Chức năng của giám định Y Pháp trong các vụ TNGT là xác địnhnguyên nhân tử vong, cơ chế gây thương tích, dựng lại hiện trường vụ tai nạn và nghiên cứu đặc điểm tổn thương trên những nạn
Trang 1CTSN gây tổn thất lớn về sức khỏe và kinh tế xã hội của thế giới, lànguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba sau ung thư, tim mạch, đặc biệt lànguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở lứa tuổi 15 – 45 Bệnh viện Việt Đứcmỗi năm khám và điều trị 5.000-8.000 bệnh nhân CTSN, tử vong 500-700trường hợp Bệnh viện Chợ Rẫy tại thành phố Hồ Chí Minh điều trị 15.000-20.000 bệnh nhân CTSN hàng năm, tử vong khoảng 1.000-1.500 [2] Tại Mỹ,mỗi năm có khoảng 13/10.000 người bị CTSN nhẹ, 3/10.000 người bị CTSNnặng Trong giai đoạn 2002-2006, có khoảng 1,7 triệu người bị CTSN mỗinăm, 1,4 triệu người khám cấp cứu, 275.000 người nhập viện và được cứusống, 52.000 trường hợp tử vong Theo thống kê, CTSN chiếm 33% nguyênnhân gây tử vong ở Mỹ [3].
CTSN có nhiều nguyên nhân đặc biệt là tai nạn giao thông đường bộ(TNGTĐB) Theo một số nghiên cứu ở Việt Nam, CTSN do TNGT là nguyênnhân gây tử vong hàng đầu và có tốc độ gia tăng nhanh chóng [2], [4] ViệtNam được Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) coi là một trong những quốc giađứng đầu thế giới về tỷ lệ TNGT [5]
Chức năng của giám định Y Pháp trong các vụ TNGT là xác địnhnguyên nhân tử vong, cơ chế gây thương tích, dựng lại hiện trường vụ tai nạn
và nghiên cứu đặc điểm tổn thương trên những nạn nhân tử vong nhằm tìm ranhững biện pháp phòng tránh TNGT phù hợp nhất, đồng thời giúp các thầy
Trang 2thuốc lâm sàng rút kinh nghiêm trong chẩn đoán, hồi sức cấp cứu, tiên lượng
và điều trị những người bị tai nạn tốt hơn
Ở Việt Nam, mặc dù đã có quy định của Luật pháp về chức năng giámđịnh Y pháp trong các vụ TNGT, nhưng trên thực tế, việc khám nghiệm tử thinói chung, nạn nhân do tai nạn giao thông nói riêng không phải lúc nào cũngthuận lợi do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, ảnh hưởng đến kết quảgiám định Đặc biệt trong trường hợp nạn nhân bị CTSN, nhiều trường hợp giámđịnh viên chỉ mô tả thương tích bên ngoài hoặc rạch da đầu tối thiểu, rất íttrường hợp khám nghiệm đầy đủ, đúng quy trình, do vậy giám định viên khônggiải thích được cơ chế chấn thương, vật gây thương tích gây nhiều khó khăntrong giải quyết vụ việc Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài:“Nghiên cứu tổn thương da đầu và vỡ xương sọ ở nạn nhân tử vong do
tai nạn giao thông đường bộ qua giám định Y pháp” với hai mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm tổn thương da đầu và tổn thương xương sọ ở nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện Việt Đức.
2 Đánh giá một số liên quan giữa tổn thương da đầu và vỡ xương sọ trên nạn nhân bị chấn thương sọ não.
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình giao thông trên thế giới và Việt Nam
TNGTĐB là loại hình tai nạn xảy ra đối với những phương tiện đangtham gia giao thông trên các tuyến đường bộ hay trên các tuyến đườngchuyên dụng và đối với người đi bộ
Theo báo cáo năm 2015 của WHO, hàng năm có hơn 1,2 triệu ngườichết vì TNGTĐB, chủ yếu ở độ tuổi từ 15-29 Đa số ở các nước có thu nhậptrung bình và thấp, những nơi mà kinh tế đang phát triển nhanh kèm theo sựgia tăng nhanh số lượng phương tiện giao thông nói chung và TNGTĐB nóiriêng Mỗi năm các nước trung bình và kém phát triển mất khoảng 3% GDP
vì tai nạn giao thông [5]
Ở Hoa Kỳ, năm 2015 có 35.092 người chết vì TNGT, tăng 7,1% so vớicon số 32.744 người năm 2014 Số người bị thương do TNGT tăng từ 2,34triệu năm 2014 lên 2,44 triệu năm 2015 Số vụ TNGT được báo cáo tăng3,8% từ 6 triệu lên 6,3 triệu vụ [6]
Tại Vương Quốc Anh, năm 2015 có 186.209 vụ TNGT làm 162.340người bị thương nhẹ, 22.137 người bị thương nặng và 1.732 người tử vong[7]
Tại Pháp, năm 2014 có 59.854 vụ TNGT làm bị thương 75.142 người, tửvong 27.502 người [8]
Ở Trung Quốc, năm 2005 có 450.254 vụ TNGT làm bị thương 469.911người, làm tử vong 98.738 người [9]
Theo số liệu thống kê tại Ấn Độ, năm 2014 có 141.526 người bị chết,477.731 người bị thương do TNGT, tuy nhiên con số thực tế có thể lớn hơnrất nhiều [10]
Trang 4Theo thống kê của Cục Cảnh sát giao thông đường bộ Việt Nam, trongnăm 2015 cả nước xảy ra 22.326 vụ TNGTĐB, làm chết 8.435 người, bịthương 20.815 người [11].Theo số liệu của Ngân hàng phát triển Châu Á, tạiViệt Nam thiệt hại kinh tế do TNGT đường bộ hàng năm ước khoảng 880triệu USD chiếm 2,45% GDP (năm 2003), cao hơn mức trung bình của cácnước ASEAN (2,1% GDP) [12]
