BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHCN CẤP CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP GÃY XƯƠNG TRẬT KHỚP CÓ ĐẮP THUỐC NAM TẠI KHOA KHÁM XƯƠNG VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI
Trang 1
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHCN CẤP CƠ SỞ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN MỘT SỐ
TRƯỜNG HỢP GÃY XƯƠNG TRẬT KHỚP CÓ ĐẮP THUỐC NAM
TẠI KHOA KHÁM XƯƠNG VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ,
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
(MÃ SỐ: CT01.2018 )
Chủ nhiệm đề tài: TS.BS DƯƠNG ĐÌNH TOÀN Khoa khám xương và điều trị ngoại trú
Hà Nội – 2019BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
Trang 2.BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHCN CẤP CƠ SỞ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN MỘT SỐ
TRƯỜNG HỢP GÃY XƯƠNG TRẬT KHỚP CÓ ĐẮP THUỐC NAM
TẠI KHOA KHÁM XƯƠNG VÀ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ,
BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC
Trang 3TRẬT KHỚP BẰNG PHƯƠNG PHÁP Y HỌC CỔ TRUYỀN 2
1.1 Đại cương gãy xương, trật khớp, chấn thương phần mềm 2
1.1.1 Gãy xương 2
1.1.2 Trật khớp 2
1.2.3 Chấn thương phần mềm 3
1.2 Quan điểm của Y học cổ truyền về điều trị gãy xương trật khớp 3
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 Đối tượng nghiên cứu 7
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 7
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ: không có 7
2.2 Phương pháp nghiên cứu 7
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả tiến cứu 7
2.2.2 Cỡ mẫu: gồm 57 bệnh nhân 7
2.2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 7
2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 7
2.2.5 Các bước tiến hành 7
2.2.6 Phương pháp thu thập thông tin, xử lý số liệu 8
2.2.7 Y đức trong nghiên cứu 8
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 9
3.1 Đặc điểm nhóm đối tượng nghiên cứu 9
3.1.1 Tuổi: trung bình là 35,3 9
3.1.2 Giới: 9
3.1.3 Đặc điểm tổn thương 9
3.1.4 Thời gian bó lá: trung bình 13 ngày 10
3.1.5 Thời gian từ khi chấn thương đến khi đến khám: trung bình 25 ngày10 3.2 Kết quả 10
3.2.1 Thời gian theo dõi: trung bình 4,5 tháng (2-9 tháng) 10
Trang 4Chương 4: BÀN LUẬN 12
4.1 Đặc điểm nhóm đối tượng nghiên cứu 12
4.2 Đặc điểm tổn thương 12
4.3 Kết quả sau bó lá 12
4.4 Kết quả điều trị 13
KẾT LUẬN 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Bảng 3.1 Phân bố theo giới 9
Bảng 3.2 Đặc điểm tổn thương 9
Bảng 3.3 Kết quả sau bó lá 10
Bảng 3.4 Di chứng 10
Bảng 3.5 Kết quả điều trị 11
Trang 6MỞ ĐẦU
Thuốc nam từ lâu được xem là một loại dược liệu, được người dân sử dụngtrong điều trị mộ số bệnh thông thường, mang lại hiệu quả nhất định Trongchiến lược phát triển ngành y tế Việt Nam, song song với ứng dụng các thànhtựu to lớn của y học hiện đại thì nghiên cứu sử dụng thuốc nam trong điều trịbệnh luôn được quan tâm và khuyến khích
Tuy nhiên hiện nay phong trào chữa bệnh bằng thuốc nam tự phát đang ngàycàng nở rộ, khó kiểm soát về chất lượng thuốc cũng như điều kiện hành nghề củangười chữa bệnh Nhiều người bệnh, bệnh tình trở nên nặng nề hơn hoặc mất đi cơhội chữa khỏi sau khi điều trị bằng thuốc nam không đúng chất lượng, không đúngchỉ định và kỹ thuật, thậm chí phải trả giá bởi mất đi một phần chi thể
