1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng mất răng và đánh giá kết quả phục hình tháo lắp từng phần nền nhựa ở người cao tuổi tại thành phố hà nội

115 157 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 6,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên, để góp phần cung cấp thông tin và giải pháp giảiquyết vấn đề răng miệng cho NCT ở Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung,trên cở sở đề tài cấp bộ về thực trạng bệnh

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các bệnh về răng miệng nói chung và mất răng nói riêng, đang là vấn đềquan tâm lớn trên thế giới cũng như ở nước ta do tính phổ biến và những hậuquả của nó Theo kết quả điều tra của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1999,

tỉ lệ mất răng ở lứa tuổi 65-74 dao động từ 12,8 - 69,6%; số răng mất trungbình từ 3,8 - 15,1 răng [1] Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của NguyễnVăn Bài năm 1994 ở miền Bắc, tỉ lệ mất răng nói chung là 42,1% và nhu cầuphục hình răng là 59,79%, đặc biệt ở nhóm tuổi trên 65 có tỉ lệ mất răng rấtcao là 95,21%; nhu cầu phục hình là 90,43% [2]

Mất răng để lại những hậu quả nặng nề, không chỉ tại chỗ mà còn ảnhhưởng đến toàn thân, làm giảm tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của mỗi cánhân[3] Chính vì vậy, năm 1986, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp bệnhrăng miệng là mối quan tâm thứ 3 đối với sức khỏe loài người sau ung thư vàcác bệnh về tim mạch Theo quy luật của thời gian, với người già thì tuổi càngcao sức khỏe càng giảm, bệnh tật càng nhiều, đặc biệt là những bệnh tật vềrăng miệng Trong đó mất răng và hậu quả của nó tỉ lệ thuận với tuổi tác Giảm tỉ lệ mất răng và điều trị phục hình răng một cách hiệu quả là đãgiải quyết một vấn đề rất căn bản để duy trì sức khỏe và cải thiện chất lượngcuộc sống cho con người nhất là NCT Trong các loại phục hình răng thì phụchình tháo lắp từng phần nền nhựa thường vẫn là phục hình phù hợp với NCTbởi tính kinh tế, dễ vệ sinh, thời gian điều trị nhanh và phù hợp tâm lý NCT

sợ mài răng sợ điều trị tủy Do những thành tựu phát triển kinh tế và dịch vụ

xã hội, tuổi thọ trung bình tăng, mức sinh giảm dẫn đến dân số già tăng lênnhanh chóng trên toàn thế giới Xu hướng già hoá dân số kéo theo vấn đềchăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho một số lượng đông đảo NCT đang là mộtthách thức lớn đối với toàn nhân loại trong thế kỷ XXI Tương lai của mỗiquốc gia và toàn nhân loại đang gắn liền với sức khoẻ của những NCT

Trang 2

Việt Nam là một nước đang phát triển, mặc dù hiện tại cấu trúc dân sốvẫn thuộc loại trẻ, song số NCT đang có xu hướng tăng nhanh Tỉ lệ NCTnăm 1989 là 7,2%, năm 2003 tăng thêm 1,45% và đến năm 2009 theo thống

kê của Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam, NCT ở nước ta là 8,2 triệungười, năm 2014 có 9,5 triệu NCT trên cả nước Vấn đề chăm sóc sức khoẻNCT không phải là mới, chính sách đã khá cụ thể, song dường như việc triểnkhai chưa đạt được kết quả như mong muốn

Hà Nội là Thủ đô của cả nước, với dân số gần 9 triệu người, trong tươnglai gần sẽ có hàng triệu NCT sinh sống trên địa bàn Chăm sóc đời sống vậtchất và tinh thần cho NCT, trong đó chăm sóc sức khỏe là vấn đề cốt lõi, đang

là trách nhiệm, là mối quan tâm hàng đầu của Đảng bộ và Chính quyền thànhphố Mặc dù trình độ dân trí khá cao, tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế kháthuận tiện, song vấn đề chăm sóc sức khỏe, đặc biệt chăm sóc sức khỏe răngmiệng cho NCT ở Thủ đô còn nhiều hạn chế Việc cập nhật thông tin cònchưa thường xuyên, bức tranh chung về bệnh răng miệng và nhu cầu điều trịcòn phiến diện và chưa rõ ràng, còn thiếu các giải pháp điều trị phù hợp chotừng nhóm đối tượng

Với những lý do trên, để góp phần cung cấp thông tin và giải pháp giảiquyết vấn đề răng miệng cho NCT ở Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung,trên cở sở đề tài cấp bộ về thực trạng bệnh răng miệng người cao tuổi trên 8tỉnh và thành phố tại Việt Nam, trong đó có Hà Nội do Viện Đào Tạo Răng

Hàm Mặt tiến hành từ năm 2015, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng mất răng và đánh giá kết quả phục hình tháo lắp từng phần nền nhựa ở người cao tuổi tại thành phố Hà Nội ”, với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng mất răng, một số yếu tố liên quan và nhu cầu phục hình ở người cao tuổi tại thành phố Hà Nội năm 2015.

2 Đánh giá kết quả phục hình tháo lắp từng phần nền nhựa ở người cao tuổi tại thành phố Hà Nội năm 2016-2017.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

Pháp lệnh người cao tuổi ở Việt Nam (số 23/2000/PL-UBTVQH, rangày 06/04/2000) nhận định: "người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng,giáo dục con cháu về nhân cách, có vai trò quan trọng trong gia đình và xãhội" Xong kết quả của cuộc điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc tiến hànhnăm 2002 thấy số răng mất của người trên 45 tuổi là 6,6 cao gấp 3 lần so với

số răng sâu [4] Vì vậy chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần phải có sựquan tâm của toàn xã hội, của chính phủ nhiều nước trên thế giới cũng nhưViệt Nam

1.1 Đại cương về người cao tuổi.

Tỉ lệ người cao tuổi sẽ tăng từ 8,5% vào năm 1950 lên 13,7% vào năm

2025 và đến năm đó trung bình cứ 7 người dân thì có 1 NCT trên phạm vitoàn thế giới Quỹ dân số Liên Hợp Quốc đã thống kê đến giữa năm 1995, sốNCT trên thế giới có khoảng 542,7 triệu người và ước tính năm 2025 là 1,121

tỉ người [6]

Trên thế giới nhóm nghiên cứu Gerontology cho biết người dân tại thànhphố New York đạt tới tuổi thọ là 116 tuổi, người dân nước Pháp có tuổi thọcao là 122 tuổi và 164 ngày

Trang 4

Tại Nhật tuổi thọ trung bình là 74,8 với nam và 80,5 với nữ; Thụy Điển73,8 với nam và 79,9 với nữ, Australia (Nam 72,1- Nữ 78,7), Canada (Nam72,l - nữ 79,0), Đức (Nam 70,5 - nữ 77,l) [6].

1.1.1.2 Tại Việt Nam

Việt Nam là một nước đang phát triển, số NCT đang có xu hướng tăngnhanh Theo số liệu của 03 cuộc Tổng điều tra dân số của Tổng cục thống kêViệt Nam: trong vòng 20 năm trở lại đây, số lượng người cao tuổi đã tăngkhoảng 2 lần

Năm 1950 số NCT là 1,95 triệu chiếm 6,5% (tuổi thọ trung bình là 32) Năm 1970 số NCT là 2,84 triệu (6,8%)

Tuổi thọ trung bình năm 1999 là 67,4, tuổi thọ trung bình hiện nay là

72-73 tuổi, ước tính khoảng 30 năm tới (1999-2029) tuổi thọ nam là 72,6 và nữ

là 78,6 Số lượng tăng từ 6,2 tới trên 16,5 triệu người chiếm 17,8% dân số [7].Tại Việt Nam người cao tuổi nhất là 123 tuổi

Dân số Việt Nam có một đặc điểm là quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, xongtuổi thọ bình quân và tỉ lệ người 65 là cao so với nhiều nước trong khu vực

và trên thế giới So với tỉ lệ tăng dân số chung thì tỉ lệ người cao tuổi ViệtNam tăng gần 4 lần Theo các quan niệm của người phương Đông và phươngTây đối với NCT cần khích lệ người già sống lâu sống vui sống khỏe, vớitruyền thống và phong tục tập quán văn hoá phương Đông, quan hệ gia đìnhgắn bó, NCT luôn được quan tâm chăm sóc và kính trọng

Trong các năm gần đây (2010-2012), trung bình mỗi năm chỉ số già hoádân số của Việt Nam tăng thêm 2,4%, từ năm 2009 đến 2019 ước tính tỉ lệ NCTtăng lên 3,09% [8] Như vậy chỉ trong vòng 10 năm tới Việt Nam sẽ phải đốimặt với các khó khăn do việc "già hóa dân số" mang lại

Trang 5

Bảng 1.1 Tỉ lệ dân số người cao tuổi Việt Nam (1979 đến 2049) [8]

