷ lệ số lao động nghỉ việc trên số lao động bìnhquân trong một năm, quý hoặc tháng nhằm đo lường tốc độ thay đổi nhân viên của mộtdoanh nghiệp Tỷ lệ thôi việc được đo lường bằng số nhân viên đang làm việc vào thờiđiểm đầu năm, cuối năm và số nhân viên đang làm việc trong năm đó
Các dữ liệu về số lượng nhân viên mới tuyển dụng, nhân viên thôi việc và tổng sốnhân viên hiện có của doanh nghiệp luôn được bộ phận nhân sự lưu trữ và cập nhậtthường xuyên theo mỗi kì (tháng, quý, năm) Các số liệu này sẽ được thể hiện rõ trongbáo cáo tài chính cuối năm của doanh nghiệp
Tỷ lệ này càng cao so với tiêu chuẩn của ngành, cảng cho thấy doanh nghiệp hoạtđộng chưa thật sự hiệu quả trong việc quản lí nhân sự và các kế hoạch quản trị nguồnnhân lực của tổ chức cần được đánh giá, xem xét và có biện pháp điều chỉnh tức thời vàthích hợp để thay đổi tình hình
Trang 162.8 Vấn đề về đặc điểm nhân sự - Employees Specification
Đặc điểm nhân sự của một doanh nghiệp bao gồm các thông tin như số lương nhânviên, tỷ lệ nam nữ, giới tính, quốc tịch, hiệu suất làm việc… Đây là một trong những vấn
đề được quan tâm hàng đầu trong chiến lược về hoạch định nhân sự trong mỗi doanhnghiệp Các doanh nghiệp luôn dựa vào những số liệu trên để tìm hiểu mong muốn và đạtđược sự trung thành từ nhân viên của mình
Các dữ liệu về đặc điểm nhân sự đều được lấy từ các khảo sát định kỳ của phòngnhân sự trong doanh nghiệp Cụ thể, phòng nhân sự phối hợp với các phòng ban trongcông ty để thu thập thông tin về nguồn nhân lực, theo dõi thông tin nhân lực toàn công ty,lưu trữ hồ sơ của nhân viên, lập các số liệu thống kê và cuối cùng là đưa ra bảng mô tảchi tiết về đặc điểm nhân sự trong toàn doanh nghiệp
2.9 Vấn đề về chỉ số giá bán trung bình ngày – Average Daily Rate
Chỉ số về giá bán trung bình ngày cho biết mỗi phòng bán được mang về bao nhiêudoanh thu, vì hoạt động cho thuê phòng là hoạt động kinh doanh cốt lõi đối với mộtdoanh nghiệp thuộc lĩnh vực cung cấp dịch vụ lưu trú, chỉ số ADR là một chỉ số quantrọng để đánh giá hiệu quả kinh doanh từ đó đưa ra chiến lược giá cũng như làm chỉ tiêu
so sánh với các đối thủ cạnh tranh
Chỉ số ADR có thể được tính dựa trên doanh thu từ việc bán phòng và số phòng đượcbán, các số liệu về ADR được tính toán, tổng hợp và báo cáo liên tục theo các kỳ ( tháng,quý) để lãnh đạo doanh nghiệp có chính sách thay đổi giá phù hợp nhằm tối đa hóa doanhthu và cuối cùng được thống kê bởi bộ phận quản lý doanh thu và đưa vào báo cáo kếtquả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
2.10 Vấn đề về chỉ số công suất phòng – Occupancy Rate
Occupancy Rate là chỉ số cho biết công suất phòng hay tỷ suất sử dụng phòng nghỉtrong khách sạn, giúp các nhà quản trị khách sạn biết được hiệu quả kinh doanh phònghiện tại của mình như thế nào, từ đó có các chiến lược để tác động, thúc đẩy việc kinhdoanh bán phòng đi lên Chỉ số công suất phòng được tính dựa trên tỉ lệ số phòng đã đặttrên tổng số lượng phòng trong khách khách sạn Tương tự chỉ số ADR, đây cũng là mộtchỉ số rất quan trọng biểu thị hiệu quả kinh doanh của khách sạn cũng gắn liền với chỉ sốcông suất phòng
Chỉ số Occupancy rate được tính toán, tổng hợp và báo cáo liên tục theo ngày, tuần, tháng, quý Chỉ số sẽ khác nhau dựa trên những khoảng thời gian mà doanh nghiệp lựa chọn để thực hiện thống kê này Cuối năm tài khóa, bộ phận tiền sảnh sẽ thống kê và đưa