Trong gãy xương trật khớp, thuốc nam có vai trò giảm sưng tiêu viêm, tăngcường tuần hoàn tại chỗ, có thể thúc đẩy quá trình chống viêm, liền xương [1].Với vai trò như trên, thuốc nam sẽ phát huy được tác dụng nếu xương gãy haykhớp trật đã được nắn về vị trí giải phẫu và được bất động tốt Trên thực tế cácThầy lang thường nắn xương theo kinh nghiệm, cảm tính và không được đào tạo
về kỹ thuật điều trị bảo tồn gãy xương trật khớp Nhiều trường hợp khớp trật,xương gãy không được nắn chỉnh trước khi bó lá Trong quá trình bó lá, chi gãykhông được bất động tối thiểu, do vậy khi bệnh nhân đến khám tại khoa Khámxương và điều trị ngoại trú thường đã muộn, xương còn lệch, khớp còn trật,phần mềm hoặc co rút hoặc viêm tấy nhiễm trùng, việc điều trị bảo tồn hay phẫuthuật đều gặp khó khăn Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Đánh giá kết quả điều trị bảo tồn một số trường hợp gãy xương trật khớp
có đắp thuốc nam tại khoa Khám xương và Điều trị ngoại trú, bệnh viện
HN Việt Đức” nhằm Mục tiêu: mô tả một số đặc điểm lâm sàng của gãy
xương trật khớp có đắp thuốc nam và kết quả điều trị
Chương 1
Trang 7TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG TRẬT
KHỚP BẰNG PHƯƠNG PHÁP Y HỌC CỔ TRUYỀN
1.1 Đại cương gãy xương, trật khớp, chấn thương phần mềm [2,3]
1.1.1 Gãy xương
-Định nghĩa: là sự mất toàn vẹn cấu trúc của xương
-Phân loại: Gồm gãy xương kín và gãy xương hở
-Nguyên tắc điều trị: giúp liền xương, phục hồi cấu trúc giải phẫu của xương
-Các phương pháp điều trị: gồm điều trị bảo tồn, điều trị bằng phẫu thuật
-Chỉ định điều trị bảo tồn: đa số gãy xương ở trẻ em; gãy xương ít lệch ởngười lớn; gãy xương ở bệnh nhân không có khả năng phẫu thuật
-Nguyên tắc điều trị bảo tồn: nắn xương về vị trí giải phẫu; bất động đủ thờigian; tập phục hồi chức năng
-Chỉ định phẫu thuật: đa số gãy xương di lệch ở người lớn; gãy xương cóbiến chứng; gãy xương hở
- Nguyên tắc điều trị: đưa khớp về đúng vị trí giải phẫu càng sớm càng tốt
- Các phương pháp điều trị: nắn khớp không mở khớp; nắn khớp có mở khớp
- Nguyên tắc nắn khớp không mở khớp: càng sớm càng tốt; đưa khớp về đúng
Trang 8giải phẫu; bất động đủ thời gian; tập phục hồi chức năng
- Chỉ định nắn khớp có mở khớp (mổ): trật khớp nắn không vào; trật khớp nắnvào nhưng không đúng giải phẫu; trật khớp có biến chứng
1.2.3 Chấn thương phần mềm
Định nghĩa: Chấn thương phần mềm là những chấn thương của da, gân, cơ,dây chằng do kéo căng quá mức hoặc vặn xoắn đột ngột bởi một lực va chạmtrực tiếp hoặc gián tiếp
Các hình thái tổn thương: Giãn; rách; đứt; đụng dập phần mềm
Phân độ: tuỳ theo mức độ tổn thương phần mềm
-Độ 1: phần mềm (dây chằng, gân cơ) căng giãn hoặc rách một phần (dưới25% bó sợi) Biểu hiện đau thoáng qua, hoặc chỉ đau lúc vận động có chịu lực.Phần mềm sưng nề nhẹ
-Độ 2: phần mềm (dây chằng, gân cơ) rách không hoàn toàn ( từ 25-75% bósợi) Biểu hiện tại chỗ sưng nề bấm tím rõ, đau nhiều cả lúc vận động và nghỉ ngơi
-Độ 3: phần mềm (dây chằng, gân cơ) đứt hoàn toàn Biểu hiện tại chỗ mấtliên tục của gân hoặc cơ hoặc dây chằng, kèm theo là sưng nhanh, đau nhiều,không thể vận động
Nguyên tắc điều trị chấn thương phần mềm: theo các bước R.I.C.E:
-R (rest)-Nghỉ ngơi
-I (ice)- Chườm đá
-C (compression)-Băng ép và bất động
-E (elevation)-Nâng cao chi
1.2 Quan điểm của Y học cổ truyền về điều trị gãy xương trật khớp [1,4]
Ngoài nguyên tắc cố định xương gãy kết hợp động và tĩnh, nguyên tắc thứ hai
Trang 9trong điều trị gãy xương theo y học cổ truyền là kết hợp tác dụng tại chỗ (thuốcbôi, đắp ngoài) với tác dụng toàn thân (thuốc uống trong).
