ĐẶT VẤN ĐỀViêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh bacterial vaginosis - BV là tìnhtrạng phát triển quá mức của các vi khuẩn bình thường được tìm thấy trong âm đạo [1].. Theo Trung tâm kiểm soát
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh (bacterial vaginosis - BV) là tìnhtrạng phát triển quá mức của các vi khuẩn bình thường được tìm thấy trong
âm đạo [1] Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Hoa
Kỳ, BV là rối loạn phổ biến ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản với tỉ lệ 29,2%,
và là căn nguyên thường gặp nhất gây ra viêm nhiễm phụ khoa [2] Tại ViệtNam, một nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 460 phụ nữ trong độ tuổisinh đẻ tại huyện A Lưới cho kết quả 37,6% phụ nữ bị viêm nhiễm đường sinhdục thấp, trong đó căn nguyên viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh chiếm tới67,7% [3] Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, BV có thể gây ranhững hậu quả nghiêm trọng, làm tăng gấp đôi nguy cơ nhiễm các bệnh lâytruyền qua đường tình dục [4] và tăng nguy cơ đẻ non ở phụ nữ có thai [5].Chẩn đoán BV dựa trên tiêu chuẩn vàng là nhuộm Gram dịch âm đạo vàđánh giá dưới kính hiển vi quang học theo thang điểm Nugent [6], [7] Đây làphương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu tốt, tuy nhiên phụ thuộc vào kĩ năngcủa người đánh giá [7] Mặt khác, phương pháp nhuộm soi không đánh giáđược sự biến đổi của môi trường âm đạo gây ra bởi sự thay đổi của hệ vikhuẩn chí như pH Đa số trường hợp đánh giá sai số lượng vi khuẩn kị khí
xảy ra ở các vi hệ có lượng Lactobacillus lớn [8]
Gần đây, máy phân tích nhiễm khuẩn âm đạo GMD S600 do hãng Dirui,Trung Quốc sản xuất được sử dụng để kiểm tra dịch âm đạo Dựa trên côngnghệ chụp ảnh dòng chảy tế bào tự động nhận dạng 8 thông số trong dịch tiếtphụ khoa, kết hợp phân tích hóa học theo nguyên tắc so sánh màu quang điện
để phát hiện các thành phàn chuyển hóa của vi sinh vật Công nghệ chụp ảnh
Trang 2dòng tế bào đã chứng minh được hiệu quả trong các xét nghiệm huyết học.Xét nghiệm cho kết quả nhanh, trung bình 1 phút/mẫu, dễ dàng vận hành và
sử dụng Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu công bố trên thế giới và ViệtNam về hiệu quả chẩn đoán BV sử dụng máy GMD S600
Bệnh viện phụ sản Trung ương là bệnh viện đầu ngành sản phụ khoa của
Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung Riêng khoa vi sinh bệnh viện phụsản Trung ương trung bình xử lý 100-150 xét nghiệm chẩn đoán BV mỗi ngàyvới các đối tượng bệnh nhân đa dạng và phong phú
Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh bằng máy GMD S600 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương”
với hai mục tiêu:
1 Đánh giá tỉ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh ở các bệnh nhân khám phụ khoa tại bệnh viện phụ sản Trung ương từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2019.
2 So sánh giá trị chẩn đoán viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh bằng máy GMD S600 và thang điểm Nugent.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm sinh lý âm đạo và hệ vi khuẩn chí âm đạo của phụ nữ trong
độ tuổi sinh sản.
