1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CÔNG tác QUẢN lý CHẤT THẢI rắn y tế vàmột số yếu tố LIÊN QUAN tại VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH BỆNH VIỆN hữu NGHỊ VIỆT đức năm 2019

82 180 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất thải rắn y tế nguy hại tiềm ẩn khả năng lây nhiễm mầm bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và môitrường nếu không được quản lý chặt chẽ và xử lý bằng các giải pháp phù hợpCác bệnh

Trang 1

NGUYỄN VĂN DŨNG

THùC TR¹NG C¤NG T¸C QU¶N Lý CHÊT TH¶I R¾N Y TÕ Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN T¹I VIÖN CHÊN TH¦¥NG CHØNH H×NH BÖNH VIÖN

H÷U NGHÞ VIÖT §øC N¡M 2019

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH

HÌNH BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2019

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN NGHIÊN CỨU Y HỌC

Trang 3

NGUYỄN VĂN DŨNG

THùC TR¹NG C¤NG T¸C QU¶N Lý CHÊT TH¶I R¾N Y TÕ Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN T¹I VIÖN CHÊN TH¦¥NG CHØNH H×NH BÖNH VIÖN

H÷U NGHÞ VIÖT §øC N¡M 2019

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH

HÌNH BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC NĂM 2019

Chuyên nghành: Quản lý bệnh viện

Mã số: 8720802

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN NGHIÊN CỨUTHẠC SĨ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Nguyễn Thanh Hà

2 PGS.TS Lê Thị Hoàn

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế 4

1.1.1 Các khái niệm 4

1.1.2 Phân loại chất thải y tế 4

1.1.3 Quản lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT 6

1.1.4 Một số nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe 10

1.2 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 13

1.3 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 16

1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế 16

1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành quản lý CTRYT 20

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng quản lý chất thải y tế 21

1.5 Thông tin chung về quản lý chất thải rắn tại Viện Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 23

1.5.1 Thông tin chung về bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 23

1.5.2 Thông tin chung Viện chấn thương chỉnh hình 25

1.5.3 Quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 32

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu 35

Chương 2 36

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

2.1 Đối tượng nghiên cứu 36

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 36

2.3 Thiết kế nghiên cứu 36

2.4 Cỡ mẫu 36

Trang 5

2.5.3 Xử lý và phân tích số liệu 39

2.6 Các biến số nghiên cứu và cách cho điểm các biến 39

2.6.1 Các biến số nghiên cứu 39

2.6.2 Cách cho điểm các biến 45

2.7 Sai số và cách khống chế sai số 45

2.8 Khía cạnh đạo đức nghiên cứu 46

- Nghiên cứu này được tiến hành sau khi Hội đồng xét duyệt đề cương do Trường Đại học Y Hà Nội thành lập và phê duyệt 46

- Sự cho phép của Viện chấn thương chỉnh bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 46

- Sự tự nguyện tham gia của đối tượng nghiên cứu (trừ trường hợp đối tượng không biết bị quan sát) 46

- Quá trình thu thập số liệu và công bố kết quả được giữ bí mật cho người tham gia nghiên cứu để đảm bảo an toàn và tính tự nguyện 46

- Người tham gia nghiên cứu được giải thích và cung cấp đầy đủ các thông tin về nghiên cứu Khi có sự tự nguyện tham gia của đối tượng mới tiến hành phỏng vấn theo quy định 46

Chương 3 47

DỰ KIẾN KẾT QUẢ 47

3.1 Thực trạng về công tác quản lý chất thải rắn y tế 47

3.2 Kiến thức về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ của nhân viên y tế 51

3.2.1 Thông tin của đối tượng nghiên cứu 51

3.2.2 Kiến thức về phân loại chất thải rắn y tế 51

3.2.3 Kiến thức về thu gom chất thải rắn y tế 52

3.2.4 Kiến thức về vận chuyển chất thải rắn y tế 52

3.2.5 Kiến thức về lưu giữ chất thải rắn y tế 52

3.3 Thực hành phân loại chất thải rắn y tế 53

3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế 53

3.4.1 Liên quan giữa thâm niên công tác với kiến thức quản lý CTRYT 53

3.4.2 Liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức quản lý CTRYT 53

Trang 6

Chương 4 56

DỰ KIẾN BÀN LUẬN 56

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 57

DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBYT : Cán bộ y tế

CTRYT : Chất thải rắn y tế

CTYT : Chất thải y tế

HBV : Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)

HCV : Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C)

HIV : Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây suy giảm

miễn dịch ở người) IPCS : Chương trình toàn cầu về an toàn hóa chất

IRTPC : Tổ chức đang ký toàn cầu về hóa chất độc tiềm tàng

QLCT : Quản lý chất thải

WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 7

Bảng 1.1: Những nguy cơ do tiếp súc với các loại chất thải y tế [9] 11

Bảng 1.2: Nguy cơ các vật sắc nhọn [9] 12

Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới 15

Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới 15

Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam 18

Bảng 1.6: Thông tin về nhân lực bệnh viện 24

Bảng 1.7: Một số hoạt động về chuyên môn 24

Bảng 2.1: Biến số và chỉ số nghiên cứu 39

Bảng 3.1 Thực trạng về công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Viện chấn thương chỉnh hình 47

Bảng 3.2: Thông tin chung của NVYT 51

Bảng 3.3 Kiến thức về phân loại CTRYT của NVYT 51

Bảng 3.4 Kiến thức về thu gom CTRYT của NVYT 52

Bảng 3.5 Kiến thức về vận chuyển CTRYT của NVYT 52

Bảng 3.6 Kiến thức về lưu giữ CTRYT của NVYT 53

Bảng 3.7 Phân loại CTRYT của NVYT 53

Bảng 3.8 Liên quan giữa thâm niên công tác với kiến thức quản lý CTRYT 53

Bảng 3.9 Liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức quản lý CTRYT 53

Bảng 3.10 Liên quan giữa thâm niên công tác với kiến thức quản lý CTRYT 54

Bảng 3.11 Liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức quản lý CTRYT 54

Bảng 3.12 Liên quan giữa thực hành của nhân viên y tế đến quản lý CTRYT 54

Trang 8

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh bệnh viện HN Việt Đức 33

Sơ đồ 2 Khung lý thuyết 35

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, sự phát triển của các bệnh viện đã làm gia tăng lượng chất thải

ra môi trường, đặc biệt là chất thải rắn y tế Quản lý chất thải rắn y tế đã vàđang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội nói chung và là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế nói riêng Chất thải rắn y tế nguy hại tiềm

ẩn khả năng lây nhiễm mầm bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và môitrường nếu không được quản lý chặt chẽ và xử lý bằng các giải pháp phù hợpCác bệnh viện khi đi vào hoạt động đều phát sinh chất thải, ngoài chấtthải dạng lỏng, chất thải dạng khí còn phát sinh chất thải rắn, một loại chấtthải đặc thù khác với các xí nghiệp hay nhà máy như là bơm kim tiêm, bông,băng, gạc, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…các vật tư qua sửdụng nhưng dính dịch tiết, dính máu của người bệnh Các nghiên cứu dịch tễhọc trên thế giới đã chứng minh, quản lý chất thải rắn y tế không đúng cách sẽgây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, cộng đồng dân cư vàgây ô nhiễm môi trường [1],[2]

Trong chất thải rắn y tế thường chứa các vi sinh vật gây bệnh , các tácnhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các conđường lây nhiễm như qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc qua đườngtiêu hoá…[3] Các chất thải là vật sắc nhọn còn có khả năng vừa gây tổn thương

do đâm xuyên, vừa có khả năng lây truyề các bệnh truyền nhiễm cho các đốitượng phơi nhiễm Các nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ nguy cơ lây nhiễm HBV khi

bị tổn thương do kim tiêm là 30%, HCV là 1,8% và HIV là 0,3%

Tại Việt Nam hiện nay, cả nước có hơn 13.511 cơ sở y tế bao gồm các cơ

sở khám chữa bệnh và dự phòng từ cấp trung ương đến địa phương Theo sốliệu thống kê của Cục quản lý môi trường y tế - Bộ y tế năm 2011 với lượngchất thải rắn phát sinh vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47 - 50 tấn/ngày

Trang 10

là chất thải rắn y tế nguy hại, dự kiến đến năm 2020 là khoảng 800 tấn/ngày[4] Tuy vậy, hiện mới có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý chấtthải y tế trong số đó nhiều hệ thống xử lý đã xuống cấp nghiêm trọng Tỷ lệ cácbệnh viện tuyến Trung ương chưa có hệ thống xử lý chất thải y tế là 25%, tuyếntỉnh là gần 50% và ở bệnh viện tuyến huyện là trên 60% [5].