Ngoài những thiệt hại về kinh tế, TNGT còn gây nên những tác động về
xã hội trước mắt cũng như lâu dài, đồng thời để lại những di chứng về tâm lýhết sức nặng nề cho người bị tai nạn, người thân của nạn nhân, đồng thời tạo
áp lực, gây lo lắng và bức xúc cho toàn xã hội
1.2 Đặc điểm giải phẫu hộp sọ
1.2.1 Hệ thống da đầu
Da đầu gồm 5 lớp từ nông vào sâu: Da, mô liên kết cứng và chắc, mạctrên sọ, mô liên kết lỏng lẻo, màng ngoài xương sọ [13]:
- Lớp da: Có nhiều tóc và tuyến bã [13]
- Mô liên kết cứng và chắc: Lớp này có nhiều tổ chức xơ rất chắc, mạchmáu và thần kinh phong phú Thành mạch ở đây được giữ chặt bởi tổ chức xơnên khi tổn thương mạch máu da đầu thì máu chảy rất nhiều vì thành mạchkhông co lại được [13]
- Mạc trên sọ: Dính rất chặt với nhau thành một lớp nên một vết thương
mà không tổn thương đến lớp mạc trên sọ thì sẽ không có khe hở [13]
- Mô liên kết lỏng lẻo: Rất mỏng manh, thông thương với các xoang tĩnhmạch trong sọ bằng các tĩnh mạch liên lạc [13]
- Màng ngoài xương: Là màng xương của các xương sọ Ngoại trừ ở cácđường khớp thì phần còn lại của lớp này dính một cách lỏng lẻo với các lớpxương đặc ở mặt sâu của nó nên máu có thể tụ lại ở đây, khối máu tụ có hìnhdạng của xương tương ứng vì dịch không thể thoát ra khỏi đường khớp [13]
Trang 51.2.2 Hộp sọ
Sọ (Cranium) được cấu tạo bởi 22 xương hợp lại, trong đó có 21 xươnggắn lại với nhau thành khối bằng các đường khớp bất động, chỉ có xương hàmdưới liên kết với khối xương trên bằng một khớp động [13]
Xương sọ gồm ba lớp: Bản ngoài, lớp xương xốp và bản trong Bản ngoàiđược bọc bởi màng xương và da đầu, bản trong dính với màng cứng [13]
Não được bao bọc bởi khối xương sọ não (Neurocranium) là một hộpxương bảo vệ vững chắc cho não do 8 xương tạo nên: Hai xương đỉnh, mộtxương trán, một xương chẩm, một xương bướm, một xương sàng và haixương thái dương [13]
Trong xương thái dương có những khoang nhỏ chứa các cấu trúc liênquan đến thăng bằng và thính giác Tổn thương xương thái dương có thể kèmtheo các bất thường về các chức năng này [13]
Ngoại trừ xương hàm dưới, các xương còn lại dính chặt với nhau thànhmột khối, do vậy dễ gây tăng áp lực nội sọ khi có tổn thương não [1]
Hộp sọ có bề mặt bên trong không trơn láng, đặc biệt ở các thùy trán,thùy thái dương và trần hốc mắt, dễ gây tổn thương não khi có sang chấnmạnh [1]
Khi có lực tác động vào hộp sọ, đầu đột ngột ngừng di chuyển, theo quántính, não còn di chuyển trượt vào mặt trong của hộp sọ gây tổn thương nhu
mô não phía trực tiếp có va chạm Ngoài ra, khi hộp sọ di chuyển theo hướngvào trong có thể làm cho não di chuyển và va chạm vào hộp sọ ở bên đốidiện Không những tổ chức não, dịch não tủy cũng bị ảnh hưởng trong dạngtổn thương này [1]
1.2.3 Não
Các thành phần của tổ chức não gồm hai bán cầu đại não, gian não, thânnão và các bán cầu tiểu não [13]
Trang 6Đại não là phần lớn nhất của não bộ, nằm trong hộp sọ chiếm toàn bộ tầngtrước và tầng giữa hộp sọ Đại não ngăn cách với trung não và tiểu não bằng khenão ngang Khe não dọc chia đại não thành hai bán cầu phải và trái [13].
Bề mặt của các bán cầu được các rãnh não chia thành các thùy não vàhồi não Các rãnh gian thùy chia bề mặt đại não thành các thùy: Thùy trán,thùy đỉnh, thùy chẩm, thùy đảo, thùy thái dương và thùy viền [13].Các báncầu đại não được cấu tạo bởi chất xám và chất trắng Trong mỗi bán cầu não
Tiểu não nằm ở hố sọ sau, ngăn cách với đại não bằng lều tiểu não, gồm
2 bán cầu tiểu não và thùy giun ở giữa, phần dưới của hai bán cầu có thùyhạch nhân, thùy hạch nhân dễ tụt vào lỗ chẩm, chèn ép vào hành tủy gâyngừng hô hấp đột ngột [1]
1.2.4 Màng não – dịch não tủy – hệ thống não thất
Não và tủy sống được bao bọc và bảo vệ bởi hệ thống màng não và dịchnão tủy Màng não gồm 3 lớp từ ngoài vào là màng cứng, màng nhện và màngmềm [13]
Màng cứng được cấu tạo bằng mô liên kết, dai, không đàn hồi Mặtngoài xù xì dính với cốt mạc nội sọ Màng cứng được nhiều mạch máu nuôidưỡng Mặt trong màng cứng tách ra năm vách đi vào trong ngăn các phầncủa não: Liềm đại não, vách lều tiểu não, liềm tiểu não, lều tuyến yên và lềuhành khứu [13]
Trang 7Màng nhện có hai lá, giữa hai lá có khoang nhện là một khoang ảo Giữamàng nhện và màng cứng có khoang dưới màng cứng Ở màng này có nhiềuhạt Pacchioni tụ thành đám, nhất là ở hai bên xoang tĩnh mạch dọc trên Hạtnày đào vào xương tạo thành các ổ nhỏ [13].