1.1.1 Đặc điểm giải phẫu, sinh lý âm đạo
1.1.1.1 Đặc điểm giải phẫu âm đạo
Trang 4Hình 1.1: Vị trí giải phẫu của âm đạo[9]
Về đại thể: Âm đạo là một tổ chức hình ống nối tử cung với bên
ngoài, đi từ tiền đình âm đạo đến tử cung, nằm sau bang quang và niệuđạo, trước trực tràng và ống hậu môn Âm đạo ở phụ nữ trong độ tuổi sinhsản dài 8-10cm, có 3 chức năng chính: (1) Tiếp nhận dương vật trong giaohợp, (2) Tạo thành ống đẻ khi sinh nở và, (3) Đường đi ra của kinh nguyệt
từ tử cung
Trang 5Về vi thể: Âm đạo được cấu tạo từ 3 lớp chính từ trong ra ngoài:
Niêm mạc, cơ trơn và mô liên kết Niêm mạc âm đạo được lót bởi biểu môlát tầng không sừng hóa, chứa nhiều mạch máu và thần kinh cảm giác Cơtrơn âm đạo gồm 2 lớp cơ dọc và cơ vòng, có khả năng co giãn cao Môliên kết bên ngoài âm đạo chứa mạch máu và thần kinh, liên quan với các
bộ phận trong hố chậu [9]
1.1.1.2 Đặc điểm dịch âm đạo
- Dịch âm đạo (thường gọi là khí hư) bao gồm các tế bào âm đạo bong
ra, chất tiết từ tuyến Bartholin, tuyến Skene, dịch nhầy ở cổ tử cung, dịch tiết
ra từ buồng tử cung và dịch thấm từ thành âm đạo (tiết ra từ các tổ chức vàmao mạch của âm đạo đã trưởng thành) Dịch tiết âm đạo có thể gia tăng ởgiữa chu kỳ kinh nguyệt do chất nhầy cổ tử cung gia tăng
- Các thành phần của dịch tiết âm đạo bình thường bao gồm nước, điệngiải, các mảnh tế bào chủ yếu là tế bào biểu mô âm đạo bị bong ra, quần thế
vi sinh vật không gây bệnh, acid béo hữu cơ, protein và các hợp chấtcarbohydrate
- Bình thường, dịch âm đạo trắng trong, hơi quánh, thay đổi theo chu kỳkinh nguyệt, vào thời kỳ phóng noãn, dịch âm đạo nhiều và loãng là dịch sinh
lý Dịch tiết sinh lý âm đạo có đặc điểm là không bao giờ gây ra các triệu chứng
cơ năng như: kích thích, ngứa hay đau khi giao hợp, không có mùi, không chứabạch cầu đa nhân và không cần điều trị Khi bị nhiễm khuẩn, dịch âm đạo thayđổi, xét nghiệm dịch âm đạo thấy các vi sinh vật gây bệnh khác nhau
- Về tính chất sinh hóa: Dịch âm đạo chứa các phân tử carbonhydrat(glucose, maltose), protein, urê, acid amin, acid béo, các ion K, Na, Cl Bìnhthường môi trường âm đạo nghiêng về acid (có độ pH toan từ 3,8 đến 4,6) Độ
Trang 6pH âm đạo là do glycogen tích lũy trong tế bào biểu mô chuyển thành acidlactic khi có trực khuẩn Doderlin Nồng độ glycogen dự trữ trong tế bào chịuảnh hưởng của estrogen.
1.1.2 Hệ vi khuẩn chí âm đạo và các yếu tố bảo vệ.
1.1.2.1 Lactobacilli
Dịch âm đạo thường chứa 108 đến 1012 vi khuẩn/ml, gồm các
Lactobacillus (trực khuẩn Doderlin), các cầu khuẩn, các trực khuẩn không
gây bệnh Trực khuẩn Doderlin chiếm khoảng 50 - 88% [10], trong đó,
Lactobacillus jensenii, L.iners, L.crispatus và L.gasseri là 3 loài thường gặp
nhất [11]
Hình 1.2: Trực khuẩn Lactobacillus spp trong dịch âm đạo[12]
Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng Lactobacilli trong dịch âm đạo:
Trang 7- Ở phụ nữ bình thường trong độ tuổi sinh đẻ, Lactobacilli là những vi
khuẩn chiếm ưu thế ở âm đạo
- Tuổi: ở em gái trước thời kỳ dậy thì, Lactobacilli ít hơn so với ở phụ
nữ thời kỳ sinh đẻ
- Ở những phụ nữ thời kỳ mãn kinh, Lactobacilli cũng giảm nhưng điều trị bằng estrogen làm tăng tỷ lệ hồi phục Lactobacilli âm đạo.
- Hoạt động tình dục: Hoạt động tình dục có thể dẫn đến những thay đổi
như làm tăng Mycoplasma và các tác nhân lây truyền qua đường tình dục như:
vi khuẩn lậu, Chlamydia trachomatis, Herpes virus.