Để khắc phục thực trạng trên và để đảm bảo thực hiện đúng luật bảo vệmôi trường, ngày 31 tháng 12 năm 2015, Bộ Y tế và Bộ Tài Nguyên và Môitrường đã ban hành Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT vềquản lý CTYT Thông tư này được áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhântrong và nước ngoài có hoạt động liên quan đến chất thải y tế trên lãnh thổViệt Nam [6]

Viện Chấn thương chỉnh hình là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc bệnhviện Hữu nghị Việt Đức, được thành lập theo quyết định số 3636/QĐ - BYTngày 30/09/2010 gồm 07 khoa phòng: Khoa Phẫu thuật chi trên & Y học thểthao, Khoa Phẫu thuật chi dưới, Khoa Phẫu thuật chấn thương chung, KhoaPhẫu thuật cột sống, Khoa Phẫu thuật Hàm mặt - Tạo hình - Thẩm mỹ, KhoaKhám xương và điều trị ngoại trú, Khoa Phục hồi chức năng Viện có quy mô

315 giường kế hoạch nhưng số giường thực kê là 400 giường, với 275 nhânviên y tế, mỗi năm bệnh viện điều trị cho khoảng 50.000 người bệnh nội trú,

Số ca phẫu thuật 30.000 ca (chiếm gần 50% số lượng phẫu thuật của bệnhviện) [7] Trong quá trình hoạt động số lượng chất thải rắn y tế trung bìnhhàng tháng của viện là 61.064 kg / tháng chất thải, trong đó số lượng chất thảilây nhiễm và nguy hại là 5.073 kg/tháng, chất thải thông thường và chất thảitái chế khoảng 55.991 kg/tháng, con số này tăng lên hàng năm cùng với sựphát triển và hoạt động tăng dần về chuyên môn của viện

Cơ sở vật chất của viện còn nhiều hạn chế đó là: Cơ sở hạ tầng chủ yếu

là tòa nhà cũ, hiện đang sửa chữa và xây thêm, các nhà chứa chất thải trật, hẹp

Trang 11

không đảm bảo, các thùng đựng chất thải còn thiếu thốn cả về số lượng, màusắc, kinh phí hoạt động nói chung và kinh phí cho quản lý chất thải nói riêngcòn thiếu Trong quá trình kiểm tra giám sát thấy nhiều nhân viên vẫn làmkhông đúng quy định về quản lý chất thải: như phân loại sai, thu gom, lưu giữkhông đúng, vận chuyển chưa đảm bảo Xử lý chất thải y tế tốt sẽ góp phầngiảm thiểu được sự lãng phí về kinh tế cho bệnh viện và đồng thời giảm đượcnguy cơ rủi do cho CBYT liên quan và cho cộng đồng nói chung Thực trạngcông tác quản lý CTRYT ở đây chưa được tốt, yếu tố nào liên quan đến hoạtđộng quản lý chất thải của viện CTCH nên chúng tôi thực hiện đề tài đánh

giá: “ Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại viện chấn thương chỉnh hình bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, năm 2019”

Mục tiêu nghiên cứu :

1. Mô tả thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại viện chấn thương chỉnh hình, Bệnhbện h viện Hữu nghị Việt Đức, năm 2019.

2. Xác định những yếu tố liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn y tế

của tại viện chấn thương chỉnh hình, Bb ệnh viện Hữu nghị Việt Đức, năm 2019.

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế

1.1.1 Các khái niệm.

Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt độngcủa cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường vànước thải y tế [6]

Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoạc cóđặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lâynhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm [6]

Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thugom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trìnhthực hiện [6]

Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phátsinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên

cở sở y tế [6]

Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơilưu giữ chất thải trong cở sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải thải y tế chocụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lýchất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế [6]

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

Phân loại chất thải y tế tại Việt Nam

Theo quy chế quản lý chất thải y tế được Bộ Y tế quy định tại thông tư

Trang 13

liên tịch số 58/2015 TTLT-BYT-BTNMT ban hành ngày 31/12/2015, thì chấtthải trong các cỏ sở y tế được chia thành 3 loại như sau:

Chất thải lây nhiễm bao gồm:

+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra cácvết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắcnhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưadùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác;

+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứamáu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly;+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng

cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ cácphòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định

số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chitiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinhhọc tại phòng xét nghiệm;

+ Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xácđộng vật thí nghiệm

Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:

+ Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;

+ Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguyhại từ nhà sản xuất;

+ Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân vàcác kim loại nặng;

+ Chất hàn răng amalgam thải bỏ;

+ Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môitrường về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số

Trang 14

Chất thải y tế thông thường bao gồm:

+ Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày củacon người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;

+ Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộcDanh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hạiquy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 4 này nhưng có yếu tố nguy hại dướingưỡng chất thải nguy hại;

+ Sản phẩm thải lỏng không nguy hại

1.1.3 Quản lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số BTNMT

58/2015/TTLT-BYT-*Màu sắc của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa

-Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễmsắc nhọn và chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lâynhiễm cao;

-Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hạikhông lây nhiễm dạng rắn;

-Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tếthôngthường không phục vụ mục đích tái chế;

-Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải phục vụmục đích tái chế;

-Bao bì, dụng cụ chứa chất thải y tế sử dụng phương pháp đốt khônglàm bằng nhựa PVC

-Thùng, hộp đựng chất thải có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình

sử dụng

-Hộp đựng vất sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng

-Thùng hộp đựng chất thải có thể tái sử dụng theo đúng mục đích lưu

Trang 15

chứa sau khi đã được làm sạch và để khô.

* Phân loại chất thải y tế

-Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại đểquản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh;

-Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ,thiết bị lưu chứa chất thải Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khảnăng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý cóthể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa;

-Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗnhợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm

-Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụphân loại chất thải y tế và có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải

-Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫncách phân loại và thu gom chất thải

-Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp màu vàng;

-Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc thùng có lóttúi và có màu vàng;

-Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng cólót túi và có màu vàng;

-Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và

Trang 16

hoặc trong thùng có lót túi màu trắng.

* Thu gom chất thải y tế

-Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưugiữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

-Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựngchất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quátrình thu gom

-Cơ sở y tế qui định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lâynhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh vàkhu vực khác trong cơ sở y tế

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom

về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

-Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữchất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày

-Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khulưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;

-Thu gom chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua

sử dụng có chứa thủy ngân Được thu gom lưu giữ riêng trong các hộp bằngnhựa hoặc các vật liệu phù hợp và đảm bảo không bị rò rỉ hay phát tán hơithủy ngân ra môi trường

-Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục

vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đíchtái chế được thu gom riêng

* Lưu giữ chất thải y tế

-Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế nguy hại tại khu lưu giữ phảiđáp ứng các yêu cầu sau đây:

+ Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ

Trang 17

chất thải;

+ Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ theo quy định;

+ Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm phải có nắp đậy kín vàchống được sự xâm nhập của các loài động vật;

+ Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất hóa chất phải được làm bằng vật liệu không

có phản ứng với chất thải lưu chứa và có khả năng chống được sự ăn mòn;

-CTYT nguy hại và CTYT thông thường phải lưu giữ riêng tại khu vựclưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

-CT lây nhiễm và CT nguy hại không lây nhiễm phải lưu giữ riêng trừtrường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý

-CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thườngkhông phục vụ mục đích tái chế được lưu giữ riêng

-Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm: Đối với chất thải lây nhiễm phát sinhtại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trongthiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày

* Giảm thiểu chất thải y tế

-Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyênvật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh chất thải y tế

-Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phátsinh chất thải y tế

-Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả

* Quản lý CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế

-Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các đồdùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm

-Chất thải lây nhiễm sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia vềmôi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường

-Bao bì lưu chứa chất thải phải được buộc kín và có biểu tượng chất thảitái chế theo quy định

Trang 18

+ Chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trongcác thùng, hộp hoặc túi kín, bảo đảm không bị bục, vỡ hoặc phát tán chất thảitrên đường vận chuyển.

