1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG STRESS TRƯỚC PHẪU THUẬT THEO CHƯƠNG TRÌNH của NGƯỜI BỆNH tại KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH và y học THỂ THA BỆNH VIỆN đại học y hà nội

37 583 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 669,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ LINHĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG STRESS TRƯỚC PHẪU THUẬT THEO CHƯƠNG TRÌNH CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VÀ Y HỌC THỂ THAO BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂ

Trang 1

NGUYỄN THỊ LINH

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG STRESS TRƯỚC PHẪU THUẬT THEO CHƯƠNG TRÌNH CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VÀ Y HỌC THỂ THAO

BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ LINH

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG STRESS TRƯỚC PHẪU THUẬT THEO CHƯƠNG TRÌNH CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VÀ Y HỌC THỂ THAO

BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Chuyên ngành: Điều dưỡng

Mã số:

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM QUANG MINH

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

BN : Bệnh nhân

CTCH & YHTT : Chấn thương chỉnh hình và y học thể thao

ICD : (International Classification of Diseases)

Phân loại bệnh quốc tế

ASA : (American Sociaty of Anesthesiologist)

Phân loại bệnh nhân theo tiêu chuẩn của hiệp hội

gây mê hồi sức Mỹ

WHO : (World Health Organization )

Tổ chức y tế thế giới

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Giới thiệu về stress 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Hậu quả 4

1.2 Đặc điểm bệnh nhân chấn thương tại khoa CTCH và YHTT 4

1.2.1 Định nghĩa chấn thương 4

1.2.2 Các loại chấn thương 5

1.2.3 Một số đặc điểm tâm lý bệnh nhân chấn thương 5

1.3 Stress trên bệnh nhân trước phẫu thuật 6

1.4 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, stress của bệnh nhân trước phẫu thuật .7

1.4.1 Yếu tố tuổi 7

1.4.2 Giới tính 8

1.4.3 Trình độ học vấn 8

1.4.4 Nghề nghiệp 8

1.4.5 Điều kiện kinh tế 9

1.4.6 Tiền sử bản thân 9

1.4.7 Tình trạng đau của bệnh nhân trước phẫu thuật 10

1.4.8 Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước khi vào viện 11

1.4.9 Sự giải thích của nhân viên y tế 11

1.5 Đánh giá mức độ stress 11

1.6 Tình hình nghiên cứu lo âu, stress trước phẫu thuật 12

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 15

Trang 5

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 15

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu 15

2.2.3 Các biến số, chỉ số thu thập trên đối tượng nghiên cứu 16

2.3 Tiến hành nghiên cứu 17

2.3.1 Thu thập số liệu 17

2.3.2 Quy trình thu thập số liệu 17

2.3.3 Xử lý và phân tích số liệu 17

2.3.4 Đạo đức nghiên cứu: 17

CHƯƠNG 3:DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18

CHƯƠNG 4:DỰ KIẾN BÀN LUẬN 22

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 23

DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 3.1: Tuổi của đối tượng nghiên cứu 18