Nhóm tuổi 1979 1989 1999Tỉ lệ người cao tuổi (%)2009 2019 2029 2039 2049

60-64 2,28 2,40 2,31 2,26 4,29 5,28 5,80 7,0465-69 1,90 1,90 2,20 1,81 2,78 4,56 5,21 6,1470-74 1,34 1,40 1,58 1,65 1,67 3,36 4,30 4,8975-79 0,90 0,80 1,09 1,40 1,16 1,91 3,28 3,87

Tổng 6,96 7,20 8,11 8,69 11,78 16,66 21,37 26,10 Hiện nay về hệ thống cơ sở hạ tầng và mặt bằng kinh tế, dân trí củanước ta còn thấp Nếu như Việt Nam không có sự chuẩn bị tốt ngay từ bâygiờ thì trong tương lai áp lực của việc "già hóa dân số" sẽ ngày càng đè nặnglên Xã hội Hậu quả là việc chăm sóc mang tính toàn diện đối với NCT ởnước ta khó có thể thực hiện được tốt [9]

1.1.2 Một số đặc điểm cơ bản người cao tuổi

Thay đổi chuyển hóa cơ bản và chuyển hóa glucoza có thể xảy ra trên

NCT do khối cơ bắp giảm, cấu tạo khối cơ bắp của cơ thể thay đổi nhanh chóngkhi tuổi càng cao lên Khối cơ giảm dẫn đến sự linh hoạt và sức khỏe của ngườigià giảm, người già thường mất cân bằng dễ ngã gây gãy chân tay và gãy răng

Ở người cao tuổi, quá trình tổng hợp vitamin D ở da giảm trong khilượng vitamin D ăn vào không đủ Đồng thời, do thời gian tiếp xúc với nắng ở người cao tuổi giảm dẫn đến loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương

Trang 6

Theo năm tháng của cuộc đời, kích thước của một số tổ chức miễn dịchdần dần nhỏ đi Chức năng miễn dịch ở limpho T giảm dần khi tuổi đời cao lên

do interleukin II sản xuất không đủ, phản ứng của tế bào miễn dịch do đó kémlinh hoạt Các chất dinh dưỡng được ăn vào có tác dụng khá nhạy cảm đối với

hệ thần kinh trung ương, đồng thời hệ thần kinh cũng có tác động rõ rệt đếnlượng thức ăn mà người cao tuổi tiêu thụ Nhiều nghiên cứu đã chứng minhrằng, chức năng khứu giác và vị giác giảm xuống ở người già, điều này có thể gây ảnh hưởng đến hành vi ăn uống

Người cao tuổi thường bị các bệnh như:

- Bệnh tim mạch: Thường gặp cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tănghuyết áp, tai biến mạch máu não, tâm phế mạn, rối loạn nhịp tim

- Bệnh hô hấp: Viêm phế quản mạn, hen phế quản

- Bệnh hệ tiêu hoá: Ung thư gan xơ gan, viêm loét dạ dầy - tá tràng

- Bệnh thận và tiết niệu: Viêm thận mạn, sỏi tiết niệu, u xơ tiền liệt tuyến

- Bệnh nội tiết chuyển hóa: Đái tháo đường, suy giáp, suy sinh dục,tăng chlesterol máu, tăng acid uric máu, suy vỏ thượng thận

- Bệnh tâm thần: Trầm cảm, hoang tưởng, sa sút trí tuệ kiểu Alzheimen

- Bệnh thần kinh: Bệnh parkinson, rối loạn tuần hoàn não, viêm đa dâythần kinh, chèn ép dây thần kinh do thoái hóa cột sống

Khi tuổi càng cao thì sức đề kháng càng giảm, bệnh toàn thân xuấthiện và sức khỏe răng miệng bị ảnh hưởng càng lớn Tình trạng vùng răngmiệng cũng nằm trong hệ thống những biến đổi suy thoái nên dễ bị nhiễmtrùng nhất là khi NCT có bệnh toàn thân đi kèm như bệnh đái đường [10]

Trang 7

1.2 Mất răng ở người cao tuổi

1.2.1 Đặc điểm sinh lý, bệnh lý răng miệng người cao tuổi

1.2.1.1 Đặc điểm sinh lý ở vùng răng miệng NCT

Theo nghiên cứu [11] cho thấy cùng với quá trình lão hóa răng NCT dễ bịtổn thương do biến đổi về chuyển hoá, trao đổi chất kém ở men, ngà bị xơ hoá(các ống Tome bị vôi hoá) hậu quả là răng bị mòn lớp men ở ngoài, bị sứt mẻ ởmặt nhai và rìa cắn, răng giòn dễ bị gãy vỡ, sâu răng [12]

Hình 1.1 Răng mòn, sứt mẻ ở rìa cắn, tụt lợi, tiêu xương [13]

Vấn đề điều trị nội nha và phục hồi gặp nhiều khó khăn vì biến đổi ở tuỷrăng Sự tiếp xúc giữa các răng, chiều dài trước – sau của cung răng thay đổi.Nhổ răng sẽ khó hơn vì độ dày của lớp xương răng tăng lên, chân răngthì phì đại hình dùi trống

Các biến đổi theo tuổi làm cho mô liên kết lợi giảm khả năng chống lạicác tác động lý học khi đó lợi bị teo và co gây hở chân răng, buốt răng Biểu

mô phủ và mô liên kết NCT giảm gắn kết, giảm tính đàn hồi, tăng sự nhạycảm, chịu lực kém, dễ bị tổn thương và lâu lành

Hệ thống dây chằng quanh răng giảm kèm xương ổ răng tiêu xươngkhiến răng lung lay

Tuyến nước bọt có hiện tượng giảm tiết Nước bọt ít làm giảm khả năngđệm và toan hoá dễ gây sâu răng và tăng nguy cơ viêm nhiễm ở răng miệngNCT nhất là bệnh quanh răng và hậu quả là mất răng Theo Chistensen J,

Trang 8

Douglass C.W, Barnett N.A, Ketterl W, Mallet J.P, Nitzan D.W và nhiềunghiên cứu khác [14],[15],[16],[17],[18].

Như vậy vùng răng miệng có biến đổi theo xu hướng thoái triển từ từ,tạo ra những rối loạn không hồi phục cả về hình thái và chức năng

1.2.1.2 Đặc điểm bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi

Bệnh lý răng miệng của NCT như sâu răng, bệnh quanh răng và mấtrăng rất cao

- Tổn thương mô cứng hay gặp nhất là hiện tượng mòn răng, gẫy vỡ thânrăng, mòn và tiêu cổ chân răng hình chêm [19]

Hình 1.2 Tiêu cổ chân răng, mất răng[13]

- Bệnh lý ở tuỷ răng thường gặp là thể viêm tuỷ mạn và khi đó biểu hiệnlâm sàng thường kín đáo [20],[21]

- Bệnh ở niêm mạc, dưới niêm mạc và cơ là: các tổn thương dạng tiềnung thư (bạch sản chiếm tỉ lệ cao nhất, liken phẳng, hồng sản với khoảng 50%

là ung thư tại chỗ hay xâm lấn và một số tình trạng khác…) Niêm mạc miệng

bị tổn thương, xuất hiện chứng khô miệng ở những người có bệnh tại tuyếnhoặc do dùng nhiều loại thuốc có tác dụng phụ gây giảm tiết hoặc không cónước bọt từ đó tăng nguy cơ sâu răng Ở những người già mang hàm giả códấu hiệu viêm nấm candida do thể trạng yếu, suy giảm miễn dịch Những tổnthương sừng hoá, teo đét niêm mạc miệng, xơ hoá dưới niêm mạc ở người ăn

Trang 9

trầu [22], đặc biệt là những tổn thương gây ung thư niêm mạc miệng đượcphát hiện ở NCT.

1.2.1.2.1 Bệnh sâu răng

* Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh sâu răng ở người cao tuổi

Sâu răng ở NCT thường tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng nghèonàn, đáy lỗ sâu có màu nâu sẫm, men bờ lỗ sâu sứt mẻ và ít ê buốt Một sốnghiên cứu gần đây thấy tỉ lệ sâu răng của NCT tăng từ 30% đến 69,3%, chỉ

số sâu mất trám cũng tăng từ 2,37 đến 15,6[23],[24]

Hình 1.3 Hình ảnh sâu nhiều răng, rạn vỡ men răng[13]

Người cao tuổi thường có nhiều chân răng trong miệng (do sâu nhiềumặt, sâu vỡ hết thân răng), có hình ảnh tổn thương sâu cộng với sự rạn nứt,gẫy vỡ ở men ngà tích luỹ dần theo năm tháng

* Một số đặc điểm về bệnh căn, bệnh sinh và yếu tố nguy cơ

Có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân sâu răng [25] Các giải thích củaKey từ đầu thế kỷ XX, của White năm 1975 đã thể hiện sự tiếp cận sâu sắc từquan điểm tới thực nghiệm về căn bệnh trong đó có vai trò của các yếu tố:nước bọt, độ pH, Fluor, vi khuẩn, chất ăn uống có đường cùng một số yếu tốkhác tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển

Trang 10

* Tình hình nghiên cứu bệnh sâu răng ở người cao tuổi

Để đánh giá tình trạng sâu răng, các nghiên cứu thường tính đến tỉ lệngười mắc và chỉ số SMT trung bình mỗi người trong cộng đồng Tuy nhiên,