1.1.4 Một số nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe

1.1.4.1 Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn

Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng mộtlượng lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm [8]

Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thôngqua các cách thức sau: qua da, qua các niêm mạc, qua đường hô hấp, quađường tiêu hóa

Trang 19

Bảng 1.1: Những nguy cơ do tiếp súc với các loại chất thải y tế [9]

Các dạng nhiễm khuẩn Một số tác

nhân gây bệnh Chất truyền bệnh

Nhiễm khuẩn đường tiêu

hóa

Các vi khuẩn đường tiêuhóa: Samonella, Shigella,Vibrio cholera, trứnggiun

Phân và/hoặc chất nôn

Nhiễm khuẩn đường hô

Bệnh than Trực khuẩn than Chất tiết qua da (mồ

hôi, chất nhờn)

sinh dục

Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể

1.1.4.2 Nguy cơ của các vật sắc nhọn

Các vật sắc nhọn không những có nguy cơ gây thương tích cho nhữngngười phơi nhiễm mà qua đó còn có thể truyền bệnh nguy hiểm Theo số liệuthống kê tại Nhật Bản, nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn đâmxuyên qua da như sau: Nhiễm HIV là 0,3%, nhiễm viêm gan B là 3%, viêmgan C là 3 – 5%

Ở Hoa Kỳ, tháng 6/1994, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) đã pháthiện được 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong đó có 32 trườnghợp do bị kim tiêm nhiễm khuẩn đâm qua da; 1 trường hợp do dao mổ cắt qua

Trang 20

da, 1 trường hợp bị tổn thương do vỏ của ống thủy tinh Cũng theo nguồn sốliệu của CDC tình trạng nhiễm virut viêm gan có liên quan đến tổn thương dovật sắc nhọn gây ra như sau:

Bảng 1.2: Nguy cơ các vật sắc nhọn [9]

Nghề nghiệp Số ca tổn thương do vật

sắc nhọn (người/năm)

Số ca bị viêm gan (người/năm)

Nhân viên vệ sinh bệnh viện 11.700 – 45.300 23 – 91

Nhân viên phụ giúp nha sĩ

Nhân viên xử lý chất thải

Số liệu Bảng 2 cho thấy, hầu hết các đối tượng nhân viên y tế đều bị tổnthương do vật sắc nhọn gây ra, các đối tượng liên quan, tiếp xúc trực tiếp vớichất thải nhiều có tần số bị tổn thương cao hơn Tỷ lệ nhiễm viêm gan tậptrung chủ yếu ở các đối tượng sau: Điều dưỡng viên, hộ lý và nhân viên vệsinh công nghiệp bệnh viện

1.1.4.3 Nguy cơ của các chất thải nguy hại không lây nhiễm

Các chất thải hóa học có thể gây hại cho sức khỏe con người do cáctính chất: ăn mòn, gây độc, dễ cháy, gây nổ, gây sốc hoặc ảnh hưởng đến ditruyền Các chất thải này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với

số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tácdụng cần vứt bỏ Các chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và

Trang 21

mạn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể

là kết quả của quá trìnhhấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm qua da, niêm mạc,qua đường hô hấp, hoặc qua đương tiêu hóa Việc tiếp xúc với các chất dễcháy, dễ ăn mòn, các chất gây phản ứng có thể gây nên những tổn thương tới

da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương hay gặp và phổ biếnnhất là các vết bỏng

1.2 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thếgiới, đặc biệt là các nước phát triển như: Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Canada các công trình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý chất thải

y tế (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng, các phương pháp

xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hạicủa chất thải y tế đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của chấtthải y tế và phòng chống tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộngđồng [9], [10], [11], [12]

Một nghiên cứu khác ở hai vùng phía Nam và phía Đông Ấn Độ năm

2014 cho thấy: Ở khu vực phía Nam và phía Đông CBYT có thực hành đạt vềthu gom CTYT lần lượt là 58,3% và 58,9% [13]

Nghiên cứu tại một bệnh viện đại học y tế Bangalore cho thấy: Kiến thứcchung đạt là 95,8%, trong đó kiến thức của bác sỹ 76,8% và y tá 81,9% [14]

Gần đây, nghiên cứu về chất thải y tế được quan tâm ở nhiều khía cạnh:

- Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn ảnh hưởng tới sức khỏe cộngđồng Ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền bệnh dịch trong

và ngoài bệnh viện

-Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với chất thải y tế

-Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe

-Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và nhân viên thu gom

Trang 22

chất thải, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với ngườithu gom chất thải, vệ sinh và cộng đồng.

-Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế

Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (tổ chứcđăng ký toàn cầu về hoá chất độc tiềm tàng), IPCS (chương trình toàn cầu về

an toàn hoá chất), WHO (Tổ chức Y tế thế giới) đã xây dựng và quản lý các

dữ liệu thông tin về an toàn hoá chất

Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuậtcùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lýchất thải của riêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triển trênthế giới thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn,trong đó có chất thải rắn nguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng các phươngpháp như đốt, xử lý cơ học, hóa/lý, sinh học, chôn lấp rất khác nhau Qua sốliệu thống kê về tình hình xử lý chất thải rắn của một số nước trên thế giớicho thấy, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắn vớihiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thụy Sỹ (33%), trong khi đó Singaporechỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi sinhnhiều nhất (30%) Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinhnhiều nhất trong xử lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%), Anh(83%), Liên Bang Nga (80%) và Tây Ban Nha (80%) [15],[16]

- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải

- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm

- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ,

Trang 23

màu sắc dụng cụ, đặc điểm các túi, thùng thu gom và nhãn quy định ).

- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và cócác phương tiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc

- Các cơ sở y tế phải chiụ trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải

Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng chất thải hàng năm thay đổitheo mức thu nhập như sau:

Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới

Mức thu nhập của

từng nước

Tổng lượng CTYT bệnh viện (kg/đầu người)

Lượng CTYT nguy hại (kg/đầu người)

Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện Với sự dao động từ0,5 –8,7 kg/ngày đối với tổng lượng chất thải y tế và 0,1 – 1,6 kg/ngày đối vớichất thải nguy hại (Bảng 1.4)

Bảng 1.4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới.

Trang 24

Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT

1.3 Tình hình quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế

Đa số (81,25%) bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tạinguồn phát sinh nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả Hoạtđộng phân loại chất thải còn tồn tại một số vấn đề như: chưa tách vật sắc nhọn

ra khỏi chất thải y tế, còn để lẫn nhiều chất thải thông thường với chất thải y

tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thảichưa đầy đủ và thống nhất Tình trạng nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêngcác vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế đang làm tăng nguy cơ rủi ro chonhững người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số bệnh viện đãtách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn một số bệnh viện (11,4%) thu gom vật sắcnhọn vào các hộp chưa an toàn (vẫn có khả năng đâm, xuyên), còn lại đa sốcác bệnh viện (88,6%) thường đựng chất thải sắc nhọn vào các vật tự tạo nhưchai truyền dịch, chai nhựa đựng nước khoáng [8]

Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy: tỷ lệ cán bộ y tế hiểubiết đầy đủ về cách thức phân loại chất thải thành 5 nhóm chưa cao, hiểu biết

về mã màu sắc, dụng cụ đựng chất thải y tế chưa đầy đủ, bên cạnh đó công tácđào tạo, tập huấn của các bệnh viện chưa nhiều, do vậy hoạt động phân loạichất thải chưa đạt được kết quả như mong đợi [9],[18]

Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2015 cho: cácchất thải được phân loại ngay tại nguồn phát sinh, tuy nhiên chất thải chưa

Trang 25

được phân loại chính xác, chỉ có 65% khoa thực hiện phân loại đúng theo quyđịnh về quản lý CTYT[19].

Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lýchất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kếtquả nghiên cứu cho thấy thấy hầu hết dụng cụ đựng chất thải tại 2 bệnh việnđều không có đủ các mã màu sắc theo quy định, công tác phân loại, thu gomchất thải của cả 2 bệnh viện còn nhiều vấn đề tồn tại, chưa thực hiện đúng vớicác quy định của Bộ y tế [10]

Năm 2004, Dương Thị Hương và cộng sự nghiên cứu tình hình vệ sinhmôitrường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng, kết quả nghiêncứu cho thấy: việc tổ chức phân loại, thu gom tập trung tại các bệnh viện đềuchưa thực hiện tốt Hệ thống trang thiết bị thu gom, vận chuyển chất thảikhông được cung cấp đầy đủ, khu vực lưu giữ chất thải chưa đáp ứng đượccác quy định của BYT ban hành [20]

Năm 2007, Đào Ngọc Phong nghiên cứu tình hình quản lý chất thải tạicác bệnh viện huyện thuộc 4 tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Cần Thơ,kết quả nghiên cứu đã đưa ra nhiều kết luận về thực trạng quản lý chất thải y

tế, tình hình ô nhiễm môi trường của các bệnh viện gây ra và các kết quả ápdụng mô hình quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện [21]

Năm 2008 – 2009, Nguyễn Duy Bảo và các cộng sự đã nghiên cứu thựctrạng môi trường và hoạt động quản lý chất thải y tế của 22 bệnh viện tuyếntrung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc, kết quả nghiên cứu đã chỉ

ra rằng: công tác quản lý, xử lý chất thải rắn y tế đã được các bệnh viện quantâm và thực hiện nghiêm túc theo Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyếtđịnh 43/2007/QĐ-BYT, tuy nhiên còn phổ biến tình trạng thực hiện khôngđúng về mặt kỹ thuật theo quy định của BYT, nguyên nhân chủ yếu được cho

là thiếu kinh phí thực hiện

Năm 2011, Hoàng Giang nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chấtthải rắn y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, kết quả cho

Trang 26

thấy vẫn còn 14,7% đến 64,7% các khoa phân loại chất thải sai, 3,1% nhânviên y tế phân loại chất thải sai với quy định [22].

Nghiên cứu của Hồ Thị Nga năm 2013 về Thực trạng quản lý chất thảirắn y tế và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Gia Lộc, tỉnh HảiDương cho thấy công tác quản lý chất thải rắn y tế thực hiện khá tốt đáp ứnghầu hết các tiêu chí của Bộ y tế ban hành kèm theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT [23]

Nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa năm 2013 cho thấy:100% các khoa trong bệnh viện đã thực hiện việc phân loại CTRYT tại thờiđiểm phát sinh và phân loại CTRYT nguy hại riêng biệt với CTRYT thôngthường theo quy định của Bộ Y tế 100% các khoa có thùng thu gom CTRYTtại nơi làm thủ thuật, có bảng hướng dẫn quy định nơi đặt thùng thu gom vàtiến hành thu gom đúng quy định 70% các khoa phòng có xe vận chuyểnCTRYT [24]

Kết quả từ một nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải ở 80bệnh viện trong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tăngdần từ bệnh viện tuyến huyện, đến tuyến tỉnh và cao nhất ở tuyến trung ương(Bảng 5) [8]:

Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam

Tuyến bệnh viện

(Kg/giường bệnh)

Tổng lượng CTYT (Kg/giường bệnh)

CTYT nguy hại (Kg/giường bệnh)

Báo cáo thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện năm

2009 của Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho thấy: Tổng lượng chất thải thôngthường phát sinh trong một ngày của các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế là

Trang 27

104.227kg, trung bình là 0,76kg/giường bệnh/ngày, tổng lượng chất thải lâynhiễm cần được xử lý trong 1 ngày là 24.776kg, trung bình là 0,18kg/giườngbệnh/ngày Ngoài ra còn có các loại chất thải y tế nguy hại khác: Chất thảihóa học, phóng sạ, thuốc thải bỏ hết hạn, bình áp suất [25].

*Thu gom chất thải bệnh viện.

Hầu hết các chất thải y tế đều được các bệnh viện thu gom, vận chuyểnngay trong ngày (90,9%) Tuy nhiên tỷ lệ thu gom chất thải đúng theo quyđịnh chỉ đạt 50% trong tổng số các bệnh viện [4] Phương tiện thu gom chấtthải như túi, thùng, xe vận chuyển chất thải của các bệnh viện hầu hết cònthiếu và chưa đạt chuẩn Trong khi đó hiểu biết của nhân viên trong bệnh việnđặc biệt là của các nhân viên thu gom về hoạt động này chưa cao Các nghiêncứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ các cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về tác hại của chấtthải y tế đối với sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bịảnh hưởng của chất thải y tế không cao (24,6%), chính vì vậy hoạt động thugom, vận chuyển chất thải chưa đảm bảo an toàn và chưa đúng quy trình của

BYT vẫn còn ở mức phổ biến [11] Ngoài công tác đào tạo trang bị kiến thức,

hiểu biết cho cán bộ nhân viên còn ít, vấn đề trang bị các phương tiện bảo hộcho các nhân viên trực tiếp tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyểnchất thải chưa được quan tâm

*Lưu giữ chất thải bệnh viện

Hầu hết các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khu đất của bệnhviện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơivãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Vị trí ởkhuất xa tầm kiểm soát của nhân viên nên các loại côn trùng, chuột, súc vật,người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có ít bệnh viện có nơi lưu giữchất thải đạt tiêu chuẩn quy định [8]

* Vận chuyển chất thải ra ngoài cơ sở y tế

Hầu hết các chất thải y tế đều được các bệnh viện thu gom, vận chuyểnngay trong ngày (90,9%) Tuy nhiên tỷ lệ thu gom chất thải đúng theo quy

Trang 28

định chỉ đạt 50% trong tổng số các bệnh viện [8] Phương tiện thu gom chấtthải như túi, thùng, xe vận chuyển chất thải của các bệnh viện hầu hết cònthiếu và chưa đạt chuẩn Trong khi đó hiểu biết của nhân viên trong bệnh việnđặc biệt là của các nhân viên thu gom về hoạt động này chưa cao Các nghiêncứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ các cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về tác hại của chấtthải y tế đối với sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bịảnh hưởng của chất thải y tế không cao (24,6%), chính vì vậy hoạt động thugom, vận chuyển chất thải chưa đảm bảo an toàn và chưa đúng quy trình củaBYT vẫn còn ở mức phổ biến Ngoài công tác đào tạo trang bị kiến thức,

hiểu biết cho cán bộ nhân viên còn ít, vấn đề trang bị các phương tiện bảo hộcho các nhân viên trực tiếp tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyểnchất thải chưa được quan tâm

1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành quản lý CTRYT

Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lýchất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kếtquả nghiên cứu chothấy: chỉ có 9,4% cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa QuảngNam và 22,0% cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi có kiến thứcđúng về phân loại chất thải rắn y tế [10]

Một đánh giá về tình hình quản lý CTYT trên địa bàn huyện Long Thànhnăm 2010 cho thấy chỉ có 54,5% nhân viên có kiến thức chung đúng, 51,6%nhân viên có thái độ chung đúng, 46% nhân viên có thái độ chung đúng vềquản lý CTYT

Trong kết quả nghiên cứu của Hoàng Giang tại Bệnh viện HN Việt Đứcnăm 2011, cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế trong quản lýCTRYT là khá tốt, hầu hết nhân viên y tế nhận thức đúng và có thực hànhđúng về quản lý CTYT theo quy định của Bộ Y tế [22]

Cũng như trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thúy ở viện đa khoaĐông Anh cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các khâu phânloại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải chưa cao, một số khâu tỷ lệ

Trang 29

nhân viên trả lời đúng còn thấp [26] cụ thể: Tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thứcchung về quản lý chất thải là 86,8% trong đó hiểu biết của nhân viên y tế vềcác nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm còn thấp Kiến thức về vậnchuyển chất thải cao nhất đạt 96,3%, thấp nhất là kiến thức về thu gom chấtthải 48,5%

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng quản lý chất thải y tế.