ra số liệu về công suất phòng trung bình trong năm để trình bày trong cuộc họp đại hội cổđông
Trang 17CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH TÌNH TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP DỰA TRÊN SỐ LIỆU
1 Phân tích vấn đề về tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản – Return On Asset
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản tại doanh nghiệp ghi nhận mức tăng từ 1,29% vàonăm 2016 lên 1,58% vào năm 2017, điều này cho thấy khách sạn đang sử dụng hiệu quảhơn so với năm trước các nguồn lực về cơ sở vật chất của mình Minh chứng có thể thấythông qua việc khách sạn cố gắng tối đa hóa hoạt động sử dụng các máy móc, thiết bị củamình Khách sạn nhận được các chứng chỉ về sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượngsạch như ISOO 14001, ISO 5000, họ cũng tăng tỷ lệ áp dụng công nghệ sử dụng nănglượng tái tạo nhằm giảm việc tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, tỷ lệ sử dụng năng lượng táitạo tăng 74% so với năm 2008 Chi phí bảo trì và bảo dưỡng tăng so với năm 2016 chothấy doanh nghiệp đang cố gắng tận dụng tối đa các cơ sở vật chất hiện tại và không thaymới Bên cạnh đó, để việc sử dụng tài sản đạt hiệu quả tối đa, doanh nghiệp cũng khôngngừng đầu tư nâng cao việc đào tạo nghiệp vụ, nâng cao ý thức trách nhiệm cho nhânviên, minh chứng thông qua chi phí cho nhân sự của năm 2017 tăng 11,251 triệu euros sovới 2016
Tuy nhiên, tỷ lệ sinh lời trên tài sản của doanh nghiệp trong năm 2017 vẫn rất thấp và
sự tăng trưởng là có nhưng không lớn, tỷ suất sinh lời trên tài sản được xem là tốt ở mức
từ 5% trở lên
2 Phân tích vấn đề về tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu – Return On Equity
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của khách sạn tăng 0,45% từ 2,95% vào cuốinăm 2016 đến 3,4% vào cuối năm 2017 Tỷ số này tăng lên cho thấy việc sử dụng vốncủa khách sạn đang đạt hiệu quả tốt
Minh chứng cho việc tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE là do doanh thuthuần của khách sạn tăng 98,1 triệu euros so với năm 2016, tốc độ tăng trưởng đạt 6,8%.Trong giai đoạn từ năm 2016 -2017, NH Hotel Group đã có những bước phát triển đáng
kể như tích cực đầu tư vào các thị trường lớn như Đức trong năm 2017, Benelux năm
2016, Nga và Ý vào năm 2015, trong đó thị trường Benelux có dấu hiệu phát triển khá tốtvới mức tăng trưởng 15,7%/ năm Ngoài ra, NH Hotel group còn cải thiện đáng kể vềchất lượng, kinh nghiệm và kiến trúc mới cho các thương hiệu NH Collection, NH Hotel,Hesberia,… Họ còn tăng thêm trải nghiệm cho khách hàng, nâng cấp các sản phẩm củatập đoàn và đã đạt được một số thành quả đáng kể đến như 35% khách sạn của tập đoànthuộc top10 của trang TripAdvisor và 55% khách sạn đạt top 30 của trang TripAdvisor Bên cạnh đó, lợi nhuận sau thuế năm 2017 tăng 14,6% (5,059,000 euros) so với năm
2016 Do đó, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của NH Hotel Group tăng lên là mộtđiều dễ hiểu Tuy đây chỉ là một mức tăng khá thấp, không đáng kể nhưng ta có thể thấyROE ( 2017)> ROA( 2017) ( 3,4%> 1,58%) chứng tỏ doanh nghiệp đã thành công trong
Trang 18việc sử dụng vốn của cổ đông để kiếm ra lợi nhuận dù cho việc dồn vốn vào mở rộng vàtái định vị làm cho lợi nhuận thu được không cao
3 Phân tích vấn đề về chỉ số thanh toán hiện hành – Current Ratio