Màng mềm được cấu tạo bằng mô liên kết thưa, chứa nhiều vi mạch đểnuôi dưỡng não bộ nên còn được gọi là màng nuôi Màng mềm nằm trongcùng bao phủ toàn bộ mặt ngoài và len lỏi sâu vào các rãnh não Màng mềmcũng là cấu trúc mà qua đó có sự trao đổi chất giữa các mao mạch với dịchnão tủy [13]
Giữa xương và các màng cũng như giữa các màng với nhau có cáckhoang màng não [13]
Khoang ngoài màng cứng là khoang giữa mặt trong hộp sọ và ở ngoàimàng cứng Khi có CTSN, máu từ các mạch máu bị tổn thương (thường gặp
là động mạch màng não giữa) làm tách mặt ngoài màng cứng và đọng ở trongkhoang tạo thành máu tụ ngoài màng cứng Tổn thương thường không vượtqua rãnh khớp [1]
Khoang dưới màng cứng là khoang giữa màng cứng và màng nhện Khi
có chảy máu do chấn thương, máu có thể lan vào trong các phần sâu nhất củamàng cứng và thường lan tỏa [1]
Khoang dưới nhện và các não thất chứa dịch não tủy có tác dụng bảo vệ vànuôi dưỡng cho não Những nơi giãn rộng của nó được gọi là bể dưới nhện [1]
Hệ thống não thất và sự lưu thông của dịch não tủy: Từ thấp lên cao gồm
có não thất IV, cống trung não, não thất III và các não thất bên Mỗi não thấtbên ở trong một bán cầu đại não có các phần: Sừng trán, phần trung tâm, tamgiác bên, sừng thái dương và sừng chẩm Dịch não tủy được tiết ra chủ yếutrong các não thất bởi các đám rối mạch mạc và được hấp thu vào xoang tĩnh
Trang 8mạch dọc trên bởi các hạt Pachioni, các nhung mao của màng nhện và đượctái hấp thu vào các xoang tĩnh mạch lớn [13].
1.2.5 Hệ thống động mạch não
Não và màng não được nuôi dưỡng chủ yếu bằng hệ thống mạch máuhình thành từ các cuống mạch chính: Hai động mạch cảnh ngoài, hai độngmạch cảnh trong và hệ động mạch thân nền [13] Ở vùng nền não, các độngmạch tạo nên vòng động mạch (đa giác Willis) Vòng động mạch này quâyquanh yên bướm nên rất dễ bị tổn thương Vì vậy, CTSN có kèm tổn thươngxương đá và các xương vùng sàn sọ nên cảnh giác với các tổn thương mạchmáu đi kèm
Nhánh động mạch màng não giữa của động mạch cảnh ngoài chạy ởvùng thái dương và rất dễ tổn thương khi có nứt vỡ xương thái dương và gâymáu tụ ngoài màng cứng
Động mạch ở màng cứng gồm ba động mạch cấp máu là động mạchmàng não trước, động mạch màng não giữa và động mạch màng não sau [13]
1.2.6 Hệ thống tĩnh mạch não
Hệ tĩnh mạch não bao gồm các xoang tĩnh mạch màng cứng và các tĩnhmạch não Xoang tĩnh mạch là xoang chứa máu nhận từ tĩnh mạch não trở vềbao gồm: Xoang tĩnh mạch dọc trên, xoang thẳng, xoang dọc dưới Các xoangtĩnh mạch đổ vào hai nơi chính là xoang hang ở nền sọ và hội lưu Herophilie
ở vòm [13]
1.3 Cơ chế chấn thương sọ não:
Trong giám định Y pháp, CTSN do TNGT được chia thành hai nhómdựa trên cơ chế tác động và tổn thương của sọ não là: [1]
– Tổn thương do va đập
– Tổn thương do tăng giảm tốc độ đột ngột
Trang 9 Tổn thương do va đập: Do một vật tác động vào đầu nạn nhân hoặc dođầu nạn nhân va đập vào các vật cứng như mặt đường, viên gạch, gốc cây
Những tổn thương này thường khu trú tại vị trí tiếp xúc, hay gặp nhất là [1]:– Tổn thương phần mềm: Sây sát da, rách da, tụ máu, đụng dập da đầu.– Vỡ xương sọ
– Tụ máu ngoài màng cứng
– Tụ máu dưới màng cứng
– Tụ máu trong não
– Dập não, chảy máu dưới nhện [1]
Tổn thương do tăng giảm tốc độ đột ngột hình thành do đầu nạn nhânchuyển động nhanh mạnh, bất ngờ và theo chiều hướng trái ngược nhau làmtăng áp lực nội sọ và gây tổn thương mô não dưới dạng bị dãn căng quá mứchoặc xé rách Tổn thương hay gặp là: [1]
- Tụ máu dưới màng cứng (tổn thương thứ phát do rách đứt các tĩnhmạch cầu nối từ màng cứng vào trong mô não)
- Tổn thương sợi trục lan toả (tổn thương thứ phát sau khi đầu bị vachạm vào một vật cố định) Cũng có giả thiết cho rằng lực va đập không phải làyếu tố quyết định tạo nên tổn thương này mà nguyên nhân chính là tốc độchuyển động bất ngờ theo chiều rung lắc của hộp sọ Tuy nhiên dưới góc độcủa Y pháp và xuất phát từ thực tế giám định thì tổn thương do tăng giảm tốc
độ đột ngột bao giờ cũng liên quan đến lực va đập vào đầu nạn nhân và trongnhiều trường hợp dấu hiệu va đập rất có ý nghĩa trong chẩn đoán Y Pháp
Việc khám xét hệ thần kinh trung ương và xương sọ bảo vệ, phần mềmbao quanh có liên quan đến việc tìm ra những bất thường sẽ gợi ý, củng cốhoặc chứng minh tác động gây chấn thương Những đặc điểm đại thể, vi thểmang những nét đặc trưng cho riêng từng loại tác động
Trang 10Những bất thường đã được tìm ra, bao gồm tổn thương ở da, phần mềmxung quanh hộp sọ và cột sống, có thể dùng để suy luận, kết luận xem lực tácđộng như thế nào, độ lớn của lực tác động, cơ chế của tổn thương để từ đóđánh giá tổn thương góp phần vào xác định cơ chế dẫn đến tử vong.
