I, Tổng quan: 4 1. Giới thiệu 4 2. Hoàn cảnh sống của người khuyết tật 4 3, Công việc NKT thường làm 4 II. Vấn đề việc làm cho người khuyết tật hiện nay 5 III. Lý do người khuyết tật không tìm được việc làm 6 1. Vấn đề kì thị đối với người khuyết tật 7 2. Vấn đề hạn chế năng lực của bản thân người khuyết tật 8 3. Vấn đề giới hạn nguồn lực 8 IV. Giải pháp khắc phục 12 1. Một số biện pháp khắc phục 12 2. Một số giải pháp cho vấn đề dạy nghề và tạo việc làm 13 3. Đề xuất về hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật về việc làm 14 V. Phân tích vấn đề việc làm cho NKT trong đề án hỗ trợ người khuyết tật 15 1. Giới thiệu: 15 2. Phân tích 16
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
BÀI TẬP NHÓM
ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
Giảng viên: Nguyễn Quốc Việt
Sinh viên thực hiện: Nhóm 3
Trang 22019
Trang 3Mục lục
I, Tổng quan: 4
1 Giới thiệu 4
2 Hoàn cảnh sống của người khuyết tật 4
3, Công việc NKT thường làm 4
II Vấn đề việc làm cho người khuyết tật hiện nay 5
III Lý do người khuyết tật không tìm được việc làm 6
1 Vấn đề kì thị đối với người khuyết tật 7
2 Vấn đề hạn chế năng lực của bản thân người khuyết tật 8
3 Vấn đề giới hạn nguồn lực 8
IV Giải pháp khắc phục 12
1 Một số biện pháp khắc phục 12
2 Một số giải pháp cho vấn đề dạy nghề và tạo việc làm 13
3 Đề xuất về hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật về việc làm 14
V Phân tích vấn đề việc làm cho NKT trong đề án hỗ trợ người khuyết tật 15
1 Giới thiệu: 15
2 Phân tích 16
Trang 4I, Tổng quan:
1 Giới thiệu
Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần nên vìthế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày
Về cơ bản, các mối quan hệ khuyết tật có thể được tạm chia thành các lĩnh vực sau:
Khuyết tật thân thể, tứ chi, khuyết tật vận động
Suy giảm các giác quan: (mù, điếc, khiếm thính, khiếm thị, không nhận được mùi vị)
Khuyết tật về nói (câm, líu lưỡi), đọc (thiểu năng đọc)
Khiếm khuyết về khả năng học hỏi, luyện tập
Khuyết tật tâm lý (tâm thần), bại não
Thiểu năng trí tuệ, tự kỷ
2 Hoàn cảnh sống của người khuyết tật
Nhiều người khuyết tật vẫn phải đối mặt với các rào cản khi họ hòa nhập vào cộng đồng và thường phải sống bên lề của xã hội với điều kiện sống khó khăn Theo Tổng cục thống kê, chỉ một nửa (52,1%) số người khuyết tật được sống trong nhà kiên cố, chưa đến ba phần tư trong số
họ được dùng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh (73,3%)
Khuyết tật vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nghèo khó Đa số người khuyết tật sống ở nông thôn, nữ giới đông hơn nam giới Chỉ có 7,25% người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề, 17,8% người khuyết tật sống trong hộ nghèo đa chiều thiếu thu nhập và các dịch
vụ xã hội cơ bản trong cuộc sống Chỉ có 2% trường tiểu học và trung học cơ sở có thiết kế phù
hợp với học sinh khuyết tật và khoảng 1/7 số trường có một giáo viên được đào tạo về khuyết tật
3 Công việc NKT thường làm
Cơ hội nghề nghiệp đối với người khuyết tật thường rất mỏng Họ chỉ có thể làm một số
Trang 5đã phải tính toán kỹ lưỡng đến khả năng có việc làm sau khi tốt nghiệp Tiếp đó là sự trau dồi vềngoại ngữ, tin học và những kỹ năng khác Một số công việc người khuyết tật có thể tham gia như:
