Trong CTHM thì gãy phức hợp- xương gồ má cung tiếp GMCT làloại chấn thương phức tạp chiếm tỉ lệ cao nhất trên 40%, so với các gãyxương khác vùng hàm mặt [1], [2].. Xương gò má - cung tiế
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
HUỲNH THANH TRUNG
NHËN XÐT §ÆC §IÓM L¢M SµNG, CËN L¢M SµNG Vµ
§¸NH GI¸ KÕT QU¶ §IÒU TRÞ PHÉU THUËT G·Y PHøC HîP X¦¥NG Gß M¸ - CUNG TIÕP B»NG HÖ THèNG NÑP VÝT NHá T¹I BÖNH VIÖN R¡NG HµM MÆT
Trang 2HUỲNH THANH TRUNG
NHËN XÐT §ÆC §IÓM L¢M SµNG, CËN L¢M SµNG Vµ
§¸NH GI¸ KÕT QU¶ §IÒU TRÞ PHÉU THUËT G·Y PHøC HîP X¦¥NG Gß M¸ - CUNG TIÕP B»NG HÖ THèNG NÑP VÝT NHá T¹I BÖNH VIÖN R¡NG HµM MÆT
TRUNG ¦¥NG Hµ NéI N¡M 2016 - 2017
Chuyên ngành : Răng Hàm Mặt
Mã số : CK 62720805
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA II
Người hướng dẫn khoa học:
TS Phạm Hoàng Tuấn
HÀ NỘI - 2016
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT
BẢN CAM KÉT
Tôi là: Huỳnh Thanh Trung
Học viên lớp: Bác sĩ chuyên khoa 2 Răng Hàm Mặt Khóa 29 Tôi xincam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướngdẫn của TS: Phạm Hoàng Tuấn hoàn toàn không sao chép, trùng lặp với bất
cứ nghiên cứu nào đã có trước đây
2 Các thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực vàkhách quan
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này
Hà Nội ngày tháng năm 2016
Người viết cam đoan
Huỳnh Thanh Trung
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT
BDOM : Bờ dưới ổ mắt
BNOM : Bờ ngoài ổ mắt
CT : Cung tiếp
CT cone beam : Computed tomography cone beam
CT scan : Computed tomography scan
TNAĐ : Tai nạn ẩu đả
TNGT : Tai nạn giao thông
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, cácphương tiện tham gia giao thông ngày càng gia tăng mạnh mẽ, trong khi đó sựhiểu biết, ý thức chấp hành luật giao thông của người dân còn quá kém, tìnhtrạng sử dụng bia rượu khi tham gia giao thông còn nhiều từ đó đã dẫn đến tỉ
lệ tai nạn giao thông (TNGT) ngày càng cao, gây ra nhiều chấn thương ảnhhưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người dân, trong đó chấnthương hàm mặt (CTHM) là một trong những loại chấn thương thường gặpnhất [1] Trong CTHM thì gãy phức hợp- xương gồ má cung tiếp (GMCT) làloại chấn thương phức tạp chiếm tỉ lệ cao nhất trên 40%, so với các gãyxương khác vùng hàm mặt [1], [2]
Xương gò má (XGM) là một xương quan trọng trong khối xương mặt,góp phần tạo dựng nên đặc điểm khuôn mặt của mỗi người, về mặt giải phẫu,chức năng, nó liên quan với nhiều cấu trúc giải phẫu quan trọng như ổ mắt,xương hàm trên (XHT), xoang hàm, xương thái dương, xương bướm, lồi cầu
và mỏm vẹt xương hàm dưới (XHD), cơ cắn, cơ thái dương, thần kinh V2
do đó khi bị chấn thương có rất nhiều triệu chứng đa dạng, dễ bỏ sót, làm chovấn đề điều trị khó hoàn hảo và toàn diện [3] Gãy phức hợp xương GMCTthường gây biến dạng mặt và có thể để lại biến chứng nghiêm trọng [4], dichứng hơn so với các loại CTHM khác [5], [6], [7] dẫn tới hậu quả lâu dài vềmặt thẩm mỹ và chức năng nếu không được điều trị tốt [8], [9], [10]
Việc chẩn đoán, điều trị gãy phức hợp xương GMCT đã được các tácgiả trong và ngoài nước nghiên cứu thực hiện Theo lịch sử nghiên cứu điềutrị trước đây thì có các phương pháp điều trị gãy phức hợp xương GMCTđược áp dụng như phẫu thuật nắn chỉnh gián tiếp, nắn chỉnh và cố định xươngGMCT bằng đóng đinh Kirschner, bằng chỉ thép [11], [12] tuy nhiên kết quảđiều trị vẫn còn nhiều hạn chế Đến năm 1970 cùng với sự ra đời của nẹp vít
Trang 6nhỏ đã cách mạng hóa quá trình điều trị, việc sử dụng nẹp vít nhỏ đã đem lạihiệu quả cao trong cố định gãy xương GMCT, và ít để lại biến chứng So vớicác phương pháp khác như cố định bằng chỉ thép thì việc dùng nẹp vít nhỏ để
cố định xương GMCT là tốt hơn nhiều [13]
Hiện nay, do nẹp vít nhỏ được làm bằng titanium có nhiều ưu điểmnhư: dễ sử dụng, chống chịu tốt với lực nén, lực kéo, lực xoay, cố định vữngchắc xương gãy theo 3 chiều không gian, dung nạp tốt với cơ thể, giá thànhtương đối rẻ nên phương pháp phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp vít nhỏ đểđiều trị gãy phức hợp xương GMCT đã được áp dụng rộng rãi, phổ biến trongnước và trên thế giới [14]
Ở Việt Nam và thế giới đã có các công trình nghiên cứu về chẩn đoán