1.4 Tổn thương da đầu
Tổn thương da đầu rất thường gặp trong CTSN Vị trí da dầu bị tổnthương thường giúp gợi ý vị trí ngoại lực trực tiếp tác động Tuy nhiên trongnhiều trường hợp những vết bầm tím ở sâu hoặc quá rộng nên không thể xácđịnh chính xác vị trí ngoại lực tác động trực tiếp dẫn đến vỡ xương sọ [1].Các tổn thương da đầu có thể gặp [1]:
- Sây sát da, bầm tím, tụ máu
Thông thường khi hộp sọ bị tác động hoặc va đập với một vật nào đó
có bề mặt phẳng rộng thì tại điểm va chạm xương sọ sẽ có xu hướng bị ép dẹtdưới áp lực của cấu trúc bề mặt vật tác động Khi bị tác động, xương sọ có xuhướng uốn cong vào phía trong, trong khi đó tại các vùng xung quanh hoặc ở
xa nơi tác động, xương hộp sọ lại có xu hướng bị đẩy ra ngoài do lực lantruyền từ trung tâm của vùng bị tác động ra ngoài Vùng xương bị đẩy rangoài có thể cách xa điểm tác động và đường vỡ không bắt đầu từ điểm vachạm mà bắt đầu từ điểm xương hộp sọ bị lồi ra ngoài Đường vỡ xương sọthường bắt đầu từ bản ngoài xương sọ do lực tác động làm cho xương sọ bịđẩy lồi ra ngoài Sau khi bị lún vào trong, vùng xương sọ bị lún có xu hướng
Trang 11đẩy ra ngoài để trở về hình dáng ban đầu, đường vỡ xương sọ bắt nguồn từnơi hình thành sẽ lan về phía trung tâm của điểm va chạm cũng như lan raxung quanh theo chiều ngược lại Đường vỡ xương sọ có thể hoặc không lantới điểm tác động nhưng cũng có thể lan rộng vượt ra ngoài điểm va chạmđường vỡ phụ thuộc vào một số yếu tố sau [1]:
- Độ dày của tóc
- Độ dày của da đầu
- Hình dạng và độ dày của xương sọ
- Mức độ đàn hồi của xương sọ ở vùng bị va chạm
- Hình dạng, trọng lượng và độ cứng của vật tác động hoặc nơi đầu nạnnhân va đập vào
- Tốc độ của vật tác động hoặc tốc độ va đập của đầu với vật bị tác động
Hình 1.1 Bệnh sinh vỡ xương sọ [15]
Độ lớn của lực tác động để tạo ra đường vỡ xương hình đường thẳng do
bị đánh vào đầu với tốc độ chậm hoặc do ngã cao phụ thuộc vào độ cứng haymềm của bề mặt vật tác động Nếu vật tác động mềm, không cứng thì phầnlớn năng lượng sẽ làm biến dạng bề mặt và làm giảm năng lượng tác động vàođầu nạn nhân một cách đáng kể Nếu đầu nạn nhân va đập hoặc bị vật tác động
Trang 12làm biến dạng thì không phải toàn bộ lực tác động dồn lên đầu nạn nhân mà mộtphần lực tác động sẽ làm cho vật tác động có xu hướng biến đổi hình thể theohình dáng của đầu nạn nhân và tạo thành lớp bao bọc lấy hộp sọ, khi đó lực tácđộng sẽ không tập trung vào một vùng khu trú mà có xu hướng lan rộng và làmgiảm khả năng gây vỡ xương sọ Độ lớn của lực tác động để có thể làm vỡ hộp
sọ thành nhiều đường hoặc vỡ xương sọ theo hình sao, với những ghi nhận từthực nghiệm là lực tác động làm vỡ xương hình đường thẳng ở vùng này có thểlàm vỡ xương hình sao ở vùng xương sọ khác [1]
- Knight và SauKko đã nghiên cứu lực cần thiết gây ra vỡ xương sọ, vàghi nhận rằng đầu người trưởng thành trung bình nặng 4.5kg Một vỡ xươngđơn có thể xảy ra do đầu đâm vào vật cố định (lực yêu cầu 47N - 105N) vớilực tác động trực diện vào đầu cố định (510N) cũng có thể gây ra vỡ xươngđường thẳng hay phức tạp Lực tác động vào đầu được hấp thu trong khoảng0,0012 giây trong đó 0,0006 giây đầu sẽ đè ép da đầu và 0,0006 giây còn lạitác động lên hộp sọ Trong một thí nghiệm khác khi lực tác động lên đầu nạnnhân là 1314N không làm vỡ hộp sọ Như đã nêu ở trên, lực tối thiểu làm vỡxương sọ phải từ 47N- 105N và một lực tác động khác cũng làm biến đổi hìnhthể của vật tác động [16]
- Vỡ xương sọ có thể xảy ra mà hoàn toàn không có tổn thương mô nãotrên thực thể hoặc các dấu hiệu mất tri giác và ngược lại tử vong có thể xảy ratrong trường hợp có tổn thương nặng ở mô não nhưng không có vỡ xươnghộp sọ [1]
Trang 13- Vỡ theo đường thẳng: Là những đường nứt vượt qua xương đỉnh hoặcxương nền sọ.
- Vỡ theo đường khớp
- Vỡ hình sao: Đường vỡ hướng ra ngoài từ tâm điểm va đập
- Vỡ vụn có dạng nhiều đường vỡ thẳng một cách lộn xộn hoặc theođường đồng tâm hoặc hình sao là những đường vỡ tỏa ra từ vị trí ngoại lựctrực tiếp tác động
- Vỡ vụn có mảnh rời lún vào trong
- Vỡ vụn có mảnh rời bay ra ngoài
- Vỡ xương sọ phức tạp có thể tạo ra sự thông nội sọ với môi trườngbên ngoài
- Vỡ xương ở vị trí đối diện thường gặp ở tầng sọ trước, thường có tổnthương xương hốc mắt hoặc xương sàng kèm theo, xuất hiện sau khi có một tácđộng trực tiếp vào xương chẩm hoặc xương thái dương, chúng có liên quan vớiđường vỡ xương tại vị trí bị ngoại lực trực tiếp tác động Chúng xuất hiện dướidạng chỉ đơn giản như một đường nứt ra hoặc phức tạp, phối hợp, dạng đườngcong hoặc những đường vỡ thẳng có góc cạnh Chúng có liên quan với nhữngkhối máu tụ quanh hốc mắt, có thể làm cho chúng ta có những nhầm lẫn khikhám nghiệm bên ngoài nhằm xác định vị trí ngoại lực trực tiếp tác động khi
mà đồng thời cùng với đó sự đụng dập, xé rách ở vùng chẩm cũng xuất hiệnkèm theo [1]
Trang 14Hình 1.2 Vỡ xương đỉnh theo đường thẳng.
A Phía bên phải thể hiện vỡ xương đỉnh ở trẻ em, có chia nhánh
(đầu mũi tên màu đen).
B Đường vỡ chéo xương đỉnh ở người lớn Một đường vỡ thẳng (mũi tên đen) vượt qua đường khớp dọc (đầu mũi tên màu trắng) và chia nhánh
(đầu mũi tên màu đen)[1].