Ngày nay bằng các nghiên cứu khoa học cơ bản, tác dụng của nhiều bài thuốcnam đã được chứng minh Tuy nhiên việc xoa bóp, đắp thuốc trong chấn thươnggãy xương trật khớp cũng cần đúng phương pháp, tuân thủ theo cơ chế sinh họccủa liền xương
Qua kinh nghiệm cổ truyền và các quan sát trên lâm sàng đã khẳng định:thuốc y học cổ truyền có tác dụng thông hoạt kinh lạc, tiêu thũng, chỉ thống, nhudưỡng khí huyết, hoà dinh sinh tân
Trong thực tiễn lâm sàng, dựa vào biện chứng luận trị ứng dụng thuốc y học
cổ truyền điều trị gãy xương có thể phân chia làm ba thời kỳ: thời kỳ đầu, thời
kỳ giữa và thời kỳ sau.`
Thời kỳ đầu dùng theo pháp hành ứ, hoạt huyết, sinh tân; thời kỳ giữa dùngpháp bổ ích can thận tiếp liền xương; thời kỳ sau dùng pháp cường cân, cứng cốtphục nguyên
Hoạt huyết phá ứ
Gãy xương trong thời kỳ đầu (1-2 tuần sau khi bị thương) có thể dùng
pháp hành ứ hoạt huyết sinh tân Một khi bị thương, khí huyết vận hành lập tức
bị trở trệ dẫn tới sưng nề Muốn trị đau đầu tiên phải hành ứ; muốn tiêu sưng tấtphải hoạt huyết Vì vậy, khi dùng thuốc không thể không dùng hành ứ, hoạthuyết
Hành khí hoạt huyết
Trường hợp thương tổn thể chất ít, chứng trạng nhẹ có thể dùng pháp này điềutrị Sách Nội kinh nói: “Kết giả tán chi” nghĩa là chứng kết dùng phương pháptán để điều trị Có thể dùng các bài thuốc đắp tại chỗ, hoặc Thất lý tán hoặc
dùng rượu Tử kim xoa tại chỗ Uống trong có thể dùng Thất lý tán hoặc Trật đả
hoàn Thuốc sắc có thể dùng bài Phục nguyên hoạt huyết thang, Hoạt dinh chỉthống thang, Phục nguyên thông khí thang, Thuận khí tán, Chính cốt mẫu đơn bì
Trang 10thang, Nhất bàn châu thang.