và điều trị gãy phức hợp xương GMCT Tuy nhiên vấn đề kỹ thuật, tính hiệuquả, biến chứng trong sử dụng nẹp vít nhỏ đòi hỏi phải có nhiều nghiên cứuđúc kết hơn nữa, đồng thời do việc điều trị gãy xương GMCT đòi hỏi ngàycàng hoàn thiện hơn về chất lượng và hiệu quả cũng như đáp ứng nhu cầungày càng cao của bệnh nhân Vì vậy việc nghiên cứu vấn đề này cần đượctiến hành để có nhiều kinh nghiệm góp phần mang lại kết quả điều trị tốt chobệnh nhân Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận xét đặc điểmlâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị gãy phức hợp xương gò
má - cung tiếp bằng hệ thống nẹp vít nhỏ tại Bệnh Viện Răng Hàm Mặt Trungương Hà Nội năm 2016-2017” nhằm mục đích:
1 Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng gãy phức hợp xươngGMCT tại Bệnh Viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm2016-2017
2 Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy phức hợp xương GMCTbằng hệ thống nẹp vít nhỏ ở những bệnh nhân trên
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Giải phẫu xương gò má - cung tiếp
1.1.1 Giải phẫu mô tả
Hình 1.1 Xương gò má - cung tiếp nhìn thẳng và nghiêng [15]
- Xương gò má (XGM) là xương chính của khối xương mặt, nằm ở haibên, là thành phần chủ yếu tạo thành ngoài tầng giữa mặt, xương dày, tiếpkhớp với XHT ở phía trước, xương thái dương phía sau ngoài, xương trán ởphía trên, xương bướm ở phía sau trong
Trang 8+ Mặt ổ mắt: tạo nên một phần thành ngoài ổ mắt, có 1-2 lỗ GM - ổ mắt,
lỗ này thông với các lỗ GM - mặt và GM - TD Thần kinh GM đi vào lỗ GM - ổmắt và chia 2 nhánh ở trong xương là nhánh GM - TD và nhánh GM mặt
- Cung tiếp (CT) hay còn gọi là cung GM nằm giữa xương thái dương
và XGM được hình thành từ sự tiếp khớp của mỏm thái dương của XGM vàmỏm GM của xương thái dương
Trang 91.1.2 Giảiphẫư chức năng
Xương gò má:
- Góp phần hình thành ổ mắt do đó có tác dụng bảo vệ nhãn cầu
- Đóng vai trò chủ yếu trong việc hình dạng khuôn mặt của mỗi cá thể
- Hấp thụ và dẫn truyền lực nhai lên sọ
- Là nơi bám của nhiều cơ như cơ cắn, cơ gò má lớn, cơ gò má bé, cơvòng mắt, cơ nâng môi trên
1.1.3 Mạch máu và thần kinh vùng gò má - cung tiếp
1.1.3.1Mạch máu vùng gò má - cung tiếp
-Vùng GMCT và phụ cận được cấp máu bài động mạch mặt và độngmạch dưới ổ mắt ở phía trước, động mạch thái dương nông ở phía sau
* Động mạch mặt:
Tách ra từ động mạch cảnh ngoài cùng với động mạch giáp, lưỡi trongtam giác cảnh, chạy theo một hình cung trên tuyến dưới hàm, uốn quanh bờdưới xương hàm dưới tới bờ trước của cơ cắn để vào mặt Ở mặt lúc đầu độngmạch chạy ra trước và lên trên qua phía ngoài góc miệng rồi chạy lên dọctheo cạnh bên của mũi theo rãnh mũi má tới góc trong của mắt và tận cùng tạiđây và nối với nhánh lưng mũi của động mạch mắt và đây cũng là vòng nốigiữa động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài Trên đoạn đường đi ởmặt động mạch bị che phủ lần lượt bởi các cơ bám da cổ, cơ cười các cơ gò
má và cơ nâng môi trên Trên đường đi động mạch mặt phân nhánh cho môidưới, môi trên, mũi ngoài và tiếp nối với động mạch ngang mặt và động mạchdưới ổ mắt
Trang 10Hình 1.3 Mạch máu vùng GMCT [15]
* Động mạch dưới ổ mắt:
Là một nhánh của động mạch hàm trong, sau khi chạy trong rãnh vàống dưới ổ mắt và phân các nhánh cho các cấu trúc ở sàn ổ mắt, nó tận cùng ởtai để cấp máu cho các phần mềm nằm ở khoảng giữa vùng cấp máu của độngmạch ngang mặt, động mạch gò má ổ mắt và động mạch mặt
* Động mạch thái dương nông:
Là nhánh tận của động mạch cảnh ngoài tách ra trong tuyến mang taisau lồi cầu từ đó chạy bắt chéo mặt ngoài cung tiếp vào vùng thái dươngkhoảng 5 cm thì tận cùng bằng 2 nhánh trước và sau Chạy kèm phía sau độngmạch là tĩnh mạch thái dương nông và thần kinh tai thái dương Ngay trước
và sau khi bắt chéo cung tiếp động mạch thái dương nông tách ra 2 nhánhchạy ra trước dọc theo cung tiếp
Trang 11Nhánh ở dưới CT chính là động mạch ngang mặt đi kèm vái các nhánhthần kinh mặt trên mặt nông của cơ cắn Nó nối tiếp với các nhánh của độngmạch mặt, cắn, má, lệ và dưới ổ mắt Nhánh trên CT là động mạch gò má ổmắt Động mạch này chạy dọc ngay trên bờ trên CT giữa hai lá của mạc tháidương tới góc mắt ngoài.