Trang 15Hình 1.4 Vỡ xương vị trí đối diện (hai trường hợp).
A Dập da đầu vùng chẩm có liên quan với tổn thương vỡ xương minh họa trong hình B
B Vỡ xương đối diện tại hốc mắt bên trái (mũi tên màu trắng)
C Một trường hợp khác, vỡ xương hai bên hốc mắt (mũi tên màu trắng) đối diện với đường vỡ thẳng ở xương chẩm (mũi tên màu đen) [1].
1.5.3 Vỡ nền sọ
Liên quan đến giải phẫu, nền sọ bản chất là phức hợp xương, được tạothành từ 5 xương: xương trán, mảnh sàng của xương sàng, xương bướm,xương chẩm và các phần xương đá của xương thái dương
Nền sọ thường được chia thành 3 phần:
Nền sọ trước
Nền sọ giữa
Nền sọ sau
Nền sọ trước được tạo thành từ các xoang cạnh mũi, mảnh sàng và trần
ổ mắt Nó được lót ở trước bởi xương trán và sau bởi cánh nhỏ của xoangbướm Vùng hoặc vòm giữa được tạo thành từ xương bướm và xương tháidương Về phía trước, cánh nhỏ của xương bướm và xương đá phía sau tạothành vòm này Cuối cùng, vùng sau được tạo thành từ lỗ lớn, lồi cầu và các
Trang 16phần của xương đá, với các giới hạn về phía trước bởi thành sau của xương đá
và phía sau bởi các rãnh xoang ngang [17]
Vỡ nền sọ trước [1]
Gãy xương được chia ra theo phân loại của Damianos thành 4 loại:
- Loại 1 là phân loại khi gãy mảnh sàng với loại gãy thẳng không có
sự tham gia của xoang sàng và xoang trán trong loại gãy xương này
- Loại 2 là gãy xương trán-sàng: vỡ các thành của xoang trán và xoangsàng Không có sự tham gia của mảnh sàng
- Loại 3 là gãy xương trán bên: vỡ xoang trán bên đến thành trên của ổ mắt
- Loại 4 là một gãy xương hỗn hợp của bất kỳ gãy 3 xương trước đó
Vỡ nền sọ giữa [1]
Phân loại cổ điển của Ulrich trong gẫy xương thái dương chia gãyxương theo chiều dọc và chiều ngang với 80-90% là theo chiều dọc và 10-20% theo chiều ngang Tuy nhiên, phân loại này ít có mối tương quan với lâmsàng nên đã được sửa đổi Lý do là hầu hết gãy xương là loại hỗn hợp Vì vậy,một phân loại mới được chú ý là nhóm có chấn thương mê đạo xương vànhóm không có chấn thương mê đạo xương Phân loại này cho phép phát hiệnhình ảnh X-quang tốt hơn với phát hiện lâm sàng Nhóm không chấn thương
mê đạo sàng là 91,5% và nhóm có chấn thương mê đạo sàng chiếm 8,5%.Ngoài ra, 60,5% trường hợp có mất thính lực, có thể chia thành 57,7% điếcdẫn truyền, 33,3% điếc tiếp nhận và 9% điếc hỗn hợp
Liên quan đến dây thần kinh mặt, Little và Kessernawm năm 2006 chothấy tổn thương dây thần kinh mặt tăng 25 lần trong điếc tiếp nhận và tăng 8lần rò rỉ dịch não tủy với tổn thương có chấn thương mê đạo sàng Cũnggiống như trong nghiên cứu này, có 48% liệt hoàn toàn hoặc liệt nhẹ chứcnăng thần kinh mặt, với 6% tổn thương thần kinh trong chấn thương khôngtổn thương mê đạo sàng
Trang 17 Vỡ nền sọ sau [1]
Đây là nơi ít khi xảy ra gãy xương, được chia thành 2 phần chính là vỡ
lỗ lớn và vỡ xương chẩm Vỡ lỗ lớn ít gặp, với chỉ 9/25000 hoặc 0,39% đượcghi nhận vỡ lỗ lớn với CTSN hơn 5 năm Tuy nhiên, trong nghiên cứuNeurosurgery Review trong năm 2004, tất cả 5 bệnh nhân có khuyết thần kinh
sọ não được ghi nhận Ngoài ra, loại gãy xương tương quan tới tiên lượng,trong đó gãy xương dọc có 3 trong 5 bệnh nhân chết vì chấn thương cột sống
Vỡ lồi cầu xương chẩm có xu hướng là chấn thương do tác dụng củavật tày với lực lớn Chúng được chia thành 3 loại:
- Loại 1- Nén trục với sự tán nhỏ lồi cầu xương chẩm Đây là loại chấnthương có xu hướng ổn định
- Loại 2- Đánh trực tiếp vào nền sọ và lồi cầu xương chẩm Các dâychằng xung quanh có xu hướng được nguyên vẹn
- Loại 3- Giật mạnh ra, các dây chằng bị rách cùng với vỡ xương
A: Đường khớp bướm sàng.
B: Đường khớp bướm trán
C: Đường khớp trai trán (phần trai của
xương thái dương và xương trán).
D: Đường khớp thái dương đỉnh.
E: Góc bướm thái dương.
Trang 18Hình 1.6 Một số đường vỡ xương nền sọ [1]
Một số đường vỡ xương nền sọ và liên quan với vị trí ngoại lực trực tiếp tác động (được chỉ ra bởi mũi tên) Tuy nhiên không phải mọi trường hợp đều theo quy luật này
A Vị trí ngoại lực tác động trực tiếp vào vùng giữa xương trán
B Vị trí ngoại lực tác động trực tiếp vào vùng bên xương trán
C Vị trí ngoại lực tác động trực tiếp vào vùng ngoài tai (1 – 1’ là đường phổ biến, 1- 2’ vẫn có thể gặp)
D Vị trí ngoại lực tác động trực tiếp vào vùng mỏm chũm.
E Vị trí ngoại lực tác động trực tiếp vào vùng bên xương chẩm.
F Vị trí ngoại lực tác động trực tiếp vào vùng xương chẩm Xảy ra đường 1- 1’ hoặc 2-2’.