Bảng 3.2: Giới tính 18

Bảng 3.3: Trình độ học vấn 18

Bảng 3.4: Nghề nghiệp 19

Bảng 3.5: Tình trạng hôn nhân 19

Bảng 3.7: Liên quan giữa giới tính và stress của BN trước phẫu thuật 19

Bảng 3.8: Liên quan giữa tuổi và tâm lý bệnh nhân stress trước phẫu thuật 20

Bảng 3.9: Liên quan giữa trình độ học vấn và stress của BN trước phẫu thuật .20

Bảng 3.10: Liên quan giữa nghề nghiệp và stress BN trước phẫu thuật 20

Bảng 3.11: Liên quan giữa tình trạng kinh tế và tâm lý của BN trước PT .21

Bảng 3.12 Liên quan giữa tình trạng đau và tâm lý stress của bệnh nhân .21

Bảng 3.13: Liên quan giữa việc giải thích của NVYT và tâm lý stress của BN 21

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh nhân nhập viện với bất kể lý do gì đều lo âu ở các mức độ khácnhau Nếu không được kiểm soát, sự lo âu trong thời gian dài sẽ gây ra stress,tác động bất lợi và làm chậm thời gian hồi phục của bênh nhân Lo âu vàstress trước phẫu thuật còn nghiêm trọng hơn, bởi lẽ phẫu thuật dù nhỏ cũngảnh hưởng lớn đến tâm lý của bệnh nhân Tuy nhiên, mức độ stress trước mổcủa mỗi bệnh nhân là khác nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại vàtính phức tạp của cuộc mổ, trải nghiệm phẫu thuật trước đây và sự nhạy cảmcủa bệnh nhân với stress Stress trước mổ liên quan đến các vấn đề như khólàm đường truyền, tăng nguy cơ ho, sặc vào đường thở khi khởi mê, xuất hiệncác rối loạn thần kinh thực vật và tăng nhu cầu thuốc mê Nó cũng liên quanđến tăng đau, tăng nguy cơ nôn và buồn nôn sau mổ, chậm hồi phục và tăngnguy cơ nhiễm khuẩn Ngoài ra, stress trước mổ ở mức độ nặng có thể liênquan đến các phản xạ sinh lý không mong muốn như tăng huyết áp, rối loạnnhịp tim và có thể làm bệnh nhân từ chối cuộc mổ Tỉ lệ stress trước mổ daođộng từ 60% đến 92% và mức độ nặng của nó thay đổi tuỳ thuộc vào loạiphẫu thuật

Trên thế giới, có nhiều nghiên cứu khảo sát về mức độ lo âu,stress vàtrầm cảm của người bệnh nội trú Các bác sỹ tâm lý đề xuất nhiều công cụkhảo sát đánh giá mức độ stress trầm cảm, một số phương pháp đã đượccông nhận và sử dụng rộng rãi Gần đây, một số nghiên cứu đi sâu vàođánh giá đối tượng bệnh nhân trước phẫu thuật, chỉ ra mức độ lo âu, stresstrầm cảm cũng như các yếu tố nguy cơ hay hậu quả không mong muốn của

nó Nghiên cứu của Atanassova M (2009) cho thấy có trên 62% bệnh nhânstress trước phẫu thuật, phụ nữ stress hơn nam giới, tuổi càng tăng thì tỉ lệstress càng tăng, có liên quan chặt chẽ giữa trình độ học vấn và stress trước

mổ Một nghiên cứu khác ở Hồng Kông cho rằng nếu bệnh nhân đượcnghe nhạc do chính họ tự chọn trong quá trình phẫu thuật sẽ giúp làm giảmcác tác động tâm lý và stress

Trang 8

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đề cập đến vấn đề lo âu stress và trầmcảm nhưng tập trung chủ yếu vào nhóm bệnh nhân ung thư, bệnh nhân bị cácbệnh mạn tính đang điều trị nội trú, rất ít đề tài nghiên cứu về lo âu trướcphẫu thuật Năm 2013, nghiên cứu về tâm lý của bệnh nhân trước phẫu thuậttại khoa Ngoại tổng hợp - BVĐK Ba Tri cho thấy: lo lắng nhất của BN trướcphẫu thuật là sợ đau 58%, lo lắng về kinh tế 26% Một nghiên cứu khác trênbệnh nhân phẫu thuật tim hở tại bệnh viên Bạch Mai (2005) cho kết quả: tỷ lệngười bệnh lo âu trước phẫu thuật là ≥ 83%, 58,6% người bệnh lo sợ rủi roliên quan đến phẫu thuật

Hiện nay, ở nước ta cùng với sự phát triển kinh tế, sự bùng nổ của cácphương tiện giao thông, đường quốc lộ được nâng cấp, các công trình xâydựng ở khắp nơi đồng nghĩa với tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt ngày mộtnhiều hơn, các khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình tại các bệnh viện trong cảnước luôn trong tình trạng quá tải Khoa Chấn thương chỉnh hình và Y họcthể thao của bệnh viện đại học Y Hà Nội tuy mới được thành lập nhưng cũngkhông nằm ngoài xu thế đó Bệnh nhân chấn thương tại khoa mặc dù chưaphải nằm ghép nhưng do tâm lý chờ phẫu thuật và đau ở các mức độ khácnhau nên chắc chắn không tránh khỏi tâm lý lo âu Tuy nhiên mức độ stress rasao, các yếu tố liên quan đến tình trạng đó thế nào và phải làm gì để kiểm soát

là vấn đề cần được quan tâm tại Bệnh viện Đại học Y Hà nội, nơi đang nhậnđược rất nhiều sự tin tưởng của người bệnh Vì vậy chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình trạng stress trước phẫu thuật theo chương trình của người bệnh tại khoa Chấn thương chỉnh hình và Y học thể thao bệnh viện đại học Y Hà Nội” với các mục tiêu sau:

1 Đánh giá tình trạng stress trước phẫu thuật theo chương trình của người bệnh tại khoa CTCH và YHTT bệnh viện đại học Y Hà Nội.

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress của người bệnh tại khoa CTCH và YHTT bệnh viện đại học Y Hà Nội.