Chỉ số thanh toán hiện hành của doanh nghiệp sau khi được tính toán có kết quả làgiảm từ 1.099 vào năm 2016 tới 0.653 vào năm 2017 Điều này cho thấy doanh nghiệpđang gặp vấn đề với các tài sản ngắn hạn của mình, họ không đủ khả năng thanh toán tất
cả các khoản nợ ngắn hạn của mình Đây là tín hiệu rất đang báo động đối với cơ cấu tàichính của doanh nghiệp
Chỉ số ở năm 2016 vẫn còn khá tốt khi lúc đó doanh nghiệp vẫn chưa mắc quá nhiềucác khoản nợ ngắn hạn, nhưng đến năm 2017 doanh nghiệp bắt đầu bị phát sinh nhiều chiphí không mong muốn hơn, khiến họ gặp rắc rối đối với nghĩa vụ thanh toán của mình.Tiêu biểu có thể thấy là chi phí về các công cụ nợ và chứng khoán ngắn hạn (Debtinstruments and other marketable securities), chi phí này đã tăng đột biến từ 2,233 đến246,195, điều đó cho thấy doanh nghiệp đã không thực sự hoạt động tốt trong lĩnh vựcchứng khoán, khiến họ mắc một khoản nợ khá lớn vào năm 2017 Ngoài chi phí đó ra thìcác chi phí còn lại không có nhiều sự thay đổi sau 1 năm Bên cạnh đó, về tài sản hiệnhành, doanh nghiệp đã làm hao hụt một lượng tài sản tương đối lớn từ danh mục “Tiền vàcác khoản tương đương tiền” (Cash and cash equivalents) từ 136,733 vào năm 2016xuống còn 80,249 vào năm 2017 Chính việc đột ngột vướng phải một khoản nợ lớnkhiến các tài sản ngắn hạn hiện tại khi chuyển đổi thành tiền không đủ để trả
Tóm lại, khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt của doanh nghiệp hiện tại cũngnhư cơ cấu giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn đang gặp vấn đề, để đảm bảo sự an toàn,tránh nguy cơ vỡ nợ thì chỉ số này ít nhất phải bằng 1 và được xem là tốt khi chúng ởmức 2 đến 3 Chỉ số quá thấp hoặc quá cao đều không tốt Riêng ở doanh nghiệp hiện tại,chỉ số này quá thấp cho thấy doanh nghiệp không đủ khả năng thực hiện các nghĩa vụthanh toán của mình Doanh nghiệp cần có các biện pháp để ít nhất là cân bằng giá trị củatài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn, đảm bảo các tài sản ngắn hạn khi chuyển đổi thành tiềnmặt đủ để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, nhằm tránh rơi vào tình trạng thiếu hụtnguồn tiền thanh toán các khoản nợ khi đến hạn
4 Phân tích vấn đề về biên lợi nhuận ròng – Net Profit Margin
Biên lợi nhuận của doanh nghiệp cũng ghi nhận mức tăng nhưng không đáng kể, từ2,35% lên 2,53%, đối với một doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh truyền thống nhưcung cấp dịch vụ lưu trú, nghĩ dưỡng thì đây là mức biên lợi nhuận được đánh giá làtrung bình thấp so với mức biên lợi nhuận được đánh giá tốt của ngành là ở mức 5% Giảithích về mức tăng không đáng kể là do mặc dù lợi nhuận trước thuế và danh thu tăng, tuynhiên nhiên chi phí tăng và đặc biệt chi phí dành cho thuế tăng đột biến so với năm 2016( 33,512 so với 7,935), do đó dù lợi nhuận trước thuế tăng cao so với năm 2016 (72,997
so với 44,357) thì lợi nhuận ròng vẫn không có sự tăng trưởng đáng kể Ngoài yếu tố về
Trang 19thuế đóng cho chính phủ, có thể thấy doanh nghiệp chưa thể tối ưu hóa việc quản lý cácchi phí của mình thông qua báo cáo có thể thấy chi phí hoạt động tăng khá cao so vớinăm 2016 (987,657 so với 1,045,949) Bên cạnh đó, không thể không kể đến chi phí thùlao cho nhân sự cấp cao cũng tăng gần gấp đôi so với năm 2016 Nhìn chung, biên lợinhuận cũng như các chỉ số khác đều chịu ảnh hưởng bởi chi phí của doanh nghiệp hiệntại quá cao bởi chính sách mở rộng và tái định vị của NH Group, làm cho chung không cóđược sự tăng trưởng tốt.