Trang 19 Vỡ ngang nền sọ (vỡ bản lề) làm cho nền sọ vỡ thành 2 phần tách rờinhau, tạo thành một bản lề tại đường vỡ Thông thường người ta chia loại vỡnày thành 3 loại như mô tả ở hình trên Trong 3 loại này loại I hay gặp nhấtvới cơ chế chấn thương do tác động từ một phía bên của đầu hoặc hiếm gặphơn là do tác động trực tiếp vào chỏm cằm, có thể thấy dấu hiệu của chấnthương bầm tụ máu, rách da chỏm cằm nhưng không nhất thiết phải có g ãyxương hàm dưới, đường vỡ đi theo bờ xương đá qua hố yên (sella turcica)sang xương đá bên đối diện Loại II đi từ bờ sau xương đá qua hố yên vàloại III chạy ngang qua tầng sọ trước sang bên đối diện nhưng không đi qua
hố yên
Hình 1.7 Vỡ ngang nền sọ [1]
Vỡ xương hình tròn: Hay gặp ở quanh lỗ chẩm, đường vỡ xuất phát từ
hố yên vòng qua xương đá hai bên rồi gặp nhau tại hố sau Cơ chế hình thành
là do lực tác động từ đỉnh đầu làm cho hộp sọ bị đè ép xuống trục cột sốnghoặc do ngã ngồi, đứng làm cột sống tác động vào nền sọ hoặc tác động mạnhvào chỏm cằm (thường gây rách da, bầm tím nhưng ít gặp gãy vỡ xương hàmdưới, trên thực tế rất nhiều trường hợp gãy xương hàm dưới đều có tổnthương vỡ nền sọ)
Trang 20Với trường hợp hộp sọ chưa liền khớp hoàn toàn thì khi bị chấn thươngđường vỡ sẽ chạy dọc theo khớp sọ vì đó là nơi cấu trúc yếu nhất Đường vỡlan theo khớp sọ (hay còn gọi là tách rời khớp sọ - diastatic fractures) cũng cóthể gặp ở trẻ nhỏ khi bị phù não nặng.
Hình 1.8 Vỡ xương hình tròn [1]
Vỡ xương bên đối diện là tổn thương độc lập ở tầng sọ trước, hay gặpcùng tổn thương dập não bên đối diện do đầu vùng chẩm va đập mạnh vàonền cứng Trong một nghiên cứu trên 171 nạn nhân tử vong do CTSN do ngã,
Hein và Schulz ghi nhận có 12% số nạn nhân có tổn thương vỡ xương bên đốidiện, toàn bộ số nạn nhân này đều có vỡ xương tại điểm va chạm (vùngchẩm) Nếu tính trên toàn bộ số nạn nhân bị ngã ngửa thì số nạn nhân có tổnthương bên đối diện là 24%
1.6 Nghiên cứu về CTSN trong thời gian gần đây
Có nhiều nghiên cứu về CTSN do TNGT cho một số kết quả đáng ghinhận như sau:
1.6.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Ahmad M , Rahman FNC, Chowdhury MH (2009) nghiên cứu 100trường hợp tai nạn xe máy tại đại học Y Dhaka Bangladesh cho thấy tỷ lệ namgiới là 64%; 90% có tổn thương da đầu; 82% có tổn thương xương sọ Trong
Trang 21số các tổn thương máu tụ nội sọ, có 21% máu tụ ngoài màng cứng, 43% máu
tụ dưới màng cứng, 36% xuất huyết khoang dưới nhện [17]
Năm 2013 Urfi, Hoda MF và cộng sự nghiên cứu 463 trường hợpCTSN do TNGT ở Ấn Độ, trong đó 81,2 % là nam giới, 73,7% sử dụng mô tô
2 bánh, 98,7% có tổn thương da đầu, 54,2% có tổn thương vỡ xương sọ [18]
Shivaramu M.G, Vijay Kumar A.G, Kumar U nghiên cứu khámnghiệm 310 trường hợp tử vong do TNGT, trong đó 82% là nam giới, 115trường hợp có sây sát da đầu, 140 trường hợp có rách da đầu, 80 trường hợp
có tụ máu da đầu 235 trường hợp có vỡ xương sọ [19]
Gouda H.S, Meghana P.R, Prabha B.B nghiên cứu khám nghiệm 111trường hợp chết do TNGT, trong đó 92% là nam giới, độ tuổi chủ yếu vàokhoảng 21-30 tuổi với 21,6%, 76 người bị CTSN và 74 người chết do CTSN,
51 trường hợp có vỡ vòm sọ, 41 trường hợp có vỡ nền sọ [20]
1.6.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Các nghiên cứu trong nước về CTSN do TNGT đã được nghiên cứu từlâu bởi các nhà Thần kinh học, Giám định viên y pháp, Y tế công cộng và cácnhà chẩn đoán hình ảnh
Đồng Văn Hệ, Trần Trường Giang, Phạm Tân Thành, Phạm Trung Dũng(2005) nghiên cứu 1127 nạn nhân bị CTSN, đối tượng là nam giới chiếm79,4%, độ tuổi 15 – 60 chiếm 84,3% Nguyên nhân chủ yếu là TNGT chiếm76,2%, 91% tai nạn có liên quan đến xe máy [21]
Nguyễn Phương Hoa, Phạm Thị Lan nghiên cứu tử vong do TNGTđường bộ tại một số tỉnh (192 xã thuộc 16 tỉnh) trên 1061 trường hợp Kết quảcho thấy phần lớn trường hợp tử vong là nam giới (79%), phương tiện chủyếu sử dụng khi bị tai nạn là xe máy (58%) và độ tuổi 15 – 49 chiếm tỷ lệ cao(73%) Nguyên nhân trực tiếp gây tử vong là CTSN chiếm tỷ lệ cao nhất(77%) [4]
Trang 22Nguyễn Hồng Long, Đinh Gia Đức (2011) nghiên cứu trên 100 nạn nhân
tử vong do TNGT có nồng độ cồn trong máu thấy tỷ lệ tử vong do CTSNchiếm 70%, độ tuổi từ 15 – 29 chiếm 59% và chủ yếu là tai nạn ô tô – xe máychiếm 64% Thương tổn chủ yếu là chảy máu màng mềm chiếm 49% [22].Trần Như Tú (2012) nghiên cứu giá trị tiên lượng nạn nhân qua chụpCLVT trên 1100 nạn nhân CTSN có tuổi trung bình 36 ± 17,1, trong đó có76,4% là nam, 23,6% nữ và 81% bị TNGT [23]
Nguyễn Tuấn Anh (2015) nghiên cứu khám nghiệm trên 100 nạn nhânchết do TNGT với 74% là nam giới, chủ yếu ở độ tuổi 16-25 (34%), 70% chết
do CTSN [24]