1.1.3.2 Thần kinh vùng gò má cung tiếp
* Thần lảnh cảm giác: Vùng GMCT được cảm giác bởi 3 thần kinh
chủ yếu là:
- Thần kinh gò má (nhánh của thần kinh hàm trên)
Đi dọc thành ngoài ổ mắt và chia thành 2 nhánh là nhánh GM - mặt và
GM - TD Hai nhánh này chạy qua những, ống xưcmg trong XGM để đi vàomặt Nhánh GM - mặt cảm giác cho da vùng GM, nhánh GM - TD cảm giáccho da vùng phần trước vùng thái dương
Hình 1.4 Thần kinh cảm giác vùng gò má - cung tiếp [15]
Trang 12- Thần kinh dưới ổ mắt:
Là nhánh tận của thần kinh hàm trên, sau khi lần lượt đi qua rãnh vàống cũng như lỗ dưới ổ mắt thì thần kinh này tận cùng bằng các nhánh cảmgiác cho mi dưới, mũi ngoài và môi trên
- Thần kinh tai thái dương:
Là một nhánh của thần kinh hàm dưới chạy dọc theo phía sau các mạchthái dương nông và phân nhánh cảm giác cho da vùng thái dương
Hình 1.5 Thần kinh VII [5]
Các cơ bám đa của vùng GMCT được chi phối bởi các nhánh tháidương gò má và má của thần kinh VII
- Một số điểm cần lưu ý
Trang 13+ Các nhánh thái dương bắt chéo cung tiếp ngay dưới da vào vùng TDvận động cho các cơ tai, cơ chẩm toán, cơ vòng mắt và cơ cau mày.
+ Các nhánh GM bắt chéo XGM tới góc ngoài mắt vận động cho cơvòng mắt nhánh này có liên quan nhiều trong trường hợp gãy xương GMCT
+ Các nhánh má trong đó có các nhánh liên quan là má trên vận động ‘cho nhóm ca môi trên, cơ vòng quanh miệng
1.1.4 Các cơ bám vùng gò má - cung tiếp
* Cơ cắn:
Là cơ khoẻ hình chữ nhật nổ che phủ mặt ngoài của góc hàm và mỏmvẹt XHD Nó từ bờ dưới và mặt sâu của cung tiếp chạy xuống bám vào mặtngoài góc hàm và mỏm vẹt XHD Cơ cắn có tác dụng nâng XHD và được chiphối bởi thần kinh số V
Hình 1.6 Cơ gò má lớn - cơ gò má bé-cơ cắn nhìn thẳng và nhìn nghiêng [15]
* Cơ gò má lớn:
Cơ này đi từ XGM phía trước đường khớp GM - HT xuống bám vàogóc miệng Khi co cơ gò má lớn kéo góc miệng lên trên và ra ngoài biểu lộ sựvui tươi phấn khởi cơ này cũng do thần kinh V chi phối
* Cơ gò má nhỏ
Trang 14Từ mặt ngoài xương gò má ngay sau đường khớp GM - HT chạy xuốngdưới vào trong bám vào môi trên.
Trang 151.1.5 Các cấu trúc liên quan
- Với ổ mắt: XGM và XHT có liên quan mật thiết
Hình 1.7 Ổ mắt phải nhìn trước bên [15]
- Ổ mắt có thể xem như một khối tháp bốn mặt, hay bốn thành
Thành trên ổ mắt hay trần ổ mắt chủ yếu do mảnh ổ mắt xương trán tạonên, trừ một phần nhỏ gần đỉnh ổ mắt tạo nên bởi mặt dưới cánh nhỏ xươngbướm
Thành ngoài ổ mắt tương đối phẳng, hai xương cấu thành là mặt ổ mắtmỏm trán xương gò má và mặt ổ mắt cánh lớn xương bướm
Thành dưới ổ mắt hay sàn ổ mắt cấu thành bởi xương gò má, xươnghàm trên và xương khẩu cái, trong đó xương khẩu cái chỉ chiếm một diện tíchnhỏ hình tam giác phía sau trong Rãnh dưới ổ mắt đi trên sàn ổ mắt từ sau ratrước, chứa bó mạch thần kinh dưới ổ mắt Sàn ổ mắt là cấu trúc liên quanmật thiết trong gãy phức hợp gò má Khi sàn ổ mắt vở, tổ chức quanh nhãncầu có thể thoát vị xuống xoang hàm gây dấu hiệu lõm mắt
Thành trong ổ mắt chủ yếu do mỏm trán xương hàm trên hình thành trừmột phần nhỏ phía trên là đo xương trán
Trang 16- Với XHT: XGM hợp với XHT tạo nên bờ dưới ổ mắt và sàn ổ mắt 2xương này có liên quan với nhau về cơ chế gãy và cùng ảnh hưởng đến mắtkhi bị gãy
- Với xoang hàm: các triệu chứng của gãy phức hợp xương GMCT hay
đi kèm với vỡ xoang hàm Xoang hàm là một hốc rỗng chứa khí, nằm ở 1/3giữa khối xương mặt trong xương hàm trên Xoang hàm có dạng hình tháptam giác, gồm có 1 đỉnh (ở ngoài phía xương gò má), 1 đáy, 4 thành: thànhtrước, thành trên, thành sau, thành trong Trong chấn thương vỡ thành sauxoang hàm có thể gây tổn thương động mạch hàm trong gây chảy máu ồ ạt,
do đó khi phẫu thuật nắn chỉnh xương gò má qua xoang và khi rút mechetrong xoang cần hết sức thận trọng để tránh tai biến chảy máu có thể ảnhhưởng đến tỉnh mạng bệnh nhân
- Với XHD: xương gò má cung tiếp (GMCT), nhất là CT có liên quanmật thiết với lồi cầu và mỏm vẹt của XHD Khi bị gãy CT kẹt vào mỏm vẹtXHD gây khó há hoặc trong đa chấn thuơng gãy mỏm vẹt XHD, cơ tháidương co kéo mỏm vẹt lên trên kẹt vào CT
1.2 Đặc điểm vị trí của xương gò má-cung tiếp trong cấu trúc tầng mặt giữa
Hình 1.8 Hệ thống trụ cơ bản của vàng mặt [17],[18]
Trang 17XGM là một trong các xương chính của tầng mặt giữa Sự vững chắccủa tầng mặt giữa được nâng đỡ bằng những trụ ngang và trụ dọc của xương.