ở nhiều nước chưa phát triển với mức độ mắc sâu răng rất thấp, những thôngtin về bệnh ở trẻ em vẫn chưa đủ để mô tả về tình trạng sâu răng của cộngđồng (Luan W.M và Cs 1989) Ở châu Á, năm 1989 Luan và Cs điều tra 338người  66 tuổi tại Trung Quốc thấy ở tuổi 66 - 69 chỉ số SMT là 16,6 và ởtuổi 70 trở lên là 21,4 [26]

Bảng 1.2 Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT qua một số nghiên cứu

tại Việt nam

Tác giả, quốc gia Năm Tuổi n Tỉ lệ

Như vậy NCT ở các quốc gia có tỉ lệ răng sâu, mất răng do sâu và nhất

là răng sâu chưa được trám là rất cao [8],[26]

1.2.1.2.2 Bệnh quanh răng

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh quanh răng gặp phổ biến ở mọi quốcgia và hay gặp nhất là bệnh viêm lợi và bệnh quanh răng Đa số lợi viêm mạntính và tiến triển thành bệnh quanh răng do vi khuẩn độc lực mạnh hoặc cóphản ứng bất thường của túc chủ [29] Và đây là nguyên nhân chính dẫn đếnmất răng

Trang 11

1.2.1.2.3 Tình hình mất răng ở người cao tuổi và nhu cầu phục hình:

Trên thế giới

Theo kết quả điều tra của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1998, ở cácnước châu Âu tỉ lệ mất răng lứa tuổi 65-74 dao động từ 12,8 - 69,6% và sốrăng mất trung bình từ 3,8 - 15,1 răng [33]

Tại Hội nghị Nha khoa Na uy (2007), Ambjornsen đã báo cáo về tìnhtrạng mất răng ở Na uy như sau: trong những năm 1970, 1980, tỉ lệ mất răng

ở lứa tuổi trên 65 khoảng 50%; vào cuối thế kỷ 20 khoảng 30% [27]

Tại Thụy Điển, khi nghiên cứu sức khỏe răng miệng những người 70 tuổicủa Osterberg B.J (2000) nghiên cứu trên 386 người, có 70% bị mất răngtrong đó (50,05% mất răng ở hai hàm và 19,5% mất răng ở một hàm, tỉ lệ mấtrăng ở hàm trên cao hơn hàm dưới và ở vùng răng hàm nhiều hơn vùng răngcửa) [21] Cũng tại Thụy Điển, Norderyd O [33] năm 1993 nghiên cứu chothấy tỉ lệ mất răng của nhóm người sống ở thành phố cao hơn nhóm ngườisống ở ngoại ô vùng Jonkoping ở các lứa tuổi 30, 40, 50, 60 và 70 Tỉ lệ mấtrăng ở nhóm người sống tại thành phố là 17% còn ở nhóm người sống ởngoại ô là 13%

Do chăm sóc sức khỏe răng miệng ngày càng tốt nên tỉ lệ mất răng nóichung ngày càng giảm

Tình hình mất răng ở các dân tộc, quốc gia, vùng lãnh thổ, châu lục tuỳthuộc vào tình hình tuổi thọ của dân số

Ở Việt Nam

Công tác chăm sóc sức khỏe răng miệng ở nước ta trong những nămgần đây ngày càng được quan tâm (như chương trình nha học đường, chươngtrình chăm sóc sức khỏe NCT ), tuy nhiên, tỉ lệ mất răng vẫn còn cao

Trang 12

Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng năm 1990 của Võ ThếQuang và cộng sự [15] cho thấy:

+ Tỉ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là 47,33%

+ Nhu cầu làm răng cổ điển là 26,33%

+ Nhu cầu làm răng giả tháo lắp từng phần hàm trên là 10%, từng phầnhàm dưới là 3,67%, toàn bộ hàm trên là 3,33% và toàn bộ hàm dưới là 2,67%

Ở miền Nam Việt Nam năm 1991 với kết quả điều tra sức khỏe răngmiệng của Vũ Kiều Diễm và cộng sự [34], tỉ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là68,66% và trung bình số răng mất của một người là 3,49

Ở các tỉnh phía Bắc thì kết quả điều tra cơ bản sức khỏe răng miệngnăm 1991 của Nguyễn Đức Thắng [35], tỉ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là36,67%; nhu cầu làm răng giả là 63,33%, trong đó chỉ có 2% được làmrăng giả

Như vậy với kết quả điều tra của hai nghiên cứu cùng được thực hiệnvào năm 1991, ở tại hai miền của đất nước thì ở lứa tuổi 35-44 tỉ lệ mất răngcủa người dân ở miền Nam cao hơn hẳn miền Bắc

Kết quả điều tra của Nguyễn Văn Bài (1994) [2] ở miền Bắc ViệtNam, tỉ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là 27,27% đặc biệt ở nhóm tuổi trên 65

có tỉ lệ mất răng là 95,21%; nhu cầu phục hình là 90,43%

Theo Trương Mạnh Dũng (2007) [14] tại Hà Nội, ở nhóm tuổi 35-44 tỉ

lệ mất răng là 36,3%, nhu cầu phục hình là 33,4%; ở nhóm tuổi 45-60 tỉ lệmất răng là 50,1%, nhu cầu phục hình là 34,9%; Như vậy tuổi càng cao thì tỉ

lệ mất răng càng lớn và nhu cầu phục hình tăng

So sánh kết quả của Nguyễn Đức Thắng (1991) [35], Nguyễn Văn Bài

(1994) [2] và Trương Mạnh Dũng (2007)[14] ở miền Bắc Việt Nam, cùng lứa

tuổi 35-44 cho thấy:

Trang 13

Tỉ lệ mất răng từ 36,67% năm 1990 xuống còn 27,27% năm 1994,nhưng đến năm 2007 tỉ lệ đã tăng lên là 36,3%.

Nhu cầu phục hình răng năm 1991 là 63,33%; năm 1994 là 21,6%; năm

Nghiên cứu ở quận Cầu Giấy, Trương Mạnh Dũng cho thấy tỉ lệ mấtrăng ở người trên 60 tuổi là 81,73% với số trung bình 10,13 răng mất/ người.Đặc biệt ở nhóm tuổi trên 75, có 97,26% NCT bị mất răng [14] Cũng trên địabàn nội thành thành phố Hà Nội, Vũ Thị Hòa (2015) và Chu Đức Toàn (2012)cho biết tỉ lệ mất răng của NCT tại hai quận Cầu Giấy, Đống Đa lần lượt là80,6% và 89,5% [36],[37] Các kết quả này đều chỉ ra rằng, tỉ lệ mất răng củaNCT vẫn còn cao ở nước ta nói chung cũng như ở Hà Nội nói riêng

Vì vậy, để phòng chống mất răng có hiệu quả, ngoài chương trìnhphòng chống sâu răng và bệnh quanh răng thì phục hình răng mất khôngnhững đáp ứng được chức năng ăn nhai thẩm mỹ mà còn có tác dụng phòngmất răng tiếp theo Theo kết quả điều tra của cả nước nói chung cũng nhưmiền Bắc nói riêng thì nhu cầu phục hình là rất lớn, nhưng ngành răng hàmmặt mới chỉ phục hình được một tỉ lệ rất nhỏ Nguyên nhân là do số lượng độingũ bác sỹ răng hàm mặt còn thiếu, điều kiện trang thiết bị cho phục hìnhchưa được tốt, kỹ thuật phục hình chưa được chuẩn dẫn đến kết quả phục hình

Trang 14

không tạo sự thoải mái cho bệnh nhân và cũng không đáp ứng được các nhucầu hay mong muốn của bệnh nhân Ngoài nguyên nhân trên cũng còn nhiềunguyên nhân khác trong đó phải kể đến ý thức và điều kiện kinh tế của bệnhnhân Nhưng trong những năm gần đây, nền kinh tế, xã hội của Việt Nam đã

có những phát triển vượt bậc cộng với nhu cầu phục hình rất lớn trong cộngđồng, vì vậy trách nhiệm của mỗi bác sỹ răng hàm mặt nói riêng cũng nhưcủa ngành răng hàm mặt nói chung thì đi đôi với việc và trang bị cơ sở vậtchất, trang bị kiến thức thì cần đào tạo con người để có thể đáp ứng được nhucầu của phục hình mất răng nhằm nâng cao tỉ lệ số người được phục hình, kếtquả phục hình ngày càng cao

Nhìn chung, số liệu điều tra dịch tễ học về mất răng từng phần, toàn phầncũng như số răng mất trung bình mỗi người thuộc châu Á là thấp hơn so vớicác nước thuộc châu Âu, châu Úc và châu Mỹ Hiện nay mất răng và hậu quảcủa mất răng vẫn còn là vấn đề bức thiết của NCT

1.2.2 Phân loại, nguyên nhân, hậu quả mất răng.

1.2.2.1 Phân loại mất răng

Mất răng được phân làm hai loại chính: đó là mất răng từng phần và mấtrăng toàn bộ

Phân loại mất răng:

- Cho phép dễ nhận ra ngay loại mất răng khi khám bệnh nhân

- Cho phép biết được loại mất răng nào có thể làm hàm giả được nâng đỡtrên răng hoặc hàm giả vừa được nâng đỡ trên răng vừa được nâng đỡ trên môxương niêm mạc

- Định hướng được kiểu thiết kế hàm giả

- Được nhiều người chấp nhận

Trang 15

Có nhiều cách phân loại mất răng của nhiều tác giả khác nhau như:Kennedy, Applegate, Kourliandsky, Bailyn, Skinner Trong số đó, cách phânloại mất răng của Kennedy được nhiều người sử dụng nhất.