Nhân viên nhập liệu, nhân viên văn phòng
Nghề đồ hoạ đối với người khuyết tật
Các nhóm nghề về sửa chữa máy tính, lập trình web, SEOer
Các nghề thuộc nhóm thủ công, vẽ, đan lát, sản xuất đồ handmade dành cho người khuyếttật
Nghề tẩm quất đối với người khuyết tật
Nghề may đối với người khuyết tật
II Vấn đề việc làm cho người khuyết tật hiện nay
Sau khi được đào tạo nghề, những người khuyết tật thường xuyên gặp những khó khăn trong sinh hoạt ở các công ty tuyển dụng, bởi cơ sở hạ tầng dành riêng cho người khuyết tật ở các công ty vẫn chưa được xây dựng Cũng có nhiều nhà tuyển dụng chỉ tuyển lao động là ngườikhuyết tật cho đủ chỉ tiêu Nhưng cũng có một vài nhà tuyển dụng đối xử rất tốt với những lao động là người khuyết tật, tuy nhiên số công ty như vậy rất là ít
Theo thống kê của Ủy ban quốc gia về Người khuyết tật, đa số người khuyết tật trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn với công việc không ổn định, thu nhập thấp Có 40% người khuyết tật ở độ tuổi lao động và còn khả năng lao động, trong đó chỉ có 30% số người này là có việc làm Như vậy, nước ta còn khoảng 2 triệu người khuyết tật có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động, chưa có việc làm Tỷ lệ người khuyết tật 15 tuổi trở lên có việc làm là 31,7%, trong khi tỷ lệ này ở người không khuyết tật cao gấp 2,5 lần, lên tới 82,4%
Ở các vùng đồi núi, điều kiện đi lại khó khăn, những người khuyết tật vận động thân dưới thường ít có cơ hội việc làm hơn Tỷ lệ có việc làm của người khuyết tật cao nhất là ở vùng Tây Nguyên (39,8%), Trung du Miền núi Bắc Bộ (37,9%) và thấp nhất ở vùng Đông Nam Bộ
(24,3%) Tuy nhiên, cũng tại hai vùng núi tỷ lệ người khuyết tật vận động thân dưới có việc làm
Trang 6lại thấp nhất (Tây Nguyên là 33,8% và Trung du là 31,9%) Điều này chỉ ra rằng tác động của khuyết tật tới cơ hội việc làm của người khuyết tật không giống nhau, phụ thuộc vào những hoàn cảnh và môi trường cụ thể mà người lao động làm việc.
Nhóm người điếc/khiếm thính có thu nhập bình quân cao nhất ở mức 3 triệu đồng một tháng,
so với mức thu nhập chung trên cả nước 5,4 triệu đồng một tháng vào thời điểm nghiên cứu được tiến hành
Bảng thống kê thu nhập trung bình của một số nhóm người khuyết tật 2016
Dạng khuyết tật N=308(người) Thu nhập trung vị
Nguồn: Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường
Tỷ lệ người lớn khuyết tật đang làm việc trong nền kinh tế chia theo các loại tật và nhóm tuổi (Đơn vị %)
Trang 7III Lý do người khuyết tật không tìm được việc làm
Bảng thống kê lý do người khuyết tật không đi làm 2016 (Đơn vị %)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Do thể trạng đặc biệt, người khuyết tật bị hạn chế hơn người không khuyết tật về tiếp cận việc làm Theo điều tra, không tính đến số người khuyết tật không có nhu cầu đi làm thì vẫn có 34,38% người khuyết tật (công việc không phù hợp, khuyết tật, mất khả năng lao động) không thể có việc làm do thể trạng của mình Tuy nhiên, con số này vẫn chưa xem xét đến thái độ của người khuyết tật về vấn đề tìm việc Bởi thực tế, có rất nhiều người trong độ tuổi lao động hoặc
có khả năng lao động nhưng tự ti với hoàn cảnh của mình nên lựa chọn lí do già yếu