Có 3 trụ cơ bản cần được xem xét trong gãy xương tầng mặt giữa Các trụ này
có tác dụng truyền các lực thẳng đứng, tiếp nhận lực nén từ răng rồi phân phốicác lực đó lên nền sọ [19] Trụ giữa hay trụ mũi - hàm xuất phát từ phầnxương ổ răng phía trước thuộc XHT đến đường khớp ứán đỉnh Trụ sau haytrụ bướm hàm xuất phát từ vùng xương hàm trên phía sau đến xương bướm.Trụ bên hay trụ hàm - GM, nó kết nối xương ổ răng hàm trên phía bên đếnmõm GM của xương TD Những trụ này giúp gia táng sự vững chắc choXGM nói riêng và tầng mặt giữa nói chung Những lực chấn thương vào vùng
má thường gây gãy ở đường khớp hơn là ở ngay XGM
1.3 Cơ chế chấn thương gãy xương gò má
Gãy XGM được Duvemey [20] mô tả từ năm 1751, đây là một loại gãyxương thường gặp và thường do một chấn thương trực tiếp vào thân xươnghay vào điểm tiếp khớp của nó với các xương khác XGM thường di lệch theohai trục: một trục đứng đi qua khớp trán - gò má và một trục ngang đi từ cungtiếp đến lỗ dưới ổ mắt
Chấn thương trực tiếp vào thân XGM có thể làm gãy nó nhưng khônglàm di lệch, hoặc có thể làm lún hẳn XGM vào xoang - ổ mắt và làm tách rờicác điểm tiếp khớp của XGM
Chấn thương ở phía trước của trục đứng sẽ làm XGM xoay gần và lúnvào trong xoang, gián đoạn bờ dưới ổ mắt, mỏm tiếp tách rời khỏi xương tháidương và nhô lên
Chấn thương vào phía sau trục đứng sẽ làm XGM xoay về phía xa, lúnvào hố thái dương, gián đoạn bờ dưới ổ mắt, mất độ lồi của XGM
Trang 18Chấn thương vào phía trên của trục ngang sẽ làm mỏm trán của XGMxoay lún vào trong, tách khỏi khớp thái dương gò má, thân xương lún vàotrong, mất liên tục bờ dưới ổ mắt, và thường thì xương bị gãy làm nhiều mảnh
và hơi bị xệ xuống
Chấn thương vào phía dưới của trục ngang, góc dưới của XGM, làmgóc dưới XGM xoay vào trong, lõm hẳn vào trong xoang, góc trên tách rờihoàn toàn khỏi khớp thái dương gò má, XGM thể lún vào trong, làm mất độlồi của xương gò má
Tùy theo vị trí của chấn thương mà các di lệch như trên có thể tách rờihay kết hợp với nhau, tuỳ từng trường họp
1.4.Các đường gãy trong tổn thương phức hợp xương gò má - cung tiếp
Trong gãy phức hợp GMCT, hầu hết đường gãy nằm ngoài XGM doXGM là một xương dày khỏe Khi cường độ lực lớn, thân xương mới bịgãy và thông thường sẽ có nhiều đường gãy trong trường hợp này Tùy tìnhtrạng di lệch của thân xương GM mà XGM biến dạng lép ở nhiều mức độkhác nhau
Đường gãy trong gãy phức hợp GMCT có thể bao gồm ba đường liênhợp và một đường độc lập ở CT Ba đường liên hợp xuất phát từ khe dưới ổmắt đi theo hướng trước trong, trên ngoài và dưới
Đường gãy thứ nhất từ khe dưới ổ mắt chạy dọc theo sàn ổ mắt ra trướcđến bờ dưới ổ mắt (hình A và B) Trên đường đi, đường gãy băng ngang kênhdưới ổ mắt và thường làm tổn thương thần kinh dưới ổ mắt, nhánh của thầnkinh hàm trên (V2) gây tẽ môi trên, má, cánh mũi và các răng chi phối TừBDOM, đường gãy tiếp tục đi xuống dưới phía ừong hoặc phía ngoài lỗ dưới
ổ mắt ở mặt trước xoang hàm trôn Đường gãy vị trí này đi qua thành trướcxoang hàm thấp hoặc cao, rồi vòng ra sau nối vói đường gãy thứ hai Nhưvậy, đường này chủ yếu nằm trong XHT
Trang 19Hình 1.9 Các đường gãy phức hợp gò má cung tiếp [16]
Đường gãy thứ hai từ khe dưới ổ mắt đi xuống dưới qua mặt sau xươnghàm trên để nối với đường thứ nhất dưới trụ hàm - GM (hình C) Trường hợpđường gãy này đi thấp có thể ảnh hường phần xương ổ răng 1-2 răng cối lớndẫn đến sai khớp cắn
Đường gãy thứ ba từ khe dưới ổ mắt hướng lên trên và ra ngoài theothành ngoài ổ mắt đến bờ ngoài (hình A và C) Đường gãy thông thường điqua vùng nối trán - GM Đường gãy có thể nằm ưên hoặc dưới đường nối trán
- GM trong xương gò má hoặc xương trán, đường gãy này có thể lan ra sauđến cánh lán xương bướm
Đường gãy thứ tư nằm ở CT, hoàn toàn trong mỏm GM xương tháidương, cách đường nối GM - TD khoảng 1,5 cm (hình D) Đường gãy CT cóthể là đường gãy đơn thuần hoặc đường gãy phối hợp trong gãy phức hợpGMCT Trường hợp gãy CT đơn thuần, CT luôn gãy 2-3 đường [16]
Trang 201.5 Phân loại gãy phức hơp gò má-cung tiếp
Trên cở sở dựa vào giải phẫu đường gãy, cường độ lực và hướng tácđộng vào xương GMCT, theo không gian 3 chiều, theo trục đứng dọc vàngang qua thân xương GM và CT, các tác giả đã đưa ra rất nhiều phân loạigãy GMCT khác nhau
1.5.1 Phân loại Schjelldrup
Schjelldrup là người đầu tiên đề nghị phân loại gãy phức hợp GM vàonăm 1950 [21] Tuy nhiên phân loại này hầu như không còn được sử dụngtrên lâm sàng nữa Schjelldrup dựa vào vị trí nối khớp gò má - hàm trên (GM