- Có thai và sinh đẻ: Trong thời kỳ mang thai, một số nghiên cứu thấy
rằng, có sự tăng mạnh Lactobacilli Tuy nhiên, sau khi đẻ, có những thay đổi
đột ngột ở hệ vi khuẩn âm đạo Có sự tăng rõ rệt của những loài vi khuẩn kỵkhí vào ngày thứ ba của thời kỳ hậu sản Những yếu tố ảnh hưởng bao gồm:chấn thương, sản dịch, vật liệu khâu, thăm khám trong chuyển dạ, thay đổi vềnồng độ hormon Vào khoảng tuần thứ sáu sau đẻ, hệ vi khuẩn âm đạo trở vềtrạng thái bình thường
1.1.2.2 Các yếu tố bảo vệ chống nhiễm trùng âm đạo
Vai trò của Lactobacilli trong âm đạo
- Tiết acid lactic: pH âm đạo toan (< 4,5), là môi trường không thuận lợicho vi khuẩn gây bệnh phát triển Để có được môi trường âm đạo toan cầnđến sự có mặt của trực khuẩn Doderlin có sẵn trong âm đạo Các vi khuẩn nàychuyển glycogen có trong tế bào biểu mô âm đạo thành acid lactic [13]
- Hydrogen peroxide: một chất kháng khuẩn, ức chế sự phát triển của vi
khuẩn kị khí trong âm đạo, được tiết ra bởi 96% các loài Lactobacillus trú ngụ
trong âm đạo phụ nữ khỏe mạnh [14]
Trang 8- Kháng sinh: Một số loài Lactobacillus sản xuất được các peptid mang
hoạt tính kháng khuẩn, như lactocin 160 và crispasin [15]
Cơ chế tự bảo vệ khác của âm đạo bao gồm:
+ Niêm mạc âm đạo có dịch thấm từ mạng tĩnh mạch, bạch mạch, dịchnày có enzym kháng khuẩn
+ Chất nhầy cổ tử cung cũng có các enzyme kháng vi khuẩn nhưlysozym, peroxidase, lactoferin
1.2 Sinh bệnh học và chẩn đoán viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh
1.2.1 Sinh bệnh học viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh
Sự thay đổi trong hệ vi khuẩn bình thường bao gồm việc giảm
Lactobacilli, có thể do việc sử dụng kháng sinh hay mất cân bằng pH âm đạo
giữa các nhóm phụ nữ khác nhau dẫn đến tình trạng phát triển quá mức của
những vi khuẩn yếm khí, bao gồm Gardnerella vaginalis (G vaginalis), Mobiluncus (là những trực khuẩn Gram âm nhỏ và gấp khúc) và một số loài Bacteroides [15].
Gardnerella vaginalis là một loại trực khuẩn nhỏ gram âm Chúng
thường ký sinh ở đường sinh dục, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây bệnh
Gardnerella vaginalis gây viêm tại chỗ, khí hư thuần nhất, dính như hồ loãng Hình ảnh tế bào học đặc trưng trong viêm do Gardnerella vaginalis là các tế
bào đích (clue cell), thường là những tế bào vảy trung gian bên trong chứa cáctrực khuẩn nhỏ hình que ngắn, bắt màu xanh tối hay tím xám, nằm dày đặctrong bào tương và có xu hướng tập trung nhiều hơn ở ngoại vi làm cho màngbào tương không nhận rõ [16]
Trang 9Hình 1.3: Gardnerella vaginalis và Clue cell [12]
Vi khuẩn kị khí: Năm 1980, Spiegel phân tích dịch âm đạo từ 52 phụ nữ
bằng cách nuôi cấy, định danh vi khuẩn và phân tích miễn dịch sắc ký để nhậnbiết sự chuyển hóa của các acid hữu cơ chuỗi ngắn Ông đã phân lập được
Bacteroides spp (Prevotella và Prophyrnomonass) và Peptostreptococcus Sự có
mặt của các loài vi khuẩn kỵ khí có mối tương quan trực tiếp đến sự giảmLactate, tăng Succinate và Acetate trong dịch âm đạo
Pavonen đã khẳng định sự hiện diện của Succinate và acid hữu cơ chuỗingắn trong dịch âm đạo của phụ nữ BV
Qua nhiều nghiên cứu, Spiegel đã kết luận vi khuẩn kỵ khí phối hợp
Gardnerella gây viêm âm đạo.
Những nghiên cứu trong những năm đầu thập niên 1980 chỉ ra rằng các
vi sinh vật kỵ khí khác gây viêm âm đạo là Mobiluncus Spiegel đã nhận biết
sinh vật này bằng nhuộm Gram trực tiếp dịch âm đạo Năm 1984 Spiegel và
Trang 10Robert đã đề xuất tên nhóm Mobiluncus cho trực khuẩn hình que di động Có
2 loài đã được mô tả là Mobiluncus curtisii và Mobiluncus mulieris [17] Mycoplasma:
Các Mycoplasma và vi sinh vật thuộc nhóm Mollicutes chuyển tiếp từ vi khuẩn kị khí (clostridia) bằng phân đoạn gen Trong 16 loài Mycoplasma ở