Tuy nhiên, nhờ hưởng lợi từ lượng khách hàng cao hơn dẫn đến tăng trưởng khá mạnhcác mảng dịch vụ kinh doanh, cộng hưởng với sự hoạt động hiệu quả ở khâu Marketinghình ảnh giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí Marketing (24,615 so với 26,154)
và tăng trưởng tốt về doanh thu, biên lợi nhuận vẫn tăng so với năm 2016
5 Phân tích vấn đề về chi phí hoạt động – Operating Expenses
Chi phí hoạt động của doanh nghiệp được ghi nhận là tăng nhẹ từ năm 2016 sangnăm 2017 Cụ thể, chi phí hoạt động vào năm 2016 là 987,657, trong khi đó ở năm 2017
là 1,045,949, như vậy chi phí hoạt động tăng 58,292 sau một năm Rộng hơn, vào năm
2017 tỉ trọng giữa chi phí hoạt động và tổng chi phí của doanh nghiệp là khoảng 71% Việc gia tăng chi phí hoạt động và tỷ trọng quá lớn của nó trong tổng chi phí cũngnhư doanh thu, chiếu theo kế hoạch chiến lược phát triển của tập đoàn thì điều này dườngnhư đã nằm trong dự tính của họ Tỷ trọng của tổng chi phí nói chung và chi phí vận hànhnói riêng được dự báo luôn chiếm hơn 90% doanh thu từ năm 2015 đến 2017 theo như kếhoạch phát triển của họ Theo kế hoạch, thời gian từ năm 2015 đến 2017 là khoảng thờigian mở rộng, cải tạo và phát triển thị trường của NH Group, vì thế tập đoàn cần thêmmột nguồn vốn lớn đầu tư lớn vào máy móc, trang thiết bị, truyền thông cũng như rấtnhiều chi phí khác phục vụ cho việc vận hành ở các thị trường mới Dẫn chứng từ báocáo tài chính của NH Group năm 2017, 6 khách sạn mới được đưa vào bắt đầu hoạt động
ở Marseille, Eindhoven, Curitiba, Puebla, SanLuis de potosí và Shijiazhuang với tổng sốphòng là 779 phòng khiến con số khách sạn của tập đoàn nâng lên 380 khách sạn với58,926 phòng, bên cạnh việc xây mới là tiến hành tu bổ, cải tạo hàng loạt khách sạnkhách đang có trong hệ thống Nhìn vào bảng báo cáo tài chính, ta có thể thấy một sốminh chứng cụ thể ở các mục có liên quan, điển hình là mục chi phí cho hoa hồng vàkhuyến mãi cho khách hàng đã tăng hơn 3,000 (80,445 vào năm 2016 và 83,592 vào năm2017) cho thấy doanh nghiệp đã chú trọng nhiều hơn về chính sách ưu đãi cho kháchhàng Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có sự tăng mức chi phí đầu tư vào các lĩnh vựcnhư nguồn cung cấp ( Supplies), bảo trì và vệ sinh (Maintenance and cleaning) hay chiphí cho các dịch vụ bên ngoài khác (Other External Services) Cuối cùng là sự gia tăngđược ghi nhận ở mức cao nhất lên đến khoảng 24,000 (795,174 vào năm 2016 và 819,227vào năm 2017) là các khoảng chi phí hoạt động khác, chứng tỏ doanh nghiệp đã thúc đẩyđầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị, sản phẩm dịch vụ…
Trang 20Dù có thể hiểu do chiến lược phát triển hiện tại nhưng doanh nghiệp vẫn luôn cần cónhững kế hoạch tối thiểu hóa chi phí Nếu thành công trong việc tối thiểu hóa chi phícộng hưởng với việc tỷ trọng chi phí này theo như kế hoạch là sẽ không phát sinh thêm vì
2017 cũng là năm cuối cùng đánh dấu kết thúc quá trình đầu tư tái định vị và mở rộngcủa NH Group Doanh nghiệp chắc chắn sẽ ghi nhận mức lợi nhuận cao hơn, tỷ trọng chiphí theo đó mà chắc chắn cũng sẽ giảm đi