- HT) và GM - trán trên phim Water’s để phân chia thành năm loại:
- Loại I: Gãy xoay quanh vùng nối GM - HT và GM - trán
- Loại II: Gãy xoay quanh vùng nối GM - HT
- Loại III: Gãy xoay quanh vùng nối GM - trán
- Loại IV: Gãy di lệch tịnh tiến
- Loại V: Gãy vụn
1.5.2 Phân loại Knight và North
Phân loại của Knight và North năm 1961 [22], dựa trên chiều thế phimWater’s, chia gãy phức hợp gò má làm sáu nhóm và bốn phân nhóm phụ:
- Nhóm I: Gãy không di lệch
- Nhóm II Gãy di lệch cung GM đơn thuần
- Nhóm III: Gãy di lệch tịnh tiến
- Nhóm IV: Gãy di lệch xoay trong, có hai phân nhóm phụ:
+ Nhóm IV A: Di lệch xoay quanh xà gò má
+ Nhóm IV B: Di lệch xoay quanh đường khớp trán - gò má
Trang 21- Nhóm V: Gãy di lệch xoay ngoài, có hai phân nhóm phụ + Nhóm VA: Di lệch xoay quanh xà gò má
+ Nhóm V B: Di lệch xoay quanh đường khớp trán - gò má
- Nhóm VI: Các trường hợp có những đường gãy phụ qua thân xương
gò má
Phân loại Knight và North được rất nhiều nhà lâm sàng sử dụng, nhưngtác giả không đưa ra được chỉ định điều trị cho từng nhóm Liên quan giữatriệu chứng lâm sàng với từng nhóm cũng không xác định rõ Tổn thương ổmắt, một tổn thương quan trọng cũng không được tác giả đề cập đến trongphân loại và mô tả lâm sàng Tuy nhiên, phân loại Knigh và North có ưu điểm
là khá đơn giản, dựa vào giải phẫu các đường gãy và đánh giá di lệch theotrục đứng thông qua phim Water’s là loại phim thông thường, dễ áp dụng trênlâm sàng
1.5.3 Phân loại Fujii và Yamashiro
Phân loại Fujii và Yamashiro năm 1983 dựa trên phim cắt lớp vi tính,
sử dụng chiều thế mặt cắt ngang để phân loại gãy phức hợp gò má [23]
- Nhóm I: Gãy không di lệch
- Nhóm II: Gãy cung gò má đơn thuần
- Nhóm III: Gãy di lệch tịnh tiến
- Nhóm IV: Gãy di lệch xoay quanh trục trước sau
+ Nhóm IVa: Gãy di lệch quay quanh trục là phần cung gò má + NhómIVb: Gãy di lệch quay quanh đường khớp hàm gò má + Nhóm IVc: Bao gồmnhững trường hợp gãy xương gò má, kết hợp phần lớn xương hàm trên
Trang 22Hình 1.10 Gãy nhóm 1 với phân Hình 1.11 Gãy cung gò má (nhóm 2)
nhóm phụ la và lb và gãy di lệch tịnh tiến (nhóm 3)
Hình 1.12 Nhóm 4 và các phân nhóm phụ [23]
1.5.4 Phân loại Rowe và Killey
Rowe và Killey (1968) đề nghị một phân loại chi tiết hơn với 8 nhóm
và 7 phân nhóm phụ [24]:
- Nhóm I: Gãy không di lệch
- Nhóm II: Gãy cung gò má đơn thuần
- Nhóm III: Gãy xoay quanh trục đứng, gồm 2 phân nhóm phụ + NhómIIIA: Xoay vào trong
+ Nhóm IIIB: Xoay ra ngoài
- Nhóm IV: Gãy xoay quanh trục ngang, gồm 2 phân nhóm phụ +Nhóm IVA: Xoay vào trong
+ Nhóm IVB: Xoay ra ngoài
Trang 23-Nhóm V: Gãy di lệch tịnh tiến, gồm 3 phân nhóm phụ + Nhóm VA:
Di lệch vào trong
+ Nhóm VB: Di lệch xuống dưới + Nhóm VC: Di lệch ra ngoài
-Nhóm VI: Di lệch sàn ổ mắt, gồm 2 phân nhóm phụ + Nhóm VIA: Dilệch xuống dưới
+ Nhóm VIB: Di lệch lên trên
- Nhóm VII: Gãy thành ổ mắt di lệch
- Nhóm VII: Gãy vụn
Năm 1985, Rowe lại cải tiến phân loại của mình bằng cách phân gãyphức hợp gò má thành hai nhóm: gãy vững và gãy không vững Cải tiến nàymang tính cách thực tiễn lâm sàng hơn và thực tế là sự kết hợp của phân loại
do Larsen và Thomsen (1978) [25] đề nghị Phân loại này chỉ chia gãy phứchợp gò má thành ba nhóm:
- Nhóm A: Không di lệch, do đó không cần can thiệp phẫu thuật
- Nhóm B: Di lệch nhiều, cần phải phẫu thuật kết hợp xương
- Nhóm C: Chỉ cần phẫu thuật nắn chỉnh xương không càn cố định
Nhóm A và c thuộc loại gãy vững còn nhóm B thuộc loại gãy không vững
1.5.5 Phân loại Phillips Gruss
Phillips Gruss [26] chia gãy xương gò má cung tiếp làm hai nhóm:
1 Gãy thân xương gò má
a) Còn nguyên vẹn
b) Không di lệch
c) Gãy thành mảnh
Trang 241.5.6 Phân loạiMarkus Zingg
Markus Zingg (1992) đề nghị phân loại gãy phức hợp gò má dựa trên
cơ chế chấn thương, trong đó chủ yếu là cường độ lực [27] Trên cơ sở cường
độ lực này, chia gãy phức hợp gò má thành ba nhóm:
- Nhóm A: Gãy khu trú
Nhóm này do lực với cường độ thấp, xương chỉ gãy khu trú ở cung gò má,
bờ ngoài ổ mắt hay bờ dưới ổ mắt Trong nhóm này, không có tình trạng di lệchxương gò má do các trụ còn lại của xương gò má hoàn toàn bình thường
- Nhóm B: Gãy nguyên khối
Trường hợp này do lực chấn thương với cường độ trung bình Do đókiểu gãy này còn gọi là kiểu gãy bốn trụ, với bốn trụ gò má - trán, gò má -hàm, gò má - thái dương và gò má - cánh lớn xương bướm đều gãy Trongnhóm B này thân xương gò má còn nguyên vẹn nên còn gọi là gãy gò mánguyên khối
Trang 25- Nhóm C: Gãy nhiều mảnh
Trường hợp này là do lực với cường độ lớn, gây gãy nhiều mảnh trong
đó có đường gãy qua thân xương