người có 6 loài xuất hiện ở hệ tiết niệu sinh dục
Mycoplasma hominis được phát hiện đầu tiên bởi Nocard và Roux năm
1898 Năm 1937 Edsarr và Dienes lần đầu tiên phân lập được Mycoplasma ở tuyến Bartholin và đặt tên là M hominis.
Mycoplasma hominis là những vi khuẩn rất nhỏ không di động, không
sinh nha bào, hình thể rất đa dạng (hình thoi, hình gậy, hình cầu), không bắtmàu Gram, rất khó nhuộm và dễ biến dạng [18]
Năm 1958, Hunter và Long KR lưu ý mối liên quan giữa Mycoplasma
sinh dục với viêm âm đạo, ông phát hiện vi khuẩn kiểu viêm màng phổi(Pleuropneumonia like organisms: PPLO) từ 39 phụ nữ viêm âm đạo Gần
đây, PPLO được ghi nhận như là Mycoplasma [19].
Năm 1970, Mendel thông báo đã phân lập được Mycoplasma từ gần nửa
số bệnh nhân bị viêm âm đạo do Gardnerella hoặc Trichomonas Taylor – Robinson và Mc Cormack (1980) cho rằng Mycoplasma hominis có vai trò trong viêm âm đạo không đặc hiệu hoặc đơn độc hoặc phối hợp Gardnerella
hoặc phối hợp các vi sinh vật khác
Pheiter và cộng sự ủng hộ giả thuyết này bằng sự phát hiện Mycoplasma hominis từ 63% phụ nữ bị viêm âm đạo do vi khuẩn Năm 1982, Paavonen và cộng sự đã báo cáo mối liên quan giữa BV với Mycoplasma hominisvà Gardnerella vaginalis với dịch âm đạo [20].
Trang 11Bình thường vi khuẩn kỵ khí có thể tìm thấy với tỷ lệ ít hơn 1% vi khuẩnchí âm đạo Ở phụ nữ bị viêm âm đạo do vi khuẩn, số lượng những vi khuẩn
kỵ khí gấp 100 đến 1000 lần ở phụ nữ bình thường, ngoài ra, người ta không
thấy sự có mặt của Lactobacilli [15].
Những vi khuẩn kỵ khí này sản xuất ra các enzym phân hủy proteinthành các acid amin như putrescine, cadaverine và trimethylamine Trongmôi trường kiềm, các acid amin này sẽ biến đổi thành dạng hơi và tạo nênmùi cá ươn [21]
1.2.2 Chẩn đoán viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh
Có rất nhiều phương pháp, nhiều kỹ thuật để phát hiện các tác nhân gâyviêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất,trang thiết hiện có mà mỗi phòng xét nghiệm có thể triển khai các kỹ thuậtđơn giản hay hiện đại trong nghiên cứu này tôi chỉ áp dụng kỹ thuật chẩnđoán bằng phương pháp nhuộm Gram để chẩn đoán các căn nguyên gây viêm
âm đạo
Tiêu chẩn của Spiegel: lam kính được soi bằng vật kính dầu [7].
ít: 1+ = < 5 vi khuẩn (VI KHUẨN) trong một vitrường
Trung bình: 2+ = 6-30 VI KHUẨN trong 1 vitrường
Nhiều: 3+ = > 30 VI KHUẨN trong 1 vi trường Bình thường: Điểm 3+ hoặc 2+ của những trực khuẩn gram dương
không có bào tử (Hình thái lactobacilli).
Trang 12Không xác định được: Số lượng VI KHUẨN ít (1+) hoặc VI KHUẨNbao gồm một hỗn hợp các hình thái khác nhau và không có loại nào chiếm ưuthế Nấm (2+) hoặc nhiều hơn cũng được bao gồm trong nhóm này [22].
Theo Nugent: Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa trên thang điểm từ 0 đến 10,
trong đó điểm từ 0 đến 3 là bình thường, điểm 7 trở lên là Viêm âm đạo do vikhuẩn và điểm từ 4 đến 6 được cho là trung gian [6]
Bảng 1.1: Thang điểm của Nugent trong chẩn đoán Viêm âm đạo do vi
khuẩn bằng kỹ thuật nhuộm Gram.