Trên thế giới

Theo Tổ chức Y tế thế giới, để công tác quản lý chất thải hoạt động tốt

và có tính bền vững cần đảm bảo các yếu tố sau: Thứ nhất, kinh phí là mộttrong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến hoạt động QLCT Việc tính toán mộtcách chính xác các chi phí trực tiếp và gián tiếp cho công tác quản lý chất thải

là một vấn đề khó, tuy nhiên để có nguồn ngân sách ổn định và phát triển (đâychính là chìa khóa thành công cho một kế hoạch quản lý chất thải lâu dài) cầntính toán và đảm bảo đủ nguồn ngân sách bằng cách huy động từ các tổ chức

đa phương hoặc cơ quan song phương Bên cạnh đó cần có sự cam kết thựchiện nghiêm túc của chính phủ và các bên liên quan

Hệ thống các văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn công tác QLCT

về cả quy trình lẫn cách thức thực hiện là một yếu tố quan trọng Các tiêuchuẩn thực hành quản lý chất thải phải được quy định rõ ràng trong các nghịđịnh hướng dẫn, cũng như trong các quy định về chăm sóc sức khỏe, đâychính là biện pháp quản lý để đảm bảo an toàn trong tất cả các khâu của chutrình Các quy trình thực hiện phải đảm bảo tuân thủ đúng theo các quy địnhchung mà chính phủ ban hành cũng như các quy định cụ thể của các bệnhviện đề ra

Trang thiết bị, dụng cụ đầy đủ, thống nhất là một yếu tố đảm bảo việcthực hiện quản lý một cách chuẩn hóa Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lựcthể chế của các bên liên quan chính tham gia vào quy trình quản lý chất thải

Trang 30

thông qua sự phát triển của chương trình đào tạo và giảng dạy Cuối cùng, xâydựng một kế hoạch giám sát bền vững, bao gồm kiểm tra và các thể chế sẽgiúp các cơ quan y tế tăng cường thực hiện quản lý chất thải an toàn [17].

Tại Việt Nam

Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề cấp bách về môitrường và xã hội ở nước ta Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề này không phảimột sớm một chiều vì thực trạng quản lý chất thải đang đối mặt với rất nhiềukhó khăn, thách thức Đến ngày 31 tháng 12 năm 2015 Thông tư liên tịch số58/2015/TTLT-BYT-BTNMT quy định về quản lý chất thải [6]

Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất thải y tế là rất lớn Theoước tính sơ bộ, tổng kinh phí cho toàn bộ chương trình đầu tư xây dựng hệthống xử lý chất thải (gồm chất thải rắn, lỏng, khí) vào khoảng 1.160 tỷ đồngchưa kể chi phí cho sử dụng đất, phương tiện thu gom, vận chuyển, kinh phívận hành và bảo trì [8] Vốn đầu tư cần được huy động từ các nguồn ngânsách Nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nguồn giúp đỡ của các chínhphủ và các tổ chức phi chính phủ Kinh phí đầu tư để thực hiện đúng quy chếquản lý chất thải là rất lớn, trong khi đó, các bệnh viện được giao quyền tựchủ về tài chính, giá dịch vụ không được tăng nên bệnh viện không thể bù vàochi phí quản lý chất thải của mình

Bên cạnh đó, kiến thức về quản lý chất thải trong cán bộ y tế, nhân viêntrực tiếp làm công tác xử lý chất thải và bệnh nhân còn chưa cao, ảnh hưởngkhông nhỏ đến chất lượng phân loại, thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chấtthải Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến các hoạt động này.Việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng chưa sâu rộng, đôi khi dư luậnqua báo chí còn làm nhân dân hoang mang, gây tâm lý quá lo sợ đối với chấtthải bệnh viện từ đó gây sức ép không đáng có lên các cơ quan quản lý

chuyên ngành [8].

Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi Mặc dù đã có luật Bảo vệ

Trang 31

Môi trường, Quy chế quản lý chất thải nguy hại do Thủ tướng Chính phủ banhành và Quy chế chất thải y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành nhưng các vănbản pháp quy này chưa thấm sâu vào đời sống Việc thực hiện tốt Quy chếquản lý chất thải y tế mới chỉ có ở một số ít bệnh viện, còn phần lớn các bệnhviện chưa được quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện Quychế quản lý chất thải y tế.

1.5 Thông tin chung về quản lý chất thải rắn tại Viện Chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

1.5.1 Thông tin chung về bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức được thành lập năm 1906, lúc đó với tên gọi

là Nhà thương Bảo hộ, theo quá trình và thời gian, bệnh viện mang tên gọi khácnhau qua từng giai đoạn lịch sử của đất nước; Bệnh viện Yersin (1943), Bệnhviện Phủ Doãn (1954), Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cộng hòa Dân chủ Đức(1958 – 1990) và bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (từ năm 1991 đến nay

Theo chỉ tiêu Bộ Y tế giao năm 2015 bệnh viện có 1300 giường bệnh kếhoạch (Theo quyết định số 119/QĐ-BYT ngày 15/01/1915 của Bộ trưởng Bộ

Y tế) Tính đến 30/6/2016, bệnh viện có 1906 công chức, viên chức, hợp đồnglao động và cán bộ nhà trường (chưa kể gần 300 nhân viên bảo vệ, nhân viên

vệ sinh môi trường được bệnh viện ký hợp đồng với công ty bên ngoài thườngxuyên làm việc tại bệnh viện) Năm 2015, bệnh viện được sếp hạng Bệnh việnđặc biệt theo Quyết định số 1446/QĐ-BNV ngày 21/9/2015 của Bộ trưởng Bộnội vụ Với vinh dự này, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức là bệnh viện chuyênkhoa hạng đặc biệt đầu tiên của cả nước Cũng trong năm này, bệnh viện được

Bộ Y tế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính theo Quyết định

số 1424/QĐ-BYT ngày 17/4/1015 của Bộ trưởng Bộ Y tế

Hiện nay, cơ cấu tổ chức của bệnh viện bao gồm 3 khối chính: Khốihành chính, hậu cần: Gồm 01 Ban giám đốc bệnh viện, 01 Trung tâm Đào tạo

và Chỉ đạo tuyến, 11 khoa/phòng chức năng Khối lâm sàng: Gồm 01 việnChấn thương chỉnh hình, 07 Trung tâm và 20 khoa/phòng lâm sàng Khối cận

Trang 32

lâm sàng: Gồm 08 khoa, 1 Trung tâm Truyền máu và 01 nhà thuốc.