Trang 81 Vấn đề kì thị đối với người khuyết tật
Kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người khuyết tật là một nguyên nhân cơ bản gây nên tình trạng thiệt thòi của người khuyết tật; hạn chế đáng kể các cơ hội sống, cơ hội phấn đấu của người khuyết tật và củng cố thêm tình trạng đói nghèo của họ
Kết quả nghiên cứu của viện xã hội và môi trường cho thấy kỳ thị dành cho người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm cao Dù trong tổng số người trả lời (n=389) 66% chưa bao giờ đi thi tuyển xin việc, nhưng trong số người đã từng thi tuyển (n=133 chiếm 34%) có đến 53% cho rằng họ bị từ chối việc vì khuyết tật của họ Trong công việc, nhiều người được phỏng vấn cho biết họ thường được trả lương thấp hơn hoặc không được ký hợp đồng lao động như các đồng nghiệp không phải là người khuyết tật làm cùng việc, không được đào tạo trong quá trình làm, giờ làm việc dài và bị lừa tiền Điều này diễn ra trong bối cảnh công việc của người khuyết tật tham gia nghiên cứu bấp bênh, thu nhập thường thấp và không có tiết kiệm
Ngoài nguyên nhân kì thị xã hội thì sự tự kì thị cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc một người khuyết tật hạn chế tiếp cận việc làm Tự kỳ thị (trong phạm vi nghiên cứu về người
khuyết tật) là định kiến mà người khuyết tật nội hóa vào suy nghĩ của mình và các suy nghĩ này quay lại chống lại bản thân người khuyết tật Trong quá trình nội hóa này, người khuyết tật tin vào các khuôn mẫu (hay các kỳ thị) mà xã hội dành cho cho họ Việc này dẫn đến việc thiếu tự tin vào năng lực và giá trị của bản thân (Corigan và Watson, 2002) Có tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử người khuyết tật như vậy là do:
Công tác tuyên truyền, vận động, về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
đã ban hành về lĩnh vực này còn chưa thực sự sâu rộng và phát huy hiệu quả
Nhận thức của người dân về chính sách và quyền của người khuyết tật còn nhiều hạn chế
Những định kiến về người khuyết tật vẫn tồn tại trong xã hội Các quan niệm tiêu cực của cộng đồng như: coi người khuyết tật là những người “đáng thương”; người gặp ngườikhuyết tật là sẽ gặp “vận đen”… đang là rào cản rất lớn trong việc đưa Người khuyết tật sống hòa nhập với cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người khuyết tật
Trang 92 Vấn đề hạn chế năng lực của bản thân người khuyết tật
Đối với một số loại khuyết tật, tỷ lệ có việc làm giảm theo tuổi, trong khi đối với một số loại khuyết tật khác tỷ lệ này lại tăng Thực tế, người khuyết tật có thể bị khuyết tật ở bất cứ lứa tuổi nào do bị tật do bẩm sinh hoặc do tác động từ bên ngoài Có nhiều trường hợp người bình thường ở một độ tuổi nhất định, sau khi đã làm việc một số năm do tai nạn nghề nghiệp mà phải trở thành người khuyết tật Điều đó chỉ ra rằng ảnh hưởng của khuyết tật không giống nhau, mà phụ thuộc vào những yêu cầu và môi trường làm việc cụ thể Loại công việc, kinh nghiệm trước khi bị khuyết tật, và yêu cầu đối với người lao động khác nhau tùy theo độ tuổi và các yếu tố khác, và tất cả các mối tương quan này cùng với khiếm khuyết của người khuyết tật sẽ quyết định khả năng làm việc của họ
3 Vấn đề giới hạn nguồn lực