Lactobacillus
Hình thái
Gardnerella và Bacteroides
Trực khuẩn Gram biến đổi, gấp khúc
2+
3+
4+
01+ hoặc 2+
3+ hoặc 4+
Các hình thái vi khuẩn được tính điểm như là số lượng trung bình được
nhìn thấy trên một vi trường Tổng số điểm = Lactobacilli + G vaginalis +
trực khuẩn khác
0: không có hình thái VI KHUẨN hiện diện
1: < 1 VI KHUẨN hiện diện2: 1- 4 VI KHUẨN hiện diện3: 5-30 VI KHUẨN hiện diện4: > 30 VI KHUẨN hiện diệnTính tổng điểm và đánh giá:
Trang 13- 0-3 điểm: không viêm
- 4-6 điểm: trung gian
- 7-10: Viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh [6]
Trang 141.3 Máy xét nghiệm nhiễm khuẩn âm đạo GMD S600
1.3.1 Giới thiệu chung
Máy phân tích nhiễm khuẩn âm đạo GMD-S600 được sử dụng để kiểmtra dịch và chỉ số hóa học của dịch tiết phụ khoa, bao gồm máy chỉnh, bộ máytính và module tải mẫu
Hình 1.4: Máy xét nghiệm nhiễm khuẩn âm đạo GMD S600, Dirui, Trung
Quốc [23]
Phân tích hóa học của dịch tiết phụ khoa :
Máy phân tích nhiễm khuẩn âm đạo GMD-S600 được sử dụng với quethử Dirui chuyên dụng Áp dụng nguyên lý so màu quang điện và nguồn sảnglạnh năm bước sóng cường độ cao, máy phân tích có sức kháng mạnh với ánhsáng môi trường, tuổi thọ cao, độ chính xác cao, độ nhạy, độ đặc hiệu và độ
ổn định và có thể điều chỉnh các hiệu ứng để kiểm tra kểt quả đo pH và cácmẫu nhuộm bất thường
Phân tích dịch phụ khoa :
Trang 15Máy phân tích nhiễm khuẩn âm đạo GMD-S600 sử dụng công nghệchụp ảnh dòng chảy tế bào, với ống kính mục tiêu 40 x để chụp ảnh vi mô, tốc
độ cao cho hình ảnh tự động vào hệ thống nhận dạng hình ảnh tiên tiến cho tựđộng phân loại hình ảnh của các mẫu sau khi nhuộm Hiện tại, máy có thểnhận diện 8 thông số (như tế bào bìểu mô, nấm mốc và trichomonas)
Hình 1.5: 8 thông số nhận diện của máy GMD S600 [23]
1.3.2 Phương pháp test
1.3.2.1 Phương pháp test dịch âm đạo
Công nghệ Chụp ảnh dòng tế bào cho phép chụp các lớp tế bào đơn,tránh xảy ra vìệc dính tế bào và chồng chéo tế bào một cách hiệu quả, làm nổibật lên các hạt tế bào một cách rõ rang; công nghệ chụp ảnh tốc độ cao thựchiện chụp 2.600 hình ảnh trên mỗi mẫu trong vòng 26 giây với kích thướcmẫu lớn để tránh bị phát hiện bỏ sót; công nghệ nhân dạng thông minh chophép lưu dữ lỉệu lớn và thuật toán trí tuệ nhân tạo tự động nhận dạng và phân
Trang 16loại tất cả các hạt được chụp Những kết quả phân loại có độ chính xác cao
này cung cấp hỗ trợ hiệu quả cho bác sĩ để đưa ra phán đoán
1.3.2.2 Phưong pháp test hóa chất khô
Phân tích hóa học áp dụng nguyên tắc so màu quang điện Hàm lượngcác thành phần hóa học trong mẫu dịch sẽ được xảo định theo sự thay đỗimàu gây ra bởi phản ứng giữa khối thuốc thử trên que thử và thành phần hóahọc trong dung dịch mẫu bài tiết
1.3.2.3 Kiểm tra dịch âm đạo
Hoạt động:
Dịch tiểt âm đạo sẽ được lấy bởi bác sĩ sản khoa và bác sĩ phụ khoa.Nhân vỉên y tế sẽ được yêu cầu sử dụng tăm bông Dimi để lấy mẫu từ vị trísâu cúa âm đạo hoặc phẩn phía sau của âm đạo và cổ tử cung Sau khi mẫuđược thu thập, bẻ que lẩy mẫu tại đíểm ngắt, sau đó đặt mẫu vào ống nghiệmđược chỉ định và gửi đi để phân tích ngay lập tức
Chú ý:
- Trước khi lấy mẫu, cảc loại thuốc can thiệp vào thử nghiệm sẽ bị ngưng
sử dụng
- Không được tiến hành kiếm tra dịch tiết âm đạo trong kỳ kinh nguyệt
- Không quan hệ tình dục, tắm bồn, thuốc tại chỗ và rửa âm đạo trong
vòng 24 gỉờ trước khi lấy
- Tránh làm nhiêm bẩn các mẫu và các mẫu sau khi xét nghìệm phải được xử lý theo các quy tắc của phòng xét nghiệm