Công ứ phá trệ
Người bị nạn khoẻ mạnh, ứ trệ tương đối nghiêm trọng, tại chỗ sưng và ứhuyết lâu tiêu Trong trường hợp này hoạt huyết có thể thu kết quả Sách Nộikinh nói phương pháp: “Kết giả tiêu đi”
Bổ can thận, tiếp liền xương
Kỳ giữa của gãy xương (sau gãy 1-2 tuần đến khi liền xương trên lâm sàng)
có thể dùng pháp bổ ích can thận, tiếp liền xương Can chủ cân, Thận chủ cốt,
do vậy pháp bổ ích can thận là tục cân, tiếp cốt Thường dùng các bài như Tinh
quế kết cốt cao, Nội phục bát lý tán và Kết cốt tán Ngoài dùng thuốc như trên
đã nói, bên trong có thể dùng thuốc Bổ thận tráng cân thang hoặc Tổn thương
điều kinh thang, là bổ thuộc công hay công bổ kiêm trị.
Cường cân tráng cốt
Kỳ sau của gãy xương, sau khi xương gãy đã liền lâm sàng dùng pháp cườngcân tráng cốt pháp Có thể dùng các dược vật đã nêu trên Khi chi gãy bị cứng
khớp, cơ bắp teo nhẽo, gân cơ co quắp, có thể dùng Thư cân thang để làm tăng
khả năng tập luyện, từng bước phục hồi công năng chi gãy Với người thể chấtyếu nhược, có thể dùng thuốc bổ như Bát trân thang, Thập toàn đại bổ thang…
Thanh nhiệt hoạt huyết
Dùng trong các trường hợp huyết ứ ngưng trệ, huyết ứ hoá nhiệt, vết thươngsưng nóng đỏ đau Dùng các thuốc hành ứ hoạt huyết nêu trên, gia thêm một số
vị hàn lương thanh nhiệt như hoàng liên, hoàng cầm, sinh địa, đơn bì, hoàngbá… nhưng cần chú ý đề phòng hàn lương thái quá ngăn cản việc tiêu tan ứ trệ
Ôn kinh thông lạc
Những thương tổn lâu nhiễm phong, hàn, thấp sưng đau nặng lên có thể dùngpháp ôn kinh thông lạc để khu phong, tán hàn, hoạt huyết tiêu sưng Thườngdùng thuốc uống trong như Thấu cốt đan, Thư cân hoạt huyết thang v.v Tứ chithương tổn lâu, bị phong, hàn, thấp xâm nhập cũng có thể dùng Thư cân thang
Trang 11Đau vùng lưng hoặc đau lưng cấp, tổn thương mạn tính kiêm phong hàn có thểuống Định thống hoàn.
Khoảng ba thập kỷ lại đây, có nhiều bài thuốc kinh nghiệm, bài thuốc dângian đã được viện y học cổ truyền Việt Nam sưu tầm, thừa kế
Tóm lại, một trong những vốn quý của y học cổ truyền là điều trị gãy xương.Kinh nghiệm về lĩnh vực này đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang tínhchất gia truyền Điều trị gãy xương đơn thuần theo y học cổ truyền trong nhiềutrường hợp hiệu quả nắn chỉnh chưa tốt, phương tiện cố định đơn giản, dễ phổcập nhưng chất lượng cố định chưa cao trong các trường hợp gãy xương lớn, có
cơ co kéo mạnh như xương đùi hoặc một số trường hợp gãy gần khớp Điều trịgãy xương theo y học cổ truyền hay theo y học hiện đại đều có ưu điểm vànhược điểm nhất định Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại nhằmphát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm của từng phương pháp cho phépđiều trị chất lượng ngày một cao hơn, hoàn hảo hơn
Quá trình liền xương của phương pháp cố định sinh học tạo liền xương giántiếp (liền xương kỳ 2), kiểu liền xương nhanh chóng, còn liền xương trực tiếp(liền xương kỳ 1) là một quá trình chậm chạp Theo Đặng Kim Châu thì điều trịgãy xương theo y học cổ truyền là một trong những phương pháp điều trị khátoàn diện
Trang 12Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
Bệnh nhân được chẩn đoán gãy xương, trật khớp, chấn thương phần mềm đơnthuần, được điều trị ban đầu bằng bó lá, được khám và điều trị tại khoa Khámxương và điều trị ngoại trú
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ: không có
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả tiến cứu
2.2.2 Cỡ mẫu: gồm 57 bệnh nhân
2.2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6/2018-6/2019.