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu về stress

Stress là thuật ngữ tiếng Anh được dùng trong vật lý học để chỉ một sứcnén vật liệu phải chịu đựng Đến thế kỷ thứ XVII từ ý nghĩa sức ép trên vậtliệu được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâmphạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng Hiệnnay stress là một thuật ngữ được dùng rộng rãi Tuy nhiên, nhiều tác giả sửdụng với những sắc thái khác nhau

Theo nhà tâm lý học Hans Selye năm 1946 “Stress là một phản ứng

sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng ”.

Ông mô tả ba giai đoạn mà mỗi cá nhân phải đối mặt trong những tình huốnggây stress

+ Giai đoạn 1: Phản ứng báo động, giai đoạn đầu của sự kháng cự đượctheo sau bởi cú sốc chạm trán với stress Trong giai đoạn này cách thức phòngthủ của mỗi cá nhân trở thành hành động

+ Giai đoạn 2: Sự kháng cự đây là giai đoạn của sự thích nghi tối đa và

có cơ hội trở lại trạng thái cân bằng của mỗi cá nhân Tuy nhiên, nếu tác nhângây stress vẫn tiếp tục hoặc không thực hiện các phương thức phòng thủ thì cánhân chuyển sang giai đoạn 3

Trang 10

+ Giai đoạn 3: Kiệt sức khi các phương thức thích nghi sụp đổ

Theo J.Delay “Stress là một trạng thái căng thẳng cấp diễn của cơ thể

buộc phải huy động các khả năng phòng vệ đối phó với một tình huống đang

đe dọa”.

Những lý thuyết mới hơn hoàn thiện hơn về stress nhấn mạnh sự tácđộng qua lại giữa một người và môi trường của người đó bằng cách xem xétstress như là hậu quả của sự không thích nghi giữa cá nhân với môi trườnglàm việc

Như vậy, có rất nhiều khái niệm khác nhau về stress nhưng tựu chunglại nó đều là những căng thẳng, mệt mỏi, là sức nén mà con người phải chịuđựng Nó vượt quá khả năng phòng vệ và tự kiểm soát của mỗi con người

- Cơ, khớp: rùng mình, đau ngực, đau mình mẩy, cảm giác rã rời chân tay

- Tiết niệu: đái buốt, đái dắt

- Sinh dục: đau bụng kinh, khả năng sinh dục giảm

- Nội tiết: tăng tiết adrenalin, serotonin, toát mồ hôi, ra mồ hôi tay chân

- Thần kinh, nhức đầu, mệt mỏi, mất ngủ, suy nghĩ miên man,giảm nhớ

- Nếu nặng có thể có các rối loạn về tâm thần

1.2 Đặc điểm bệnh nhân chấn thương tại khoa CTCH và YHTT

1.2.1 Định nghĩa chấn thương

Chấn thương là việc các tác động bên ngoài tác động, gây tổn thương

Trang 11

cho các cấu trúc giải phẫu bình thường của tổ chức; gây ra sự giảm, rối loạnhay mất đi chức năng sinh lý bình thường của tổ chức đó và gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến sinh hoạt của người bị chấn thương”.

1.2.2 Các loại chấn thương

Chấn thương mô mềm: gân – cơ – dây chằng với nhiều mức độ khácnhau có thể do va chạm trực tiếp hay bị kéo căng quá mức – vặn xoắn, co rútđột ngột với nhiều mức độ khác nhau như giãn – rách – đứt – đụng dập…

Chấn thương khớp

Đó là tình trạng mất tương quan bình thường của mặt khớp, hai mặtkhớp bị xê dịch ra khỏi vị trí bình thường Nguyên nhân do lực tác động lớnlàm đứt, rách bao khớp và dây chằng quanh khớp

Chấn thương xương

Là sự mất liên tục cấu trúc xương do lực tác động mạnh Lực có thểmạnh đột ngột dẫn đến gãy xương cấp tính Hoặc lực có thể vừa phải nhưnglặp đi lặp lại nhiều lần dẫn đến xương bị gãy mệt (gãy xương diễn ra từ từ vàlâu ngày)

1.2.3 Một số đặc điểm tâm lý bệnh nhân chấn thương

- Tâm lý bệnh nhân chấn thương có những diễn biến phức tạp Đầu tiên

là bệnh nhân đau mong muốn được giảm đau, mong muốn được sớm phẫuthuật tuy nhiên lại sợ phẫu thuật có để lại di chứng tàn phế gì không? Do vậyvài trò của điều dưỡng và bác sỹ để hỗ trợ và giúp đỡ bệnh nhân là hết sứcquan trọng, tùy vào bệnh nhân để có can thiệp tác động tâm lý với bệnh nhân

- Giai đoạn trước khi phẫu thuật:

Trong số những bệnh nhân nằm viện, bệnh nhân ngoại khoa đặc biệt làtrước khi mổ, là những người chịu nhiều lo âu, stress nhất Theo M Pitts(2003) có 3 yếu tố chính dẫn đến stress cho người bệnh trước mổ

Trang 12

- Gây mê: Người bệnh hiểu rằng có thể mình sẽ bị mất ý thức, khôngcòn khả năng kiểm soát bản thân , họ cũng sợ “ không tỉnh dậy”, bị “ ngủ”luôn hoặc tỉnh lại được nhưng có thể “quên hết mọi thứ”.