1.3.3 Giá trị chẩn đoán của các loại hóa chất được sử dụng.
1.3.3.1 Hydrogenperoxide (H 2 O 2 )
Trang 17Trong dịch tiết âm đạo, H2O2 được tạo ra bởi các loài Lactobacillus, duy
trì môi trường bình thường của âm đạo [14]
Ý nghĩa lâm sàng: H2O2 được tiết ra trực tiếp bởi Lactobacìllus, trong đó kết quả dương tính cho thấy sự gia tăng của Lactobacillus và kểt quả âm tính cho thấy
môi trường âm đạo có thể ở trạng thái bệnh; hoặc trạng thái không khỏe mạnh Nó
cũng phản ảnh số lượng Lactobacillus bên trong âm đạo
Giải thích kết quả:
Dương tính: cho thấy một lượng lớn Lactobacillus tồn tại và hệ vi khuẩn
chí âm đạo là bình thường;
Dương tính yếu: cho thấy rằng có một lượng vừa phải của Lactobacillus
và hệ vi khuẩn chí âm đạo có xu hướng bất thường hoặc đang trong giai đoạnphục hồi;
Âm tính: cho thấy hệ vi khuẩn chí âm đạo mất cân bằng và môi trường
âm đạo ở trạng thái bệnh lí hoặc trạng thái không khỏe mạnh
Các yếu tố gây ảnh hưởng đến kểt quả: Bị can thiệp rất nhiều bới các
mẫu xuất huyết, kết quả xét nghìệm dễ bị dương tính giả
1.3.3.2 Leucocyte esterase (LE)
Khi phản ứng viêm xảy ra, các tế bào bạch cầu tăng lên, và một lượnglớn LE được giải phóng sau khi phá hủy bạch cẩu, do đó, nồng độ LE âm đạo
có thể phản ảnh mức độ viêm âm đạo
Ý nghĩa lâm sàng: LE phản ánh số lượng tế bào bạch cầu trong dịch tiết
âm đạo Kết quả dương tính cho thẩy các tê bào bạch cầu > 15 /HP có thể cótang bạch cầu trong phản ứng viêm [24]
Giải thích kết quả:
Âm tính, mẫu dịch là bình thường;
Trang 18Dương tính yếu, mẫu dịch là bình thường;
Dương tính, viêm âm đạo
Các yếu tố gây ảnh hưởng đểu kết quả
Kết quả âm tính giả của LE Trong một số trường hợp, kết quả xétnghiệm hóa học là âm tính mặc dù một lượng lớn tế bào bạch cầu được tìmthấy dưới kính hìển vi
(1) LE chỉ phàn ứng với esterase trong bạch cầu trung tính nhưng khôngphàn ứng với tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân
(2) Kết quả kiểm tra bằng kính hiển vi là dương tính và kểt quả xétnghìệm hóa học là âm tính với phản ứng bị ức chế bởi thuốc cephalosporin
Các yếu tố gây ảnh hưởng đến kết quả
Bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các mẫu xuất huyết, kết quả xét nghiệm dễ bịdương tính giả
1.3.3.3 Lactic Acid (LA)
Trong dịch tiết âm đạo, LA được tạo ra bởi các Lactobacilli sử dụng
glycogen trong các tế bào biểu mô nhằm duy trì độ pH acid của dịch âm đạo
Ý nghĩa lâm sàng:
Cùng với pH, lactic acid là một yếu tố bảo về giúp duy trì vi hệ của âmđạo tránh sự phát triển của các tác nhân gây bệnh [15]
Giải thích kết quả:
Âm tính: có nguy cơ mất cân bằng vi hệ âm đạo
Dương tính yểu: có thể có vi khuẩn gây BV trong dịch;
Dương tính: số lượng Lactobacilli nhiều và có khả năng duy trì cân bằng
vi hệ âm đạo
Trang 19Các yếu tố ảnh hưởng: Bị can thiệp bởi các mẫu xuất huyết, kết quả xét
nghiệm dương tính giả có thể xảy ra (Lưu ý: mẫu xuất huyết lâm sàng chiếmkhoảng 5% số mẫu trong một ngày
1.3.3.4 Proline aminopeptidase (PIP)
PIP là một enzyme xúc tác quá trình thủy phân liên kết peptid của termianal proline hoặc proline 2-peptid
C-Ý nghĩa lâm sàng:
PIP được tạo ra bởi Gardenerella vaginalis, Mobiluncus và một số vikhuẩn kị khí khác, là một enzyme chỉ điểm đặc hieuj cho BV và dung để bổsung cho chẩn đoán viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh [16]