Địa điểm nghiên cứu: Khoa Khám xương và Điều trị Ngoại trú, Viện Chấn
thương Chỉnh hình, Bệnh viện Việt Đức
2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Đặc điểm tổn thương
- Thời gian đắp lá
- Thời gian đến viện
- Đặc điểm lâm sàng sau đắp lá
- Kết quả điều trị và các di chứng
2.2.5 Các bước tiến hành
- Lựa chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn lựa chọn
Trang 13- Mô tả đặc điểm lâm sàng
- Can thiệp thủ thuật hoặc phẫu thuật:
+ Điều trị kháng sinh, bó bột
+ Gây mê nắn bó bột
+ Chuyển mổ xử lý hoại tử nhiễm trùng phần mềm, viêm xương
- Đánh giá kết quả Các tiêu chí đánh giá (nhóm nghiên cứu tự xây dựng):
- Không viêm da
- Khỏi, không thay đổimàu sắc da (khôngviêm da)
- Viêm da khôngnhiễm trùng
- Khỏi, để lại sẹo hoặcthay đổi màu sắc da
- Viêm da khôngnhiễm trùng
- Viêm da nhiễm trùng
- Khỏi, phải điều trịkháng sinh dài ngàyvà/hoặc phải phẫuthuật
2.2.6 Phương pháp thu thập thông tin, xử lý số liệu
Các kết quả nghiên cứu được phân tích và xử lý bằng thuật toán thống kê yhọc, sử dụng phần mềm Stata 12.0
2.2.7 Y đức trong nghiên cứu
Tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về đảm bảo đạo đức trong nghiên cứu
Trang 14Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm nhóm đối tượng nghiên cứu
Đầu dưới xương quay 9 Trật khớp vai 2 Bàn chân 3
Cổ xương cánh tay 2 Bán trật khớp cổ chân 4 Cổ chân 4Trên lồi cầu xương cánh
Trang 15Bảng 3.3 Kết quả sau bó lá
Không đạt Giải phẫu
Viêm da không nhiễm trùng
Viêm da nhiễm trùng (viêm tấy
3.1.4 Thời gian bó lá: trung bình 13 ngày (từ 3-21 ngày)
3.1.5 Thời gian từ khi chấn thương đến khi đến khám: trung bình 25 ngày (7
ngày – 2 tháng)
3.2 Kết quả
3.2.1 Thời gian theo dõi: trung bình 4,5 tháng (2-9 tháng)
3.2.2 Di chứng sau bó lá của nhóm gãy xương
3.2.3 Kết quả điều trị
Trang 17Chương 4 BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm nhóm đối tượng nghiên cứu
Tuổi trung bình là 35,3, gặp từ trẻ em 4 tuổi cho đến người già 80 tuổi Việcđiều trị bằng đắp thuốc lá bắt nguồn từ nhận thức của người lớn Thông tintruyền miệng thiếu kiểm chứng của người lớn về chất lượng khám chữa bệnhcủa các cở sở y tế tư nhân và hiệu quả điều trị bằng thuốc nam, cùng với tâm lý
e ngại khi đến bệnh viện công, chuyên khoa khiến người lớn hoặc tự mình tìmđến gặp các thầy lang hoặc dẫn người thân của mình đến, bao gồm trẻ em
4.2 Đặc điểm tổn thương
Gặp nhiều nhất trong nhóm gãy xương là gãy đầu dưới xương quay ở người