1.2.2.1.1 Phân loại mất răng của Kennedy[30]

Edward Kennedy đưa ra cách phân loại mất răng từng phần đầu tiên vàonăm 1923 Ông phân ra làm 4 loại mất răng từng phần:

- Loại I: mất răng phía sau hai bên không còn răng giới hạn xa

- Loại II: mất răng phía sau một bên không còn răng giới hạn xa

- Loại III: mất răng phía sau một bên còn răng giới hạn xa

- Loại IV: mất răng phía trước (răng cửa) đi qua đường giữa

Ưu điểm của cách phân loại mất răng của Kennedy

- Dễ nhận biết loại mất răng

- Gợi ý được kiểu thiết kế hàm giả cho từng loại mất răng

1.2.2.1.2 Phân loại mất răng từng phần theo Kennedy- Applegate

Cách phân loại mất răng của Kennedy (1960) được Applegate bổ sungmột số nguyên tắc sau:

- Phân loại mất răng chỉ được tiến hành sau khi đó nhổ các răng có chỉđịnh nhổ răng

- Nếu mất răng số 8 và không cần làm răng giả thì không tính đến trongphân loại

- Nếu còn răng số 8 mà được dùng như răng trụ thì răng 8 này được tínhtrong phân loại

- Nếu răng số 7 mất mà không cần làm răng giả (ví dụ răng số 7 đối diệncũng mất mà không làm răng giả) thì không được tính trong phân loại

- Vùng mất răng phía sau luôn được chọn để quy định loại mất răng

- Những khoảng mất răng khác được gọi là biến thể và được đánh số

Trang 16

- Độ rộng của khoảng mất răng biến thể không được tính đến trong phânloại mà chỉ tính số khoảng mất răng có thêm.

- Mất răng loại IV không có biến thể

Hình 1.4 Các loại mất răng theo Kennedy - Applegate [30]

1.2.2.1.3 Phân loại mất răng từng phần của Applegate [30]

- Loại I: mất răng sau hai bên

- Loại II: mất răng sau một bên

- Loại III: mất răng sau một bên, có răng giới hạn ở hai đầu Nhưng cácrăng trụ này không thể gánh chịu toàn thể lực nhai đè lên hàm giả do:

+ Khoảng mất răng dài;

+ Chân răng trụ có hình dáng và chiều dài không phù hợp;

+ Xương nâng đỡ bị tiêu nhiều

- Loại IV: mất răng phía trước, đoạn mất răng đi ngang đường giữa cungrăng, giới hạn hai đầu bằng hai răng bên phải và bên trái của cung hàm Loạinày có thể mất ít nhất từ hai răng đến nhiều nhất chỉ còn lại hai răng hàm ởhai bên

Trang 17

- Loại V: mất răng có giới hạn hai đầu trong đó giới hạn phía trước làrăng cửa bên yếu với chân răng ngắn và nhỏ.

- Loại VI: mất răng có giới hạn hai đầu với khoảng mất răng ngắn, chiềudài và hình dáng chân răng trụ thích hợp cho nâng đỡ, sống hàm cao

Ý nghĩa: Phân loại mất răng theo Kennedy – Applegate đã đưa ra được chỉ định điều trị phục hình củ thể cho từng trường hợp:

- Mất răng loại I, II, III, V cần làm hàm giả tháo lắp

- Mất răng loại VI làm được răng giả cố định

- Mất răng loại IV có thể làm răng giả cố định hoặc làm hàm giả tháo lắp

1.2.2.1.4 Phân loại mất răng của Kourliandsky [30]

Tác giả dựa trên yêu cầu xác định khớp cắn trung tâm (mặt phẳng cắn xác định với 3 điểm chạm của hai hàm)

- Loại I: mất răng từng phần, hai hàm còn 3 điểm chạm

- Loại II: mất răng từng phần, hai hàm còn 1 - 2 điểm chạm

- Loại III: mất răng từng phần, hai hàm không có răng nào đối diện nhau

- Loại IV: mất răng toàn bộ

Sự phân loại mất răng của Kourliandsky có ý nghĩa gợi ý trong đo cắn khi làm hàm giả

1.2.2.2 Nguyên nhân mất răng và một số yếu tố liên quan đến mất răng.

Răng bị mất do nhiều nguyên nhân khác nhau như tổn thương bệnh lý,

do chấn thương, tổn thương ở tổ chức cứng của răng (sâu, tiêu cổ hình V, )

và ở vùng quanh răng Cùng với đó là một số yếu tố nguy cơ gây mất răngnhư kiến thức hay thói quen vệ sinh răng miệng (số lần chải răng trong mộtngày, số lần lấy cao răng, thói quen sử dụng chỉ tơ nha khoa…)

Hiện nay bệnh nha chu ở NCT vẫn còn mắc cao hơn người trẻ Theo kếtquả điều tra sức khỏe răng miệng Việt Nam năm 2002, nhu cầu điều trị quanhrăng cộng đồng (CPITN) trên 45 tuổi là 98,95% [31] Như vậy, tỉ lệ bệnh

Trang 18

vùng quanh răng ở nước ta còn rất cao và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự mấtrăng và là nguyên nhân chính gây mất răng Về sâu răng, do tiến bộ của điềutrị bảo tồn, số răng còn lại trong khoang miệng NCT tăng dần xong sâu răngcũng là nguyên nhân dẫn tới mất răng [25].

Ngoài các yếu tố liên quan gây mất răng như sâu răng hay bệnh nha chuthì sức khoẻ răng miệng NCT chịu sự tác động của các yếu tố khác như do sựngấm vôi kém ở men răng, răng mọc lệch lạc, chen chúc… Nguy cơ cũng đến

từ các thói quen có hại: hút thuốc, uống rượu, ăn trầu, hay các bệnh toàn thânnhư đái tháo đường, xạ trị vùng đầu cổ… và có thể do trình độ học vấnthấp,sức khoẻ chung suy yếu, tập quán văn hoá, số lượng và chất lượng khámchữa bệnh của các cơ sở dịch vụ nha khoa, đặc biệt tình trạng kinh tế là yếu tốảnh hưởng đến mất răng khi NCT không đi khám chữa bệnh hay không phụchình dẫn đến mất răng ngày càng nhiều Các yếu tố này liên quan chặt chẽ vớinhau và cần được xem xét, đánh giá để tìm ra các giải pháp chăm sóc SKRMphù hợp

1.2.2.3 Hậu quả của mất răng [32]

Có rất nhiều hậu quả do mất răng gây lên;

- Đường cong sinh lý Spee của khớp cắn bị biến dạng

- Kích thước chiều cao và chiều rộng của sống hàm giảm, trường hợpnặng sống hàm hàm trên gần như phẳng với vòm hầu, sống hàm dưới ở ngangbằng với sàn miệng

- Biến đổi ở xương ổ răng: Nơi mất răng xương ổ răng ở đó sẽ bị tiêu,mức độ tiêu nhiều hay ít tùy thuộc vào nguyên nhân mất răng, thời gian vàbệnh cảnh mất răng

- Ảnh hưởng tới chức năng:

Trang 19

Sức nhai giảm xuống, tác dụng nghiền nhỏ thức ăn bị hạn chế do thiếurăng, nói không rõ ràng, tiêu hóa cũng bị rối loạn do thức ăn không đượcnhai nhỏ.