1.5.7 Phân loại O.D larsen và M Thomsen
Năm 1977 O.D larsen và M Thomsen [25] đưa ra phân loại gãy xương
gò má cung tiếp như sau:
+ Nhóm A: di lệch ít hoặc không di lệch
+ Nhóm B: gãy không ổn định
+ Nhóm C: gãy ổn định sau khi nắn chỉnh
1.5.8 Phân loại P.Manson
Năm 1990 P.Manson [28] căn cứ vào sự triệt tiêu lực tác dụng củaxương mặt được thể hiện trên phim C.T.Scan và chia ra làm 3 loại:
- Loại 1: Gãy xương gò má do lực tác động mạnh: Biểu hiện trên phimC.T Scanner xương gò má di lệch nhiều, gãy vụn ở đường tiếp khớp vàthân xương gò má gãy thành nhiều mảnh
- Loại 2: Gãy xương gò má do lực tác động trung bình
- Loại 3: Gãy xương gò má do lực tác động yếu
Cách phân loại này có thể đánh giá các tổn thương phối hợp kèm theogãy xương gò má cung tiếp như tình trạng sọ não, thành trong hốc mắt
1.5.9 Phân loại Irfan Ozyazgan
Phân loại này do Irfan Ozyazgan đề nghị năm 2007 với những phânnhóm chi tiết gãy cung gò má mà các tác giả trước đó chưa đề cập đến [29]
- Nhóm I : Gãy cung gò má đơn thuần
Trang 26+ Nhóm I-A: Gãy cung gò má 2 đường + Nhóm I-B: Gãy cung gò mánhiều hơn hai đường
Phân nhóm I-B có hai thể là thể di lệch kiểu nhát rìu (I-B-V) và di lệchkiểu khác (I-B-D)
- Nhóm II: Gãy cung gò má phối hợp
+ Nhóm II-A: Chỉ có 1 đường gãy cung gò má
+ Nhóm II-B : Nhiều đường gãy cung gò má
Nhóm II-B có hai thể là thể không di lệch (II-B-R) và thể di lệch (n-B-D)
1.5.10.Phân loại theo Lâm Ngọc Ấn
Lâm Ngọc Ấn (1990) [30] chia gãy xương gò má cung tiếp thành 3 loạisau đây:
- Gãy không hoàn toàn:
+ Gãy cung tiếp + Gãy bờ ngoài ổ mắt + Gãy bờ dưới ổ mắt
- Gãy cung tiếp gò má thành một khối
- Gãy gò má cung tiếp thành nhiều mảnh
Hình thái di lệch dựa vào chiều thế Hirtz, Water's và hình ảnh chụp cắtlớp vi tính để đánh giá Di lệch tịnh tiến được xét dựa theo hướng lực baogồm tịnh tiến theo hướng trước sau, hướng phân giác và hướng ngang Hìnhthái quay được đánh giá dựa trên mặt phẳng phim Hirtz, chuẩn nền 3D vàhướng lực tác động Trục quay chủ yếu là trục đứng dọc và hình thái quay baogồm quay trước và quay sau Lực tác động tạo hình thái di lệch quay thườngnằm ranh giới giữa nhóm A và B hoặc B và C
Trên bệnh nhân gãy phức hợp gò má di lệch, sự phối hợp các đặc điểmcường độ lực, hướng lực và hình thái di lệch tạo thành các nhóm:
Trang 27- IIA1: Gãy di lệch tịnh tiến trước sau
+ IIA1a: Thể gồ cung
+ IIA1b: Thể chồng ngắn gò má
- IIA2: Gãy di lệch quay hướng trước sau
- IIB2: Gãy di lệch quay hướng phân giác
+ IIB2a: nhát rìu gò má
+ IIB2b: nhát rìu gò má + gồ cung gò má
+ IIB2c: tách rời cung gò má
- IIC1: Gãy di lệch tịnh tiến hướng quay ngang hay gãy cung gò máđơn thuần kiểu di lệch tịnh tiến
- IIC2: Gay di lệch quay theo hướng ngang
+ IIC2a: thể cửa bật
+ IIC2b: thể nhát rìu kín
+ IIC2c: nhát rìu tách rời
Các trường hợp nhóm III cũng tương tự nhóm II nhưng xương gãythành nhiều mảnh, gồm ba nhóm IIIA, IIIB và IIIC
1.5.11.Phân loại theo Trần Ngọc Quảng Phi
Trần Ngọc Quảng Phi (2011) đưa ra phân loại dựa trên cơ sở cơ chế chấnthương, hình thái di lệch và đặc điểm lâm sàng, về cơ chế chấn thương, hướnglực và cường độ lực là hai yếu tố chính làm nền tảng cho phân loại Dựa vàophân loại này, tác giả cũng đưa ra chỉ định điều trị cho từng thể gãy [31]
Trang 28Hình 1.13 Sơ đồ phân loại gậy phức hợp gò má [31]
Dựa trên cường độ lực, gãy phức hợp gò má sẽ được chia làm ba nhóm:
- Nhóm C: Lực tác động theo hướng ngang
Hình thái và di lệch quay hay tịnh tiến là đặc tính thứ 3 được xét đếntrong phân loại Mỗi trường hợp sẽ có thể đi lệch theo kiểu quay hay tịnh tiến:
1 Di lệch tịnh tiến
2 Di lệch quay
Trang 291.6.Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng gãy phức hợp xương gò cung tiếp
má-1.6.1 Các triệu chứng lâm sàng
- Biến dạng mặt, lõm bẹt gò má
- Sưng nề bầm tím vùng bên dưới gò má và quanh hốc mắt
- Phù nề, xuất huyết dưới kết mạc
- Tụ máu ngách lợi vùng răng hàm bên gãy
- Sờ nắn quanh hốc mắt có dấu hiệu bậc thang
- Biến dạng bờ ổ mắt khi gãy di lệch qua bờ ổ mắt
- Có điểm đau chói khi ấn vào điểm gãy
- Biến dạng mấu gò má hàm
- Chảy máu mũi do tổn thương niêm mạc xoang hàm
- Há miệng hạn chế, đau khi há, khi đưa hàm ra trước, sang 2 bên
- Khớp cắn: Khớp cắn đúng thường gặp trong các trường hợp gãy phứchợp xương GMCT đơn thuần, khớp cắn sai thường gặp trong những trườnghợp có gãy xương trên và xương hàm dưới phối hợp
- Rối loạn thị giác:
+ Rối loạn vận động nhãn cầu
Trang 30- Liệt thần kinh VII: Mắt bên tổn thương nhắm không kín, nhân trunglệch sang bên đối diện.
