Vì vậy, bài tiểu luận này với đề tài “So sánh thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015” sẽ đi vào phân tích các điểm giống
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
B PHẦN NỘI DUNG 1
I Thủ tục xét lại bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật .1
II So sánh thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự 4
1 Giống nhau 4
2 Khác nhau 10 III Thực tiễn công tác giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 14
C PHẦN KẾT LUẬN 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
Một vụ án dân sự có thể được giải quyết thông qua Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm Tuy nhiên, thực tế trong nhiều trường hợp, sau khi giải quyết qua hai cấp xét xử, bản án, quyết định phúc thẩm vẫn chưa chính xác, gây thiệt hại cho quyền, lợi ích đương sự hoặc cho người thứ ba Vì lẽ đó, tất yếu cần có một thủ tục xem xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật – chính là các thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, bởi vì đều là những thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực nên hai thủ tục này cũng có nhiều điểm giống nhau, có thể gây nhầm lẫn trong thực tế Vì vậy, bài tiểu luận này với đề tài “So sánh thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015”
sẽ đi vào phân tích các điểm giống, khác biệt giữa hai thủ tục này, trên cơ sở đó cung cấp thêm các kiến thức về thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
B PHẦN NỘI DUNG
I Thủ tục xét lại bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Theo quy định tại Điều 17 Bộ luật tố tụng dân sự, việc giải quyết một vụ việc dân sự được đảm bảo xét xử theo hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của ngành Tòa án đã cho thấy không phải vụ án nào Tòa án cũng xử đúng, công bằng, kể cả những vụ án đã qua hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm và đã có hiệu lực nhưng vẫn có những sai sót Nguyên nhân có thể do
lý do khách quan như cả cơ quan xét xử và đương sự đều không thể biết được những tình tiết phát sinh làm thay đổi nội dung vụ án, hoặc vì lý do chủ quan, sự
cố tình làm trái quy định pháp luật của cơ quan xét xử, những tiêu cực khi xét xử hoặc do trình độ thẩm phán còn hạn chế… Nếu một bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật nói chung hay bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật nói riêng khi có những sai lầm mà vẫn được thi hành thì sẽ ảnh hướng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Do đó, cần có
Trang 3một cơ chế để kiểm tra, giám đốc việc xét xử của Tòa án để nhằm phát hiện những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm
Trên cơ sở đó, ngoài nguyên tắc hai cấp xét xử, pháp luật Việt Nam còn quy định về thủ tục xét xử lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Thủ tục xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã được pháp luật Việt Nam quy định khá sớm Tại Điều 10, Luật tổ
chức Tòa án Nhân dân năm 1960 có quy định “… Những bản án và quyết định
đã có hiệu lực nếu phát hiện có sai lầm thì xét lại” 1
Như vậy, có thể hiểu thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực
pháp luật là thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự do Tòa án có thẩm quyền thực hiện để xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có những căn cứ kháng nghị do pháp luật quy định Về thủ tục xét lại bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật, cần lưu ý một số điểm như sau:
Thứ nhất, thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật là một thủ tục tố tụng đặc biệt Đối tượng của việc xét lại bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật là “bản án, quyết định” của Tòa án mà không phải vụ
án Và những bản án, quyết định này đã có hiệu lực Bởi trên thực tế, có nhiều trường hợp các bản án, quyết định đã có hiệu lực, đã được thi hành nhưng có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, không đảm bảo công bằng xã hội Vì vậy, thủ tục này đặt ra
để giúp Tòa án sửa chữa những sai lầm đó
Thứ hai, thủ tục đặc biệt để xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật không phải là một cấp xét xử Luật đã quy định rõ là xét lại chứ không phải là “xét xử” lại Bởi nguyên tắc đặc trưng của tố tụng dân sự là hai cấp xét xử, vì vậy không có cấp xét xử thứ ba Quy định như vậy để tránh tình trạng một vụ án bị kéo dài, qua nhiều lần xét xử, tốn thời gian công sức, tiền bạc của đương sự
Ý nghĩa của thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật:
1 Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Hà Nội – 2017, tr 292
Trang 4Trước hết, thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật góp phần đáp ứng những đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền và là một trong những cơ chế để đảm bảo việc kiểm tra, giám sát pháp luật
