Với những lý do trên, để góp phần cung cấp thông tin và giải pháp giảiquyết vấn đề răng miệng cho NCT ở Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung,trên cở sở đề tài cấp bộ về thực trạng bệnh
Trang 1NGUYỄN THÚY NGA
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG MẤT RĂNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HÀ NỘI NĂM 2015 VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HÌNH THÁO LẮP TỪNG PHẦN
NHỰA ACRYLIC
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Hà Nội - 2016
Trang 2NGUYỄN THÚY NGA
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG MẤT RĂNG Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI HÀ NỘI NĂM 2015 VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHỤC HÌNH THÁO LẮP TỪNG PHẦN
NHỰA ACRYLIC
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Trương Mạnh Dũng
Hà Nội - 2016
Trang 3HG : Hàm giả
NCT : Người cao tuổi
TPHT : Từng phần hàm trênTPHD : Từng phần hàm dưới
Trang 4Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục các hình
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đại cương về người cao tuổi 3
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi 3
1.1.2 Một số đặc điểm cơ bản người cao tuổi 5
1.2 Mất răng ở người cao tuổi 6
1.2.1 Đặc điểm sinh lý, bệnh lý răng miệng người cao tuổi 6
1.2.2 Phân loại, nguyên nhân, hâu quả mất răng 10
1.2.3 Tình hình mất răng ở người cao tuổi và nhu cầu phục hình 15
1.3 Các phương pháp phục hình mất răng từng phần ở người cao tuổi 19
1.3.1 Hàm tháo lắp bằng nhựa thường 19
1.3.2 Phục hình bằng nhựa dẻo 21
1.3.3 Hàm khung 21
1.3.4 Cầu răng 22
1.3.5 Cấy ghép răng 24
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc làm phục hình răng tháo lắp 25
1.4.1 Hình thái giải phẫu hàm trên 25
1.4.2 Hình thái giải phẫu hàm dưới 26
1.4.3 Lưỡi và yếu tố thần kinh, cơ 27
1.4.4 Nước bọt và tình trạng niêm mạc miệng 27
Trang 51.5.1 Yếu tố giúp hàm giả ổn định theo chiều đứng dọc 28
1.5.2 Yếu tố hàm giả ổn định theo chiều ngang 28
1.5.3 Yếu tố hàm giả ổn định theo chiều trước – sau 29
1.5.4 Khớp cắn thăng bằng: 29
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.1.1 Đối tượng 34
2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 34
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang 34
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng 37
2.2.3 Các biến số nghiên cứu và chỉ số nghiên cứu 47
2.2.4 Công cụ thu thập thông tin 48
2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin 48
2.2.6 Xử lý số liệu 48
2.2.7 Hạn chế sai số trong nghiên cứu 48
2.2.8 Đạo đức nghiên cứu 49
2.2.9 Thời gian nghiên cứu 49
Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
3.1 Thực trạng mất răng trên đối tượng nghiên cứu mô tả cắt ngang tại hà nội năm 2015 50
3.1.1 Tình trạng mất răng của đối tượng nghiên cứu tại thời điểm điều tra 50
3.1.2 Nguyên nhân mất răng của đối tượng nghiên cứu 54
3.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mất răng của đối tượng nghiên cứu 54
3.1.4 Nhu cầu phục hình răng 56
3.2 Kết quả phục hình tháo lắp từng phần bằng hàm giả nhựa acrylic 59
Trang 63.2.3 Kết quả sau 01 tháng sử dụng hàm giả 62
3.2.4 Kết quả sau 03 tháng sử dụng hàm giả 64
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 66
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 66
4.2 Tỷ lệ mất răng ở người cao tuổi 66
4.3 Nhu cầu điều trị 66
4.4 Qui trình phục hình 66
4.5 Kết quả phục hình tháo lắp từng phần nhựa Acrylic 66
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 67
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 1.1 Tỷ lệ dân số người cao tuổi Việt Nam 5
Bảng 1.2 Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT qua một số nghiên cứu tại Việt nam 10
Bảng 3.1 Một số thông tin cơ bản về đối tượng điều tra 50
Bảng 3.2 Phân bố tình trạng hiện mất răng theo nhóm tuổi 51
Bảng 3.3 Phân bố tình trạng mất răng theo giới tính 52
Bảng 3.4 Số răng trung bình bị mất phân theo nhóm tuổi 52
Bảng 3.5 Số răng trung bình bị mất phân theo giới tính 52
Bảng 3.6 Số răng trung bình bị mất phân theo nhóm tuổi và giới tính 53
Bảng 3.7 Số răng trung bình bị mất chia theo loại răng và hàm răng 53
Bảng 3.8 Phân bố đối tượng mất răng theo thói quen hút thuốc lá 54
Bảng 3.9 Phân bố đối tượng mất răng theo bệnh tiểu đường 55
Bảng 3.10 Phân bố đối tượng mất răng theo số lần chải răng 55
Bảng 3.11 Phân bố đối tượng mất răng theo sâu răng 55
Bảng 3.12 Phân bố đối tượng mất răng theo chảy máu lợi 56
Bảng 3.13 Nhu cầu phục hình chia theo đặc trưng đối tượng nghiên cứu 57
Bảng 3.14 Nhu cầu phục hình răng theo hàm và theo kiểu phục hình 58
Bảng 3.15 Nhu cầu phục hình răng theo kiểu phục hình và đặc điểm mất răng .58 Bảng 3.16 Lý do phục hình răng chia theo đặc trưng cá nhân 59
Bảng 3.17 Một số thông tin cá nhân đối tượng nghiên cứu 59
Bảng 3.18 Đặc điểm lâm sàng phanh môi, phanh má hàm trên 60
Bảng 3.19 Phanh môi, dây chằng, phanh lưỡi hàm dưới 60
Bảng 3.20 Đặc điểm niêm mạc sống hàm 60
Bảng 3.21 Sự bám dính của hàm giả khi nhấc khỏi sống hàm 61
Bảng 3.22 Sự bám dính của hàm giả khi phát âm 61
Bảng 3.23 Hàm giả dưới khi lưỡi hoạt động 61
Trang 8Bảng 3.26 Khả năng nhai của bệnh nhân bằng hàm giả 63
Bảng 3.27 Khả năng phát âm của bệnh nhân bằng hàm giả 63
Bảng 3.28 Mức độ hài lòng của bệnh nhân 63
Bảng 3.29 Đánh giá chung sau 01 tháng 64
Bảng 3.30 Ảnh hưởng của HG đến niêm mạc sống hàm 64
Bảng 3.31 Khả năng nhai của bệnh nhân bằng hàm giả 64
Bảng 3.32 Khả năng phát âm của bệnh nhân bằng hàm giả 65
Bảng 3.33 Mức độ hài lòng của bệnh nhân 65
Bảng 3.34 Đánh giá chung sau 03 tháng 65
Trang 9Hình 1.1 Răng mòn, sứt mẻ ở rìa cắn, tụt lợi, tiêu xương 7
Hình 1.2 Tiêu cổ chân răng, mất răng 8
Hình 1.3 Hình ảnh sâu nhiều răng, rạn vỡ men răng 9
Hình 1.4 Các loại mất răng theo Kennedy - Applegate 13