- Ảnh hưởng thẩm mỹ của khuôn mặt, các cơ nhai, cơ bám da mặt thoáihoá, mất trương lực dẫn đến những thay đổi ở vùng mặt, miệng: má xệ xuống,hóp lại, rãnh múi - má rõ nét hơn, mặt mất cân xứng hai bên, môi xập xuống,bĩu ra, khoé môi cụp xuống

- Thay đổi ở mặt và tâm lý: Má xệ xuống, hóp lại, kích thước dọc thayđổi, khuôn mặt trông già hơn, bệnh nhân mặc cảm, mất tự tin khi giao tiếp

- Các răng còn lại bị xô lệch, chồi lên, thòng xuống, di lệch

- Phát âm thay đổi, hô hấp bị ảnh hưởng [32]

Hình 1.5 Hậu quả của mất răng [32]

1.3 Các phương pháp phục hình mất răng từng phần ở người cao tuổi.

Kích thước sống hàm giảm

Các răng còn lại

xô lệch

Phát âm thay đổi

Sức nhai giảm xuống

Thay đổi về tâm lý, mặc cảm,mất tự tin giao tiếp

Trang 20

Các trường hợp mất răng rất đa dạng, sự đa dạng này phụ thuộc vào số

lượng răng mất, vị trí mất răng, sống hàm vùng mất răng, tình trạng các răngcòn lại, các bệnh lý răng miệng khác kèm theo[32] Do đó có nhiều phươngpháp điều trị mất răng Dưới đây là các phương pháp điều trị mất răng phổbiến hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam:

1.3.1 Hàm tháo lắp từng phần bằng nhựa thường.

Hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa là loại hàm giả tháo lắp từng phần

có nền bằng nhựa với hệ thống dây móc tròn (móc dây uốn) và nhóm răng giảthay thế khoảng mất răng Lực nhai được truyền từ nền hàm qua niêm mạcxuống xương [30]

1.3.1.1 Thành phần của hàm tháo lắp từng phần nền nhựa bao gồm [30]:

- Hệ thống răng giả: thay thế các răng mất, các răng này có thể bằngnhựa hoặc sứ

- Nền hàm được phủ lên sống hàm và các phần nâng đỡ, nền hàm đượclàm bằng nhựa

- Móc răng: là một trong những phương tiện bám giữ của hàm giả, giúphàm giả bám trong tư thế nghỉ và ổn định trong các tư thế chức năng Mócrăng thường dùng là hợp kim dây tròn có đường kính từ 0,7 đến 1mm, có thể

Trang 21

răng thật còn lại không có khả năng đặt tựa.

- Bệnh nhân sợ mài răng

- Bệnh nhân sợ chữa tủy răng

- Bệnh nhân muốn làm hàm giả tháo lắp để dễ vệ sinh

* Về kinh tế:

- Đỡ tốn kém hơn làm răng giả cố định trên cùng một số răng mất

- Làm hàm giả tháo lắp nền nhựa rẻ hơn hàm khung

- Sửa chữa dễ và rẻ tiền

- Thời gian điều trị nhanh

+ Thời gian điều trị ngắn hơn

+ Dễ sửa chữa: thêm răng, thêm móc, đệm hàm giả

+ Thực hiện đơn giản, kinh phí thấp

1.3.1.4 Nhược điểm:

Trang 22

+ Hàm có khối lượng lớn nên dễ gây khó chịu cho bệnh nhân.

+ Hàm giả thiếu sự ổn định, có tính xê dịch tạo cảm giác bất ổn

+ Phần lớn hàm giả tựa lên mô xương niêm mạc nên bị lún nhiều khi ănnhai làm cho hiệu quả nhai kém và tiêu xương

+ Hàm giả che phủ nhiều tổ chức răng miệng còn lại

+ Một số trường hợp làm răng giả cần đặt móc phía trước nên thẩm mỹ kém.

1.3.2 Phục hình bằng nhựa dẻo:

Cấu trúc có nền nhựa tựa lên niêm mạc và mô xương bên dưới

1.3.3.1 Ưu điểm: so với hàm tháo lắp bằng nền nhựa thường thì

- Ít vướng hơn khi nói và ăn nhai

- Ít gây tổn thương các răng mang móc nhờ độ đàn hồi của móc

1.3.3.1 Ưu điểm: So với hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa thì kích thước

nhỏ hơn, bền hơn, giải phóng cổ răng và lợi ở các răng còn lại

- Vật liệu phục hình bằng kim loại nên bóng hơn, dễ vệ sinh hơn vàtruyền nhiệt tốt hơn

- Chịu được sức nhai nhiều hơn

- Các tựa mặt nhai giúp truyền lực nhai sinh lý qua răng trụ xuống vùngquanh răng Khả năng ăn nhai tốt hơn do chuyển động tự do của phục hìnhđược hạn chế

1.3.3.2 Nhược điểm:

Trang 23

- Kỹ thuật lâm sàng và labo phức tạp.

- Kinh phí cao

- Trang thiết bị cần hiện đại

- Khó sửa chữa thêm răng

- Nguy cơ sâu răng cao

- Nếu không chỉ định đúng sẽ gây tổn thương đến răng trụ

1.3.4 Cầu răng:

1.3.4.1 Cầu với: là cầu răng cố định có nhịp cầu với ra ngoài răng trụ Cầu

với thực hiện với ý muốn tiết kiệm bởi răng trụ và nhịp cầu với chỉ có tácdụng thẩm mỹ, ổn định cung răng hơn là chức năng ăn nhai

- Ưu điểm: tiết kiệm bởi răng trụ, áp dụng được trong trường hợp mấtrăng không có răng giới hạn

- Nhược điểm: do chỉ có răng trụ ở một đầu của cầu răng do đó răng trụ

dễ bị tổn thương bởi lực đòn bẩy

1.3.4.2 Cầu dán: là loại cầu răng cố định bằng kim loại đúc, phần giữ có hình

dạng tương tự như móc của hàm khung và được gắn dính vào men răng trụbằng keo dán riêng biệt sau khi xói mòn men răng bằng dung dịch axít

Trang 24

gắn lên răng trụ, có các phần nối cứng chắc và không cứng chắc giữa phầngiữ và nhịp cầu.

Ưu điểm:

+ Tạo được một phần chuyển động riêng lẻ của các răng trụ của cầu răngnên có sự phù hợp với sinh lý của răng trên mô nha chu hơn với cầu cố định.+ Giảm bớt lực làm bật phần giữ

+ Giải quyết được hướng lắp cho các răng trụ không song song màkhông làm mất quá nhiều tổ chức cứng của răng trụ

+ Tiết kiệm được mô răng nhờ sử dụng inlay, onlay làm phần giữ chocầu răng

+ Vướng, đọng mảng nhỏ thức ăn ở vùng khóa ngoàm

1.3.4.4 Cầu răng cổ điển (cầu bọc toàn bộ răng trụ).

- Cầu cổ điển là loại phục hình mất răng cố định để phục hồi răng mấtbằng cách dùng các răng bên cạnh làm răng trụ để mang, gánh răng giảthay thế răng mất Cầu răng cổ điển gồm khung kim loại bọc toàn bộ thânrăng trụ ở hai đầu và được phủ ngoài bằng sứ nhựa, hoặc hoàn toàn bằngthép

- Cầu răng được gắn chặt vào các răng trụ bằng xi măng và bệnh nhânkhông thể tự tháo ra được

- Cầu răng duy trì sự ổn định cho cung răng và mặt phẳng nhai, phục hồichức năng ăn nhai, phát âm và thẩm mỹ

Trang 25

Ưu điểm:

+ Phục hồi chức năng ăn nhai tốt

+ Tính ổn định cao

+ Dễ thích nghi với việc mang răng giả

+ Phù hợp với điều kiện kinh tế hiện tại

Nhược điểm:

+ Phải mài răng hai đầu khoảng mất

+ Dễ kích thích tủy răng

1.3.5 Cấy ghép răng (Implant):

Xương hàm vùng mất răng được khoan và đặt chốt kim loại vào đó Sauvài tháng hoặc ngay tức thì tùy từng trường hợp mà chúng ta phục hình rănggiả thay răng mất trên chốt kim loại đó Phương pháp này có thể thay thế mộthoặc nhiều răng mất

1.3.5.1 Ưu điểm:

+ Phục hình cố định được mà không cần răng giới hạn

+ Không cần can thiệp vào răng khác do đó bảo tồn các răng còn lại.+ Phục hồi chức năng ăn nhai tốt

+ Răng giả sinh lý hơn

Trang 26

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc làm phục hình răng tháo lắp

1.4.1 Hình thái giải phẫu hàm trên:

1.4.1.1 Kích thước cung hàm:

Có sự tiêu xương hướng tâm Đường kính cung hàm tạo nên vùng nâng

đỡ chính Kích thước của một cung hàm quá nhỏ so với cung hàm còn lại làyếu tố bất lợi cho sự vững ổn của phục hình

1.4.1.5 Lồi rắn xương hàm trên:

Hình bầu dục hoặc tròn ở 1/3 sau đường giữa,hay hình dài ở 2/3 sauđường giữa hoặc hình dẹt ở 1/3 trước đường giữa

1.4.1.6 Lồi cùng xương hàm trên:

Tạo sự vững ổn theo chiều trước sau

1.4.1.7 Rãnh chân bướm hàm:

Có hình dạng khác nhau phụ thuộc vào sự bám dính của dây chằng chânbướm hàm vào lồi cùng Khi làm hàm giả biên giới nền hàm không được vượtquá rãnh này

Trang 27

1.4.1.8 Ranh giới giữa vòm miệng cứng và vòm miệng mềm:

Đây là điểm mốc rất quan trọng cho sự lưu giữ của phục hình Khi quansát phải xác định hướng của màn hầu, và kiểm tra bờ sau của phục hình cógây kích thích nôn cho bệnh nhân không

1.4.1.9 Ngách lợi:

Là biên giới nền hàm phía trước và hai bên, tạo sự lưu giữ cho hàm giả.Khi làm phục hình cần chú ý bờ hàm giả phía ngách lợi má chiếm hếtvùng này nhưng phải tránh phanh môi phanh má