1.6.2 Các triệu chứng cận lâm sàng
- Phim Blondeau cho thấy hình ảnh
+ Đường gãy bờ dưới ổ mắt
+ Đường gãy chỗ khớp nối gò má trán
+ Đường gãy ở hàm trên gò má
+ Đường gãy ở xoang hàm trên
1.7.Điều trị gãy phức hợp gò má - cung tiếp
1.7.1 Phương pháp điều trị bảo tồn
- Thường được chỉ định áp dụng cho các trường hợp gãy phức hợpxương gò má - cung tiếp không di lệch hoặc di lệch ít
1.7.2 Phương pháp điều trị phẫu thuật
1.7.2.1 Các đường rạch tiếp cận xương gò má cung tiếp
A Đường ngách tiền đình trên
Đường ngách tiền đình trên cho phép tiếp cận gián tiếp xương gò máqua xoang hàm hoặc trực tiếp mặt trước và mặt sau xương gò má
Trang 31Hình 1.14 Đường ngách tiền đình trên [32]
B Đường bờ dưới ổ mắt
Có nhiều kỹ thuật để vào bờ dưới ổ mắt: đường dưới ổ mắt, đường dướisụn mi, đuờng rạch dưới bờ mi, đường rạch xuyên kết mạc
Hình 1.15 Các đường vào bờ dưới ổ mắt qua da: đường dưới bờ mi (đường
trên) và đường dưởi sụn mỉ (đường dưới) [16]
- Đường dưới sụn mi
Đường dưới sụn mi nằm trên nếp da tương ứng bờ dưới sụn mi, nằmgiữa đường bờ dưới ổ mắt và đường dưới bờ mi Đường này cách khóe mắttrong khoảng 0,8 cm nhằm tránh xâm phạm tuần hoàn bạch mạch Khi ra phíangoài, đường rạch đi xuống dưới và cách góc ngoài mi mắt khoảng 1,5 cmtheo chiều trên dưới
Trang 32- Đường dưới bờ mi
Đường dưới bờ mi đi ngay dưới bờ mi, cách bờ mi khoảng 2 mm, dọc
bờ mi từ trong ra ngoài Khi đi ra ngoài, đường rạch uốn lượn theo mi mắt,không đi xuống như đường dưới sụn mi Đến góc ngoài mắt, có thể kéo dàiđường rạch ra ngoài 0,5 - 1 cm để mở rộng phẫu trường
- Đường xuyên kết mạc
Đường xuyên kết mạc được Bourguet mô tả từ năm 1928 Khi tiếnhành phẫu thuật đường xuyên kết mạc, cần bảo vệ giác mạc bằng tấm bảo vệhoặc khâu cò mi mắt Nhược điểm của đường xuyên kết mạc là phẫu trườnghẹp khi can thiệp vào bờ dưới ổ mắt, hoặc phẫu tích sâu vào sàn ổ mắt và rấtkhó khâu đóng màng xương
C Đường đuôi cung mày
Đường đuôi cung mày có thể là đường tiếp cận trực tiếp hoặc gián tiếp.Trường hợp tiếp cận gián tiếp, đường rạch đuôi cung mày khoảng 0,8 - 1 cm.Sau khi rạch da, có thể dùng kéo cong đầu tù đưa thẳng xuyên qua màng xương
mở đường vào mặt sau gò má hoặc mặt dưới cung tiếp Sau đó đưa dụng cụ theođường tạo sẵn bởi kéo đầu tù để đưa vào dụng cụ nắn chỉnh xương
Hình 1.16 Đường vào phẫu thuật đuôi cung mày [16]
Trang 33D Đường tháỉ dương
Đường thái dương có thể là đường tiếp cận trực tiếp hoặc gián tiếp.Trường hợp tiếp cận gián tiếp, đường rạch nhỏ khoảng 1-2 cm, nằm vùng tháidương, giữa 2 nhánh động mạch thái dương nông Trường hợp tiếp cận trựctiếp, đường rạch dài khoảng 5-8 cm, sau đó bóc tách trên cân thái dương nông
để vào trực tiếp ổ gãy cần can thiệp nắn hở và két hợp xương
E Đường thái dương đỉnh
Đường thái dương đỉnh là đường tiếp cận trực tiếp toàn bộ xương gò
má và cung gò má Đây là đường tiếp cận cung cấp một phẫu trường tối ưutrong trường hợp can thiệp nắn hở và kết hợp xương gò má phức tạp
Hình 1.17 Đường thái dương đỉnh [16]
1.7.2.2 Phương pháp nắn chỉnh giản tiếp
- Nắn chỉnh qua đường thái dương
Kỹ thuật nắn chỉnh xương qua đường thái dương do Gillies đề xuất năm
1927 [33] Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, nhanh chóng và ít taibiến phẫu thuật Một số tác giả phát triển phương pháp này vói các dụng cụnắn chỉnh khác nhau và được sử dụng chủ yếu trong phẫu thuật gãy cung gò
má đơn thuần
Trang 34
Hình 1.18 Phẫu thuật nắn chỉnh xương gò má cung tiếp qua đường Gillies
[34]
- Nắn chỉnh qua đường đuôi cung mày
Phương pháp này do Schulz đề xuất vào năm 1977 và nhanh chóngđược ưa chuộng tại Mỹ [35] về nguyên tắc, phương pháp này tương tựphương pháp Gillies nhưng đơn giản hơn