Hình 1.5 Hậu quả của mất răng 14
Hình 3.1 Tình trạng hiện mất răng của đối tượng nghiên cứu 51
Hình 3.2 Nguyên nhân mất răng 54
Hình 3.3 Nhu cầu phục hình răng theo nhóm tuổi 56
Hình 3.4 Nhu cầu phục hình răng theo đặc điểm mất răng 57
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bệnh về răng miệng nói chung và mất răng nói riêng, đang là vấn đềquan tâm lớn trên thế giới cũng như ở nước ta do tính phổ biến và những hệlụi của nó Theo kết quả điều tra của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1999,
tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 65-74 dao động từ 12,8 - 69,6%; số răng mất trungbình từ 3,8 - 15,1 răng [1] Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra của NguyễnVăn Bài năm 1994 ở miền Bắc, tỷ lệ mất răng nói chung là 42,1% và nhu cầuphục hình răng là 59,79%, đặc biệt ở nhóm tuổi trên 65 có tỷ lệ mất răng rấtcao là 95,21%; nhu cầu phục hình là 90,43% [2]
Một điều tra khác năm 2007 tại Hà Nội, tỷ lệ mất răng nói chung là35,3%; nhu cầu phục hình 33,4% Mất răng để lại những hậu quả nặng nề,không chỉ tại chỗ mà còn ảnh hưởng đến toàn thân, làm giảm tuổi thọ và chấtlượng cuộc sống của mỗi cá nhân Chính vì vậy, năm 1986, Tổ chức Y tế thếgiới (WHO) đã xếp bệnh răng miệng là mối quan tâm thứ 3 đối với sức khỏeloài người sau ung thư và các bệnh về tim mạch Theo quy luật của thời gian,với người già thì tuổi càng cao sức khỏe càng giảm, bệnh tật càng nhiều, đặcbiệt là những bệnh tật về răng miệng Trong đó mất răng và hậu quả của nó tỷ
lệ thuận với tuổi tác
Giảm tỷ lệ mất răng và điều trị phục hình răng một cách hiệu quả là đãgiải quyết một vấn đề rất căn bản để duy trì sức khỏe và cải thiện chất lượngcuộc sống cho con người nhất là NCT Do những thành tựu phát triển kinh tế
và dịch vụ xã hội, tuổi thọ trung bình tăng, mức sinh giảm dẫn đến dân số giàtăng lên nhanh chóng trên toàn thế giới Xu hướng già hoá dân số kéo theovấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho một số lượng đông đảo NCT đang làmột thách thức lớn đối với toàn nhân loại trong thế kỷ 21 Tương lai của mỗiquốc gia và toàn nhân loại đang gắn liền với sức khoẻ của những NCT
Việt Nam là một nước đang phát triển, mặc dù hiện tại cấu trúc dân sốvẫn thuộc loại trẻ, song số người cao tuổi đang có xu hướng tăng nhanh Tỷ lệ
Trang 11NCT năm 1989 là 7,2%, năm 2003 tăng thêm 1,45% và đến năm 2009 theothống kê của Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam, người cao tuổi ởnước ta là 8,2 triệu người(chiếm 9,5% dân số) Vấn đề chăm sóc sức khoẻngười cao tuổi không phải là mới, chính sách đã khá cụ thể, song dường nhưviệc triển khai chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Hà Nội là Thủ đô của cả nước, với dân số gần 9 triệu người, trong tươnglai gần sẽ có hàng triệu NCT sinh sống trên địa bàn Chăm sóc đời sống vậtchất và tinh thần cho NCT, trong đó chăm sóc sức khỏe là vấn đề cốt lõi, đang
là trách nhiệm, là mối quan tâm hàng đầu của Đảng bộ và Chính quyền Thànhphố Mặc dù trình độ dân trí khá cao, điều kiện kinh tế và tiếp cận các dịch vụchăm sóc y tế khá thuận tiện, song vấn đề chăm sóc sức khỏe, đặc biệt chămsóc sức khỏe răng miệng cho NCT ở Thủ đô còn nhiều hạn chế Việc cập nhậtthông tin còn chưa thường xuyên, bức tranh chung về bệnh răng miệng và nhucầu điều trị còn phiến diện và chưa rõ ràng, còn thiếu các giải pháp điều trịphù hợp cho từng nhóm đối tượng
Với những lý do trên, để góp phần cung cấp thông tin và giải pháp giảiquyết vấn đề răng miệng cho NCT ở Thủ đô nói riêng và cả nước nói chung,trên cở sở đề tài cấp bộ về thực trạng bệnh răng miệng người cao tuổi trên 8tỉnh và thành phố tại Việt Nam, trong đó có Hà Nội do Viện Răng - Hàm -
Mặt tiến hành từ năm 2015, tác giả thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng
mất răng ở người cao tuổi tại Hà Nội năm 2015 và đánh giá kết quả phục hình tháo lắp từng phần nhựa Acrylic”, với các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng mất răng và nhu cầu phục hình ở người cao tuổitại Hà Nội năm 2015
2 Đánh giá kết quả phục hình tháo lắp từng phần nhựa Acrylic trênngười cao tuổi
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
Pháp lệnh người cao tuổi ở Việt Nam (số 23/2000/PL-UBTVQH, rangày 06/04/2000) nhận định: "người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng,giáo dục con cháu về nhân cách, có vai trò quan trọng trong gia đình và xãhội" Xong kết quả của cuộc điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc tiến hànhnăm 2002 thấy số răng mất của người trên 45 tuổi là 6,6 cao gấp 3 lần so với
số răng sâu [3] Vì vậy chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần phải có sựquan tâm của toàn xã hội, của chính phủ nhiều nước trên thế giới cũng nhưViệt Nam
1.1 Đại cương về người cao tuổi.
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi.
Vào năm 1982 dựa trên cơ sở nghiên cứu y sinh học và xã hội học, Hộinghị quốc tế về người cao tuổi tại Viên – Áo đã qui định đó là những người
từ 60 tuổi trở lên ( 60 tuổi) không phân biệt giới tính [4].
1.1.1.1 Trên thế giới
Tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng từ 8,5% vào năm 1950 lên 13,7% vào năm
2025 và đến năm đó trung bình cứ 7 người dân thì có 1 NCT trên phạm vitoàn thế giới Quĩ dân số Liên Hợp Quốc đã thống kê đến giữa năm 1995, sốNCT trên thế giới có khoảng 542,7 triệu người và ước tính năm 2025 là 1,121
tỷ người [5]
Trên thế giới nhóm nghiên cứu Gerontology cho biết người dân tại thànhphố New York đạt tới tuổi thọ là 116 tuổi, người dân nước Pháp có tuổi thọ cao là 122 tuổi và 164 ngày
Trang 13Tại Nhật tuổi thọ trung bình là 74,8 với nam và 80,5 với nữ; Thụy Điển73,8 với nam và 79,9 với nữ, Australia (Nam 72,1- Nữ 78,7), Canada (Nam72,l - nữ 79,0), Đức (Nam 70,5 - nữ 77,l), [5].