1.4.2 Hình thái giải phẫu hàm dưới:

1.4.2.1 Kích thước cung hàm:

Ở hàm dưới khi mất răng thì cung hàm dưới sẽ tiêu xương theo hướng

ly tâm tức là theo hướng rộng ra

Trang 28

1.4.2.7 Tam giác sau hàm:

Tại vùng này nền hàm chỉ được giới hạn ở vùng mô xơ chắc, khôngđược chạm tới phần niêm mạc di động

1.4.3 Lưỡi và yếu tố thần kinh, cơ:

Làm mất sự ổn định và lưu giữ của hàm giả do kích thước và sự chuyểnđộng của nó Ở người mất răng lâu và chưa làm hàm giả, do tham gia vàohoạt động nhai nên lưỡi thường rất khó chấp nhận hàm giả

Các cơ diễn tả điệu bộ và nét mặt

1.4.4 Nước bọt và tình trạng niêm mạc miệng:

Là một yếu tố quan trọng cho sự bám dính và làm cho bệnh nhân cảmgiác dễ chịu khi mang hàm giả Nước bọt nhiều quá ảnh hưởng đến sự lưugiữ của hàm giả, nước bọt ít quá làm giảm lực bám dính, gây đau, khó vệsinh và dễ nhiễm khuẩn

Trang 29

Nền hàm tiếp xúc với bề mặt niêm mạc càng nhiều thì hàm giả càng lưugiữ tốt và vững ổn.

Hiệu quả của hàm giả phụ thuộc 3 yêu cầu cơ học căn bản liên quan trựctiếp đến chất lượng của hàm giả, đó là:

- Sự nâng đỡ: có liên quan trực tiếp đến diện tích của bề mặt tiếp xúc vớihàm giả và nhưng yếu tố giải phẫu thuận lợi bao gồm những triền dọc giữ vững

- Sự lưu: phụ thuộc vào chất lượng của vành khít và sự khít sát Sự khítsát quyết định độ mỏng của lớp nước bọt

- Sự vững ổn: Tùy vào thể tích của nền phục hình có phù hợp với sự diđộng của các cơ quan cận phục hình, lên răng đúng

1.4.5 Dây chằng, phanh môi, phanh lưỡi:

Dây chằng, phanh môi, phanh lưỡi bám sát đỉnh sống hàm là yếu tố bấtlợi cho sự bám dính của hàm giả Vì khi miệng hoạt động chức năng, cácphanh và dây chằng sẽ di động

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định và vững chắc của hàm giả

1.5.1 Yếu tố giúp hàm giả ổn định theo chiều đứng dọc [30]

- Móc răng: là yếu tố quan trọng nhất để giữ hàm giả ổn định

- Hàm khít sát với niêm mạc

- Biên giới nền hàm vùng răng thật

- Lồi cùng và tam giác sau hàm

- Diện tích nền hàm: diện tích càng lớn hàm giả càng bám dính cao

- Nước bọt: nước bọt đặc hoặc nhớt giúp hàm giả dính tốt hơn

Trang 30

1.5.2 Yếu tố hàm giả ổn định theo chiều ngang

- Sống hàm, vòm miệng

- Tay móc

- Cổ răng thật nơi biên giới nền hàm tựa vào

1.5.3 Yếu tố hàm giả ổn định theo chiều trước – sau

- Vùng gót các răng cửa

- Vai móc

- Lồi cùng và tam giác sau hàm

- Các khối răng giả sát khít với mặt bên răng thật

Quan điểm của Gysi cũng như vậy, nhưng việc này rất khó thực hiện vànên mỗi khi hàm dưới chuyển động ra trước hoặc sang hai bên thì hàm trên vàhàm dưới chỉ cần chạm nhau ở 3 điểm là đủ: 2 điểm ở hai bên và 1 điểm ở trước

Để có khớp cắn thăng bằng ở hàm giả, cần phải chú ý tới đường cong bùtrừ đó là đường cong Spee và đường cong Wilson

1.5.4.1 Đường cong Spee:

Đường cong Spee là một đường cong từ đỉnh núm răng nanh hàm dướicho tới núm ngoài xa răng hàm lớn thứ hai hàm dưới

Trang 31

Đường cong này có bề lõm quay lên trên với nơi thấp nhất nằm ở đỉnhnúm gần ngoài của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.

Đường cong Spee giúp nhai được tốt hơn và tránh bật khi nhai Spee chorằng bán kính của đường cong cung răng đường chuyển động theo chiều trướcsau là 6,5cm-7cm

Nếu đường cong Spee dẹt quá, khi đưa hàm ra trước, lồi cầu hạ xuốngrăng hàm sẽ bị hở Bệnh nhân chỉ cắn được răng cửa và gây ra hiện tượngChristensen Hiện tượng Christensen là:

- Hàm không vững

- Lực ép nặng phía trước làm tiêu xương

- Phía sau không có tác dụng

Nếu đường cong Spee nghiêng hoặc cong quá sẽ gây chạm sớm ở răng hàm,rồi trượt ra trước, răng cửa không chạm trong khi răng phía sau vẫn chạm

1.5.4.2 Đường cong Wilson:

Là một đường cong trên mặt phẳng đứng ngang, tức là theo chiều trong là đường nối các đỉnh núm ngoài và trong của các răng cối ở hai bênhàm, đó là một đường cong lõm lên trên

ngoài-Đây là đường cong bù trừ, cho phép trượt hài hòa của núm ngoài răngdưới trên sườn trong của núm ngoài răng trên khi hàm chuyển động sang bên

1.5.4.3 Chiều cao khớp cắn:

Chiều cao khớp cắn rất quan trọng trong phục hồi chức năng nhai tránhhiệu quả xấu gây ra cho khớp thái dương hàm và hệ thống cơ thần kinh Đồngthời góp phần phục hồi sự hài hòa của khuôn mặt và giúp phát âm tốt

- Theo Ash [40] để xác định đúng chiều cao khớp cắn cần những điềukiện sau:

+ Sự cân bằng thần kinh –cơ

Trang 32

+ Sự cân bằng lưỡi hàm, tôn trọng khoảng Donders

+ Điều kiện tâm lý lý tưởng của bệnh nhân

+ Loại trừ những yếu tố gây rối loạn chiều cao do hàm giả cũ, răng còn lại.+ Làm rõ hoặc xóa bỏ những phản xạ chủ động hay tự ý của bệnh nhân.+ Xem xét tình trạng tổ chức phần mềm của sống hàm

Hamel [39] cho rằng chiều cao khớp cắn đúng giữ cho hàm giả được ổnđịnh khi bệnh nhân nói, nhai, nuốt Chiều cao của khớp cắn sai sẽ dẫn đếnhậu quả xấu Khớp cắn cao làm khó nói, tăng sức ép ở phía sau, làm cho tiêuxương nhanh, tăng trương lực cơ và đau khớp thái dương hàm, ảnh hưởng đếnthẩm mỹ

Các kỹ thuật xác định chiều cao khớp cắn bao gồm:

* Kỹ thuật xác định chiều cao khớp cắn ở tư thế nghỉ:

- Trường hợp có dữ liệu trước khi nhổ răng:

+ Đo chiều cao khớp cắn trước khi nhổ răng

+ Dùng ảnh chụp mặt nghiêng trước lúc nhổ răng theo Wright

+ Dùng mũ của Landa ghi tư thế cân bằng thạch cao lúc bệnh nhân ở tưthế răng cắn tối đa

- Trường hợp không có dữ liệu trước khi nhổ răng:

+ Khôi phục lại vẻ thẩm mỹ

+ Kiểm tra kỹ phát âm

* Kỹ thuật xác định chiều cao khớp cắn trung tâm:

- Willis: Khoảng cách giữa hai điểm khóe mắt ngoài và khóe miệng bằngkhoảng cách giữa hai điểm dưới mũi và dưới hàm

- Macgee: khoảng cách từ đồng tử đến mép bằng khoảng cách từ điểm lồixương trán đến điểm dưới mũi

- Boyanov: khoảng cách giữa hai mép lúc nghỉ bằng khoảng cách từđiểm môi trên đến điểm dưới hàm ở tư thế cắn khít trung tâm

Trang 33

1.5.4.4 Mặt phẳng cắn:

Mặt phẳng cắn là mặt phẳng tiếp xúc giữa các mặt nhai của răng giả khingậm miệng tối đa, đảm bảo chức năng ăn nhai và tôn trọng sự toàn vẹn của

bề mặt tựa, tạo lai sự thẩm mỹ và phát âm

Mặt phẳng cắn của hàm giả đi từ rìa cắn của các răng cửa giữa tới đỉnhnúm xa trong của các răng hàm lớn thứ hai hàm trên, song song với mặtphẳng Camper [30] là mặt phẳng đi từ lỗ ống tai ngoài tới gai mũi trước

- Mặt phẳng nhai lý tưởng sẽ phục hồi thẩm mỹ, các chức năng và giúpcho hàm giả vững, tránh bật ra khi nhai