Hình 1.19 Nắn chỉnh cung gò má và xương gò má qua đường đuôi cung
mậy [16]
-Nắn chỉnh xương qua xoang
Nắn chỉnh qua xoang do Lothrop đề nghị từ năm 1906 [36] Phươngpháp này cho đến nay là một trong những phương pháp phổ biến trong điều tộgãy phức hợp gò má, cố định xương gãy có thể thực hiện bằng chèn xoangvới mèche (gạc) hay bóng nước (sonde Forley)
Trang 37Hình 1.22 Nẹp vít nhỏ của hăngjeil (Hàn Quốc) sử dọng tại khoa chán thương chỉnh hình hàm mặt Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội + Kích thước chuẩn của nẹp:
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn kích thước nẹp nhỏ
Chiều dài của nẹp 4 đến 18 lỗ
Khoảng cách tâm của 2 lỗ liền nhau 5,0 mm
Khoảng cách tâm của 2 lỗ bắt qua ổ gãy 9,0 mm
+ Nẹp có các hình dạng: thẳng, chữ L, chữ T, chữ T kép, chữ Y, chữ Ykép;
+ Kích thước của vít:
• Đường kính: 2,0 mm (vít nhỏ)
• Chiều dài: 6 mm, 8 mm
Trang 381.8 Lịch sử nghiên cứu điều trị gãy xương gò má-cung tiếp
1.8.1 Các tác giả nước ngoài
- Người Ai Cập (3000-2500 trước công nguyên) đã mô tả chấn thươnghàm mặt
- Năm 1650 trước công nguyên Ed.Winsmith đã mô tả phương phápnắn chỉnh xương hàm [38]
- Năm 1751, Vemey [20] đã mô tả giải phẫu những kiểu gãy XGM vàcách thức để nắn chỉnh XGM gãy Ông nhận ra sự quan trọng của việc nắnchỉnh xương gãy đối với sự lành xương Ông đã áp dụng những lực cơ học do
cơ cắn và cơ thái dương tác động trên xương gò má để thực hiện kỹ thuật nắnkín xương gò má bị gãy
- Năm 1896 Matas [39] báo cáo điều trị gãy XGM bằng đường ngoài dakết hợp với bộ cố định ngoài
- Năm 1906 Lothrop đã mô tả kỹ thuật tiếp cận XGM gãy qua xoanghàm Ông có thể xoay XGM lên trên, ra ngoài để nắn chỉnh XGM bị gãy vàođúng vị trí Phương pháp này ngày nay được biết là phương pháp Caldwell-Luc Phương pháp này tránh được những đường rạch bên ngoài và cho lối vàoxoang hàm nhằm lấy ra những mảnh vụn xương cũng như dẫn lưu máu tụtrong xoang [36]
- Năm 1909 Keen [40] là người đầu tiên mô tả phương pháp nắn chỉnhcung tiếp bị gãy qua đường rạch trong miệng, ông phân loại gãy XGM thànhgãy cung, thân hoặc gãy tách rời những đường khớp
- Năm 1927 Gillies Mô tả kỹ thuật tiếp cận XGM gãy qua đườngrạch ở phía sau đường chân tóc mai và trên cơ thái dương Ông cũng đãgiới thiệu cây nâng xương Nó có thể trượt bên dưới xương gò má bị sụp,
Trang 39vì vậy cho phép phẫu thuật viên sử dụng dụng cụ này để bẩy nắn chỉnhxương gãy Phương pháp Gillies vẫn còn được dùng cho đến ngày nay đểnâng cung tiếp [33].
- Năm 1928, Bourguet [41] giới thiệu đường rạch xuyên kết mạc đểđiều trị các trường hợp gãy bờ dưới ổ mắt và sàn ổ mắt
- Năm 1931 Shea bổ sung cách áp dụng vào đáy xoang để nắn chỉnhgãy xương gò má thông qua đường trong mũi sau đó nhét gạc vô trùng tấmthuốc [42]
- Năm 1940 Limberg Đã dùng móc xương để nắn chỉnh xương gò mágãy [43]
- Năm 1942 Adams nhận ra sự cần thiết đối với việc cố định xươngtrong trường hợp gãy vụn xương gò má Ông là một trong những người đầutiên sử dụng chỉ thép để cố định hai đầu xương gãy trong điều trị gãy xươngGMCT [11]
- Năm 1961 Smith và Yaragisawa đã nhấn mạnh đến việc nắn chỉnhxương chính xác, chú ý sự nhiễm trùng và thẩm mỹ sau phẫu thuật điều trịgãy xương GMCT [44]
- Năm 1973 Michelet đưa ra nhận xét dùng nẹp vít nhỏ cố định xươngGMCT tốt hơn nhiều so với chỉ thép [13]
- Năm 1986 P.Manson khuyên đối với gãy xương GMCT nên sử dụngphương pháp nắn chỉnh trực tiếp, kết hợp xương và ghép xương ngay một thìnếu có khuyết hổng [28]
- Năm 1991, Abubaker báo cáo 27 trường hợp áp dụng đường rạch tránthái dương trong điều trị gãy vụn xương GMCT với kết quả tốt khoảng 90% [9]