1.1.1.2 Tại Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển, số NCT đang có xu hướng tăngnhanh Theo số liệu của 03 cuộc Tổng điều tra dân số của Tổng cục thống kêViệt Nam: trong vòng 20 năm trở lại đây, số lượng người cao tuổi đã tăngkhoảng 2 lần
Năm 1950 số NCT là 1,95 triệu chiếm 6,5% (tuổi thọ trung bình là 32) Năm 1970 số NCT là 2,84 triệu (6,8%)
Tuổi thọ trung bình năm 1999 là 67,4, tuổi thọ trung bình hiện nay là
72-73 tuổi, ước tính khoảng 30 năm tới (1999-2029) nam là 72,6 và nữ là 78,6
Số lượng tăng từ 6,2 tới trên 16,5 triệu người chiếm 17,8% dân số [6], [7]
Tại Việt Nam người cao tuổi nhất là 123 tuổi
Dân số Việt Nam có một đặc điểm là quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, xongtuổi thọ bình quân và tỷ lệ người 65 là cao so với nhiều nước trong khu vực
và trên thế giới So với tỷ lệ tăng dân số chung thì tỷ lệ người cao tuổi ViệtNam tăng gần 4 lần Theo các quan niệm của người phương Đông và phươngTây đối với người cao tuổi cần khích lệ người già sống lâu sống vui sốngkhỏe, với truyền thống và phong tục tập quán văn hoá phương Đông, quan hệgia đình gắn bó, người cao tuổi luôn được quan tâm chăm sóc và kính trọng Trong các năm gần đây (2010-2012), trung bình mỗi năm chỉ số già hoádân số của Việt Nam tăng thêm 2,4%, từ năm 2009 đến 2019 ước tính tỷ lệ NCTtăng lên 3,09% [8] Như vậy chỉ trong vòng 10 năm tới Việt Nam sẽ phải đốimặt với các khó khăn do việc "già hóa dân số" mang lại
Trang 14Bảng 1.1 Tỷ lệ dân số người cao tuổi Việt Nam (1979 đến 2049) [8]
1.1.2 Một số đặc điểm cơ bản người cao tuổi
Thay đổi chuyển hóa cơ bản và chuyển hóa glucoza có thể xảy ra trên
NCT do khối cơ bắp giảm, cấu tạo khối cơ bắp của cơ thể thay đổi nhanh chóngkhi tuổi càng cao lên Khối cơ giảm dẫn đến sự linh hoạt và sức khỏe của ngườigià giảm, người già thường mất cân bằng dễ ngã gây gãy chân tay và gãy răng
Ở người cao tuổi, quá trình tổng hợp vitamin D ở da giảm trong khilượng vitamin D ăn vào không đủ Đồng thời, do thời gian tiếp xúc với nắng ở người cao tuổi giảm dẫn đến loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương
Theo năm tháng của cuộc đời, kích thước của một số tổ chức miễn dịchdần dần nhỏ đi Chức năng miễn dịch ở limpho T giảm dần khi tuổi đời cao lên
do interleukin II sản xuất không đủ, phản ứng của tế bào miễn dịch do đó kém
Trang 15linh hoạt Các chất dinh dưỡng được ăn vào có tác dụng khá nhạy cảm đối với
hệ thần kinh trung ương, đồng thời, hệ thần kinh cũng có tác động rõ rệt đếnlượng thức ăn mà người cao tuổi tiêu thụ Nhiều nghiên cứu đã chứng minhrằng, chức năng khứu giác và vị giác giảm xuống ở người già, điều này có thể gây ảnh hưởng đến hành vi ăn uống
Người cao tuổi thường bị các bệnh như:
- Bệnh tim mạch: Thường gặp cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tănghuyết áp, tai biến mạch máu não, tâm phế mạn, rối loạn nhịp tim
- Bệnh hô hấp: Viêm phế quản mạn, hen phế quản
- Bệnh hệ tiêu hoá: Ung thư gan xơ gan, viêm loét dạ dầy - tá tràng
- Bệnh thận và tiết niệu: Viêm thận mạn, sỏi tiết niệu, u xơ tiền liệt tuyến
- Bệnh nội tiết chuyển hóa: Đái tháo đường, suy giáp, suy sinh dục,tăng chlesterol máu, tăng acid uric máu, suy vỏ thượng thận
- Bệnh tâm thần: Trầm cảm, hoang tưởng, sa sút trí tuệ kiểu Alzheimen
- Bệnh thần kinh: Bệnh parkinson, rối loạn tuần hoàn não, viêm đa dâythần kinh, chèn ép dây thần kinh do thoái hóa cột sống
Khi tuổi càng cao thì sức đề kháng càng giảm, bệnh toàn thân xuấthiện và sức khỏe răng miệng bị ảnh hưởng càng lớn Tình trạng vùng răngmiệng cũng nằm trong hệ thống những biến đổi suy thoái nên dễ bị nhiễmtrùng nhất là khi NCT có bệnh toàn thân đi kèm như bệnh đái đường [10]
1.2 Mất răng ở người cao tuổi
1.2.1 Đặc điểm sinh lý, bệnh lý răng miệng người cao tuổi
1.2.1.1 Đặc điểm sinh lý ở vùng răng miệng NCT
Theo các nghiên cứu [11], [12], [13] cho thấy cùng với quá trình lão hóarăng NCT dễ bị tổn thương do biến đổi về chuyển hoá, trao đổi chất kém ở men,ngà bị xơ hoá (các ống Tome bị vôi hoá) hậu quả là răng bị mòn lớp men ởngoài, bị sứt mẻ ở mặt nhai và rìa cắn, răng giòn dễ bị gãy vỡ, sâu răng
Trang 16Hình 1.1 Răng mòn, sứt mẻ ở rìa cắn, tụt lợi, tiêu xương
Vấn đề điều trị nội nha và phục hồi gặp nhiều khó khăn vì biến đổi ở tuỷrăng Sự tiếp xúc giữa các răng, chiều dài trước – sau của cung răng thay đổi.Nhổ răng sẽ khó hơn vì độ dày của lớp xương răng tăng lên, chân răngthì phì đại hình dùi trống
Các biến đổi theo tuổi làm cho mô liên kết lợi giảm khả năng chống lạicác tác động lý học khi đó lợi bị teo và co gây hở chân răng, buốt răng Biểu
mô phủ và mô liên kết NCT giảm gắn kết, giảm tính đàn hồi, tăng sự nhạycảm, chịu lực kém, dễ bị tổn thương và lâu lành
Hệ thống dây chằng quanh răng giảm kèm xương ổ răng tiêu xươngkhiến răng lung lay
Tuyến nước bọt có hiện tượng giảm tiết Nước bọt ít làm giảm khả năngđệm và toan hoá dễ gây sâu răng và tăng nguy cơ viêm nhiễm ở răng miệngNCT Theo Chistensen J, Douglass C.W, Barnett N.A, Ketterl W, Mallet J.P,Nitzan D.W và nhiều nghiên cứu khác [14], [15], [16], [17], [18]
Như vậy vùng răng miệng có biến đổi theo xu hướng thoái triển từ từ,tạo ra những rối loạn không hồi phục cả về hình thái và chức năng
1.2.1.2 Đặc điểm bệnh lý răng miệng ở người cao tuổi
Bệnh lý răng miệng của NCT như sâu răng, viêm quanh răng và mấtrăng rất cao
- Tổn thương mô cứng hay gặp nhất là hiện tượng mòn răng, gẫy vỡ thânrăng, mòn và tiêu cổ chân răng hình chêm [19]
Trang 17
Hình 1.2 Tiêu cổ chân răng, mất răng
- Bệnh lý ở tuỷ răng thường gặp là thể viêm tuỷ mạn và khi đó biểu hiệnlâm sàng thường kín đáo [20], [21], [22]
- Bệnh ở niêm mạc, dưới niêm mạc và cơ là: các tổn thương dạng tiềnung thư (bạch sản chiếm tỷ lệ cao nhất, liken phẳng, hồng sản với khoảng50% là ung thư tại chỗ hay xâm lấn và một số tình trạng khác…) Niêm mạcmiệng bị tổn thương, xuất hiện chứng khô miệng ở những người có bệnh tạituyến hoặc do dùng nhiều loại thuốc có tác dụng phụ gây giảm tiết hoặckhông có nước bọt từ đó tăng nguy cơ sâu răng Ở những người già manghàm giả có dấu hiệu viêm nấm candida do thể trạng yếu, suy giảm miễn dịch.Những tổn thương sừng hoá, teo đét niêm mạc miệng, xơ hoá dưới niêm mạc