Giải thích kết quả:
Âm tính: bình thường
Dương tính yếu: Có thể bị BV
Dương tính: Viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh
1.4 Các nghiên cứu đã tiến hành về chẩn đoán viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh
1.4.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Theo cuộc điều tra năm 2004 trên 8880 phụ nữ độ tuổi từ 15 đến 55, sử
dụng kỹ thuật Pap smear, tỷ lệ viêm âm đạo do G vaginalis là 4% Trong đó:
Sơn La chiếm 3,8%; Thái Nguyên (3,1%); Hà Nội (8,1%); Hà Tĩnh (4,0%);Khánh Hòa (1,4%); Đắc Lắc (6,5%); Vũng Tàu (2,9%) và Kiên Giang (2,2%)
Tỷ lệ mắc Viêm âm đạo do vi khuẩn ở phụ nữ có thai ở Hà Nội là 7,8%
Ở phụ nữ có thai tại thành phố Huế, nhiễm Gardenerella vaginalis đơn thuần
là 3,28%, kết hợp với Candida spp là 9,5% và kết hợp với Trichomonas là
3,57% [25]
Trang 20Tỷ lệ mắc bệnh viêm âm đạo do vi khuẩn khác nhau theo từng địaphương Theo Lê Thị Oanh, Lê Hồng Hinh (2001) viêm âm đạo do vi khuẩn ởnội thành Hà Nội 25,57%, ngoại thành Hà Nội 18,18%, ven biển Thái Bình26,8%, vùng chiêm chũng Hà Nam 18,75%, vùng núi Nghệ An 28,74%, HảiDương 8,7% [26]
Nghiên cứu của Trần Văn Cường và Trần Thị Phương Mai (1998) tạiViện Bảo vệ bà mẹ trẻ sơ sinh Hà Nội trên 134 trường hợp nhiễm khuẩnđường sinh dục dưới cho thấy tỷ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn là 4,47% [27].Trong một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Thọ và cộng sự (1997) tại
Đà Nẵng [28], trên 273 bệnh nhân mắc bệnh STIs tại phòng khám STIs có
148 trường hợp viêm âm đạo do vi khuẩn, chiếm 54,2%
Theo Vũ Phương Thơm (2015), tỉ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn nội sinhtrên các phụ nữ đến khám và điều trị tại bệnh viện phụ sản Hà Nội năm 2015
là 25,52% [29]
Năm 2016, một nghiên cứu mô tả cắt ngang 460 phụ nữ có chồng ở độtuổi sinh đẻ đang sinh sống tại huyện A Lưới cho kết quả: phụ nữ bị viêmnhiễm đường sinh dục dưới chiếm 37,6%, trong đó viêm âm đạo chiếm
26,1% Các tác nhân gây bệnh gồm: tạp khuẩn 32,4%, Gardenerella vaginalis
35,3% [3]
1.4.2 Các nghiên cứu trên thế giới
Viêm âm đạo do vi khuẩn rất phổ biến ở Mỹ Tỷ lệ này ở các phòngkhám “Bệnh lây qua đường tình dục” dao động từ 33% đến 64% Tỷ lệ này ởPhòng khám phụ khoa là 15% đến 23% Ở các phòng khám sản khoa từ 10%đến 26% Tại quần thể phụ nữ trong các trường đại học không có triệu chứng
Trang 21là 4% và có triệu chứng là từ 15% đến 24% Nói chung, bệnh ảnh hưởng đếnnhững phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ [30]
Dụng cụ tử cung được xem là có liên quan với viêm âm đạo do vi khuẩn[31] Số lượng bạn tình của người phụ nữ trong tháng trước khi đến khám liênquan trực tiếp đến sự tái phát của bệnh Thuốc tránh thai uống có thể có tácdụng bảo vệ do hỗ trợ sự phát triển tốt hơn của hệ vi khuẩn chí trong âm đạo[9] Việc sử dụng màng ngăn âm đạo để tránh thai cũng có những tác dụngđến sự tiến triển của viêm âm đạo do vi khuẩn [32]
Một số nghiên cứu cho thấy, viêm âm đạo do vi khuẩn thường hay gặp(gấp hai-ba lần) ở những phụ nữ dọa đẻ non hoặc đẻ non [33], [34], [35] Tìnhtrạng này có thể làm khởi phát các cơn co tử cung gây chuyển dạ đẻ non ởmột số phụ nữ Cơ chế của hiện tượng này có thể là liên quan đếnprostaglandins mà có khả năng là có nguồn gốc từ màng ối hoặc màng rụnghoặc có thể do sự giải phóng photpholipase và một số chất khác bởi các vikhuẩn vốn có trong bệnh lý này [34]