Bệnh viện Hữu nghị Viết Đức là bệnh viện chuyên khoa hạng đặc biệt vềngoại khoa được Bộ Y tế giao thực hiện 9 nhiệm vụ chính (Theo Quyết định

số 5518/QĐ-BYT ngày 25/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quy chế

tổ chức và hoạt động của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức):

1 Khám bệnh, chữa bệnh

2 Nghiên cứu khoa học

3 Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực y tế

4 Chỉ đạo tuyến

5 Hợp tác quốc tế

6 Phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa

7 Quản lý chất lượng bệnh viện

8 Quản lý bệnh viện

9 Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Bộ Y tế

Bảng 1.6: Thông tin về nhân lực bệnh viện

Bảng 1.7: Một số hoạt động về chuyên môn

2 Số NB điều trị nội trú 50.673 59.873 63.692 67.016

3 Số ngày điều trị nội trú 435.879 580.965 623.930 624.670

4 Công suất sử dụng giường bệnh 86.4% 102.2% 102% 99.7%

5 Tổng số lần khám bệnh 226.611 246.178 273.964 266.131

6 Số BN điều trị ngoại trú 52.721 55.063 56.190 57.601

Trang 33

8 Tổng số lần chụp phim 366.741 446.916 404.625 567.100

9 Tổng số xét ngiệm 3.138.931 3.670.616 3.766.355 3.945.952

11 Số lần siêu âm 106.064 128.431 126.345 162.121

12 Số lượng máu truyền (ml) 8.851.150 9.096.800 9.664.000 10.833.050

14 Công suất sử dụng giường

bệnh (so với giường thực kê) 86,4% 102,2% 102% 99,7%

1.5.2 Thông tin chung Viện chấn thương chỉnh hình.

Viện Chấn thương chỉnh hình là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bệnhviện HN Việt Đức, được thành lập theo quyết định số 3636/QĐ - BYT ngày30/09/2010 gồm 07 khoa phòng: Khoa Phẫu thuật chi trên & Y học thể thao,Khoa Phẫu thuật chi dưới, Khoa Phẫu thuật chấn thương chung, Khoa Phẫuthuật cột sống, Khoa Phẫu thuật Hàm mặt - Tạo hình - Thẩm mỹ, Khoa Khámxương và điều trị ngoại trú, Khoa Phục hồi chức năng

Khoa Chi trên và Y học thể thao

Khoa có 47 bác sỹ và nhân viên y tế tiếp nhận điều trị với tổng số mổ là5.305 ca trong đó 4.056 ca mổ phiên và 1.249 ca mổ cấp cứu

Về công tác đào tạo: khoa là cơ sở thực hành của sinh viên y khoa, sinhviên điều dưỡng của nhiều trường Đại học, Cao đẳng y tế tại Việt Nam vànước ngoài như Đại học Y Hà Nội, Cao đẳng y tế Việt Nam…

Về công tác nghiên cứu khoa học: khoa thực hiện, tham gia và báo cáo

11 đề tài khoa học tại nhiều hội nghị hội thảo lớn đều được đánh giá cao Kếthợp với Viện Hàn lâm phẫu thuật cổ bàn chân Hoa Kỳ tổ chức thành công hộinghị chuyên ngành về phẫu thuật chi dưới lần thứ 17 với sự tham gia của gần

Trang 34

200 bác sỹ, tham gia tổ chức hội nghị Ngoại khoa Hội Ngoại khoa Việt Namlần thứ 20, tham gia tổ chức hội nghị khoa học Hội chấn thương chỉnh hìnhViệt Nam lần thứ 17…

Về công tác hợp tác quốc tế: tiếp nhận và đào tạo sinh viên đến học tập

từ Pháp, Úc, Đức… Kết hợp với đoàn phẫu thuật cổ bàn chân - Viện Hàn lâmphẫu thuật cổ bàn chân Hoa Kỳ – AOFAS giảng dạy, khám, hội chẩn và phẫuthuật cho bệnh nhân bị dị tật cổ bàn chân: khám 108 bệnh nhân và phẫu thuật

18 bệnh nhân Kết hợp với đoàn chuyên gia phẫu thuật trường Đại họcVentura - California Hoa Kỳ (Serge Kaska, Emily Benson) khám, hội chẩncho 44 người bệnh và phẫu thuật 9 người bệnh Kết hợp với các Giáo sư đến

từ Hội Chữ thập xanh - Thuỵ sỹ (GS Claude Muller, Jiri Skavan) khám vàphẫu thuật cho người bệnh có bệnh lý khớp vai, khớp gối và khớp cổ chân:khám 29 người bệnh và phẫu thuật 07 người bệnh (từ 31/10/2018 đến01/11/2018), tổ chức hội thảo "Kỹ thuật mổ nội soi khớp gối tái tạo dây chằngchéo All-inside sử dụng Tightrope"

Khoa Phẫu thuật chi dưới

Về công tác khám chữa bệnh, năm 2018 khoa đã tiếp nhận 6728 lượtđiều trị nội trú với tổng số mổ là 6487 ca, trong đó có 5801 ca mổ phiên và

Trang 35

chấn thương (Trung Quốc).

Về công tác nghiên cứu khoa học: tham gia Hội nghị chấn thương chỉnhhình Đông Nam Á, Hội nghị khoa học chuyên ngành với 03 báo cáo

Về công tác chỉ đạo tuyến: tham gia các lớp đào tạo chuyên ngành chấnthương chỉnh hình cho các bác sỹ, kỹ thuật viên và hỗ trợ chuyên môn chocác tuyến cơ sở

Về hợp tác quốc tế: Khoa thường xuyên tổ chức trao đổi chuyên môn vớicác chuyên gia nước ngoài và tiếp nhận các sinh viên, học viên từ CH Pháp,Australia

Khoa Phẫu thuật chấn thương chung

Về công tác chuyên môn: năm 2018 Khoa đã thực hiện khám và điều trịcho 7705 lượt người bệnh, mổ 4944 ca trong đó mổ cấp cứu 1342 ca, mổphiên 2415, mổ kĩ thuật cao 1187 ca

Về công tác đào tạo và chỉ đạo tuyến: Khoa tham gia đầy đủ các chươngtrình đào tạo của phòng Tổ chức cán bộ cùng các chương trình đào tạo củaphòng Điều dưỡng đề ra Thường xuyên cử bác sỹ đi học tại các lớp đào tạongắn hạn tại nước ngoài: Nhật, Thượng Hải Đào tạo các bác sỹ CKI, cao họcđiều dưỡng và học viên tự do theo chương trình của Trung tâm đào tạo & chỉđạo tuyến

Về công tác nghiên cứu khoa học: thực hiện 02 báo cáo khoa học tại Hộinghị Chấn thương chỉnh hình toàn quốc và Hội nghị của Viện chấn thươngchỉnh hình thuộc bệnh viện HN Việt Đức

Về hợp tác quốc tế: phối hợp với trường Đại học Marseille - Pháp chia sẻkinh nghiệm, hợp tác cùng làm việc với các bác sĩ về chuyên ngành Phẫuthuật y học thể thao như nội soi vai, nội soi gối

Tích cực tham gia các hoạt động của Công đoàn, Đoàn thanh niện bệnhviện và đạt được nhiều thành tích

Trang 36

Khoa Khám xương và điều trị ngoại trú

Về công tác khám chữa bệnh: năm 2018 Khoa đã tổ chức khám trên40.738 lượt, bó bột trên 21.000 trường hợp, trong đó có 7304 trường hợp bóbột cấp cứu, đo loãng xương 3.862 ca, mổ và điều trị ngắn ngày 300 ca Khoa

đã tổ chức 04 phòng khám hoạt động sớm nhằm hạn chế quá tải và giảm thiểuthời gian chờ đợi của người bệnh 3 phòng bệnh phục vụ điều trị sau mổ vàcác trường hợp chờ gây mê, bệnh nhân cần theo dõi sau bó bột bệnh tại khoahoạt động hiệu quả ….Khoa đã triển khai đo điện chẩn thần kinh cơ, số lượngtrên 200 ca