ở người ăn trầu [23], [24], đặc biệt là những tổn thương gây ung thư niêmmạc miệng được phát hiện ở NCT
1.2.1.2.1 Bệnh sâu răng
* Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh sâu răng ở người cao tuổi
Sâu răng ở NCT thường tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng nghèonàn, đáy lỗ sâu có màu nâu sẫm, men bờ lỗ sâu sứt mẻ và ít ê buốt
Trang 18Hình 1.3 Hình ảnh sâu nhiều răng, rạn vỡ men răng
Người cao tuổi thường có nhiều chân răng trong miệng (do sâu nhiềumặt, sâu vỡ hết thân răng), có hình ảnh tổn thương sâu cộng với sự rạn nứt,gẫy vỡ ở men ngà tích luỹ dần theo năm tháng
* Một số đặc điểm về bệnh căn, bệnh sinh và yếu tố nguy cơ
Có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân sâu răng [25] Các giải thích củaKey từ đầu thế kỷ XX, của White năm 1975 đã thể hiện sự tiếp cận sâu sắc từquan điểm tới thực nghiệm về căn bệnh trong đó có vai trò của các yếu tố:nước bọt, độ pH, Fluor, vi khuẩn, chất ăn uống có đường cùng một số yếu tốkhác tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển
* Tình hình nghiên cứu bệnh sâu răng ở người cao tuổi
Để đánh giá tình trạng sâu răng, các nghiên cứu thường tính đến tỷ lệngười mắc và chỉ số SMT trung bình mỗi người trong cộng đồng Sâu răngtrước đây thường được cho là bệnh của trẻ em và của tuổi vị thành niên(Dunning 1979) Kết quả là nhóm đích trong chương trình phòng sâu răng ởcác quốc gia đã được triển khai tại các trường tiểu học Tuy nhiên, ở nhiềunước chưa phát triển với mức độ mắc sâu răng rất thấp, những thông tin vềbệnh ở trẻ em vẫn chưa đủ để mô tả về tình trạng sâu răng của cộng đồng(Luan W.M và Cs 1989)
Trang 19Bảng 1.2 Tình hình sâu, mất, trám và chỉ số SMT qua một số nghiên cứu
tại Việt nam
Tại Việt Nam, một nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ ratình trạng sâu răng ở nhóm người ≥ 60 tại các nhà dưỡng lão có tỷ lệ mắc tới96,8% với số răng sâu chưa được trám là 7,9 và chỉ số SMT là 18,1 [29]
Như vậy NCT ở các quốc gia có tỷ lệ răng sâu, mất răng do sâu và nhất
là răng sâu chưa được trám là rất cao [8], [27]
1.2.1.2.2 Bệnh quanh răng
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh quanh răng gặp phổ biến ở mọi quốcgia và hay gặp nhất là bệnh viêm lợi và viêm quanh răng Đa số lợi viêm mạntính và tiến triển thành viêm quanh răng do vi khuẩn độc lực mạnh hoặc cóphản ứng bất thường của túc chủ [26] Và đây là nguyên nhân chính dẫn đếnmất răng
1.2.2 Phân loại, nguyên nhân, hâu quả mất răng.
1.2.2.1 Phân loại mất răng
Mất răng được phân làm hai loại chính: đó là mất răng từng phần và mấtrăng toàn bộ
Phân loại mất răng :
Trang 20- Cho phép dễ nhận ra ngay loại mất răng khi khám bệnh nhân.
- Cho phép biết được loại mất răng nào có thể làm hàm giả được nâng đỡtrên răng hoặc hàm giả vừa được nâng đỡ trên răng vừa được nâng đỡ trên môxương niêm mạc
- Định hướng được kiểu thiết kế hàm giả
- Được nhiều người chấp nhận
Có nhiều cách phân loại mất răng của nhiều tác giả khác nhau như:Kennedy, Applegate, Kourliandsky, Bailyn, Skinner Trong số đó, cách phânloại mất răng của Kennedy được nhiều người sử dụng nhất
1.2.2.1.1 Phân loại mất răng của Kennedy
Edward Kennedy đưa ra cách phân loại mất răng từng phần đầu tiên vàonăm 1923 Ông phân ra làm 4 loại mất răng từng phần:
- Loại I: mất răng phía sau hai bên không còn răng giới hạn xa
- Loại II: mất răng phía sau một bên không còn răng giới hạn xa
- Loại III: mất răng phía sau một bên còn răng giới hạn xa
- Loại IV: mất răng phía trước (răng cửa) đi qua đường giữa
Ưu điểm của cách phân loại mất răng của Kennedy [30]
- Dễ nhận biết loại mất răng
- Gợi ý được kiểu thiết kế hàm giả cho từng loại mất răng
1.2.2.1.2 Phân loại mất răng từng phần theo Kennedy- Applegate
Cách phân loại mất răng của Kennedy (1960) được Applegate bổ sungmột số nguyên tắc sau:
- Phân loại mất răng chỉ được tiến hành sau khi đó nhổ các răng có chỉđịnh nhổ răng
- Nếu mất răng số 8 và không cần làm răng giả thì không tính đến trongphân loại
Trang 21- Nếu còn răng số 8 mà được dùng như răng trụ thì răng 8 này được tínhtrong phân loại.
- Nếu răng số 7 mất mà không cần làm răng giả (ví dụ răng số 7 đối diệncũng mất mà không làm răng giả) thì không được tính trong phân loại
- Vùng mất răng phía sau luôn được chọn để quy định loại mất răng
- Những khoảng mất răng khác được gọi là biến thể và được đánh số
- Độ rộng của khoảng mất răng biến thể không được tính đến trong phânloại mà chỉ tính số khoảng mất răng có thêm
- Mất răng loại IV không có biến thể
1.2.2.1.3 Phân loại mất răng từng phần của Applegate [30]
- Loại I: mất răng sau hai bên
- Loại II: mất răng sau một bên
- Loại III: mất răng sau một bên, có răng giới hạn ở hai đầu Nhưng cácrăng trụ này không thể gánh chịu toàn thể lực nhai đè lên hàm giả do:
+ Khoảng mất răng dài;
+ Chân răng trụ có hình dáng và chiều dài không phù hợp;
+ Xương nâng đỡ bị tiêu nhiều
- Loại IV: mất răng phía trước, đoạn mất răng đi ngang đường giữa cungrăng, giới hạn hai đầu bằng hai răng bên phải và bên trái của cung hàm Loạinày có thể mất ít nhất từ hai răng đến nhiều nhất chỉ còn lại hai răng hàm ởhai bên
- Loại V: mất răng có giới hạn hai đầu trong đó giới hạn phía trước làrăng cửa bên yếu với chân răng ngắn và nhỏ
- Loại VI: mất răng có giới hạn hai đầu với khoảng mất răng ngắn, chiềudài và hình dáng chân răng trụ thích hợp cho nâng đỡ, sống hàm cao
Trang 22Hình 1.4 Các loại mất răng theo Kennedy - Applegate [30]
Ý nghĩa : Phân loại mất răng theo Kennedy – Applegate đã đưa ra được chỉ định điều trị phục hình củ thể cho từng trường hợp:
- Mất răng loại I, II, III, V cần làm hàm giả tháo lắp
- Mất răng loại VI làm được răng giả cố định
- Mất răng loại IV có thể làm răng giả cố định hoặc làm hàm giả tháo lắp
1.2.2.1.4 Phân loại mất răng của Kourliandsky [30]
Tác giả dựa trên yêu cầu xác định khớp cắn trung tâm (mặt phẳng cắn xác định với 3 điểm chạm của hai hàm)
- Loại I: mất răng từng phần, hai hàm còn 3 điểm chạm