Pháp luật tố tụng dân sự đã quy định thêm thủ tục xét lại bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật bên cạnh quy định về hai cấp xét xử sơ thẩm
và phúc thẩm để kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định
để phát hiện những sai lầm nghiêm trọng, vi phạm trong quá trình giải quyết của tòa án nhân dân cấp dưới Từ đó, bảo đảm tốt nhất quyền con người, quyền công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.1
Thêm nữa, thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật còn có ý nghĩa lớn về mặt pháp lý Các quyết định của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm là cơ sở để khẳng định tính đúng đắn của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, hoặc là cơ sở để hủy bỏ hiệu lực pháp luật của bán
án, quyết định đó, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án cấp dưới sửa chửa những vi phạm và khắc phục hậu quả Từ đó đảm bảo các nguyên tắc của pháp luật tố tụng dân sự
Các thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật còn có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động lập pháp Trên cơ sở tiến hành các thủ tục xét lại bản án, quyết định này, Tòa án có điều kiện phát hiện những thiếu sót của pháp luật hiện hành, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Theo Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được quy định tại Phần năm gồm có ba chương: Thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm và thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao Trong phạm vi bài tiểu luận này chỉ đi vào nội dung thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự
1 Trương Hòa Bình, “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại Tòa án, giải pháp đột phá TAND thực hiện có kết quả bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” Tạp chí TAND, Cộng sản, Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, Số chuyên đề 11/2014, tr 7
Trang 5II So sánh thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm trong giải quyết vụ án dân sự
1 Giống nhau
Như đã phân tích, trước hết, giám đốc thẩm và tái thẩm đều là những thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Do đó, hai thủ tục này về
cơ bản có khá nhiều điểm giống nhau
1.1 Đối tượng kháng nghị: Đối tượng của thủ tục giám đốc thẩm và tái
thẩm đều là những bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế buộc các chủ thể có liên quan phải tuân thủ chấp hành
1.2 Điều kiện để xét lại bản án, quyết dịnh đã có hiệu lực: một bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chỉ bị xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hay tái thẩm khi bị kháng nghị bởi cơ quan có thẩm quyền
1.3 Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị Theo Điều 331 quy định về chủ
thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và Điều 354 quy định người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là những người có thẩm quyền Pháp luật tố tụng dân sự quy định chỉ những người này mới có quyền kháng nghị để đảm bảo bản án được ổn định, tránh việc kháng nghị một các tràn lan
Quy định người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có sự thay đổi so với quy định tại Bộ luật
tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung 2011 Thay đổi này xuất phát từ sự thay đổi của cơ cấu hệ thống Tòa án nhân dân cùng với Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân 2014
Ngoài ra, pháp luật không cho đương sự quyền kháng cáo giám đốc thẩm, tái thẩm mà chỉ trao cho họ quyền đề nghị bởi vì tính chất của giám đốc thẩm,
Trang 6tái thẩm chỉ là “xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật”, là cơ chế tự kiểm tra của ngành tư pháp nên chỉ những người có thẩm quyền mới được kháng nghị
1.4 Hậu quả pháp lý Theo Điều 332 quy định về việc Hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; Người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm Việc hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án nhằm hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra khó khắc phục (trong thời gian xem xét, giải quyết việc kháng nghị hoặc xét xử giám đốc thẩm) nếu kết quả của việc xét xử giám đốc thẩm dẫn đến hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Tuy nhiên, phải hiểu rằng việc xem xét giám đốc thẩm và tái thẩm không đương nhiên làm mất hiệu lực các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật nếu không có các quyết định hoãn hay tạm định chỉ thi hành bản án
Ngoài những điểm giống nhau nêu trên, tại chương XXI – Thủ tục tái thẩm,
Điều 357 Áp dụng các quy định về thủ tục giám đốc thẩm có nội dung:
Các quy định khác về thủ tục tái thẩm được thực hiện như các quy định của
Bộ luật này về thủ tục giám đốc thẩm.