6 Phân tích vấn đề về chi phí nhân sự - Staff Expenses
Nhìn vào bảng số liệu trong báo cáo tài chính doanh nghiệp, ta thấy chi phí nhân sựcủa tập đoàn NH Group ghi nhận mức tăng nhẹ từ 415,889 nghìn euros trong năm 2016lên 427,140 nghìn euros trong năm 2017, tăng 2,27% Trong đó, con số chênh lệch rõràng nhất là xuất phát từ chi phí tiền lương của nhân viên tăng từ 307,123 nghìn euros lêntới 316,421 nghìn euros, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2016 Nếu xem xét chi tiết hơn,
ta có thể nhận ra doanh thu năm 2017 mặc dù có tăng so với năm 2016 nhưng nếu sosánh lợi nhuận trên doanh thu thì thực sự có sự chênh lệch rất lớn (cụ thể doanh thu mang
về năm 2017 là 1,546,086 triệu euros còn mức lợi nhuận chỉ vỏn vẹn 72,997 triệu đô)tính ra lợi nhuận chỉ chiếm gần 5% trên tổng doanh thu mà tập đoàn thu về Mặt khác chiphí bỏ ra so với doanh thu lại quá cao, riêng chi phí nhân sự đã chiếm khoảng 30% doanhthu Nếu tính tổng chi phí thì con số này chiếm 95% tổng doanh thu của doanh nghiệp.Đây là một cơ cấu tỷ lệ chi phí mà không ai mong muốn nhìn thấy trong doanh nghiệpmình, vì lợi nhuận chiếm tỷ lệ quá thấp, cộng với lạm phát hằng năm và chi phí cho lãivay thì doanh nghiệp kinh doanh không có lãi và ngược lại đang thua lỗ
Tuy nhiên nếu nhìn sâu vào kế hoạch chiến lược phát triển của tập đoàn thì điều nàydường như đã nằm trong dự tính của họ Theo kế hoạch, thời gian từ năm 2015 đến 2017
là khoảng thời gian mở rộng, cải tạo và phát triển thị trường của NH Group, vì thế tậpđoàn cần thêm một nguồn vốn lớn đầu tư vào nhân lực để đủ nhân sự trong việc vận hành
ở các thị trường mới Dẫn chứng từ báo cáo tài chính của NH Group năm 2017, 6 kháchsạn bắt đầu hoạt động ở Marseille, Eindhoven, Curitiba, Puebla, SanLuis de potosí vàShijiazhuang với tổng số phòng là 779 phòng khiến con số khách sạn của tập đoàn nânglên 380 khách sạn với 58,926 phòng, bên cạnh đó là hàng loạt dự án tiến hành tu bổ, cảitạo rất nhiều các khách sạn khách trong cùng hệ thống Ngoài ra, cũng trong năm 2017,
NH Group đã kí kết với 8 khách sạn khác với 1924 phòng ở các thị trường mới nhưFrankfurt, Valencia, Lima, Brussels Tất cả các kí kết đều dưới hình thức cho thuê vàquản lý khách sạn
Để đáp ứng cho nhu cầu mở rộng và phát triển đó, ta có thể xem xét số lượng nhânviên trung bình từ năm 2016 đến năm 2017 cũng có sự thay đổi, cụ thể tăng từ 20,905đến 22,789 người, các chi phí đóng góp an sinh xã hội và các chi phí xã hội khác cũng códấu hiệu tăng lên, đây cũng là các yếu tố chứng minh cho việc NH Group đã tuyển dụng
và gia tăng thêm số lượng nhân viên trong tập đoàn của mình Bên cạnh việc tuyển mới,khi đưa vào hoạt động các cơ sở mới, chi phí đầu tư cho việc đào tạo cũng luôn chiếm tỷ