- Loại II: mất răng từng phần, hai hàm còn 1 - 2 điểm chạm
- Loại III: mất răng từng phần, hai hàm không có răng nào đối diện nhau
- Loại IV: mất răng toàn bộ
Sự phân loại mất răng của Kourliandsky có ý nghĩa gợi ý trong đo cắn khi làm hàm giả
Trang 231.2.2.2 Nguyên nhân mất răng:
Răng bị mất do nhiều nguyên nhân khác nhau như tổn thương bệnh lý,
do chấn thương, tổn thương ở tổ chức cứng của răng (sâu, tiêu cổ hình V, )
và ở vùng quanh răng Cùng với đó là một số yếu tố nguy cơ gây mất răngnhư kiến thức hay thói quen vệ sinh răng miệng (số lần chải răng trong mộtngày, số lần lấy cao răng, thói quen sử dụng chỉ tơ nha khoa…)
Hiện nay bệnh nha chu ở NCT vẫn còn mắc cao hơn người trẻ Theo kếtquả điều tra sức khỏe răng miệng Việt Nam năm 2002, nhu cầu điều trị quanhrăng cộng đồng (CPITN) trên 45 tuổi là 98,95% [31] Nh vậy, tỷ lệ bệnh vùngquanh răng ở nước ta còn rất cao và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự mất
răng.Về sâu răng, do tiến bộ của điều trị bảo tồn, số răng còn lại trong khoangmiệng người cao tuổi tăng dần xong sâu răng là nguyên nhân chính dẫn tới mất răng [25]
1.2.2.3 Hậu quả của mất răng [32]
Phát âm thay đổi
MÊt R¨ng
Khớp cắn biến
dạng
Ảnh hưởng thẩm mỹ
Các răng còn lại
xô lệch
Kích thước sống hàm giảm
Thay đổi về tâm lý, mặc cảm,mất tự tin giao tiếp
Trang 24Sơ đồ trên cho thấy khi mất răng thì có rất nhiều hậu quả như:
- Đường cong sinh lý Spee của khớp cắn bị biến dạng
- Kích thước chiều cao và chiều rộng của sống hàm giảm, trường hợpnặng sống hàm hàm trên gần như phẳng với vòm hầu, sống hàm dưới ở ngangbằng với sàn miệng
- Biến đổi ở xương ổ răng: Nơi mất răng xương ổ răng ở đó sẽ bị tiêu,mức độ tiêu nhiều hay ít tùy thuộc vào nguyên nhân mất răng, thời gian vàbệnh cảnh mất răng
- Ảnh hưởng tới chức năng:
Sức nhai giảm xuống, tác dụng nghiền nhỏ thức ăn bị hạn chế do thiếu răng,nói không rõ ràng, tiêu hóa cũng bị rối loạn do thức ăn không được nhai nhỏ
- Ảnh hưởng thẩm mỹ của khuôn mặt, các cơ nhai, cơ bám da mặt thoáihoá, mất trương lực dẫn đến những thay đổi ở vùng mặt, miệng: má xệ xuống,hóp lại, rãnh múi - má rõ nét hơn, mặt mất cân xứng hai bên, môi xập xuống,bĩu ra, khoé môi cụp xuống
- Phát âm thay đổi, hô hấp bị ảnh hưởng [32]
- Thay đổi ở mặt và tâm lý: Má xệ xuống, hóp lại, kích thước dọc thayđổi, khuôn măt trông già hơn, bệnh nhân mặc cảm, mất tự tin khi giao tiếp
- Các răng còn lại bị xô lệch, chồi lên, thòng xuống, di lệch
1.2.3 Tình hình mất răng ở người cao tuổi và nhu cầu phục hình:
1.2.3.1 Trên thế giới
nước châu Âu tỷ lệ mất răng lứa tuổi 65-74 dao động từ 12,8 - 69,6% và sốrăng mất trung bình từ 3,8 - 15,1 răng [33]
Tại Hội nghị Nha khoa Na uy (2007), Ambjornsen đã báo cáo về tìnhtrạng mất răng ở Na uy như sau: trong những năm 1970, 1980, tỷ lệ mất răng
ở lứa tuổi trên 65 khoảng 50%; vào cuối thế kỷ 20 khoảng 30% [27]
Trang 25Tại Thụy Điển, khi nghiên cứu sức khỏe răng miệng những người 70 tuổicủa Osterberg B.J (2000) nghiên cứu trên 386 người, có 70% bị mất răngtrong đó (50,05% mất răng ở hai hàm và 19,5% mất răng ở một hàm, tỷ lệmất răng ở hàm trên cao hơn hàm dưới và ở vùng răng hàm nhiều hơn vùngrăng cửa) [21] Cũng tại Thụy Điển, Norderyd O [33] năm 1993 nghiên cứucho thấy tỷ lệ mất răng của nhóm người sống ở thành phố cao hơn nhómngười sống ở ngoại ô vùng Jonkoping ở các lứa tuổi 30, 40, 50, 60 và 70 Tỷ
lệ mất răng ở nhóm người sống tại thành phố là 17% còn ở nhóm người sống
Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng năm 1990 của Võ ThếQuang và cộng sự [15] cho thấy:
+ Tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là 47,33%
+ Nhu cầu làm răng cổ điển là 26,33%
+ Nhu cầu làm răng giả tháo lắp từng phần hàm trên là 10%, từng phầnhàm dưới là 3,67%, toàn bộ hàm trên là 3,33% và toàn bộ hàm dưới là 2,67%
Ở miền Nam Việt Nam năm 1991 với kết quả điều tra sức khỏe răngmiệng của Vũ Kiều Diễm và cộng sự [35], tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là68,66% và trung bình số răng mất của một người là 3,49
Ở các tỉnh phía Bắc thì kết quả điều tra cơ bản sức khỏe răng miệngnăm 1991 của Nguyễn Đức Thắng [36], tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là
Trang 2636,67%; nhu cầu làm răng giả là 63,33%, trong đó chỉ có 2% được làmrăng giả
Như vậy với kết quả điều tra của hai nghiên cứu cùng được thực hiệnvào năm 1991, ở tại hai miền của đất nước thì ở lứa tuổi 35-44 tỷ lệ mất răngcủa người dân ở miền Nam cao hơn hẳn miền Bắc
Kết quả điều tra của Nguyễn Văn Bài (1994) [2] ở miền Bắc ViệtNam, tỷ lệ mất răng ở lứa tuổi 35-44 là 27,27% đặc biệt ở nhóm tuổi trên 65
có tỷ lệ mất răng là 95,21%; nhu cầu phục hình là 90,43%
Một điều tra khác năm 2007 [14] tại Hà Nội, ở nhóm tuổi 35-44 tỷ lệmất răng là 36,3%, nhu cầu phục hình là 33,4%; ở nhóm tuổi 45-60 tỷ lệ mấtrăng là 50,1%, nhu cầu phục hình là 34,9%; Như vậy tuổi càng cao thì tỷ lệmất răng càng lớn và nhu cầu phục hình tăng Nghiên cứu ở quận Cầu Giấy,,Trương Mạnh Dũng cho thấy tỷ lệ mất răng ở người trên 60 tuổi là 81,73%với số trung bình 10,13 răng mất/ người Đặc biệt ở nhóm tuổi già trên 75tuổi, có 97,26% NCT bị mất răng [14] Cũng trên địa bàn nội thành thành phố
Hà Nội, Trần Thanh Sơn (2007) và Chu Đức Toàn (2012) cho biết tỷ lệ mấtrăng của NCT tại hai quận Hoàng Mai, Đống Đa lần lượt là 85,7% và 89,5%[37],[38] Các kết quả này đều chỉ ra rằng, tỷ lệ mất răng của NCT vẫn còncao ở nước ta nói chung cũng như ở Hà Nội nói riêng
So sánh kết quả của Nguyễn Đức Thắng (1991) [36], Nguyễn Văn Bài(1994) [2] và ở miền Bắc Việt Nam, cùng lứa tuổi 35-44 cho thấy:
Tỷ lệ mất răng từ 36,67% năm 1990 xuống còn 27,27% năm 1994,nhưng đến năm 2007 tỷ lệ đã tăng lên là 36,3%
Nhu cầu phục hình răng năm 1991 là 63,33%; năm 1994 là 21,6%; năm
2007 là 35,3%
Tỷ lệ người đã được phục hình năm 1991 chỉ có 2%; năm 1994 là8,57% và năm 2007 đã tăng lên gấp đôi
Trang 27Qua kết quả trên cho thấy tỷ lệ mất răng ở nhóm tuổi từ 35-44 đang códấu hiệu tăng trở lại, vì đây là nhóm tuổi mà các chương trình chăm sóc sứckhỏe răng miệng chưa quan tâm đến Do đó nhu cầu phục hình cũng tăng theotrong khi đó số người đã được phục hình cũng đã tăng nhưng vẫn chưa đápứng được nhu cầu phục hình trong cộng đồng