Theo quan điểm giải phẫu mặt phẳng nhai phải được so với các chuẩn sọmặt, mục đích có được mặt phẳng nhai sát với tư thế của người có răng Theoquan điểm này, có thể dùng phương pháp cổ điển trên lâm sàng, dựa vào mặtphẳng Camper hoặc dùng phương pháp đo mặt chụp X quang từ xa Kỹ thuật

cổ điển là kỹ thuật thông dụng theo Nguyễn Thị Cẩm Bình [41] gồm hai giaiđoạn điều chỉnh gối cắn phía trước và điều chỉnh gối cắn phía sau

- Điều chỉnh gối cắn phía trước theo thẩm mỹ và phát âm: về mặt thẩm

mỹ làm mờ vết rãnh nhân chung và rãnh má môi cằm, thấy rõ được hình dạngmôi trên, chiều cao gối cắn được điều chỉnh song song đường ngang nối haiđồng tử hoặc dưới môi trên 1-3mm tùy từng bệnh nhân Theo Taddéi [42] chú

Trang 34

1.5.4.6 Mặt phẳng dọc giữa.

Là mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng Francfort, đi từ trước ra sau chiakhuôn mặt thành hai phần cân xứng, đóng vai trò quan trọng trong thẩm mỹ

1.5.4.7 Lên răng và thăng bằng khớp cắn trên càng nhai:

1.5.4.7.1 Càng nhai Quick Mater:

Là càng nhai giải phẫu bán thích ứng, mặt phẳng tham chiếu có độnghiêng lồi cầu được chỉnh ở 40° so với mặt phẳng Francfort, góc Bennettđược chỉnh ở 15°

1.5.4.7.2 Cung mặt:

Cung mặt là dụng cụ để chuyển quan hệ tư thế hàm răng với hốc lồi cầu

về cả 3 chiều trong không gian sang càng nhai đúng với mặt phẳng cắn

1.5.4.7.3 Lên răng ở tương quan trung tâm:

Lên răng đúng giúp hàm giả đáp ứng được các yêu cầu ăn nhai, thẩm mỹ

và phát âm, giúp răng thật và răng thay thế có sự tiếp xúc tối đa ở tư thế cắn

khít trung tâm, góp phần làm thăng bằng khớp cắn

Theo Mariani P [43] nhằm mục đích đạt được sự phân bố đều các điểmchạm giữa răng hàm trên và răng hàm dưới, tôn trọng nguyên tắc nghiêng vềphía lưỡi Các điểm chạm đó khác nhau tùy theo tuýp lên răng

- Kiểu Gerber: lên răng 1/1 (hoặc từng răng một)

- Kiểu Aniton: lên răng 1/2 (mỗi răng hàm trên trừ răng 7 chạm với hairăng hàm dưới)

- Khi chuyển qua tư thế hàm răng với hốc lồi cầu từ bệnh nhân sang càngnhai, phải dựa vào điểm tham chiếu chung giữa bệnh nhân và giá khớp là trụcbản lề tận cùng

1.6 Nhu cầu làm hàm giả TLTP nền nhựa trên NCT hiện nay

- Khi tuổi càng cao, mất răng càng nhiều thì nhu cầu phục hình đặc biệt

là làm hàm giả TLTP càng tăng Theo nghiên cứu trên người bệnh cao tuổi tại

Trang 35

Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Tp Hồ Chí Minh, mất răng chiếm tỷ

lệ cao 93,7% Mất răng không mang hàm giả hàm trên 65,7%, hàm dưới71,0% [44] Vì vậy, việc làm hàm giả TLTP trên NCT là cần thiết

- Hiện nay có nhiều phương pháp phục hình, và lựa chọn phương phápphục hình phụ thuộc nhiều yếu tố như: Tâm lý, nhu cầu, điều kiện tài chính(điều kiện tài chính là yếu tố quan trọng để lựa chọn loại phục hình), ngoài racòn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của nha sĩ hay trang thiết bị và đặcđiểm lâm sàng của từng NCT

- Lý do chủ yếu khiến bệnh nhân mong muốn làm lại hàm giả mới làlỏng hàm khiến cho việc ăn nhai trở nên khó khăn Ngoài ra ở NCT còn bịmất thêm răng, mòn mặt nhai dẫn đến NCT không còn thích nghi với hàmgiả cũ và có nhu cầu làm một hàm giả khác thay thế

- Hàm giả TLTP nền nhựa vẫn là hàm giả phù hợp với NCT nhằm phụchồi tốt chức năng và thẩm mỹ nhất là khi NCT có bệnh toàn thân kèm theo

1.7 Các nghiên cứu về hàm giả TLTP ở nước ta hiện nay

1.7.1 Nghiên cứu đánh giá tình trạng răng miệng sau phục hình tháo lắp

từng phần nền nhựa với móc đúc và móc uốn của Trịnh Thị Kim Cúc từ năm

2006 [45] Tác giả nghiên cứu từ lứa tuổi trẻ hơn là 30 tuổi trở lên Trong đónhóm NCT chiếm 65,6% Nghiên cứu tập trung đánh giá tình trạng vệ sinhrăng miệng khi mang hàm TLTP bằng móc đúc và móc uốn, so sánh đánh giávai trò của móc đúc và móc uốn mà không đánh giá kết quả hàm giả TLTPmang lại cho đối tượng nghiên cứu

1.7.2 Nghiên cứu của Phạm Cao Phong [46] có đánh giá kết quả hàm TLTP

về chức năng ăn nhai và sự hài lòng nhưng bằng nhựa dẻo và trên đối tượng

từ 30 tuổi trở lên với tỉ lệ NCT chỉ chiếm 47,92%

Trang 36

Hình 1.6 Hàm răng giả TLTP nhựa dẻo[30]

1.7.3 Tác giả Tống Minh Sơn (2007) nghiên cứu phục hình TLTP đặc điểm

lâm sàng bệnh nhân mất răng loại Kennedy I và II và có đánh giá hiệu quảphục hồi chức năng và thẩm mỹ hàm TLTP nhưng của hàm khung và nghiêncứu trên nhiều lứa tuổi khác nhau (<45 tuổi, 45-64 tuổi ,>=65)

Hình 1.7 Hàm răng giả TLTP hàm khung[30]

Trang 37

Nghiên cứu của chúng tôi

- Đối tượng tập trung chỉ ở NCT, và đánh giá kết quả hàm TLTP nềnnhựa về các chức năng như ăn nhai, phát âm, thẩm mỹ và mức độ hài lòng

- Nghiên cứu của chúng tôi so sánh nhóm đã từng mang hàm giả và chưatừng mang hàm TLTP điều này có ý nghĩa quan trọng giúp tiên lượng và địnhhướng điều trị, đáp ứng nhu cầu mục đích phục hình răng ở NCT, đồng thờichúng tôi so sánh kết quả phục hình ở nhóm NCT phục hình dưới 5 răng và từ

5 răng trở lên Vấn đề này đã được nhiều tác giả trong nước và nước ngoài đềcập tới nhưng chưa đưa ra kết quả củ thể

- Nghiên cứu là cơ sở cho các đề tài nghiên cứu đệm hàm TLTP nềnnhựa vì sau 1 thời gian sử dụng hàm TLTP thường sẽ lỏng và làm giảm hiệuquả ăn nhai, phát âm, thẩm mỹ

Hình 1.8 Hàm răng giả TLTP nền nhựa

Trang 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Người cao tuổi: Tuổi ≥ 60 thường trú tại Hà Nội

- Đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những người không trong độ tuổi trên

- Mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính

- Bị rối loạn tâm thần hay không hợp tác

- Không ở Hà Nội

2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Viện đào tạo Răng Hàm Mặt – Trung tâm KỹThuật Cao Khám Chữa Bệnh Răng Hàm Mặt nhà A7- Đại học Y Hà Nội-Thành phố Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu: Mô tả cắt ngang năm 2015

Nghiên cứu can thiệp lâm sàng từ tháng 09/2016 đến tháng 9/2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Mô tả cắt ngang, phối hợp nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối

chứng, đánh giá kết quả

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Là một nghiên cứu nhằm xác định thực trạng mất răng, nhu cầu điều trị

và một số yếu tố liên quan [44]

Trang 39

2.2.1.1 Cỡ mẫu nghiên cứu.

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu mô tả cắt ngang trong cộngđồng sau [44]:

Áp dụng công thức ta tính được n = 968 người

Lấy mẫu 30 chùm nên mỗi chùm ta cần 968/30 = 32 NCT

2.2.1.2 Kỹ thuật chọn mẫu [44]

- Bước 1: Chọn 30 chùm

+ Hà Nội có 12 quận nội thành, 168 phường, tổng dân số 3,128,690

Từ đó chọn mẫu 30 chùm, mỗi chùm là 1 phường

+ Cách chọn mẫu chùm: Lập danh sách các phường Hà Nội, có cột dân

số cộng dồn Tính k là khoảng lấy mẫu

Trang 40

k = tổng số dân nội thành Hà Nội/ 30 = 104288

Chọn trên bảng số ngẫu nhiên được số X với X < k

Chùm 1 là phường có dân số cộng dồn chứa X

Chùm 2 là phường có số dân cộng dồn chứa X + k

Chùm 3 là phường có số dân cộng dồn chứa X + 2k

………

Chùm 30 là phường có số dân cộng dồn chứa X + 29k

- Bước 2: Chọn đối tượng nghiên cứu: Dựa vào danh sách người cao

tuổi thường trú trong phường Chọn ngẫu nhiên 1NCT đầu tiên, người NCTtiếp theo được chọn cổng liền cổng