Nhìn chung CTSN do TNGT đã nhận được sự quan tâm rất lớn của cácnhà lâm sàng, xã hội học, thần kinh học và chẩn đoán hình ảnh nhưng chủ yếutrên nạn nhân còn sống hoặc những đối tượng bị TNGT nói chung Nhữngnghiên cứu về sự liên quan giữa tổn thương da đầu với tổn thương vỡ xương
sọ trên nạn nhân CTSN do TNGT còn hạn chế
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 217 nạn nhân tử vong do TNGTĐB cótổn thương vỡ xương sọ được giám định tại khoa Giải phẫu bệnh – Pháp Ybệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ 01/01/2012 đến 31/7/ 2017 đáp ứng cáctiêu chuẩn sau:
- Nạn nhân tử vong có tổn thương sọ não do TNGTĐB
- Đủ hồ sơ giám định Y pháp Các đối tượng nghiên cứu được khai thácđầy đủ thông tin về tuổi, giới, ngày giờ và nơi xảy ra tai nạn, có chụp ảnh dấuvết thương tích bên ngoài, tổn thương bên trong xét nghiệm bổ sung và có kếtluận giám định
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Nạn nhân không có hồ sơ bệnh án đầy đủ, thiếu các kết quả cận lâm sàng
- Nạn nhân không khai thác được hoàn cảnh tai nạn, chấn thương, tổnthương sọ não và các yếu tố thông tin cá nhân
- Các vụ việc còn đang trong quá trình điều tra
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả bao gồm
Nghiên cứu mô tả hồi cứu: Hồi cứu hồ sơ giám định từ 01/01/2012 đến31/8/ 2016 tại khoa Giải phẫu bệnh – Pháp y Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức.Thu thập thông tin theo mẫu bệnh án thiết kế trước
Nghiên cứu mô tả tiến cứu: Tiến hành giám định Y pháp các trườnghợp từ 01/9/2016 đến 31/7/2017
Trang 242.2.2 Phương pháp thu thập số liệu: Theo bệnh án nghiên cứu thiết kế sẵn 2.2.3 Các chỉ số nghiên cứu
2.2.3.1 Các chỉ số liên quan đến các yếu tố dịch tễ
- Phương tiện sử dụng: Căn cứ theo phân loại của Luật giao thông đường
bộ gồm: Xe cơ giới (Ô tô, mô tô, xe gắn máy), xe thô xơ (xe đạp, xích lô…)
- Nguyên nhân tử vong: Xác định nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tử vong
2.2.3.2 Các chỉ số liên quan đến tổn thương da đầu.
Loại hình tổn thương da đầu:
Trang 25- Vùng chẩm
- Vùng chẩm – Thái dương
- Nhiều vị trí
2.2.3.3 Các chỉ số liên quan đến vỡ xương sọ
Các chỉ số liên quan đến đặc điểm hình thái vỡ xương Dựa trên phânloại của Dimaio.V.D về cơ chế gây tổn thương xương sọ trong TNGT:
Trang 262.2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm: Tại khoa Giải phẫu bệnh- Pháp y bệnh viện HN Việt Đức
- Thời gian: Từ 01/09/2016 đến 31/07/2017
2.2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê Y học, sử dụng phần mềmSPSS 16.1
2.3 Cách thức tiến hành nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu hồi cứu
Hồi cứu hồ sơ giám định từ năm 01/01/2012 đến 31/8/ 2016 tại khoaGiải phẫu bệnh – Pháp y bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức Thu thập thông tintheo mẫu bệnh án thiết kế trước:
- Chọn những hồ sơ thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn
- Nghiên cứu cẩn thận ghi chép theo bệnh án nghiên cứu thiết kế sẵn
- Tổn thương ghi nhận từ bản giám định Y pháp
2.3.2 Nghiên cứu tiến cứu
Tham gia khám nghiệm mổ tử thi Y pháp các trường hợp từ 01/9/2016 đến31/7/2017 cùng bộ môn Y pháp và khoa Giải phẫu bệnh – Pháp y bệnh việnHữu Nghị Việt Đức
Khám nghiệm bên ngoài:
- Mô tả chụp ảnh ghi chép các đặc điểm nhân dạng của nạn nhân baogồm giới tính, độ tuổi, thể trạng, chiều cao cơ thể, vật dụng mang theo…
Trang 27- Mô tả chụp ảnh các dấu hiệu tổn thương bên ngoài.
Khám nghiệm bên trong: Tiến hành mổ tử thi rồi mô tả
2.3.2.3 Tổng hợp kết luận của bản giám định Y pháp
2.3.3 Nhập thông tin vào bệnh án nghiên cứu
- Sai số trong quá trình thu thập số liệu được khống chế bằng cách:
+ Phiếu nghiên cứu được thiết kế và thử nghiệm trước khi nghiên cứu.+ Người lấy mẫu đảm bảo lấy chính xác, tỉ mỉ những thông tin đượclưu lại trong hồ sơ bệnh án đúng theo yêu cầu nghiên cứu của đề tài.+ Số liệu được thu thập và xử lý nghiêm túc, chính xác
2.5 Đạo đức nghiên cứu.
- Luận văn được Hội đồng chấm đề cương luận văn của trường Đại học
Y Hà Nội thông qua
- Việc nghiên cứu được sự đồng ý của các bên liên quan
- Các thông tin cá nhân thu được từ nạn nhân và gia đình chỉ sử dụngvào mục đích nghiên cứu khoa học Các thông tin này đảm bảo được giữ bímật và chỉ được công bố khi có sự đồng ý của gia đình nạn nhân
- Nghiên cứu không làm ảnh hưởng đến kết quả giám định cũng như uytín của nạn nhân và gia đình bệnh nhân
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về giới của đối tượng nghiên cứu
Trang 293.1.2 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu.
Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 35,3 ±
15,7 ; với độ tuổi nhỏ nhất là 12 tuổi và cao nhất là 82 tuổi Trong đó:
- Nhóm tuổi 15-29 chiếm tỷ lệ cao nhất (48,38%).