Đây là nhóm nguyên nhân khách quan quan trọng dẫn đến tình trạng khó hoà nhập của người khuyết tật, từ đó giảm khả năng tìm được một công việc ổn định và phù hợp
Giáo dục
Hiện nay mức độ phổ cập giáo dục ở người khuyết tật thấp hơn người không khuyết tật ở cả
3 cấp học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông Điều này cũng tiếp diễn với mảng đào tạo nghề
Biểu đồ tỷ lệ được đào tạo nghề và tỷ lệ của người biết chữ từ 15 tuổi trở lên
năm 2016 (Đơn vị %) - Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 10Nguyên nhân của việc không tiếp cận được giáo dục xuất phát từ cả phía cung và cầu Về phía cung, hệ thống giáo dục không đầy đủ tạo ra rào cản với học sinh, ví dụ như trường học không đáp ứng nhu cầu, thiếu giáo viên đủ trình độ và sự phân biệt đối xử Về phía nhu cầu, ngay cả khi học sinh có đủ điều kiện về thể chất nhưng nếu nền giáo dục không phù hợp và không đáp ứng nhu cầu của trẻ, trẻ em có thể bỏ học hoặc không đi học Nếu cha mẹ của trẻ thấyrằng giáo dục không phù hợp hoặc không quan trọng đối với trẻ khuyết tật thì họ sẽ không gửi con đến trường
Chúng ta không biết những chênh lệch giữa người khuyết tật và người không khuyết tật ở các chỉ tiêu giáo dục là do yếu tố cung hay cầu Nhưng bất kể nguyên nhân là gì, những rào cản này càng trở nên lớn hơn đối với trẻ em Điều này có thể là bởi vì các trường học xa nhà và khó tiếp cận, không đáp ứng nhu cầu của trẻ em, hoặc bởi vì cha mẹ cảm thấy mức độ giáo dục cao hơn không quan trọng đối với trẻ khuyết tật Trên thực tế, các nghiên cứu cho thấy đối với trẻ
em khuyết tật, giáo dục có lợi ích lớn hơn so với những trẻ không bị khuyết tật, bởi vì nó tạo ra
sự khác biệt lớn hơn trong khả năng đảm bảo việc làm tốt
Khoảng cách của tỷ lệ người được đào tạo nghề và tỷ lệ biết chữ giữa những người khuyết tật và người không khuyết tật một phần là do những rào cản đã nêu ở trên Tuy nhiên, cũng có thể có một phần là do những người có trình độ học vấn thấp dường như có nguy cơ bị khuyết tật nhiều hơn do họ sống trong môi trường kém an toàn hơn hoặc tiếp cận dịch vụ y tế nghèo nàn hơn
Thông tin
Công nghệ thông tin truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng đối với người khuyết tật, góp phần hỗ trợ người khuyết tật khắc phục các rào cản để hòa nhập xã hội và tìm kiếm được một công việc phù hợp cho mình Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có người khuyết tật sở hữu các phương tiện truyền thông đều thấp hơn so với hộ không có người khuyết tật
Người khuyết tật thường gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận thị trường lao động như: Thiếu cơ hội việc làm, chưa được đào tạo nghề đúng mức cũng như tư vấn chọn nghề Họ thiếu thông tin tìm kiếm, lựa chọn công việc phù hợp Kênh tìm việc chủ yếu của họ đều thông qua giới thiệu của người thân, bạn bè
Trang 11Phương tiện truyền thông Tỷ lệ hộ sở hữu các phương tiện truyền thông
Hộ gia đình có NKT Hộ gia đình không có
Tỷ lệ dân số có truy cập internet phân theo tình trạng khuyết tật ( Đơn vị % )
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 12Tỷ lệ dân số có điện thoại di động phân theo tình trạng khuyết tật, giới tính và khu vực
Nguồn: Tổng cục thống kê