Về đào tạo & chỉ đạo tuyến: Khoa tổ chức thường xuyên 3 lớp học Kỹthuật viên xương bột mỗi năm, mỗi lớp trung bình 15 học sinh Khoa cũngtiếp nhận đào tạo các lớp học viên bác sỹ CKI, CKII, bác sỹ định hướng theo

sự phân công của Trung tâm đào tạo & Chỉ đạo tuyến Hoàn thành các góichuyển giao kỹ thuật theo dự án, sẵn sàng hỗ trợ tuyến dưới khi có chỉ đạocủa lãnh đạo bệnh viện

Về công tác nghiên cứu khoa học: khoa đã thực 03 đề tài báo cáo tại Hộinghị thường niên Viện chấn thương chỉnh hình lần thứ VI và Hội nghị chấnthương chỉnh hình

Về hợp tác quốc tế: phối hợp với các khoa trong Viện chấn thương chinhhình tiếp đón, tham gia hội chẩn, khám bệnh, phẫu thuật cùng các chuyên gianước ngoài Cử các bác sỹ và kỹ thuật viên đi học tập tại nước ngoài Ngoài raKhoa cũng tham dự các hội nghị về chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình ởcác hội nghị quốc tế trong và ngoài nước

Về quản lý kinh tế: Khoa luôn tích cực thực hiện chủ trương tiết kiệm,tránh lãng phí, tránh thất thu cho bệnh viện

Về công tác tế dự phòng: Khoa luôn tích cực tham gia cùng bệnh việnvào công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh, các phong trào hiến

Trang 37

máu nhân đạo, khám bệnh từ thiện….

Bên cạnh công tác chuyên môn, Khoa luôn tích cực tham gia các phongtrào của bệnh viện tổ chức như thể dục thể thao, văn nghệ, hiến máu nhânđạo, hội thi đổi mới truyền thông giáo dục sức Xây dựng nội bộ đoàn kết,vững mạnh, chấp hành đầy đủ chủ trương đường lối của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước

Khoa Phẫu thuật Cột sống

Khoa Phẫu thuật cột sống có 58 nhân viên với 85 giường bệnh, năm

2018 Khoa đã đón tiếp và khám cho 31.129, điều trị nội trú 5593 người bệnh.Tổng số mổ là 5358 ca, trong đó có 4.836 ca mổ phiên và 522 ca mổ cấp cứu,

tỷ lệ quá tải của khoa là 135,2% Mặc dù vậy Khoa vẫn luôn cố gắng điều tiếtđảm bảo người bệnh không phải nằm ghép và người bệnh nằm cáng khi mớinhập viện không quá 48h

Về đào tạo & chỉ đạo tuyến: hướng dẫn thành công cho 12 bác sỹ nội trú,nhiều học viên Cao học trường và nhiều bác sỹ chuyên khoa I, chuyên khoađịnh hướng, chuyên khoa sơ bộ… theo kế hoạch của Bộ môn Ngoại trườngĐại học Y Hà Nội Tham gia đào tạo các bác sĩ nước ngoài về học chuyênkhoa cột sống tại khoa: Indonesia, Philippines và các sinh viên Y khoa quốctế: Đức, Pháp, Australia… Công tác thực hiện đề án 1816 đã được khoa triểnkhai nghiêm túc và có hiệu quả đóng góp vào thành tích chung của bệnh viện.Công tác nghiên cứu khoa học luôn được đẩy mạnh, các kỹ thuật mớiđược triển khai áp dụng, có nghiên cứu tổng kết nhằm mục đích phục vụchăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày một hoàn thiện hơn Có 08 đề tài khoahọc đã báo cáo trong các hội nghị chuyên ngành và được đánh giá cao

Về công tác hợp tác quốc tế: là công tác Khoa luôn chú trọng nhằm cậpnhật những kỹ thuật tiên tiến trên thế giới để áp dụng tại VN Khoa đã tổ chứcthành công 05 hội thảo quốc tế chuyên ngành Phẫu thuật Cột sống để trao đổikinh nghiệm chuyên môn và phát triển các mối quan hệ hợp tác quốc tế

Trang 38

Về công tác quản lý kinh tế: hoàn thành nhiệm vụ thu đúng thu đủ việnphí, đảm bảo quyền lợi của người bệnh và tránh thất thoát cho bệnh viện

Về công tác y tế dự phòng: tham gia tích cực vào công tác y tế dự phònggiáo dục sức khoẻ cho người bệnh mắc các bệnh lý cột sống, sơ cứu ngườibệnh chấn thương cột sống đồng thời kết hợp với các cơ quan truyền thông đểtuyên truyền về cách dự phòng và phương pháp điều trị các bệnh lý cột sống.Đặc biệt, Khoa luôn tích cực tham gia các phong trào thi đua, các hoạtđộng cộng đồng của bệnh viện và đoàn thể

Khoa Phẫu thuật Hàm mặt, tạo hình và thẩm mỹ

Về công tác khám chữa bệnh: năm 2018 Khoa đã thực hiện tốt công táckhám và điều trị cho các trường hợp chấn thương, vết thương hàm mặt đơnthuần hoặc phối hợp, tổn thương lột da đầu, đứt rời chi thể, bộ phận…đảmbảo công tác khám bệnh chuyên khoa với 8294 lượt khám ngoại trú và 3258lượt điều trị nội trú Tổng số ca mổ là 3957, trong đó tiểu phẫu và thủ thuật là

926 ca

Trong năm 2018, Khoa có 2 phòng mổ chuyên khoa tại khu nhà kỹ thuậtcao, vì thế số lượng và chất lượng điều trị bệnh nhân ngày càng được nângcao Tiếp tục triển khai các kỹ thuật mũi nhọn: vi phẫu thuật, phẫu thuật táitạo các cơ quan tổ chức sau chấn thương và sau ung thư, sửa chữa các dị tật

sọ mặt, phẫu thuật điều trị các bất thường mạch máu Phát triển kỹ thuật nộisoi trong điều trị các bệnh lý và chấn thương vùng hàm mặt và trong phẫuthuật tạo hình các dị tật, tổn khuyết, phát triển kỹ thuật cắt xương hàm để điềutrị các dị tật sọ mặt hoặc biến dạng xương hàm sau chấn thương

Về công tác đào tạo: tham gia đào tạo bác sỹ CKI, CKII, bác sỹ nội trú,cao học của Đại học Y hà Nội, học viện quân y và bệnh viện Việt Đức, sinhviên Y4,Y5, Y6 răng hàm mặt… Tham gia giảng dạy cho sinh viên các trường

Y nước ngoài đến thực tập tại khoa như Pháp, Australia… Đào tạo, bồi dưỡngcác bác sỹ trẻ Tổ chức giảng dạy cho các điều dưỡng trong khoa Trong năm,

Trang 39

khoa đã phối hợp với trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến tổ chức 3 khóa họcphẫu thuật tạo hình hàm mặt cơ bản cho các bác sỹ ngoại khoa và răng hàmmặt.