- Tiếp đến là nhóm tuổi từ 30-44 tuổi (24,42%).
- Nhóm 45-59 tuổi chiếm 15,67%.
- Nhóm trên 60 tuổi chiếm 10,65%.
- Thấp nhất là nhóm tuổi dưới 15 tuổi với 0,92%.
Trang 303.1.3 Đặc điểm về nơi xảy ra tai nạn
Bảng 3.1 Đặc điểm về nơi xảy ra tai nạn
Nhận xét: Về đặc điểm nơi xảy ra tai nạn, nghiên cứu nhận thấy tai nạn
xảy ra ở nhiều nơi khác nhau, trong đó:
- Đường nội thành, chiếm tỷ lệ cao nhất với 58,06%.
- Tiếp đến là đường quốc lộ, liên tỉnh chiếm 25,81%.
- Đường thôn xã chiếm 9,68%.
- Thấp nhất là tai nạn đường sắt với 6,45%.
Trang 313.1.4 Đặc điểm về loại hình tai nạn giao thông.
Bảng 3.2 Đặc điểm về loại hình tai nạn giao thông
Nhận xét: Về đặc điểm loại hình tai nạn giao thông:
- Tai nạn ô tô – xe máy chiếm tỷ lệ cao nhất 42,86%.
- Sau đó là tai nạn tự ngã chiếm 15,67% và tai nạn xe máy – xe máy
chiếm 11,06%
- Loại hình tai nạn có tỷ lệ thấp nhất là ô tô – ô tô chiếm 0,46%
- Một số loại hình tai nạn khác chiếm 11,52%
- Số vụ tai nạn liên quan đến xe máy nhiều nhất chiếm tỷ lệ 76,5%,
liên quan đến ô tô chiếm 54,84%
3.1.5 Đặc điểm về thời gian xảy ra tai nạn
Bảng 3.3: Phân loại giờ tai nạn
Trang 32Nhận xét: Về đặc điểm thời gian xảy ra, nghiên cứu nhận thấy tai nạn xảy ra
ở tất cả các khung giờ, trong đó:
- Hay gặp nhất vào khung giờ 18h-0h với 36,41%.
- Tiếp theo là khoảng 6h-12h chiếm 24,42%.
- Khung giờ từ 12-18h chiếm 21,66%.
- Cuối cùng là khung giờ 0h-6h với 17,51%.
Trang 333.2 Đặc điểm tổn thương da đầu và tổn thương xương sọ.
3.2.1 Đặc điểm tổn thương da đầu
96.77 3.23
có không
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ đối tượng có tổn thương da đầu Nhận xét: Trong 217 đối tượng nghiên cứu đa số có tổn thương da đầu
(96,77%), chỉ có 7 nạn nhân không có tổn thương da đầu chiếm 3,23%
3.2.1.1 Đặc điểm hình thái tổn thương da đầu.
Bảng 3.4 Đặc điểm hình thái tổn thương da đầu
Trang 34Nhận xét: Trong số 210 các nạn nhân có tổn thương da đầu:
- Đa số là tổn thương rách, thủng da với 62,67%.
- Tiếp theo là sây sát, bầm tím, tụ máu da chiếm 52,53%.
Nhận xét: Về vị trí các tổn thương da đầu, nghiên cứu nhận thấy:
- Đa số các nạn nhân có tổn thương diện rộng (47,47%) và tổn thươngvùng trán đỉnh (41,47%)
- Tiếp theo là các tổn thương vùng trán (26,27%)
- Các tổn thương ở vùng đỉnh, vùng chẩm thái dương và vùng đỉnh chẩm
là ít nhất ( tỷ lệ lần lượt là 0,46%, 1,84% và 2,3%)
3.2.2 Đặc điểm tổn thương vỡ xương sọ
Trang 358.76
có
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ đối tượng có tổn thương vỡ xương sọ
Nhận xét: Hầu hết các nạn nhân đều có tổn thương vỡ xương sọ với
91,24%, chỉ có khoảng 8,76% nạn nhân là không có tổn thương vỡ xương sọ
3.2.2.1 Đặc điểm hình thái vỡ xương sọ.
Bảng 3.6 Đặc điểm hình thái vỡ xương sọ.
Nhận xét: Trong số 198 nạn nhân có vỡ xương sọ:
- Đa số các nạn nhân có đường vỡ phức tạp (32,25%).
Trang 36- Sau đó là hình thái vỡ vụn có nhiều đường vỡ (23,04%).
- Tiếp theo là vỡ theo đường thẳng chiếm 19,35%.
Trang 37Nhận xét: Về đặc điểm vị trí vỡ xương vòm sọ, nghiên cứu nhận thấy:
- Vị trí vỡ xương trán chiếm tỷ lệ cao nhất (24,88%)
- Tiếp sau đó là vỡ xương thái dương (11,98%).
Trang 383.2.2.4.Phân loại đường vỡ nền sọ
Bảng 3.8 Phân loại đường vỡ nền sọ
Nhận xét: Về phân loại đường vỡ nền sọ, nghiên cứu nhận thấy:
- Vỡ nền sọ phức tạp chiếm tỷ lệ cao nhất với 29,49%.
- Tiếp theo là đường vỡ nền sọ loại C chiếm tỷ lệ 16,59%.
- Đường vỡ nền sọ loại B chiếm 12,90%.
- Đường vỡ loại E chiếm 12.44%.
- Đường vỡ loại D chiếm 1,38%.
- Không có trường hợp nào vỡ loại A và loại F.
Trang 393.3 Mối liên quan giữa tổn thương da đầu với tổn thương vỡ xương sọ
trên nạn nhân bị CTSN do TNGTĐB.
3.3.1 Tổn thương xương sọ theo hình thái tổn thương da đầu.
Bảng 3.9 Tổn thương xương sọ theo hình thái tổn thương da đầu
Hình thái tổn thương da đầu
Nhận xét: Hầu hết ở các nạn nhân TNGTĐB có tổn thương da đầu thì
thường có tổn thương xương sọ, trong đó:
- Tổn thương mất da, rách và thủng da có tỷ lệ tổn thương xương sọ cao
nhất (96,32%-100%)
- Tiếp sau đó là các tổn thương sây sát da, bầm tím, tụ máu và lóc da
(khoảng 88%)