có tuổi Gãy cổ xương đùi di lệch ở người già, gãy lồi ngoài xương cánh tay dilệch ở trẻ em là những tổn thương có chỉ định mổ tuyệt đối, tuy nhiên nhữngngười bệnh này cũng được các thầy lang chỉ định bảo tồn bằng bó lá Trong quátrình hỏi bệnh, chúng tôi thấy đa phần các thầy lang đều có cam kết sau bó lá làchắc chắn xương sẽ liền, mặc dù như chúng ta biết về đặc điểm tổn thương giảiphẫu bệnh cũng như nguồn cấp máu cho gãy cổ xương đùi rất khó liền, đặc biệtgãy Garden 3, Garden 4 Tương tự như vậy, gãy lồi cầu ngoài xương cánh tay dilệch ở trẻ em không chỉ dừng lại ở việc liền xương mà còn phải xử lý di lệch, đặtlại diện khớp, bất động vừa đủ, tập phục hồi chức năng tích cực thì mới có thểkhỏi theo đúng nghĩa Ngoài ra các tổn thương khác mà người bệnh rất “thích”
bó lá là chấn thương phần mềm cổ bàn chân, hay còn gọi là bong gân Trật khớp
và bán trật khớp cũng là những tổn thương mà người bệnh thích đến thầy lang
để được “rút” khớp và bó lá
4.3 Kết quả sau bó lá
Theo Bảng 3.3, có 23 bệnh nhân gãy xương (chiếm 74%), 3 bệnh nhân trậtkhớp, bán trật khớp (chiếm 27%) không đạt giải phẫu, cần phải gây mê nắnchỉnh lại Viêm da thông thường gặp 36 trường hợp chiếm 61%, đặc biệt viêm
Trang 18da nhiễm trùng gặp 9 bệnh nhân, trong đó có 3 bệnh nhân phải mổ cắt lọc (có 1bệnh nhân vết thương hở), số bệnh nhân còn lại phải điều trị kháng sinh dàingày Những bệnh nhân được điều trị bằng bó lá hầu hết họ không được nắnchỉnh, hoặc được nắn chỉnh nhưng không đạt giải phẫu nhưng vẫn bó lá Trong
đa số các trường hợp khi bó lá bệnh nhân chỉ được bất động bằng nẹp tre, gỗkhông đạt chuẩn, vì vậy kể cả việc nắn chỉnh ban đầu là đạt thì phương pháp bấtđộng không tốt cũng dễ dàng gây di lệch thứ phát Sự tiếp xúc trực tiếp vớithuốc lá gây nên tình trạng viêm da là hiện tượng gặp khá phổ biến Khi tổ chứcphần mềm đang giai đoạn sưng nề, tụ máu là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩnthâm nhập trực tiếp qua da gây tình trạng nhiễm trùng, hay gặp là nhiễm trùng
mô mềm Đặc biệt nếu trên da có vết thương hở thì nhiễm trùng là điều tất yếunếu đắp lá trực tiếp vào vết thương (đây là chống chỉ định của đắp thuốc lá)
4.4 Kết quả điều trị
Với thời gian bó lá trung bình 13 ngày (từ 3-21 ngày), thời gian từ khi chấnthương, bó lá cho đến khi đến khám trung bình trung bình 25 ngày (7 ngày – 2tháng) Trong đó đa số các trường hợp phải gây mê nắn lại (Bảng 3.3) Nhữngtrường hợp thời gian bó lá kéo dài thường kèm với đến khám muộn, do vậy tìnhtrạng can lệch, cứng khớp, viêm tấy phần mềm gặp phổ biến Những trường hợpviêm tấy phần mềm sau bó lá, phải điều trị kháng sinh dài ngày nên việc nắnchỉnh vô cùng khó khan, kể cả phẫu thuật Tương tự, việc nắn chỉnh xương đếnmuộn cũng gặp nhiều khó khăn, đa số không mang lại kết quả như mong muốn.Chính vì vậy, kết quả 22/31 trường hợp gãy xương, 7/11 trường hợp trật khớp,bán trật khớp và 9/15 trường hợp chấn thương phần mềm có kết quả kém vàtrung bình (Bảng 3.5) sau điều trị trung bình 4,5 tháng
KẾT LUẬN