Vì vậy, để phòng chống mất răng có hiệu quả, ngoài chương trìnhphòng chống sâu răng và bệnh quanh răng thì phục hình răng mất khôngnhững đáp ứng được chức năng ăn nhai thẩm mỹ mà còn có tác dụng phòngmất răng tiếp theo Theo kết quả điều tra của cả nước nói chung cũng nhưmiền Bắc, miền Nam nói riêng thì nhu cầu phục hình là rất lớn, nhưng ngànhrăng hàm mặt mới chỉ phục hình được một tỷ lệ rất nhỏ Nguyên nhân là do sốlượng đội ngũ bác sỹ răng hàm mặt còn thiếu, điều kiện trang thiết bị chophục hình chưa được tốt, kỹ thuật phục hình chưa được chuẩn dẫn đến kết quảphục hình không tạo sự thoải mái cho bệnh nhân và cũng không đáp ứng đượccác nhu cầu hay mong muốn của bệnh nhân Ngoài nguyên nhân trên cũngcòn nhiều nguyên nhân khác trong đó phải kể đến ý thức và điều kiện kinh tếcủa bệnh nhân Nhưng trong những năm gần đây, nền kinh tế, xã hội của ViệtNam đã có những phát triển vượt bậc cộng với nhu cầu phục hình rất lớntrong cộng đồng, vì vậy trách nhiệm của mỗi bác sỹ răng hàm mặt nói riêngcũng như của ngành răng hàm mặt nói chung thì đi đôi với việc và trang bị cơ
sở vật chất, trang bị kiến thức thì cần đào tạo con người để có thể đáp ứngđược nhu cầu của phục hình mất răng nhằm nâng cao tỷ lệ số người đượcphục hình, kết quả phục hình ngày càng cao
Nhìn chung, số liệu điều tra dịch tễ học về mất răng từng phần, toànphần cũng như số răng mất trung bình mỗi người thuộc châu Á là thấp hơn sovới các nước thuộc châu Âu, châu Úc và châu Mỹ Hiện nay mất răng vẫn còn
là vấn đề răng miệng của NCT.
Trang 281.3 Các phương pháp phục hình mất răng từng phần ở người cao tuổi Các trường hợp mất răng rất đa dạng, sự đa dạng này phụ thuộc vào số
lượng răng mất, vị trí mất răng, sống hàm vùng mất răng, tình trạng các răngcòn lại, các bệnh lý răng miệng khác kèm theo Do đó có nhiều phương phápđiều trị mất răng Dưới đây là các phương pháp điều trị mất răng phổ biếnhiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam:
1.3.1 Hàm tháo lắp bằng nhựa thường (Acrylic) [30]
Hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa Acrylic là loại hàm giả tháo lắp
từng phần có nền bằng nhựa Acrylic với hệ thống dây móc tròn (móc dâyuốn) và nhóm răng giả thay thế khoảng mất răng Lực nhai được truyền từ nềnhàm qua niêm mạc xuống xương
1.3.1.1 Thành phần của hàm tháo lắp từng phần nhựa Acrylic bao gồm [30]:
- Hệ thống răng giả: thay thế các răng mất, các răng này có thể bằngnhựa hoặc sứ
- Nền hàm được phủ lên sống hàm và các phần nâng đỡ, nền hàm đượclàm bằng nhựa Acrylic
- Móc răng: là một trong những phương tiện bám giữ của hàm giả, giúphàm giả bám trong tư thế nghỉ và ổn định trong các tư thế chức năng Mócrăng thường dùng là hợp kim dây tròn có đường kính từ 0,7 đến 1mm, có thể
Trang 29- Mất răng trên bệnh nhân bị viêm quanh răng điều trị không kết quả, cácrăng thật còn lại không có khả năng đặt tựa.
- Bệnh nhân sợ mài răng
- Bệnh nhân sợ chữa tủy răng
- Bệnh nhân muốn làm hàm giả tháo lắp để dễ vệ sinh
* Về kinh tế:
- Đỡ tốn kém hơn làm răng giả cố định trên cùng một số răng mất
- Làm hàm giả tháo lắp nhựa Acrylic rẻ hơn hàm khung
- Sửa chữa dễ và rẻ tiền
- Thời gian điều trị nhanh
+ Thời gian điều trị ngắn hơn
+ Dễ sửa chữa: thêm răng, thêm móc, đệm hàm giả
+ Thực hiện đơn giản, kinh phí thấp
Trang 301.3.1.4 Nhược điểm:
+ Hàm có khối lượng lớn nên dễ gây khó chịu cho bệnh nhân
+ Hàm giả thiếu sự ổn định, có tính xê dịch tạo cảm giác bất ổn
+ Phần lớn hàm giả tựa lên mô xương niêm mạc nên bị lún nhiều khi ănnhai làm cho hiệu quả nhai kém và tiêu xương
+ Hàm giả che phủ nhiều tổ chức răng miệng còn lại
+ Một số trường hợp làm răng giả cần đặt móc phía trước nên thẩm mỹ kém 1.3.2 Phục hình bằng nhựa dẻo:
Cấu trúc có nền nhựa tựa lên niêm mạc và mô xương bên dưới, một phầntựa vào răng (biên giới nền hàm), có móc tựa vào răng trụ
1.3.3.1 Ưu điểm: so với hàm tháo lắp bằng nhựa Acrylic thì
- Ít vướng hơn khi nói và ăn nhai
- Ít gây tổn thương các răng mang móc nhờ độ đàn hồi của móc
- Thẩm mỹ hơn
1.3.3.2 Nhược điểm:
- Khó thêm răng vào nền hàm cũ
- Giá thành cao
- Có thể gây mòn răng giả và tiêu xương sống hàm gây rối loạn khớp cắn
- Dễ nhiễm màu theo thời gian
1.3.3 Hàm khung
1.3.3.1 Ưu điểm : So với hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa thì kích thước
nhỏ hơn, bền hơn, giải phóng cổ răng và lợi ở các răng còn lại
- Vật liệu phục hình bằng kim loại nên bóng hơn, dễ vệ sinh hơn vàtruyền nhiệt tốt hơn
- Chịu được sức nhai nhiều hơn
- Các tựa mặt nhai giúp truyền lực nhai sinh lý qua răng trụ xuống vùngquanh răng Khả năng ăn nhai tốt hơn do chuyển động tự do của phục hìnhđược hạn chế
Trang 311.3.3.2 Nhược điểm :
- Kỹ thuật lâm sàng và labo phức tạp
- Kinh phí cao
- Trang thiết bị cần hiện đại
- Khó sửa chữa thêm răng
- Nguy cơ sâu răng cao
- Nếu không chỉ định đúng sẽ gây tổn thương đến răng trụ
1.3.4 Cầu răng
1.3.4.1 Cầu với: là cầu răng cố định có nhịp cầu với ra ngoài răng trụ Cầu
với thực hiện với ý muốn tiết kiệm bởi răng trụ và nhịp cầu với chỉ có tácdụng thẩm mỹ, ổn định cung răng hơn là chức năng ăn nhai
- Ưu điểm: tiết kiệm bởi răng trụ, áp dụng được trong trường hợp mấtrăng không có răng giới hạn
- Nhược điểm: do chỉ có răng trụ ở một đầu của cầu răng do đó răng trụ
dễ bị tổn thương bởi lực đòn bẩy
1.3.4.2 Cầu dán: là loại cầu răng cố định bằng kim loại đúc, phần giữ có hình
dạng tương tự như móc của hàm khung và được gắn dính vào men răng trụbằng keo dán riêng biệt sau khi xói mòn men răng bằng dung dịch axít
Trang 321.3.4.3 Cầu ngắt lực: là loại cầu răng bằng kim loại có các phần giữ được gắn
lên răng trụ, có các phần nối cứng chắc và không cứng chắc giữa phần giữ vànhịp cầu
Ưu điểm:
+ Tạo được một phần chuyển động riêng lẻ của các răng trụ của cầu răngnên có sự phù hợp với sinh lý của răng trên mô nha chu hơn với cầu cố định.+ Giảm bớt lực làm bật phần giữ
+ Giải quyết được hướng lắp cho các răng trụ không song song màkhông làm mất quá nhiều tổ chức cứng của răng trụ
+ Tiết kiệm được mô răng nhờ sử dụng inlay, onlay làm phần giữ chocầu răng
+ Vướng, đọng mảng nhỏ thức ăn ở vùng khóa ngoàm
1.3.4.4 Cầu răng cổ điển (cầu bọc toàn bộ răng trụ).
- Cầu cổ điển là loại phục hình mất răng cố định để phục hồi răng mấtbằng cách dùng các răng bên cạnh làm răng trụ để mang, gánh răng giảthay thế răng mất Cầu răng cổ điển gồm khung kim loại bọc toàn bộ thânrăng trụ ở hai đầu và được phủ ngoài bằng sứ nhựa, hoặc hoàn toàn bằngthép
- Cầu răng được gắn chặt vào các răng trụ bằng xi măng và bệnh nhânkhông thể tự tháo ra được
- Cầu răng duy trì sự ổn định cho cung răng và mặt phẳng nhai, phục hồichức năng ăn nhai, phát âm và thẩm mỹ
Trang 33Ưu điểm:
+ Phục hồi chức năng ăn nhai tốt
+ Tính ổn định cao
+ Dễ thích nghi với việc mang răng giả
+ Phù hợp với điều kiện kinh tế hiện tại
Nhược điểm:
+ Phải mài răng hai đầu khoảng mất
+ Dễ kích thích tủy răng
1.3.5 Cấy ghép răng (Implant)
Xương hàm vùng mất răng được khoan và đặt chốt kim loại vào đó Sauvài tháng hoặc ngay tức thì tùy từng trường hợp mà chúng ta phục hình rănggiả thay răng mất trên chốt kim loại đó Phương pháp này có thể thay thế mộthoặc nhiều răng mất
1.3.5.1 Ưu điểm:
+ Phục hình cố định được mà không cần răng giới hạn
+ Không cần can thiệp vào răng khác do đó bảo tồn các răng còn lại.+ Phục hồi chức năng ăn nhai tốt
+ Răng giả sinh lý hơn
Trang 341.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc làm phục hình răng tháo lắp
1.4.1 Hình thái giải phẫu hàm trên:
1.4.1.1 Kích thước cung hàm:
Có sự tiêu xương hướng tâm Đường kính cung hàm tạo nên vùng nâng
đỡ chính Kích thước của một cung hàm quá nhỏ so với cung hàm còn lại làyếu tố bất lợi cho sự vững ổn của phục hình
1.4.1.2 Hình thể cung hàm:
Cung hàm có thể là hình vuông, tam giác hoặc bầu dục
Sống hàm rắn chắc sẽ tốt cho sự nâng đỡ
1.4.1.3 Hình dáng và chiều cao sống hàm:
Hình dáng và chiều cao sống hàm phụ thuộc vào độ tiêu xương, và ảnhhưởng đến sự lưu giữ và ổn định của phục hình Sống hàm phẳng gây bất lợi
1.4.1.4 Vòm miệng:
Là yếu tố giúp cho sự vững ổn theo chiều dọc và ngang Các vùng ít chịunén nằm trên đường giữa và trong vùng trước của vân vòm khẩu cái, ở đâyniêm mạc dính chắc vào xương
1.4.1.5 Lồi rắn xương hàm trên:
Hình bầu dục hoặc tròn ở 1/3 sau đường giữa,hay hình dài ở 2/3 sauđường giữa hoặc hình dẹp ở 1/3 trước đường giữa
1.4.1.6 Lồi cùng xương hàm trên:
Tạo sự vững ổn theo chiều trước sau
1.4.1.7 Rãnh chân bướm hàm:
Có hình dạng khác nhau phụ thuộc vào sự bám dính của dây chằng chânbướm hàm vào lồi cùng Khi làm hàm giả biên giới nền hàm không được vượtquá rãnh này
Trang 351.4.1.8 Ranh giới giữa vòm miệng cứng và vòm miệng mềm:
Đây là điểm mốc rất quan trọng cho sự lưu giữ của phục hình Khi quansát phải xác định hướng của màn hầu, và kiểm tra bờ sau của phục hình cógây kích thích nôn cho bệnh nhân không
1.4.1.9 Ngách lợi:
Là biên giới nền hàm phía trước và hai bên, tạo sự lưu giữ cho hàm giả.Khi làm phục hình cần chú ý bờ hàm giả phía ngách lợi má chiếm hếtvùng này nhưng phải tránh phanh môi phanh má
1.4.2 Hình thái giải phẫu hàm dưới:
1.4.2.1 Kích thước cung hàm:
Ở hàm dưới khi mất răng thì cung hàm dưới sẽ tiêu xương theo hướng
ly tâm tức là theo hướng rộng ra
1.4.2.4 Chiều cao và hình dáng sống hàm:
Thường thấp có khi lõm còn gọi là sống hàm âm Một số trường hợpsống hàm tiêu quá nhiều thần kinh cằm nằm trên bề mặt nâng đỡ, gây đau khi
Trang 361.4.2.7 Tam giác sau hàm:
Tại vùng này nền hàm chỉ được giới hạn ở vùng mô xơ chắc, khôngđược chạm tới phần niêm mạc di động
1.4.3 Lưỡi và yếu tố thần kinh, cơ
Làm mất sự ổn định và lưu giữ của hàm giả do kích thước và sự chuyểnđộng của nó Ở người mất răng lâu và chưa làm hàm giả, do tham gia vàohoạt động nhai nên lưỡi thường rất khó chấp nhận hàm giả
Các cơ diễn tả điệu bộ và nét mặt
1.4.4 Nước bọt và tình trạng niêm mạc miệng
Là một yếu tố quan trọng cho sự bám dính và làm cho bệnh nhân cảmgiác dễ chịu khi mang hàm giả Nước bọt nhiều quá ảnh hưởng đến sự lưugiữ của hàm giả, nước bọt ít quá làm giảm lực bám dính, gây đau, khó vệsinh và dễ nhiễm khuẩn
Trang 37Nền hàm tiếp xúc với bề mặt niêm mạc càng nhiều thì hàm giả càng lưugiữ tốt và vững ổn.
Hiệu quả của hàm giả phụ thuộc 3 yêu cầu cơ học căn bản liên quan trựctiếp đến chất lượng của hàm giả, đó là:
- Sự nâng đỡ: có liên quan trực tiếp đến diện tích của bề mặt tiếp xúc vớihàm giả và nhưng yếu tố giải phẫu thuận lợi bao gồm những triền dọc giữ vững
- Sự lưu: phụ thuộc vào chất lượng của vành khít và sự khít sát Sự khítsát quyết định độ mỏng của lớp nước bọt
- Sự vững ổn: Tùy vào thể tích của nền phục hình có phù hợp với sự diđộng của các cơ quan cận phục hình, lên răng đúng
1.4.5 Dây chằng, phanh môi, phanh lưỡi:
Dây chằng, phanh môi, phanh lưỡi bám sát đỉnh sống hàm là yếu tố bấtlợi cho sự bám dính của hàm giả Vì khi miệng hoạt động chức năng, cácphanh và dây chằng sẽ di động
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định và vững chắc của hàm giả
1.5.1 Yếu tố giúp hàm giả ổn định theo chiều đứng dọc [30]
- Móc răng: là yếu tố quan trọng nhất để giữ hàm giả ổn định
- Hàm khít sát với niêm mạc
- Biên giới nền hàm vùng răng thật
- Lồi cùng và tam giác sau hàm
- Diện tích nền hàm: diện tích càng lớn hàm giả càng bám dính cao
- Nước bọt : nước bọt đặc hoặc nhớt giúp hàm giả dính tốt hơn
1.5.2 Yếu tố hàm giả ổn định theo chiều ngang
- Sống hàm, vòm miệng
- Tay móc
- Cổ răng thật nơi biên giới nền hàm tựa vào
Trang 381.5.3 Yếu tố hàm giả ổn định theo chiều trước – sau
- Vùng gót các răng cửa
- Vai móc
- Lồi cùng và tam giác sau hàm
- Các khối răng giả sát khít với mặt bên răng thật
Quan điểm của Gysi cũng như vậy, nhưng việc này rất khó thực hiện vànên mỗi khi hàm dưới chuyển động ra trước hoặc sang hai bên thì hàm trên vàhàm dưới chỉ cần chạm nhau ở 3 điểm là đủ: 2 điểm ở hai bên và 1 điểm ở trước
Để có khớp cắn thăng bằng ở hàm giả, cần phải chú ý tới đường cong bùtrừ đó là đường cong Spee và đường cong Wilson
1.5.4.1 Đường cong Spee:
Đường cong Spee là một đường cong từ đỉnh núm răng nanh hàm dướicho tới núm ngoài xa răng hàm lớn thứ hai hàm dưới
Đường cong này có bề lõm quay lên trên với nơi thấp nhất nằm ở đỉnhnúm gần ngoài của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới
Đường cong Spee giúp nhai được tốt hơn và tránh bật khi nhai Spee chorằng bán kính của đường cong cung răng đường chuyển động theo chiều trướcsau là 6,5cm-7cm
Nếu đường cong Spee dẹt quá, khi đưa hàm ra trước, lồi cầu hạ xuốngrăng hàm sẽ bị hở Bệnh nhân chỉ cắn được răng cửa và gây ra hiện tượngChristensen Hiện tượng Christensen là:
Trang 39- Hàm không vững
- Lực ép nặng phía trước làm tiêu xương
- Phía sau không có tác dụng
Nếu đường cong Spee nghiêng hoặc cong quá sẽ gây chạm sớm ở răng hàm,rồi trượt ra trước, răng cửa không chạm trong khi răng phía sau vẫn chạm
1.5.4.2 Đường cong Wilson:
Là một đường cong trên mặt phẳng đứng ngang, tức là theo chiều trong là đường nối các đỉnh núm ngoài và trong của các răng cối ở hai bênhàm, đó là một đường cong lõm lên trên
ngoài-Đây là đường cong bù trừ, cho phép trượt hài hòa của núm ngoài răngdưới trên sườn trong của núm ngoài răng trên khi hàm chuyển động sang bên
1.5.4.3 Chiều cao khớp cắn:
Chiều cao khớp cắn rất quan trọng trong phục hồi chức năng nhai tránhhiệu quả xấu gây ra cho khớp thái dương hàm và hệ thống cơ thần kinh Đồngthời góp phần phục hồi sự hài hòa của khuôn mặt và giúp phát âm tốt
- Theo Ash [Error: Reference source not found] để xác định đúng chiềucao khớp cắn cần những điều kiện sau:
+ Sự cân bằng thần kinh –cơ
+ Sự cân bằng lưỡi hàm, tôn trọng khoảng Donders
+ Điều kiện tâm lý lý tưởng của bệnh nhân
+ Loại trừ những yếu tố gây rối loạn chiều cao do hàm giả cũ, răng còn lại.+ Làm rõ hoặc xóa bỏ những phản xạ chủ động hay tự ý của bệnh nhân.+ Xem xét tình trạng tổ chức phần mềm của sống hàm
Hamel [39] cho rằng chiều cao khớp cắn đúng giữ cho hàm giả được ổnđịnh khi bệnh nhân nói, nhai, nuốt Chiều cao của khớp cắn sai sẽ dẫn đếnhậu quả xấu Khớp cắn cao làm khó nói, tăng sức ép ở phía sau, làm cho tiêuxương nhanh, tăng trương lực cơ và đau khớp thái dương hàm, ảnh hưởng đếnthẩm mỹ
Trang 40Các kỹ thuật xác định chiều cao khớp cắn bao gồm:
* Kỹ thuật xác định chiều cao khớp cắn ở tư thế nghỉ:
- Trường hợp có dữ liệu trước khi nhổ răng:
+ Đo chiều cao khớp cắn trước khi nhổ răng
+ Dùng ảnh chụp mặt nghiêng trước lúc nhổ răng theo Wright
+ Dùng mũ của Landa ghi tư thế cân bằng thạch cao lúc bệnh nhân ở tưthế răng cắn tối đa
- Trường hợp không có dữ liệu trước khi nhổ răng:
+ Khôi phục lại vẻ thẩm mỹ
+ Kiểm tra kỹ phát âm
* Kỹ thuật xác định chiều cao khớp cắn trung tâm:
- Willis: Khoảng cách giữa hai điểm khóe mắt ngoài và khóe miệng bằngkhoảng cách giữa hai điểm dưới mũi và dưới hàm
-Macgee: khoảng cách từ đồng tử đến mép bằng khoảng cách từ điểm lồixương trán đến điểm dưới mũi
- Boyanov: khoảng cách giữa hai mép lúc nghỉ bằng khoảng cách từđiểm môi trên đến điểm dưới hàm ở tư thế cắn khít trung tâm
1.5.4.4 Mặt phẳng cắn:
Mặt phẳng cắn là mặt phẳng tiếp xúc giữa các mặt nhai của răng giả khingậm miệng tối đa, đảm bảo chức năng ăn nhai và tôn trọng sự toàn vẹn của
bề mặt tựa, tạo lai sự thẩm mỹ và phát âm
Mặt phẳng cắn của hàm giả đi từ rìa cắn của các răng cửa giữa tới đỉnhnúm xa trong của các răng hàm lớn thứ hai hàm trên, song song với mặtphẳng Camper [30] là mặt phẳng đi từ lỗ ống tai ngoài tới gai mũi trước
- Mặt phẳng nhai lý tưởng sẽ phục hồi thẩm mỹ, các chức năng và giúpcho hàm giả vững, tránh bật ra khi nhai