Trang 21trọng rất cao trên tổng chi phí về nhân sự, các số liệu cũng cho thấy NH Group đã chi hơn1,262 tỷ euros cho việc đào tạo, nâng cao chất lượng nhân viên cùng với đó là 113,554tiếng đồng hồ thời gian cho các khóa đào tạo cả đào tạo trực tiếp và đạo tạo trực tuyến.Đây là chiến lược phát triển nằm trong kế hoạch dài hạn của tập đoàn từ nằm 2015đến hết 2017, vậy nên trong khoảng thời gian này, tổng chi phí nói chung và chi phí nhân
sự nói riêng sẽ tăng rất cao, doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn của mình để trang trảicho chi phí đó và việc kinh doanh gần như chắc chắn sẽ không tạo ra lãi, tỷ lệ chi phí nhưvậy dường như đã được dự báo trước và việc giữ được chi phí nhân sự chiếm 30% trongtổng chi phí, gần như tương đương so với năm 2016 được xem là điều tương đối đángkhen Tuy nhiên thì, sau thời gian mở rộng và phát triển thì việc tiến hành tối thiểu hóachi phí luôn là điều bắt buộc
7 Phân tích vấn đề về chỉ số vòng quay nhân sự – Staff Turn-over
Tỷ lệ thôi việc của nhân viên NH Hotel Group tính đến cuối năm 2017 là 21,91%(sốliệu được trích từ báo cáo thường niên ( annual report) của NH Hotel Group năm 2017).Nhìn chung, tỷ lệ này thấp hơn so với tỉ lệ thôi việc trung bình của ngành nhà hàng kháchsạn là khoảng 30%( theo bài viết Chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong ngành dịch
vụ khách sạn, HotelCareers, 2018) Điều này thể hiện sự ổn định trọng cơ cấu nhân sự
của tập đoàn NH Hotel Group Minh chứng cho việc NH Hotel Group có tỉ lệ thôi việcthấp có rất nhiều lí do Đầu tiên phải kể đến đó là tập đoàn NH Hotel có văn hóa doanhnghiệp mạnh, khiến nhân viên muốn gắn bó lâu dài, điều này sẽ được phân tích ở phầnvấn đề về đặc điểm nhân sự, tập đoàn luôn khuyến khích nhân viên đầu tư vào sự pháttriển một cách chuyên nghiệp trong các môi trường đa dạng và với các cơ hội bình đẳngcho tất cả nhân viên Thứ hai, truyền thông trong nội bộ của tập đoàn NH Hotel khá tốt vàhiện đại nhờ vào việc ứng dụng công nghệ mới như MyNH App cho phép nhân viên cóthể xem các tin tức, chiến dịch, kế hoạch và các ứng viên trong nội bộ, kênh truyền thôngTell The World giúp nhân viên có thể chia sẻ các sản phẩm yêu thích của họ trong nội bộ.Điều này khiến nhân viên cảm thấy thuận lợi hơn trong việc giao tiếp nôi bộ, nắm bắtcông việc tốt hơn và được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp hơn Bên cạnh đó,không thể không kể đến các khoảng đầu tư khá lớn vào việc đào tạo nhân viên Năm
2017, tập đoàn NH Hotel đầu tư 1,212,760 euro vào việc đào tạo nhân viên và tăng cườngđào tạo online hơn 74% so với năm 2016 Ngoài ra, còn có khoảng đến 32,8% số lượngnhân viên tập đoàn được đào tạo trực tiếp với các đào tạo viên, giúp họ trau dồi nhiều hơncác kiến thức, kĩ năng cần thiết cho công việc và mở ra các cơ hội phát triển mới hơn.Đây có lẽ là lí do khiến nhân viên không muốn nghỉ việc khi họ cảm thấy trong quá trìnhcống hiến, bên cạnh vấn đề lương, thưởng thì vẫn được nhận khá nhiều lợi ích, giá trịkiến thức khác từ doanh nghiệp Cuối cùng là về cơ cấu tuổi tác, tập đoàn NH Hotel có cơcấu độ tuổi nhân sự già với tỷ lệ nhân viện trên 40 tuổi chiếm 35,7%, từ 25-40 tuổi chiếm