Rõ ràng có khoảng cách đáng kể trong việc tiếp cận với những ứng dụng công nghệ thông tin Gần 43% người không khuyết tật được tiếp cận với mạng internet so với 6,7% người khuyết tật Khoảng cách sử dụng điện thoại di động là 73,09% người không khuyết tật so với 38,85% người khuyết tật Những khoảng cách này tương tự nhau theo giới tính và nông thôn so với thành thị
Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay việc không tiếp cận được với các ứng dụng công nghệ gây các hạn chế về thông tin một cách nghiêm trọng Báo cáo Triển vọng thị trường việc làm năm 2017 của JobStreet đã công bố cho thấy 47% ứng viên Việt Nam tìm việc qua Internet (con số này thậm chí vẫn còn thấp so với khu vực) Hạn chế về phương tiện liên lạc thiết yếu như điện thoại di động cũng gây những khó khăn không nhỏ cho người khuyết tật trong việc giao tiếp và tìm kiếm thông tin
Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là một yêu tố ảnh hưởng rất lớn đến công việc của người khuyết tật cũng như
cơ hội tìm việc của họ Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giớinói chung, cơ sở hạ tầng cho người khuyết tật chưa nhận được nhiều quan tâm Đối với trường
Trang 13hợp của Việt Nam thì chi phí đầu tư có thể nói là khó khăn lớn nhất đặc biệt khi mà để thiết kế những công trình cho người khuyết tật sử dụng đòi hỏi không gian lớn hơn, công trình phụ trợ nhiều hơn dẫn đến chi phí cao hơn.
Đối với người bình thường tại Việt Nam, việc phải di chuyển một quãng đường dài trong những giờ cao điểm đã rất vất vả, đối với người khiếm thị, sự vất vả đó tăng lên gấp bội khi mà nhiều tuyến đường giao thông không có làn đường riêng dành cho người khuyết tật, thiếu các tínhiệu, ký hiệu báo đường lên xuống và thiếu những thông tin, biển chỉ dẫn về xe buýt Điều đáng nói, nhiều tuyến đường không có vỉa hè hoặc có vỉa hè nhưng bị chiếm dụng
Trong khi đó, đối với những người thuộc nhóm đối tượng khuyết tật vận động lại gặp khó khăn khi nhiều công trình xây dựng, đặc biệt là những công trình cũ, chưa chú ý tới việc xây dựng các làn đường tiếp cận dành cho người khuyết tại Tại nhiều tòa nhà, công trình công cộng,nhà ga, bến xe, trên các tuyến đường, vỉa hè, cầu vượt dành cho người đi bộ thiếu những làn đường trượt dốc và hệ thống tay vịn dành cho những người khuyết tật vận động Trên phương tiện giao thông công cộng, hay các điểm trông giữ xe của các cơ quan văn phòng, tòa nhà chung
cư còn thiếu những không gian dành cho xe lăn, xe 3 bánh
Đói nghèo
Một nguyên nhân đặc biệt quan trọng ở đây dẫn đến hạn chế cơ hội việc làm của người khuyết tật chính là tình trạng đói nghèo Khuyết tật và nghèo đói có mối liên hệ rất chặt chẽ Khuyết tật vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của đói nghèo Khuyết tật cùng với đói nghèo đã làm tăng khả năng bị tổn thương và bị loại ra khỏi xã hội của những người phải chịu khuyết tật
và đói nghèo
Đặc biệt một hộ có người khuyết tật sẽ phải thêm nhiều loại chi phí khi mà người khuyết tật
có chi phí sinh hoạt cao hơn do có nhu cầu cao hơn về chăm sóc y tế, thiết bị trợ giúp, phương tiện di chuyển, xây dựng/cải tạo nhà ở phù hợp Năm 2016, cứ 10 hộ có người khuyết tật thì gần 2 hộ là hộ nghèo, trong khi cứ 10 hộ không có người khuyết tật thì chưa đến 1 hộ là hộ nghèo được xã/phường công nhận