Phụ nữ bị viêm âm đạo do vi khuẩn có nguy cơ mắc các bệnh lây truyềnqua đường tình dục cao hơn Một nghiên cứu tiến hành trên 2236 phụ nữ cóHIV-1 tại 7 nước châu Phi cho thấy phụ nữ có BV có tỉ lệ lây truyền HIV chobạn tình cao gấp đôi nhóm không bị BV [4] Trên toàn thế giới, người ta ướctính rằng 20-30% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản đến các phòng khám nhiễmtrùng lây truyền qua đường tình dục (STI) bị mắc bệnh BV và tỷ lệ lưu hànhcủa nó có thể lên tới 50-60% ở những người có nguy cơ cao (ví dụ, nhữngngười hành nghề mại dâm) Dữ liệu dịch tễ học cho thấy phụ nữ có nhiều khảnăng báo cáo BV nếu họ: (1) có số lượng bạn tình trọn đời cao hơn; (2) chưakết hôn; (3) lần giao hợp đầu tiên của họ ở độ tuổi trẻ hơn; 4) đã tham gia vào
Trang 22hoạt động mại dâm và 5) thực hành thụt rửa âm đạo thường xuyên Bằng
chứng gần đây nhất về mối liên quan giữa nhiễm trùng BV và lậu/ Chlamydia
xuất phát từ hai phân tích thứ cấp về dữ liệu được thực hiện giữa những phụ
nữ tham gia các phòng khám STI Dựa trên những nghiên cứu này, những phụ
nữ bị BV có nguy cơ nhiễm trùng lậu cầu và Chlamydia trachomatis tăng gấp
1,8 và 1,9 lần [36]
Nghiên cứu về các chất chỉ điểm trong BV trên thế giới tuy đa dạngnhưng chưa có một phương pháp hóa học đơn lẻ nào có thể chẩn đoán đượcviêm âm đạo do vi khuẩn nội sinh Nhiều nghiên cứu cho thấy sự hiện diệncủa hydroperoxid (H2O2) tiết ra bởi các Lactobacillus có tác dụng bảo vệ âmđạo bằng cách ức chế sự phát triển của các loài vi khuẩn kị khí như
Gardenerella vaginalis Hydroperoxid chỉ ra sự hiện diện của lượng lớn Lactobacillus trong âm đạo, tuy nhiên không phải tất cả các loài Lactobacillus trông âm đạo phụ nữ khỏe mạnh đều sản xuất ra chất này [14],
[34], [11], [15] Một nghiên cứu tiến hành trên 57 phụ nữ, sử dụng prolineaminopeptidase như một test nhanh để chẩn đoán BV cho kết quả khả quan,với độ nhạy và độ đặc hiệu so với phương pháp nhuộm soi lần lượt là 91% và93% Tuy nhiên, việc áp dụng test nhanh này trên lâm sàng còn gặp nhiều hạnchế [37] Vai trò của lactic acid và độ pH acid trong âm đạo của những phụ
nữ khỏe mạnh đã được chứng minh từ lâu [34], [15] Tuy nhiên, sự thay đổi
pH âm đạo xảy ra ở rất nhiều các tình trạng khác nhau ngoài BV, do đó sựthay đổi pH âm đạo> 4,5 theo dải pH chỉ có độ nhạy 72% và độ đặc hiệutương ứng là 60% để phát hiện BV[38] pH âm đạo cũng không có giá trị dựđoán khả năng hồi phục của các bệnh nhân rối loạn vi hệ âm đạo sau sử dụngkháng sinh [5]
Trang 24ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân đến khám phụ khoa tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từtháng 7/2019 – 12/2019
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Bệnh nhân nữ trong độ tuổi sinh sản (18-45 tuổi)
- Tự nguyện tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đã hoặc đang điều trị kháng sinh trong vòng 1 tháng trước khi đếnkhám
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phụ sản Trung ương
2.4 Thời gian nghiên cứu
Tháng 7/2019-12/2019
2.5 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu: có chủ đích, thuận tiện
- Cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho ước tính tỷ lệ của quần thể: