Siêu âm không những phát hiện được sớm bệnh UBT, mà còn cóthể theo dõi được liên tục sự phát triển của khối u để qua đó đưa ra các xử tríkịp thời đối với khối u.. Điều trị tối ưu các khố
Trang 1TỪ ĐỨC NGỌC
GIÁ TRỊ CỦA PHÂN LOẠI IOTA TRONG SIÊU ÂM
ĐÁNH GIÁ KHỐI U BUỒNG TRỨNG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2019
Trang 2TỪ ĐỨC NGỌC
GIÁ TRỊ CỦA PHÂN LOẠI IOTA TRONG SIÊU ÂM
ĐÁNH GIÁ KHỐI U BUỒNG TRỨNG
Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh
Mã số: 60720166
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Bùi Văn Lệnh
2 TS Lê Tuấn Linh
HÀ NỘI – 2019
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
U buồng trứng (BT) là một trong những loại u khá phổ biến ở nhiềunước trên thế giới, chiếm tới 30% các u thuộc hệ thống sinh dục (SD) nữ [1].Trong đó, ung thư buồng trứng (UTBT) chiếm tỉ lệ cao, đây là loại ung thư(UT) đứng đầu trong số các UT phụ khoa và đứng thứ 4 trong tất cả các UT ở
nữ giới Theo số liệu thống kê tại Mỹ năm 2013 ước tính có 22.240 trườnghợp mới mắc và có tới 14.030 trường hợp tử vong do căn bệnh này [2] TạiViệt Nam theo số liệu của chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống UTgiai đoạn 2011-2014 thì tỷ lệ mới mắc UTBT ở phụ nữ Việt Nam năm 2010 là2.185 ca và ước tính số ca mới mắc UTBT năm 2020 sẽ là 5.548 [3]
UTBT là bệnh lý ung thư phụ khoa có mức độ xâm lấn, ác tính nhất Tỷ
lệ sống sau 5 năm của BN khoảng 40% và bệnh chiếm khoảng một nửa trong
số tất cả tử vong liên quan đến ung thư phụ khoa [1], [2] Yếu tố tiên lượngquan trọng nhất về khả năng sống còn của BN là giai đoạn bệnh [3] Do đó,cần một phương pháp sàng lọc để phát hiện sớm bệnh ở giai đoạn đầu, giảmnguy cơ tử vong cho BN Hiện tại, không có phương pháp sàng lọc nào đápứng được yêu cầu đó [4], [5]
Trong thực hành lâm sàng, có nhiều phương pháp để phát hiện sự tồn tạicủa khối UBT Triệu chứng thường gặp của UTBT nói chung là đau hoặc tứcbụng, bụng to lên, căng tức bụng và các triệu chứng tiêu hóa, tiết niệu nhưthay đổi thói quen đại tiện, tiểu tiện, buồn nôn, khó tiêu… Những dấu hiệunày thường mơ hồ, giống những thay đổi bình thường của cơ thể người phụ
nữ qua các thời kỳ trong cuộc đời (sinh đẻ, mãn kinh…), hoặc giống các triệuchứng của các bệnh lý thường gặp ở đường tiêu hóa, tiết niệu… Chính vì vậy,UTBT thường phát hiện muộn [28]
Chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ cho giá trị chẩn đoán bệnh UBTrất có giá trị, đặc biệt trong chẩn đoán UTBT [29], nhưng chi phí xét nghiệmcao nên phạm vi sử dụng các phương pháp này còn hạn chế
Trang 8Phương pháp chẩn đoán MBH là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán xácđịnh UTBT, tuy nhiên không thể sử dụng để sàng lọc và chẩn đoán sớm bệnh
vì mức độ phức tạp và nguy cơ tai biến có thể xảy ra khi tiến hành lấy mẫubệnh phẩm
Siêu âm là phương pháp được áp dụng rộng rãi nhất trong chẩn đoánUBT bởi siêu âm cho kết quả khá chính xác, nhanh, lặp lại được nhiều lần, chiphí hợp lý Siêu âm không những phát hiện được sớm bệnh UBT, mà còn cóthể theo dõi được liên tục sự phát triển của khối u để qua đó đưa ra các xử tríkịp thời đối với khối u Nhờ chẩn đoán của siêu âm, người bệnh có nhiều điềukiện để áp dụng các phương pháp điều trị tốt nhất, giảm thiểu những nhữngrủi ro đáng tiếc Tuy vậy việc chỉ ra những hình ảnh hay gặp trên siêu âm vớinhững đặc điểm trong từng loại UBT, việc đánh giá giá trị của từng hình ảnh
đó nói riêng và giá trị của siêu âm trong chẩn đoán UBT nói chung chưathống nhất
Điều trị tối ưu các khối u ác tính buồng trứng phụ thuộc vào loại khối u.Điều trị khối u giáp biên có thể cần ít tích cực hơn so với điều trị khối u xâmlấn, đặc biệt nếu việc bảo tồn khả năng sinh sản là quan trọng Trong cáctrường hợp được lựa chọn, UTBT giai đoạn I có thể được kiểm soát bảo tồn tốthơn so với bệnh ở giai đoạn muộn, trong khi đối với ung thư di căn vào BT phụthuộc vào nguồn gốc của khối u nguyên phát Một chẩn đoán cụ thể, gần nhưchắc chắn chính xác về khối UBT trước khi phẫu thuật sẽ cải thiện sự phân loạibệnh nhân và do đó làm tăng khả năng bệnh nhân sẽ được điều trị đúng
Với những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giá trị của phân loại IOTA trong siêu âm đánh giá khối u buồng trứng” với
hai mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm của khối UBT.
2 Áp dụng phân loại u buồng trứng IOTA để chẩn đoán phân biệt UBT
ác tính và UBT lành tính.
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm phôi thai học, mô học, giải phẫu và sinh lý của buồng trứng
Trong hệ SD nữ, hai BT đóng vai trò hết sức quan trọng: tạo ra cácnoãn chín (noãn trưởng thành) có khả năng thụ tinh để tạo ra cá thể mới vàtạo ra các hormon SD chi phối hoạt động SD ở nữ giới Để đảm đương đượchai chức năng quan trọng trên, BT có cấu tạo khá phức tạp và được tạo thànhbởi nhiều loại tế bào khác nhau, bao gồm tế bào biểu mô và tế bào liên kết.Một số tế bào hoặc mô chỉ được hình thành và phát triển trong một giai đoạnnhất định và đó là điều khác biệt với các mô khác của cơ thể Chính cấu tạophức tạp và chịu ảnh hưởng của nội tiết nên bệnh lý BT cũng phong phú vàrất phức tạp, đặc biệt là các u ác tính Để xác định các típ mô u người ta phảicăn cứ vào nguồn gốc mô học của loại u đó Do vậy, những hiểu biết về môhọc và phôi thai học của BT có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bệnh học,đặc biệt là bệnh học u
1.1.1 Phôi thai học của buồng trứng
Bào thai học cho phép ta hiểu được cách phân loại, tạo mô học, và tiếntriển của các u phức tạp của BT Trong thời kỳ bào thai BT phát triển theo haigiai đoạn:
- Giai đoạn vô tính: tuyến SD nam hay nữ đều xuất hiện ở mặt trong của thểWolff, dưới hình thái một mào SD Đó là một khối trung diệp thai dầy, trên bềmặt phủ một biểu mô hố bụng nguyên thủy có nhiều lớp tế bào gọi là biểu mômầm
Bắt đầu từ tuần thứ bảy của cuộc sống bào thai, các tế bào SD nguyênthủy di chuyển từ rãnh nguyên thủy ở phía sau tới mô trung diệp của mào SD,lúc này không thể phân biệt được BT và tinh hoàn [9]
Trang 10- Giai đoạn hữu tính: BT bắt đầu biệt hóa vào cuối tuần thứ tám của quá trìnhphát triển phôi, nghĩa là muộn hơn sự biệt hóa của tinh hoàn Bởi vậy, ở phôitám tuần, nếu tuyến SD không biểu hiện những đặc tính của nam giới, ta cóthể nói rằng tuyến SD ấy là BT [10]
Khác với ở tinh hoàn, ở BT biểu mô khoang cơ thể phủ mầm tuyến SDtồn tại suốt đời và trở thành biểu mô BT Đây sẽ trở thành hầu hết các u biểu
mô BT sau này Ở phôi thai và trẻ em, biểu mô này là một biểu mô vuông đơn[10], [11]
1.1.2 Mô học
Hai BT đảm nhiệm hai chức năng quan trọng là: tạo ra noãn chín có thểthụ tinh và tiết ra hormon SD nữ (oestrogen và progresteron) BT được chialàm 2 vùng: vùng trung tâm hẹp là vùng tủy, và ngoại vi rộng là vùng vỏ
Vùng tủy cấu tạo bởi mô liên kết thưa có nhiều sợi tạo keo, sợi chun vàcác ít tế bào sợi hơn vùng vỏ Ngoài ra, còn có các sợi cơ trơn, những độngmạch xoắn, những cuộn tĩnh mạch tạo nên mô cương BT
Vùng vỏ BT được phủ ở mặt ngoài bởi biểu mô đơn có nguồn gốc từbiểu mô phủ thành lưng của khoang thể phôi Ở phụ nữ còn trẻ, biểu mô này
là biểu mô vuông đơn về sau trở nên dẹt ở một số nơi trừ những nơi thấy rãnh
ở trên mặt BT [11] Dưới biểu mô là mô kẽ, cấu tạo bởi những tế bào hìnhthoi xếp theo nhiều hướng khác nhau, tạo thành những hình xoáy tròn rất đặcbiệt chỉ thấy ở BT Chúng có một tiềm năng khác với tế bào sợi của mô liênkết vì có thể biệt hóa được thành những tế bào nội tiết gọi là tế bào kẽ và tếbào vỏ của BT để tạo ra những tuyến nội tiết gọi là tuyến kẽ và tuyến vỏ đảmnhiệm chức năng tiết hormon loại steroid Giáp với biểu mô BT, mô liên kếtchứa ít tế bào sợi, ít mạch máu, nhiều sợi tạo keo và chất gian bào Những tếbào sắp xếp theo hướng ít nhiều song song với mặt BT, và cùng với sợi tạokeo tạo thành một lớp liên kết mỏng gọi là màng trắng
Trang 11Mô kẽ của phần vỏ BT vùi trong những khối hình cầu gọi là nangtrứng Mỗi nang trứng là một túi đựng noãn Ở trẻ gái trước tuổi dậy thì, cácnang trứng rất nhỏ, khá đều nhau và không thấy được bằng mắt thường.Chúng được gọi là nang trứng nguyên thủy hay còn gọi là nang trứng chưaphát triển Từ tuổi dậy thì, hàng tháng dưới tác dụng của các hormon củavùng dưới đồi và tuyến yên, các nang trứng tiến triển qua nhiều giai đoạn:nang trứng nguyên thủy, nang trứng thứ phát, nang trứng chín (còn gọi lànang Graaf) có kích thước khác nhau và có thể nhìn thấy được bằng mắtthường Cuối cùng là sự giải phóng nang trứng chín khỏi BT gọi là phóngnoãn Nang trứng thứ phát trải qua các giai đoạn tiến triển: nang trứng đặc,nang trứng có hốc và nang trứng có hốc điển hình [12].
Hình 1.1 Mô học buồng trứng [13]
1.1.3 Giải phẫu buồng trứng [14-16]
Buồng trứng là một tạng nằm trong ổ phúc mạc, hai buồng trứng nằmsát hai thành bên của chậu hông bé, sau dây chằng rộng Buồng trứng có hìnhhạnh nhân hơi dẹt, màu hồng nhạt Hình dáng kích thước của buồng trứngthay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể
Trang 12Về lâm sàng, điểm buồng trứng là điểm giữa của đường nối gai chậutrước trên tới khớp vệ
Mặt ngoài liên quan với động mạch chậu ngoài, động mạch chậu trong
và động mạch tử cung Mặt trong liên quan với manh tràng, ruột thừa, ruộtnon ở bên phải và đại tràng sigma ở bên trái
Hình 1.2 Tử cung và các phần phụ
(Trích trong Atlas - Giải phẫu người của Frank H Netter)
Buồng trứng được định vị bởi 4 dây chằng Các dây chằng này treo giữbuồng trứng một cách tương đối:
+ Dây chằng tử cung - buồng trứng
+ Dây chằng thắt lưng - buồng trứng
+ Mạc treo buồng trứng
+ Dây chằng vòi trứng - buồng trứng [15]
Mạch máu và thần kinh buồng trứng:
Trang 13* Động mạch: Buồng trứng được cấp máu từ hai nguồn
- Động mạch buồng trứng: tách ra từ động mạch chủ bụng ở ngang mức cácđộng mạch thận Sau khi bắt chéo động mạch chậu ngoài, động mạch buồngtrứng chia làm 3 nhánh ở đầu trên của buồng trứng gồm: nhánh vòi ngoài,nhánh buồng trứng ngoài và nhánh nối
- Động mạch tử cung: tách ra các nhánh tận tiếp nối với các nhánh của độngmạch buồng trứng tạo thành cung mạch máu nuôi dưỡng buồng trứng
* Tĩnh mạch: Tĩnh mạch buồng trứng phải đổ về tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh
mạch buồng trứng trái đổ về tĩnh mạch thận trái
* Hệ thống bạch huyết: Dẫn lưu vào các thân bạch mạch lớn hơn để tạo
thành đám rối ở rốn buồng trứng, chúng đi qua mạc treo buồng trứng để dẫnlưu tới các hạch quanh động mạch, các nhánh khác dẫn lưu vào các hạch chậutrong, chậu ngoài, giữa động mạch chủ, động mạch chậu chung và hạch bẹn
* Thần kinh: Tách ra từ đám rối liên mạc treo và đám rối thận [14].
1.1.4 Sinh lý buồng trứng [17]
Buồng trứng là tuyến sinh dục của nữ, nó có hai chức năng quan trọng:chức năng ngoại tiết sinh ra noãn, chức năng nội tiết là tiết ra các hormon, dưới
sự tác động trực tiếp của các hormon hướng sinh dục do tuyến yên bài tiết
Hoạt động chức năng sinh dục – sinh sản nữ chịu sự điều khiển của trụcnội tiết: vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng Rối loạn hoạt động của trụcnội tiết này không chỉ gây ảnh hưởng đến hoạt động chức năng mà ảnh hưởngđến các sự phát triển về hình thái – cấu tạo của các cơ quan sinh dục nữ
Chính vì buồng trứng luôn có những thay đổi rõ rệt về mặt hình tháicũng như chức năng trong suốt cuộc đời người phụ nữ nên những thay đổi đó
có thể dẫn đến những rối loạn không hồi phục, phát triển thành bệnh lý, đặcbiệt là sự hình thành các khối u
Trang 141.2 Đại cương về UBT
1.2.1 Nguồn gốc của UBT
1.2.1.1 U biểu mô bề mặt
Đã có nhiều giả thuyết được đưa ra để giải thích cho sự hình thành ubiểu mô BT, tuy nhiên đa số các tác giả thừa nhận và ủng hộ thuyết u biểu môphát sinh từ nang vùi biểu mô và theo sau đó là một quá trình dị sản Giả thiếtnày giải thích được các biểu hiện hình thái học và bào thai học cũng như cónhiều bằng chứng cho thấy các u biểu mô phát triển trực tiếp từ biểu mô bềmặt BT hoặc từ các nang vùi biểu mô [14] Cơ chế của việc hình thành cácnang vùi biểu mô còn chưa hoàn toàn thống nhất Các nang vùi có thể đượchình thành do hiện tượng phóng noãn và hình thành hoàng thể Sau khi hoàngthể thu nhỏ dần, mô xơ tăng sinh tạo thể trắng, các nang noãn thoái triển, sự
xơ hóa BT làm BT nhỏ đi, trên bề mặt có những xoắn vặn nhăn nhúm Quátrình này kéo biểu mô phủ ở phía trên vào mô đệm, dần dần tạo những ổ biểu
mô nằm sâu trong lớp mô đệm Những ổ biểu mô này sẽ dần phân cách vớibiểu mô phủ bề mặt bằng một lớp mô đệm để tạo thành những nang biểu môkhoang cơ thể vùi trong vỏ BT [15]
Các nang vùi này cũng có thể được hình thành thứ phát do sự sát nhậpcủa phần cuối tua vòi tử cung với trung mô phúc mạc phủ BT, do dính vòi tửcung-buồng trứng, quá trình này có thể được hỗ trợ bởi dịch nang noãn Sau
đó vùng này được tổ chức hóa, bề mặt BT được tái tạo lại có thể dẫn tới hiệntượng biểu mô phủ lên bề mặt BT vùi vào mô đệm vùng vỏ BT Cũng có tácgiả cho rằng các nang vùi có thể là sự phát triển gợi lại ống Muller trong thời
kỳ bào thai [6],[16]
Tuy có nhiều giả thuyết khác nhau giải thích sự hình thành các nang vùibiểu mô, nhưng quan trọng hơn là các nang vùi này có thể dị sản hoặc quá sảndẫn tới hình thành các u biểu mô BT
Trang 15Như vậy, sự hình thành các nang biểu mô BT là do dị sản hoặc tăng sảncủa biểu mô khoang cơ thể, loại biểu mô này có nguồn gốc từ ống Muller nênkhi biến đổi dị sản sẽ tạo ra:
-Nang nước (cấu trúc biểu mô nang giống biểu mô vòi tử cung)
-Nang nhầy (cấu trúc biểu mô giống ống cổ tử cung)
-Nang dạng nội mạc (cấu trúc biểu mô giống nội mạc tử cung)
-U Brenner (vùng chuyển tiếp)
Quá trình dị sản có thể xảy ra ở biểu mô bề mặt trước khi các nang vùihình thành hoặc xảy ra ở biểu mô phủ nang vùi
Đối với ung thư biểu mô BT, có nhiều giả thuyết về nguyên nhân gây raloại ung thư này tuy nhiên có hai giả thuyết chính được các nhà nghiên cứuủng hộ:
- Giả thuyết thứ nhất: biểu mô vỏ BT bị chấn thương do quá trình phóng noãnlặp đi lặp lại trong giai đoạn sinh sản của người phụ nữ Giả thuyết này có vẻhợp lý vì ung thư biểu mô không gặp ở trẻ em và phụ nữ bị teo đét BT Đốivới những phụ nữ dùng thuốc ức chế phóng noãn thì nguy cơ ung thư biểu mô
BT thấp hơn những phụ nữ không dùng thuốc này, đặc biệt ở phụ nữ có thaihoặc cho con bú liên tục thì tỷ lệ ung thư biểu mô BT giảm xuống 1,5 - 3,2lần so với nhóm không có thai [17]
- Giả thuyết thứ hai cho rằng các chất gây UT đi qua âm đạo, cổ tử cung, tửcung, vòi tử cung rồi tác động lên biểu mô bề mặt BT cũng như tác động lêncác nang vùi biểu mô Nhiều nghiên cứu đã cho thấy: ung thư biểu mô BT chủyếu phát sinh từ các nang vùi BT nhiều hơn là trực tiếp từ biểu mô bề mặt vàcoi sự biệt hóa ống Muller là bước đầu trong sự hình thành ung thư biểu mô
BT [18]
Hiện nay, ung thư biểu mô BT được biết đến cơ chế do gen Nhữngnghiên cứu về ung thư biểu mô BT gần đây đã chỉ ra rằng: mỗi typ mô học có
Trang 16liên quan với hình thái tế bào u riêng và các biến đổi gen ở các cấp độ phân tửkhác nhau Sự biến đổi hoặc mất chức năng ở một số gen, đặc biệt là genBRCA1, BRCA2 hay gen KRAS hoặc BRAF sẽ gây phát sinh các typ ung thưbiểu mô BT khác nhau với mức độ ác tính từ thấp đến cao.
1.2.1.2 U tế bào mầm
U tế bào mầm là do đơn tính sinh của tế bào mầm tạo ra Các tế bàosinh dục mặc dù chỉ có 23 nhiễm sắc thể vẫn có thể sinh ra một số bộ phận, tổchức trong cơ thể Các u được tạo bởi các tế bào mầm trưởng thành chiếm95%, đây là loại u lành tính Trong nghiên cứu của Philip B Clement (2000)thì có khoảng 1 - 3% u tế bào mầm là u quái không trưởng thành và là loại u
ác tính [19]
1.2.1.3 U dây sinh dục biểu mô đệm
Khối u mô đệm sinh dục có thể có nguồn gốc trung mô tuyến sinh dục,
là nơi có khả năng phát triển thành tuyến sinh dục nam và nữ, tạo ra các khối
u nam hóa và nữ hóa Các u này thường gây rối loạn nội tiết, rối loạn sự pháttriển giới tính hay kinh nguyệt [16]
1.2.2 Phân loại u buồng trứng theo WHO 2014 (phụ lục 1)
1.2.3 Phân loại giai đoạn của các u buồng trứng
Phân loại giai đoạn các u BT theo TNM và Liên đoàn sản phụ khoaquốc tế (FIGO-2014) [7]
U giới hạn ở một bên BT (vỏ nguyên vẹn) hoặc
bề mặt vòi trứng; không có tế bào u trong dịch
cổ chướng hoặc dịch rửa phúc mạc
T1b IB U giới hạn ở một hoặc hai bên BT (vỏ nguyên
vẹn) hoặc các vòi trứng; không có u trên bề mặt
Trang 17TNM FIGO Mô tả
BT hoặc vòi trứng; không có tế bào u trong dịch
cổ chướng hoặc dịch rửa phúc mạc
T1c
T1c IC U giới hạn một hoặc hai bên BT hoặc vòi trứng
với một trong các dấu hiệu:
T1c1 IC1 Phẫu thuật làm vỡ vỏ
T1c2 IC2 Vỡ vỏ trước phẫu thuật hoặc u trên bề mặt BT
hoặc bề mặt vòi trứng
T1c3 IC3 Thấy tế bào u trong dịch cổ chướng hoặc dịch
rửa màng bụng
T2 II U ở một hoặc cả hai bên BT hoặc vòi trứng với
sự lan tràn vào khung chậu
T2a IIA Lan tràn và/ hoặc cấy ghép trên tử cung và/hoặc
N1 IIIA1 Chỉ di căn hạch mạc nối
N1a IIIA1i Hạch di căn có đường kính lớn nhất ≤ 10mm.N1b IIIA1ii Hạch di căn có đường kính lớn nhất > 10mmT3a IIIA2 Di căn phúc mạc vi thể ngoài khung chậu phối
hợp hoặc không phối hợp với hạch mạc treo
Di căn phúc mạc đại thể ngoài khung chậu vớikích thước lớn nhất ≤ 2cm kết hợp với hoặckhông di căn hạch mạc nối
Trang 18TNM FIGO Mô tả
T3c IIIC
Di căn phúc mạc ngoài khung chậu với kích thướclớn nhất trên 2cm kết hợp với hoặc không di cănhạch mạc nối (ngoại trừ sự lan rộng của u vào vỏbao gan hoặc lách mà không vào nhu mô kết hợpvới các cơ quan khác)
M1 IV Di căn xa (trừ di căn phúc mạc)
M1a IVA Lan tràn ở màng phổi có TBH dương tính
M1b IVB Di căn mô liên kết và di căn các cơ quan ngoài ổ
bụng (bao gồm hạch vùng SD và hạch ngoài ổ bụng)
T: Primary tumor (u nguyên phát)
N: Regional lymph nodes (các hạch nạch huyết vùng)
Nx: các hạch bạch huyết vùng không đánh giá được
No: không có di căn hạch bạch huyết vùng
N1: Di căn hạch bạch huyết vùng
N1a: hạch di căn có đường kính lớn nhất ≤ 10mmN1b: hạch di căn có đường kính lớn nhất > 10mm
M: Distant metastasis (di căn xa)
Mo: không có di căn xa
M1: di căn xa
M1a: di căn màng phổi với TBH dương tính
M1b: di căn nhu mô và các cơ quan ở ngoài ổ bụng (bao gồm hạchvùng SD và hạch ở ngoài ổ bụng)
pTNM: phân loại sau phẫu thuật
Phân loại pT và pN tương ứng với phân loại T và N
pM1: di căn xa được xác định trên vi thể
Chú ý: pM0 và pMx không có giá trị phân loại
Trang 19pN0: đánh giá mô học của các mẫu hạch vét khung chậu thường bao gồm ≥
10 hạch Nếu các hạch âm tính, nhưng số lượng hạch thông thường không đủ,xếp loại pN0
Xếp loại giai đoạn
1.2.4 Các phương pháp chẩn đoán UBT
1.2.4.1 Khám lâm sàng
Phần lớn các khối UBT khi còn nhỏ không gây ra triệu chứng gì đặc biệt,bệnh nhân vẫn có kinh và vẫn có thể sinh đẻ bình thường Bệnh được tình cờphát hiện ra khi người phụ nữ đi khám phụ khoa, đi chữa vô sinh, hoặc khi cócảm giác nặng vùng bụng dưới, đau ở hố chậu, đái rắt, băng huyết TheoNguyễn Thị Ngọc Phương, triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng, chiếm43,7% UBT lành, 44,2% UTBT; tiếp là triệu chứng bụng to nhanh, chiếm29,4 % trong UTBT Theo Fleischer, các triệu chứng trên là hai trong số cáctriệu chứng thường gặp nhất (u lành tính 17,9% đau bụng, 7% bụng to ra, u áctính có 29,4% bụng to ra, 9,8 % dau bụng)
Khám lâm sàng, khi khối u nhỏ thấy khối u biệt lập với tử cung, mật độcăng hoặc chắc; di động dễ, hạn chế hoặc dính; có đau hoặc không đau Khi
Trang 20khối u to, chúng nằm ngay vùng hạ vị hoặc thượng vị, mặt nhắn hoặc lổnnhổn, bờ không rõ ràng, u dính hoặc di động Triệu chứng đau chiếm 2 %, đau
do chèn ép xảy ra khi khối u đã phát triển và lan tràn trong ổ bụng, triệuchứng này thường xuất hiện muộn khi bệnh nhân đã bị suy kiệ Đau do xoắnxảy ra khi khối u có cuống với đặc điểm là đau bụng vùng hạ vị, nôn hoặcbuồn nôn, choáng, khám thấy khối u nằm bên cạnh tử cung căng, đau vàkhông di động Theo nghiên cứu của Trịnh Hùng Dũng trên 394 bệnh nhân cóUBT, tỷ lệ UBT xoắn là 58/394 (14,7%), theo các tác giả khác tỷ lệ này là daođộng từ 3,5-16%
Triệu chứng rối loạn kinh nguyệt gặp trong UBT chủ yếu là tình trangcường kinh, rong kinh hoặc quá sản niêm mạc tử cung UBT dạng nang khônggây rối loạn kinh nguyệt, ngược lại u dây sinh dục - mô đệm đứng đầu trongcác khối u thực thể gây rối loạn kinh nguyệt Về tỷ lệ sống, vì khối UBTthường nằm trong sâu, thường chỉ khi u to, gây chèn ép hoặc gây rối loạnchức năng thì mới phát hiện được, khi đó 80% đã ở giai đoạn muộn, do đónếu là UTBT tỷ lệ sống rất thấp Ở phụ nữ mãn kinh, nếu kích thước u<50
mm, tỷ lệ ác tính là 5%; ở khoảng 50-100 mm là 12% và >100 mm là 60%.Nếu ở cả hai BT đểu có u, khả năng ác tính gấp 2 lần khi khối u chỉ ở một bên
BT Theo Đinh Thế Mỹ [20], nếu khối u ở một bên BT có kích thước <30
mm, khả năng sống sau 5 năm là 70%, nếu khối u >30 mm, hoặc ở cả hai bên
BT tỷ lệ này chỉ còn là 30% Theo William Helm C và cộng sự, tỷ lệ sống 5năm ở bệnh nhân UTBT nói chung là 41,6 %
1.2.4.2 Xét nghiệm CA125
CA125 là chất đánh dấu khối u tốt nhất trong UTBT Nếu sử dụng riêng
lẻ, có thể thấy CA125 tăng cả trong ung thư cổ tử cung, ung thư niêm mạc tửcung, ung thư đại tràng và ung thư vú Về giá trị chẩn đoán sớm của chất đánhdấu CA125 đối với khối UBT nói chung, nhiều tác giả cho rằng ít có giá trị
Trang 21phát hiện Trong nghiên cứu của Lý Thị Bạch Như đã trích dẫn Jacobs dùngCA125 như một test để sàng lọc cho 1.010 phụ nữ sau mãn kinh và thấy 1trường hợp UTBT, giá trị tiên đoán (+) của thử nghiệm là 1,72%; Einhomdùng CA 125 kết hợp với siêu âm ổ bụng cho 5.550 phụ nữ trên 40 tuổi pháthiện được 9 ca UTBT, giá trị tiên đoán (+) là 3,43%.
Tuy nhiên, CA125 có tác dụng định hướng cho bác sỹ Lê Thanh Bình sửdụng CA125 trên 58 bệnh nhân UBT điều trị tại Bệnh viện Sản Hải Phòngthấy giá trị tiên đoán (+) là 53,8%, giá trị tiên đoán (-) là 86,7%, khả năngchẩn đoán đúng Ac = 79,3% Trong 86,7% ca u nang BT lành tính có CA125trong giới hạn bình thường <35UI/ml, 53,9% ca UTBT có CA125 >35 UI/ml.Dựa trên kết quả nghiên cứu, các tác giả cho rằng không nên lạm dụngCA125 như là biện pháp hữu hiệu trong chẩn đoán sớm UTBT, bởi giá trịCA125 chỉ có tính định hướng trong chẩn đoán, theo dõi, đánh giá kết quảđiều trị, khả năng tái phát và di căn
Tuy độ đặc hiệu của CA125 thấp, không có giá trị chẩn đoán sớm đối vớiUTBT ở phụ nữ trẻ, nhưng ở phụ nữ mãn kinh, giá trị chẩn đoán tính chất áctính của CA125 là 100 % khi lượng CA125 >65 UI/ml Vì vậy nên sử dụngCA125 phối hợp với các marker khác hoặc với siêu âm để nâng cao hiệu quảchẩn đoán
Trang 221.2.4.3 Chẩn đoán hình ảnh
- X quang
Chụp tử cung - vòi trứng, chụp bụng không chuẩn bị hoặc chụp hệ tiếtniệu bằng phương pháp chụp thận tĩnh mạch (Urographie intraveineuse -UIV) có thể thấy các hình ảnh gây chèn ép niệu quản khi u đã quá to, hình cảnquang của mảnh xương răng, các vết vôi hóa của u - nang bì; hoặc hình ảnhlắng đọng canxi của các khối u ác tính Chụp tim phổi cũng là xét nghiệm cầnthiết trong chẩn đoán UBT vì tim phổi là vị trí di căn thường gặp trong ungthư biểu mô BT Trong hội chứng De Mons - Meigs có thể thấy hình ảnh tràndịch màng phổi
- Chụp cắt lớp vi tính (CT scane):
Là phương pháp hiện đại cho phép nhìn thấy toàn diện ổ bụng, nghiêncứu được u, hạch cạnh sống, hạch cạnh động mạch chủ và hạch vùng khungchậu cũng như đo được tỷ trọng chất chứa trong u để phân biệt mỡ, xương,dịch Trên cắt lớp vi tính, u tế bào mầm có khối đặc, có thể có một phần dịch,
tỷ trọng từ 10 - 20 HD, cấu trúc loang lổ do có thể có những vùng ngấm ítthuốc hoặc vùng hoại tử không ngấm thuốc; u mô đệm dây sinh dục có nhiềumúi và ngoài phần đặc còn thấy vùng dịch, vùng hoại tử, hình thoái hoá vàvôi hoá; UBT ác tính có thành dày mỏng không đều, có vôi hoá, dịch trong tu
có tỷ trọng >15 HU Chụp CT scan là phương pháp chẩn đoán không canthiệp, cho giá trị chẩn đoán rất cao cả về chẩn đoán thể bệnh cũng như chẩnđoán giai đoạn bệnh, hữu ích cho bác sĩ lâm sàng để đưa ra phương pháp điềutrị và tiên lượng bệnh Tuy vậy, việc trang bị máy CT scan đến nay còn hạnchế và giá chụp còn quá cao nên phương pháp này chưa được sử dụng phổbiến trong chẩn đoán khối UBT
- Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Cộng hưởng từ giúp phát hiện và phân giai đoạn các khối u phụ khoa có
Trang 23tính chất ác tính có nguồn gốc trong âm hộ, cổ tử cung, tử cung, buồng trứng
và ống dẫn trứng Tuy nhiên giá thành còn cao nên chưa thể áp dụng một cáchthường quy
- Siêu âm:
Siêu âm có vai trò quan trọng trong chẩn đoán các khối UBT, có khảnăng lặp lại nhiều lần nên siêu âm là chỉ định đầu tay của các bác sĩ khi thămkhám khối UBT Bên cạnh đó, siêu âm cũng rất có giá trị trong theo dõi diễnbiến khối UBT và có giá trị nhất định trong dự đoán khá năng ác tính Siêu
âm quan sát được BT khá rõ ràng, phát hiện khối u và cung cấp các đặc điểm
và số đo chính xác đến vài mm; siêu âm còn giúp thăm dò các vị trí khác đểtìm dịch ổ bụng, tìm dấu hiệu di căn và loại trừ khối u không thuộc BT Trongsiêu âm, nếu thấy hình ảnh khối u bờ không đều, nham nhở không phân biệt
rõ với tổ chức lân cận, u có vách, có nhú ở trong hay mặt ngoài u, kèm theodịch cổ trướng, nên hướng tới chẩn đoán ác tính
- Siêu âm doppler
Doppler phát hiện được những mạch máu tăng sinh bất thường xungquanh và trong lòng khối u Qua đánh giá chỉ số trở kháng RI và chỉ số xung
PI của dòng máu người ta có thể nhận định tốc độ, hướng dòng chảy, mức độtăng sinh của mạch máu để dự đoán tính chất ác tính của khối u Doppler màutrên u thanh dịch có thể thấy mạch máu trong vách hoặc thành khối u; còndoppler trên u nhẩy không có mạch bên trong u,
Một số hình ảnh doppler dự đoán khối UBT ác tính :
- Mạch máu xâm nhập nhiều ở vùng trung tâm khối u
- Mạch máu nhánh có kích thước to hơn mạch máu chính
- Có nhiều mạch tắt giữa động mạch và tĩnh mạch
- Cuối mạch máu phình to thành hổ huyết
- Độ trở kháng RI thấp (RI < 0,4), tốc độ dòng máu PI cao (PI > 1) Theo Robbin, khi nghiên cứu hình ảnh siêu âm doppler cho thấy độ trở
Trang 24kháng tưới máu khối u có RI < 0,4 thì tỷ lệ ác tính với độ nhạy 96% , độ đặchiệu 99,8%
Năm 1996, Fleischer AC [43], qua nghiên cứu 62 trường hợp nhận xét:với doppler khả năng chẩn đoán đúng UTBT là 83%, độ nhạy 92%, độ đặchiệu 80%
1.2.5 Đặc điểm hình ảnh siêu âm ubt
Đa số các tác giả đều mô tả hình ảnh BT, bình thường khi siêu âm BTnằm ở hố BT, sát thành bên tiểu khung, ở dưới tĩnh mạch chậu trong và trướccủa hệ thống mạch hạ vị, nhưng vị trí này có thể thay đổi khi người phụ nữ đã
đẻ nhiều lần, có một khối u khác, có nang trứng nhỏ, người quá béo hoặc BT
bị bao quanh bởi các quai ruột Vì vậy nên sử dụng kết hợp các phương phápsiêu âm đường trên bụng và qua đường âm đạo để xác định chính xác vị trí
BT và có thể thấy rõ các tổn thương ở BT Hình ảnh cấu trúc BT trên siêu âmthường phụ thuộc vào chu kỳ phát triển của nang trứng và tuỳ theo từng thờiđiểm của chu kỳ kinh Nếu ở giai đoạn đầu của chu kỳ, cấu trúc BT sẽ hơi ít
âm, hoặc đồng âm so với tử cung; còn nếu ở giữa chu kỳ sẽ tăng âm vì ở giaiđoạn này phần vỏ BT trở nên dày
Vào giữa chu kỳ kinh sẽ thấy BT có nhiều nang, nhưng thường là nang
cơ năng với những kích thước khác nhau, từ 20 - 30 mm, đôi khi từ 40 - 50
mm nếu nàng đã tồn tại 2, 3 chu kỳ
Khi BT có u, bên BT có u, thường phần tuỷ BT tăng âm hơn so với BTbình thường BT bình thường đôi khi có phần đặc vôi hóa hình chấm hoặc cóhình vệt dạng vỏ trứng, tương ứng với tiến triển cuối cùng của sẹo hóa thẻvàng Khi mãn kinh kích thước BT teo nhỏ, tăng âm và trở nên khó quan sáthơn, nếu vẫn thấy kích thước to nên lưu ý đến bất thường BT Theo Lý ThịBạch Như cho rằng những BT có tổn thương ác tính là những BT có thể sờthấy sau thời kỳ mãn kinh
Trang 25Trên siêu âm u nang cơ năng thường có kích thước nhỏ (dưới 6 cm), bờđểu, giới hạn rõ ràng, thành nang mỏng, dịch nang là vùng trống âm đồngnhất, nàng thường tự mất đi sau khoảng hai, ba chu kỳ kinh
UBT thực thể thường có kích thước lớn, luôn tồn tại khi chưa được điềutrị Mật độ, cấu trúc âm bên trong u tùy thuộc vào bản chất khối u Khối ucàng tăng âm và cấu trúc âm càng không đồng nhất thì khả năng ác tính càngcao UBT thực thể được xếp làm hai dạng là u dạng nang với cấu trúc dịch, cóthể xen lẫn cấu trúc tăng âm và u dạng đặc với các cấu trúc tăng âm có thểđồng nhất hoặc không đồng nhất, có thể có cấu trúc, dịch
1.3 Thông tin về IOTA
1.3.1 Đại cương về IOTA group
IOTA group - The International Ovarian Tumor Analysis group
(Nhóm phân tích khối u buồng trứng quốc tế) được thành lập năm 1999 bởicác giáo sư Dirk Timmerman, Lil Valentin and Tom Bourne
Mục đích đầu tiên của nhóm là xây dựng và phát triển một cách chuẩnhóa ngôn ngữ mô tả khối UBT
Năm 2000, nhóm đã xuất bản một tuyên bố thống nhất về các thuậtngữ, định nghĩa và đo lường để mô tả các đặc tính trên siêu âm của khối UBT,hiện đang được sử dụng rộng rãi
Sau khi đã đồng ý về hệ thống thuật ngữ được tiêu chuẩn hóa, các nhànghiên cứu chính của IOTA từ các trung tâm khác nhau đã thu thập được mộtnhóm lớn bệnh nhân với khối UBT dai dẳng Phân biệt chính xác trước phẫuthuật giữa các khối UBT lành tính và ác tính Nghiên cứu đã tập trung vàoviệc phát triển các mô hình dự đoán để ước tính nguy cơ ác tính
IOTA đã phát triển các quy tắc đơn giản và mô hình toán học dựa trênhồi quy logistic (LR 1-2), rất dễ sử dụng trong thực hành lâm sàng để ước tínhnguy cơ ác tính Những mô hình này đã được xác nhận tiềm năng và được
Trang 26chứng minh là có hiệu suất rất tốt, gần với đánh giá chủ quan của một chuyêngia siêu âm Hơn nữa, các mô hình này tiếp tục hoạt động tốt bởi những bác sĩ
có kinh nghiệm siêu âm khác nhau Gần đây, nhóm đã xuất bản mô hìnhADNEX, mô hình đa giác tiên đoán đầu tiên, có thể phân biệt giữa bốn nhómnhỏ của khối u ác tính
Hiện tại IOTA đang tham gia vào một số nghiên cứu mới Nhóm đangthực hiện nghiên cứu biểu hiện dài hạn của bệnh lý UBT được quản lý (IOTAgiai đoạn 5) Điều này sẽ trả lời các câu hỏi quan trọng về các biến chứng vàbiến đổi ác tính trong khối còn lại tại chỗ Các nghiên cứu đang được thựchiện để xác định thử nghiệm giai đoạn thứ hai tốt nhất cho các khối UBT khóphân loại theo các mô hình hiện có, ví dụ như MRI (IOTA-MRI) Các nghiêncứu khác tập trung vào việc xác định các dấu ấn sinh học tiềm năng mới(trans-IOTA) sẽ được kết hợp trong các mô hình chẩn đoán
Ngày nay, IOTA group có hơn 50 đơn vị lâm sàng đóng góp cho cácnghiên cứu, gần như có mặt ở mọi châu lục Nhóm là đa ngành và liên quanđến các bác sĩ phụ khoa, bác sĩ X quang, bác sĩ ung thư - cũng như các nhàvật lý và sinh học Nhóm tin rằng giao tiếp tốt giữa tất cả các ngành này làcách tốt nhất để biến các ý tưởng thành hiện thực, mang lại lợi ích tốt nhấtcho bệnh nhân
1.3.2 Hệ thống thuật ngữ mô tả khối UBT của theo IOTA (IOTA 2000)
Trong giai đoạn lập kế hoạch cho một nghiên cứu quốc tế, đa trungtâm về khối UBT, IOTA group đã thấy có nhiều vấn đề trong việc mô tả khốiUBT trên siêu âm Nhóm nghiên cứu tài liệu và cho thấy sự khác biệt đáng
kể về độ chính xác trong chẩn đoán của các quy trình xét nghiệm khác nhau[2]
Cũng đã có nhiều cuộc thảo luận và có một báo cáo chỉ ra rằng sử dụngcác thuật toán chẩn đoán xuất phát từ hồi cứu phân tích dữ liệu trong một
Trang 27trung tâm cụ thể không tạo ra kết quả tốt như vậy khi được sử dụng ở mộttrung tâm khác [6].
Nhóm đã tổ chức các cuộc họp đặc biệt để thảo luận về các vấn đề củatiêu chuẩn hóa và xây dựng các điều khoản, các thủ tục để thống nhất đượccác kết luận cuối cùng về hình ảnh siêu âm ở chế độ B-mode, về tín hiệu dòngchảy của mạch máu trên siêu âm Doppler màu
1.3.2.1 Định nghĩa
* Tổn thương
Một tổn thương phần phụ là một phần của buồng trứng hoặc một khốiphần phụ được đánh giá bằng siêu âm không phù hợp với chức năng sinh lýbình thường
Tình trạng này có thể phát sinh từ sự hiện diện của một u nang đơnthuần dai dẳng, được bao quanh bởi lớp vỏ buồng trứng trông bình thường cóchứa một số nang Trong trường hợp này, toàn bộ buồng trứng chứa u nang là
“buồng trứng”, trong khi đó u nang đơn thuần là “tổn thương” Kích thướccủa cả hai cấu trúc được đo độc lập và u nang được mô tả là “đơn thuần” vàkhông phải là “đơn thuần – đặc” Kích thước của cả buồng trứng và tổnthương được đo riêng Trong một số trường hợp, tổn thương và buồng trứng
là không thể phân biệt, và do đó kích thước của tổn thương và buồng trứng sẽgiống nhau
* Đặc điểm hình thái
+ Vách
- Vách hoàn toàn: là một dải mô mỏng chạy ngang qua khoang u từ một
bề mặt bên trong sang bên đối diện
- Vách không hoàn toàn: là một dải mô mỏng chạy ngang qua khoangnang từ một bề mặt bên trong sang bên đối diện, nhưng không hoàn chỉnhtrong một số mặt phẳng quét
Trang 28+ Mô đặc: là phần tăng âm, biểu hiện sự có mặt của mô.
Trong các khối UB, lớp vỏ buồng trứng bình thường và vách ngănthông thường không được coi là mô đặc
Các phương pháp để phân biệt giữa cục máu đông và sự hiện diện của
mô đặc bao gồm đẩy nhẹ đầu dò về phía cấu trúc và tìm kiếm chuyển độngbên trong, và sử dụng hình ảnh Doppler màu
Sự hiện diện của dòng chảy (với các cài đặt thích hợp) là chẩn đoán cho
Nếu có một chồi, thì định nghĩa là thành không đều
-Thành ngoài không được xét đến
Trang 29Trong trường hợp khối u đặc, thường không mô tả thành trong đều haykhông đều mà chỉ mô tả bờ của khối u đều hay không đều.
Nếu có bất kỳ sự bất thường nào ở thành trong của u nang hoặc ở thànhngoài của khối u đặc thì tổn thương được mô tả là “không đều”
+ Đặc điểm nổi bật của nội dung trong UBT
- Trống âm (màu đen)
- Phản âm nhẹ (nghĩa là siêu âm mức độ thấp đồng nhất như nhìn thấy trongcác khối u nhầy hoặc xuất hiện tương tự như nước ối),
- Phản âm dạng “Kính mờ” (thường thấy trong các u nang nội mạc tử cung)
- Xuất huyết (với các cấu trúc giống như sợi bên trong, đại diện cho các sợifibrin; trong các u nang xuất huyết có thể mô tả độ vang như hình sao, giốngnhư mạng nhện hoặc giống như thạch, như thường thấy trong teratomas)
- Hỗn hợp
Hình 1.4 Nội dung trong u
Trong các khối u rắn, tính năng vượt trội của bất kỳ nội dung nang nàochỉ được mô tả nếu có thể đánh giá được
+ Bóng cản: là bóng cản âm phía sau một cấu trúc hấp thụ sóng âmmạnh, được ghi nhận là “có” hay “không có”
Trang 30+ Dịch cổ trướng: là dịch bên ngoài túi cùng Douglas, được ghi nhận là
“có” hay “không có”
* Tất cả tổn thương được phân loại định tính thành sáu loại:
- Nang đơn thùy: nang có dạng một thùy, không có vách, không có phần mô
đặc hay chồi
Hình 1.5 Các loại nang đơn thùy
- Nang đơn thùy - đặc: nang có dạng một thùy, không có vách, có phần mô đặchoặc chồi
Hình 1.6 Các loại nang đơn thùy – đặc
- Nang đa thùy: nang có dạng nhiều thùy, có tối thiểu 1 vách hoàn toàn, không
có phần mô đặc hoặc chồi
Trang 31Hình 1.7 Nang đa thùy
- Nang đa thùy - đặc: nang có dạng nhiều thùy, có tối thiểu 1 vách hoàn toàn,
có phần mô đặc hoặc chồi
Hình 1.8 Nang đa thùy – đặc
- U đặc: phần mô đặc chiếm >80% toàn bộ khối UBT
Trang 32* Vách ngăn
Độ dày của vách ngăn dày nhất được đo ở nơi nó dường như rộng nhất(khác với giao diện của nó ở bề mặt bên trong của thành nang) Do độ phângiải dọc của hầu hết các thiết bị siêu âm đều vượt trội so với độ phân giải bên,nên tốt nhất là đo vách ngăn vuông góc với chùm siêu âm
Hình 1.10 Cách đo vách ngăn
* Chồi
Kích thước chồi được đo trên 2 mặt phẳng vuông góc nhau, một mặtphẳng để đo chiều cao và mặt phẳng còn lại để đo 2 kích thước phần đáy chồi
Hình 1.11 Đo kích thước chồi
Trong một vài trường hợp khó để xác định có phải chồi hay không, ta
sử dụng một đường vẽ tưởng tượng và đo kích thước chồi theo đường vẽ ấy
Trang 33Hình 1.12 Đường vẽ tưởng tượng để đo kích thước chồi
Trang 34Hình 1.14 Đo dịch túi cùng Douglas
* Đặc điểm mạch máu
Toàn bộ khối u cần được kiểm tra bằng siêu âm Doppler màu
Đối với khối u có lấy phổ ở nhiều chỗ, tập hợp kết quả có vận tốc trungbình theo thời gian cao nhất và phải sử dụng cùng một giá tri của các thôngsố: chỉ sổ xung PI, chỉ số kháng trở RI và tốc độ đỉnh tâm thu PVS
Nếu chỉ đánh giá chủ quan dòng chảy ở các vị trí thành nang, váchngăn, mô đặc, ta sử dụng thang điểm sau:
Score 1: Không thấy tín hiệu dòng chảy
Score 2: Chỉ phát hiện dòng chảy tối thiểu
Score 3: Khi có tín hiệu dòng chảy ở mức vừa phải
Score 4: Tín hiệu dòng chảy xuất hiện với lưu lượng cao ở các phần của u.Thang điểm màu này chỉ đưa ra đối với hình ảnh Doppler màu chứkhông liên quan đến phổ dịch chuyển
1.3.3 Mô hình rủi ro IOTA ADNEX (Assessment of Diffirent Neoplasias in the adneXa)
Ung thư buồng trứng là khối u ác tính phụ khoa tích cực nhất Tỷ lệsống sót sau 5 năm của bệnh nhân là khoảng 40% và căn bệnh này chiếmkhoảng một nửa số ca tử vong liên quan đến ung thư phụ khoa Yếu tố quantrọng nhất để sống sót là giai đoạn bệnh ở thời điểm chẩn đoán
Trang 35Do đó, IOTA group đã nỗ lực thực hiện phát triển một phương phápsàng lọc, phát hiện ung thư buồng trứng ở giai đoạn đầu có khả năng làmgiảm tử vong do ung thư buồng trứng.
Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến tiên lượng là việc chuyển
BN đến trung tâm ung thư phụ khoa để chẩn đoán thêm hoặc được phẫu thuật
và đánh giá bởi các chuyên gia trong nhiều chuyên ngành Việc điều trị nhưvậy sẽ giúp tăng lên đáng kể cơ hội chữa bệnh cho BN, nhưng một tỷ lệ lớnphụ nữ bị UTBT vẫn chỉ được điều trị bởi các bác sĩ phẫu thuật chung, có thể
vì bản chất thực sự của bệnh chưa được biết trước khi phẫu thuật
Điều trị tối ưu các khối u ác tính buồng trứng phụ thuộc vào loại khối u.Điều trị khối u giáp biên có thể cần ít tích cực hơn so với điều trị khối u xâmlấn, đặc biệt nếu việc bảo tồn khả năng sinh sản là quan trọng Trong cáctrường hợp được lựa chọn, UTBT giai đoạn I có thể được kiểm soát bảo tồn tốthơn so với bệnh ở giai đoạn muộn, trong khi đối với ung thư di căn vào BT phụthuộc vào nguồn gốc của khối u nguyên phát Một chẩn đoán cụ thể, gần nhưchắc chắn chính xác về khối UBT trước khi phẫu thuật sẽ cải thiện sự phân loạibệnh nhân và do đó làm tăng khả năng bệnh nhân sẽ được điều trị đúng
IOTA group đã nghiên cứu và nhận thấy việc tạo ra mô hình dự đoánrủi ro ác tính là hoàn toàn khả thi Các mô hình trước đây, nhóm nhận thấykhông thật sự chính xác để phân biệt 4 khả năng của khối UBT: lành tính,giáp biên, UTBT nguyên phát và UTBT thứ phát, vì:
- Đầu tiên, mô hình dự đoán chỉ được xây dựng thông tin từ 754 BN, trong đó
có 40 UBT giáp biên, 121 UTBT xâm lấn và 30 UTBT thứ phát
- Thứ hai, chỉ số CA 125 không được quan tâm Nhóm nhận thấy nó có thểkhông mang lại nhiều lợi ích trong việc phân biệt lành tính và ác tính, nhưnglại có ý nghĩa rất lớn trong việc phân biệt các nhóm nhỏ của UTBT
Trang 36- Cuối cùng, các mô hình trước không phân biệt UTBT nguyên phát giai đoạn I
và giai đoạn II- IV
Do đó, nhóm đã đã phát triển một mô hình dự đoán rủi ro đa hình có thểđáng tin cậy phân biệt giữa UBT lành tính, UBT giáp biên, UTBT giai đoạn I,UTBT giai đoạn II-IV, và UTBT di căn thứ phát
1.3.3.1 Phương pháp và quá tình xây dựng mô hình
* Thiết kế nghiên cứu
- Thực hiện ở đa trung tâm, đối tượng là phụ nữ có khối UBT cần đượcphẫu thuật theo chỉ định của bác sĩ lâm sàng
- Sử dụng các thuật ngữ mô tả siêu âm chuẩn đã được thống nhất từtrước để áp dụng trong mô tả, đo đạc, nhận định khối UBT trên siêu âm
- Nguồn BN: được chọn bởi 24 trung tâm trên 10 quốc gia Trong đó có
12 trung tâm ung bướu, còn lại là trung tâm đa khoa và các phòng khám siêu âm
- Các giai đoạn thực hiện: từ năm 1999 đến năm 2012, gồm có: giaiđoạn 1a từ 1999-2002, giai đoạn 1b từ 2002-2005, giai đoạn 2 từ 2005-2007,giai đoạn 3 từ 2009-2012
* Đối tượng nghiên cứu
- BN có một khối UBT dai dẳng mà không phải là nang sinh lý, đãđược kiểm tra bằng siêu âm và có quyết định mổ của bác sĩ lâm sàng
- BN phải cam kết đồng ý tham gia siêu âm và phẫu thuật
- Tiêu chuẩn loại trừ: BN từ chối siêu âm, BN có thai, BN được phẫuthuật sau 120 ngày làm siêu âm
* Thu thập dữ liệu và tiêu chuẩn tham khảo
- Thu thập tiền sử
- Siêu âm đầu dò âm đạo từng BN để lấy số liệu (có thể sử dụng siêu
âm đường bụng nếu khối tổn thương quá lớn) Siêu âm Doppler màu
- Đo nồng độ CA 125 trong máu của các BN
Trang 37- Tổn thương sau khi phẫu thuật được làm giải phẫu bệnh để chẩn đoánMBH Sử dụng bảng phân loại của Liên đoàn sản khoa và phụ khoa quốc tế(FIGO) để phân loại MBH của khối UBT.
- Dữ liệu thu được được nhập vào máy tính và các phần mềm để lưu trữ
và xử lý
* Phân tích số liệu
Nhóm đã phát triển mô hình dự đoán bằng cách sử dụng dữ liệu trongcác giai đoạn 1, 1b và 2 (n = 3506) của IOTA và xác thực lại từ những BNtrong giai đoạn 3 (n = 2403)
Chỉ số CA 125 huyết thanh không phải là một biến số bắt buộc (khôngđược đo ở 31% BN)
Các biến cần thu thập được chia thành 2 nhóm:
+ Lâm sàng: 4 biến:
- Độ tuổi (năm)
- Nồng độ CA-125 huyết thanh (U/mL)
- Tiền sử gia đình mắc ung thư buồng trứng (có/không)
- Loại trung tâm (trung tâm ung thư và bệnh viện khác)
+ Siêu âm: 6 biến:
- Đường kính tối đa của tổn thương (mm),
- Đường kính mô đặc (nghĩa là đường kính tối đa của thành phần rắn lớn nhất chia cho đường kính tối đa của tổn thương)
- U có số thùy > 10 (có/không)
- Số lượng chồi (0, 1, 2, 3,>3)
- Sự hiện diện bóng cản (có/không)
- Sự hiện diện của dịch ổ bụng (có/không)
Trong đó, biến “trung tâm ung bướu” để làm tăng khả năng ác tính củakhối u