Việc dẫn chiếu theo các quy định của thủ tục giám đốc thẩm được xem là áp dụng nguyên tắc tương tự trong giải quyết các vụ án dân sự1 Trên cơ sở điều luật này, một số quy định về thủ tục tái thẩm được thực hiện theo quy định về thủ tục giám đốc thẩm bao gồm: Về thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị tái thẩm; Về gửi quyết định kháng nghị tái thẩm; Thời hạn mở phiên tòa tái thẩm; Chuẩn bị phiên tòa; Thủ tục phiên tòa; Quyết định tái thẩm; Hiệu lực; Gửi
1 Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp, Bình luận khoa học BLTTDS 2015, nxb Lao Động,2016
Trang 7quyết định tái thẩm Như vậy, việc xác định các điểm giống nhau giữa thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm còn bao gồm các quy định trên Cụ thể:
1.5 Nội dung quyết định kháng nghị: Nội dung quyết định kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm đều gồm các nội dung:
1 Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
2 Chức vụ của người ra quyết định kháng nghị;
3 Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
4 Quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
5 Nhận xét, phân tích những vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
6 Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
7 Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
8 Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án;
9 Đề nghị của người kháng nghị 1
1.6 Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị được thực hiện theo Điều 335:
Người đã kháng nghị giám đốc thẩm có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 334 của Bộ luật tố tụng dân sự Việc thay đổi, bổ sung phải được thực hiện bằng quyết định; Người đã kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm Việc rút kháng nghị phải được thực hiện bằng quyết định; Khi nhận được quyết định rút toàn bộ kháng nghị, Tòa án giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử giám đốc thẩm
1 Xem Điều 333 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Trang 81.7 Về thẩm quyền xét xử và thành phần Hội đồng xét xử Điều 337 quy
định thẩm quyền giám đốc thẩm và được Điều 357 dẫn chiếu tương ứng Theo đó:
- Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán hoặc toàn thể Ủy ban thẩm phán
- Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán hoặc Toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
- Trường hợp những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng
một vụ án dân sự cùng thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao
có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ án
1.8 Về những người tham gia phiên tòa, được quy định tại Điều 338:
Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp; Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm vẫn tiến hành phiên tòa
Việc quy định Tòa án chỉ triệu tập đương sự trong trường hợp cần thiết bởi
lẽ, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là hoạt động xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, không phải là xét xử lại vụ án nên pháp luật tố tụng dân sự không yêu cầu sự bắt buộc có mặt của những người tham gia tố tụng Tuy nhiên, quy định này cũng làm hạn chế tính công khai của phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm Do vậy, xung quanh quy định này cũng có quan điểm kiến nghị pháp luật
Trang 9tố tụng dân sự theo hướng mở công khai phiên tòa giám đốc thẩm với sự tham gia của các bên đương sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bào chữa.1
1.9 Về phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm.
Đầu tiên là thời hạn mở phiên tòa Pháp luật tố tụng dân sự quy định thời hạn mở phiên tòa là 04 tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ Hai là chuẩn bị phiên tòa Việc chuẩn bị do một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công tiến hành Thẩm phán này làm bản thuyết trình về vụ án tại phiên tòa Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị Bản thuyết trình phải được gửi cho các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày
mở phiên tòa giám đốc thẩm
Ba, thủ tục phiên tòa Theo Điều 341, phiên tòa đầu tiên tiến hành khai mạc Sau đó, một thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị
và đề nghị của người kháng nghị Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung kháng nghị
Đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập đến phiên tòa giám đốc thẩm trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của họ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án
Các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và thảo luận Hội đồng xét xử nghị án và biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa
1 Theo Ths Mai Ngọc Dương - Văn phòng Chính phủ.
Trang 101.10 Phạm vi xét xử Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ xem xét
lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị
Ngoài ra, pháp luật tố tụng dân sự cũng quy định trường hợp Hội đồng xét
xử giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án Quy định này đã mở rộng phạm vi giám đốc thẩm rất rộng so với phạm vi xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm, tao cơ sở pháp lý cho việc xem xét giải quyết vụ án một cách toàn diện và triệt để
1.11 Về quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm Quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm là văn bản do Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm ban hành thể hiện ý chí của Hội đồng xét xử về việc giải quyết bản án, quyết định dân sự đã
có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị
Về nội dung của quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Điều 348 quy định
“a) Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa giám đốc thẩm;
b) Họ, tên các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm Trường hợp Hội đồng xét xử giám đốc thẩm là Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì ghi họ, tên, chức vụ của chủ tọa phiên tòa và số lượng thành viên tham gia xét xử;
c) Họ, tên Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; d) Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám đốc thẩm;
đ) Tên, địa chỉ của các đương sự trong vụ án;
e) Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
g) Quyết định kháng nghị, lý do kháng nghị;