Chuẩn bị trước khi tiến hành nghiên cứu

- Phiếu điều tra: Dựa vào phiếu điều tra đề tài cấp bộ xây dựng bộ câuhỏi cùng với phiếu khám phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

- Tập huấn điều tra viên theo nội dung phiếu phỏng vấn và phiếu khámnhằm có sự thống nhất trong kỹ thuật khám và kết quả khám

- Tất cả những người tham gia điều tra sau khi được tập huấn đều phảiđạt chuẩn trước khi đi khám cộng đồng

- Liên hệ với cơ sở địa phương để mời NCT được chọn đến Viện RăngHàm Mặt Đại Học Y Hà Nội khám

Vật liệu và dụng cụ

- Bộ khay khám: Gồm khay quả đậu, gương có đèn, gắp, thám châm

- Bông, cồn, dung dich khử trùng dụng cụ Hexanios 2%

- Mũ giấy, găng tay, khẩu trang

- Xô ngâm dụng cụ, lò hấp sấy

Ngày đăng: 21/07/2019, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trương Mạnh Dũng (2014).Nha khoa cộng đồng tập I, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 374 - 385 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ).Nha khoa cộng đồng tập I
Tác giả: Trương Mạnh Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Yhọc
Năm: 2014
13. Hồng Thúy Hạnh (2013), ‘Thực trạng bệnh sâu răng ở người cao tuổi Hà Nội năm 2015 và nhận xét kết quả điều trị mòn cổ răng bằng Fuji VII”. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Thực trạng bệnh sâu răng ở người cao tuổiHà Nội năm 2015 và nhận xét kết quả điều trị mòn cổ răng bằng FujiVII”
Tác giả: Hồng Thúy Hạnh
Năm: 2013
14. Trương Mạnh Dũng (2007), “Tình trạng mất răng ở người cao tuổi phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội”, Tạp chí Y học thực hành (số 1), tr 4- 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng mất răng ở người cao tuổiphường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội”, "Tạp chí Y họcthực hành (số 1)
Tác giả: Trương Mạnh Dũng
Năm: 2007
15. Võ Thế Quang (2000), “Viêm quanh chóp răng”, Bách khoa thư bệnh học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tập III, tr. 523 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm quanh chóp răng”, "Bách khoa thư bệnhhọc
Tác giả: Võ Thế Quang
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
16. Chistensen J. (1977), “Oral health status of 65 to 74 year old Danes. a preliminary report on the replications of who’s international collaborative study in Denmark’’, J. Dent Res, Special Issue C, 56, pp.149-153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral health status of 65 to 74 year old Danes. apreliminary report on the replications of who’s internationalcollaborative study in Denmark’’", J. Dent Res
Tác giả: Chistensen J
Năm: 1977
17. Douglass C.W., et al. (1993), “Oral health status of elderly in New England”, Journal of Gerontology Medical Sciences, 48(2), pp. 39-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oral health status of elderly in NewEngland”, "Journal of Gerontology Medical Sciences
Tác giả: Douglass C.W., et al
Năm: 1993
18. Marcus S.E., Kaste L.M., Brown L.J. (1994), “Prevalence and demographic correclates of tooth loss among the elderly in the United states’’, Special Care in Dentistry, 14(3), pp. 123-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence anddemographic correclates of tooth loss among the elderly in the Unitedstates’’, "Special Care in Dentistry
Tác giả: Marcus S.E., Kaste L.M., Brown L.J
Năm: 1994
19. Mai Đình Hưng (1996), “Tuổi già và tình hình sức khoẻ của răng miệng”, Tổng quan tài liệu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, số 1, tr. 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi già và tình hình sức khoẻ của răngmiệng”, "Tổng quan tài liệu
Tác giả: Mai Đình Hưng
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1996
20. Hoàng Tử Hùng (2002), “Tích tuổi và tình trạng răng miệng”, Thông tin Y Dược học, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, tập IX, tr. 33-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích tuổi và tình trạng răng miệng”, "Thông tinY Dược học
Tác giả: Hoàng Tử Hùng
Năm: 2002
22. Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) Liên Hợp Quốc (1997), Sự già hoá dân số của Châu Á: Các khía cạnh nhân khẩu học’, Trung tâm nghiên cứu, Thông tin và Tư liệu Dân số Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình, Hà Nội - Việt Nam, tr. 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự già hoá dân số của Châu Á: Các khía cạnh nhân khẩuhọc’
Tác giả: Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) Liên Hợp Quốc
Năm: 1997
23. Lu Liu,Ying Zhang,Wei Wu et al (2013). Prevalence and Corelates of Dental Caries in an Elderly Population in Northeast China. Plos one, 8, 11-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plos one
Tác giả: Lu Liu,Ying Zhang,Wei Wu et al
Năm: 2013
24. Hà Ngọc Chiều, Tống Minh Sơn, Trần Thị Mỹ Hạnh và Cs (2014).“Đánh giá tình trạng sâu răng và nhu cầu điều trị ở người cao tuổi”.Y học thực hành, 7, 31-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá tình trạng sâu răng và nhu cầu điều trị ở người cao tuổi”
Tác giả: Hà Ngọc Chiều, Tống Minh Sơn, Trần Thị Mỹ Hạnh và Cs
Năm: 2014
25. Fiske J., Lloyd H.A. (1992), “Dental needs of residents and cares in elderly peoples ’ homes and cares ’ attitudes to oral health”, Eur J Prosthodont Restor Dent, 1(2), pp. 91-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dental needs of residents and cares inelderly peoples’ homes and cares’ attitudes to oral health”, "Eur JProsthodont Restor Dent
Tác giả: Fiske J., Lloyd H.A
Năm: 1992
26. Luan W.M., Baelum V., Chen X., Fejerskov O. (1989), “Dental caries in adult and elderly Chinese”, J. Dent Res, 68(12), pp. 1771-1776 . 27. Ambjorsen E. (1986), “Decayed, missing and filled teeth among elderlypeople in a Norwegian municipality”, Acta Odontol Scand, 44, pp. 123-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dental caries inadult and elderly Chinese”," J. Dent Res", 68(12), pp. 1771-1776 . 27. Ambjorsen E. (1986), “Decayed, missing and filled teeth among elderlypeople in a Norwegian municipality”, "Acta Odontol Scand
Tác giả: Luan W.M., Baelum V., Chen X., Fejerskov O. (1989), “Dental caries in adult and elderly Chinese”, J. Dent Res, 68(12), pp. 1771-1776 . 27. Ambjorsen E
Năm: 1986
28. Đỗ Quang Trung (2002), Dịch tễ học bệnh quanh răng, Bộ môn Răng Hàm Mặt, Đại học Y Hà Nội, tr. 1-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh quanh răng
Tác giả: Đỗ Quang Trung
Năm: 2002
29. Nguyễn Cẩn (1997), “Khảo sát và phân tích tình hình bệnh nha chu tại 3 tỉnh phía Nam và thành phố Hồ Chí Minh phương hướng điều trị dự phòng”, Luận án Tiến sĩ khoa học Y Dược, Đại học Y Dược, thành phố Hồ Chí Minh, toàn văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát và phân tích tình hình bệnh nha chu tại 3tỉnh phía Nam và thành phố Hồ Chí Minh phương hướng điều trị dựphòng”
Tác giả: Nguyễn Cẩn
Năm: 1997
31. Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn, Trịnh Đình Hải, John Spence A, Thomson K.R. (2002), Điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 12-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc
Tác giả: Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn, Trịnh Đình Hải, John Spence A, Thomson K.R
Nhà XB: Nhàxuất bản Y học
Năm: 2002
32. Huỳnh Anh Lan (2002), “Một số vấn đề răng miệng thường gặp ở người cao tuổi”, Thông tin Y Dược học, Sở Y tế TP. HCM, tập IX, tr. 39 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề răng miệng thường gặp ở ngườicao tuổi”, "Thông tin Y Dược học
Tác giả: Huỳnh Anh Lan
Năm: 2002
33. Norderyd O., Hugoson A. (1998), "Tooth loss and periodontal bone level in individuals of Jonkoping country. A comparision between two adult populations living in the city and in the surrounding area", Swed. Dent.J., 22(4), pp. 165-174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tooth loss and periodontal bone levelin individuals of Jonkoping country. A comparision between two adultpopulations living in the city and in the surrounding area
Tác giả: Norderyd O., Hugoson A
Năm: 1998
34. Vũ Kiều Diễm (1991), "Điều tra cơ bản sức khỏe răng miệng ở miền Nam Việt Nam", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 1975 - 1993, Viện Răng Hàm Mặt thành phố Hồ Chí Minh, tr. 17 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra cơ bản sức khỏe răng miệng ở miềnNam Việt Nam
Tác giả: Vũ Kiều Diễm
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w