Về công tác nghiên cứu khoa học: triển khai thực hiện đề tài nhánh “Nốichi thể đứt rời” cấp Nhà nước, bước đầu xây dựng các đề tài nghị định thư,hợp tác với các đối tác nước ngoài trong nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật viphẫu trong điều trị các bệnh lý vùng hàm mặt và ứng dụng các kỹ thuật tiêntiến trong chẩn đoán và điều trị các bất thường mạch máu tại hội nghị khoahọc viện Chấn thương chỉnh hình

Về công tác chỉ đạo tuyến: hỗ trợ chuyên môn và tư vấn cho các bệnhviện tuyến dưới; tuyên truyền về phòng chống tai nạn giao thông, tai nạn laođộng trên các phương tiện truyền thông, các kênh truyền hình, báo chí….Tham gia xây dựng danh mục phẫu thuật và phân cấp phẫu thuật cho các bệnhviện Trung ương và địa phương

Về hợp tác quốc tế: tiếp tục đẩy mạnh các mối quan hệ với các chuyêngia nước ngoài từ Anh, Pháp, Mỹ

Về y tế dự phòng: tích cực tuyên truyền phòng chống tai nạn giao thông,tai nạn lao động, các bệnh nghề nghiệp trên các kênh truyền thông và chongười nhà người bệnh

Khoa Phục hồi chức năng

Trong năm qua, Khoa Phục hồi chức năng đã hoàn thành tốt các nhiệm

vụ được giao, điều trị có kết quả tốt khối bệnh nhân ngoại trú (bệnh nhân đếnđiều trị PHCN tại khoa) và khối bệnh nhân nội trú (nằm tại các khoa phẫuthuật) góp phần nâng cao hiệu quả điều trị sau phẫu thuật, hoàn thành một dâychuyền điều trị khép kín Khoa đã tiếp nhận điều trị cho 27.124 người bệnhtrong đó có 860 người bệnh ngoại trú và 26.126 người bệnh nội trú các buồngsau phẫu thuật và 138 người bệnh điều trị tại khoa

Trang 40

Khoa cũng tham gia tích cực vào các chương trình đào tạo, nghiên cứukhoa học của trường Đại học Y Hà Nội, của bệnh viện và của ngành phục hồichức năng Kết hợp đào tạo nâng cao trình độ và bồi dưỡng cho các bác sỹ, kỹthuật viên ở tuyến cơ sở; thực hiện 01 đề tài nghiên cứu khoa học được báocáo trong Hội nghị khoa học Viện chấn thương chỉnh hình và hội nghị toànquốc; tham gia các hội thảo, các lớp tập huấn chuyên ngành của các tổ chứcquốc tế để nâng cao kiến thức chuyên môn.

Khoa duy trì thường xuyên nề nếp sinh hoạt khoa học, bổ túc nghiệp vụcho cán bộ công chức trong khoa, tham gia hội thảo, lớp tập huấn chuyênngành của các tổ chức quốc tế để nâng cao kiến thức chuyên môn

1.5.3 Quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

Kết quả báo cáo và tổng hợp hàng tháng của phòng Hành chính quản trị

và khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện HN Hữu nghị Việt Đức, số lượngchất thải rắn y tế phát sinh tăng dần những năm gần đây, trung bình một thángcủa bệnh viện như sau: Chất thải lây nhiễm 25.034 kg/tháng, chất thải tái chế

và chất thải thông thường là 113.237 kg/tháng Thành phần và khối lượng cácloại chất thải có sự khác nhau giữa các khoa phòng

Quy trình quản lý chất thải của bệnh viện được thực hiện qua 5 giai đoạnchính: Phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải Nhưng chủyếu là 4 giai đoạn đầu, còn giai đoạn xử lý thì bệnh viện hợp đồng công tyURENCO 13, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng quận Hoàn Kiếm, công tyTNHH&DVTM Việt Cường đến vận chuyển đi và xử lý theo quy định

Ngày đăng: 21/07/2019, 13:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trần Duy Tạo (2002), Đánh giá thực trạng, quản lý và ảnh hưởng của chất thải y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ lên môi trường xung quanh, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng, quản lý và ảnh hưởng củachất thải y tế bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ lên môi trường xungquanh
Tác giả: Trần Duy Tạo
Năm: 2002
15. Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh (2005), Quản lý chất thải nguy hại, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải nguyhại
Tác giả: Trịnh Thị Thanh và Nguyễn Khắc Kinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
16. Lê Thị Anh Thư (2011), Giáo trình Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, Nhà xuất bản y học chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện
Tác giả: Lê Thị Anh Thư
Nhà XB: Nhà xuất bản y học chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2011
17. WHO (2004), “Guidelines to set-up HCWM plan at hospital level”, Health- care Waste Management, the Republic of Moldova, pp 70-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines to set-up HCWM plan at hospital level
Tác giả: WHO
Năm: 2004
18. Trịnh Thị Thanh và Vũ Đình Chính (2006), " “Đánh giá sự hiểu biết về quản lý, xử lý chất thải y tế của cán bộ nhân viên y tế tại các bệnh viện huyện tỉnh Hải Dương”", Tạp chí Y học Việt Nam(4), tr. 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá sự hiểu biết vềquản lý, xử lý chất thải y tế của cán bộ nhân viên y tế tại các bệnh việnhuyện tỉnh Hải Dương”
Tác giả: Trịnh Thị Thanh và Vũ Đình Chính
Năm: 2006
19. Châu Võ Thị Diễm Thúy (2015), Thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp. Luận văn Thạc sĩ Quản lý bệnh viện Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng, kiến thức, thực hành củanhân viên y tế về phân loại, thu gom chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đakhoa Đồng Tháp
Tác giả: Châu Võ Thị Diễm Thúy
Năm: 2015
20. Đồng Trung Kiên và Dương Thị Hương (2004), “Thực trạng tình hình vệ sinh môi trường ngành Y tế thành phố Hải Phòng”, Báo cáo khoa học toàn văn, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr.714 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tình hình vệsinh môi trường ngành Y tế thành phố Hải Phòng”, "Báo cáo khoa họctoàn văn
Tác giả: Đồng Trung Kiên và Dương Thị Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2004
21. Đào Ngọc Phong (2007), Mô tả thực trạng ô nhiễm môi trường do chất thải y tế, các giải pháp xử lý chất thải y tế và triển khai mô hình quản lý chất thải y tế tại bệnh viện trung tâm y tế huyện, Cấp quản lý đề tài Bộ Y tế, Đại học y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả thực trạng ô nhiễm môi trường do chấtthải y tế, các giải pháp xử lý chất thải y tế và triển khai mô hình quản lýchất thải y tế tại bệnh viện trung tâm y tế huyện
Tác giả: Đào Ngọc Phong
Năm: 2007
23. Hồ Thị Nga (2013), Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Gia lộc, tỉnh Hải Dương, năm 2013, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học y tế công công, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếutố liên quan tại bệnh viện đa khoa Gia lộc, tỉnh Hải Dương, năm 2013
Tác giả: Hồ Thị Nga
Năm: 2013
24. Đinh Tấn Hùng (2013). Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa năm 2013.Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việcquản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa năm 2013
Tác giả: Đinh Tấn Hùng
Năm: 2013
25. Lương Ngọc Khuê (2010), “Báo cáo thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện”, Báo cáo một số chuyên đề về bảo vệ môi trường ngành Y tế giai đoạn 2006 – 2010, Cục Quản lý môi trường Bộ Y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực trạng công tác quản lý chấtthải rắn y tế tại các bệnh viện”, "Báo cáo một số chuyên đề về bảo vệ môitrường ngành Y tế giai đoạn 2006 – 2010
Tác giả: Lương Ngọc Khuê
Năm: 2010
26. Hoàng Thị Thúy (2011), Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa Đông Anh, năm 2011, Thạc sỹ, Trường Đại học y tế công cộng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiếnthức, thực hành của nhân viên y tế bệnh viện đa khoa Đông Anh, năm2011
Tác giả: Hoàng Thị Thúy
Năm: 2011
27. Đinh Tấn Hùng (2013). Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa năm 2013.Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việcquản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa năm 2013
Tác giả: Đinh Tấn Hùng
Năm: 2013
13. Kishose J1, Agarwal R2, Kohli C2 at al (2014). Status of biomedical waste management in nursing homes of Delhi, India Khác
14. Suwarna Madhukumar, r.G., (2012). Study about awareness and practices about heath care waste management among hospital staff a medical college hospital, Bangalorre, IJBMS Iternational Journal ò Basic Medical Science, Submitted May 31, 2012. 2012 Khác
28. Nguyễn Văn Huynh (2016), Nghiên cứu thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và yếu tố ảnh hưởng ở một số Trung tâm và Khoa lâm sàng bệnh viện E, năm 2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w