- Lo ngại những cơn đau sau mổ, đặc biệt là khi tỉnh lại và thuốc giảmđau đã hết tác dụng

- Chính sự kiện phẫu thuật: bị mổ, rạch da, việc sử dụng dao , kéophẫu thuật và đặc biệt là những tiếng đốt điện, dùng búa, đục gõ… với nhữngbệnh nhân gây tê

Theo Pitts, mỗi thành tố trên cũng có thể là một tác nhân gây stressnhưng chúng thường kết hợp với nhau làm stress càng phức tạp và khóđối phó

Một điểm đáng lưu ý và cũng có thể là tác nhân gây stress cho ngườibệnh trước phẫu thuật , đó là ý nghĩ, đặc biệt là những phụ nữ còn trẻ, rằng cơthể mình bị bộc lộ hoàn toàn cho người lạ Tất nhiên không phải trường hợpnào cũng vậy

1.3 Stress trên bệnh nhân trước phẫu thuật

Bệnh nhân có thể cảm nhận ngày phẫu thuật là ngày đe dọa nhất đếntính mạng trong đời họ Mức độ mà các bệnh nhân biểu hiện sự lo lắng liênquan đến trải nghiệm sau đó và phụ thuộc vào nhiều yếu tố Bao gồm tuổi,giới, loại và quy mô của phẫu thuật, trải nghiệm phẫu thuật trước đây, sự nhạycảm của cá nhân với stress Nhiều bệnh nhân trải qua lo lắng đáng kể trước

mổ và điều này được báo cáo ảnh hưởng đến 60-80% bệnh nhân phẫu thuật.Tăng lo lắng trước mổ liên quan đến các phản xạ sinh lý, như tăng huyết áp,rối loạn nhịp tim và có thể làm bệnh nhân từ chối cuộc mổ

Việc đo mức độ lo lắng trước mổ ở các phẫu thuật có chuẩn bị hiện đại

là rất khó để thực hiện, chủ yếu do hạn chế về mặt thời gian Ở một nghiêncứu thực hiện ở Thổ Nhĩ Kỳ trên bệnh nhân phẫu thuật, hầu hết các bệnh nhân

Trang 13

chờ phẫu thuật lo lắng ở mức độ cao Điểm lo lắng cao hơn ở bệnh nhân nữ sovới nam Kết quả gợi ý rằng bệnh nhân có trình độ giáo dục cao ước tính nguy

cơ phẫu thuật đúng đắn hơn, tuy nhiên các bệnh nhân trình độ giáo dục thấphơn có thể lo sợ mơ hồ và vì vậy có mức độ lo lắng cao hơn Các bệnh nhânphẫu thuật trung bình có mức độ lo lắng cao hơn so với phẫu thuật lớn

Nguyên nhân hàng đầu gây lo lắng là khả năng phẫu thuật bị hoãn(69.6%), sau đó là sợ các sai sót trong mổ (64%), sợ không được quan tâmchăm sóc đầy đủ (63.2%) và sợ không tỉnh lại sau mổ (58.4%) Đối tượngnghiên cứu ít lo lắng nhất về vấn đề nôn và buồn nôn sau mổ (8%) Chỉ27.1% nam tham gia và 40.9% nữ tham gia có lo lắng một cách đáng kể.Tuy nhiên sự khác nhau về giới khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Thay đổi môi trường, chờ đợi phẫu thuật, đau sau mổ, lo lắng về giađình, lo sợ cái chết, nhịn ăn, truyền máu, sợ mơ hồ, sai sót của bác sĩ, điềudưỡng, bị chọc kim và sợ tỉnh trong khi gây mê là các yếu tố chủ yếu làmtăng lo lắng trước mổ ở phụ nữ khi so với nam giới

Các chiến lược kiểm soát lo lắng thường được dùng cho đối tượngnghiên cứu bao gồm liệu pháp dùng thuốc để giảm lo lắng và đau và liệu phápkhông dùng thuốc bao gồm cung cấp thông tin, nói chuyện, và giảm căngthẳng Mặc dù các chiến lược này là hữu ích, chúng có thể không hiệu quảcho tất cả bệnh nhân

1.4 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, stress của bệnh nhân trước phẫu thuật

Mức độ biểu hiện lo lắng của mỗi bệnh nhân liên quan đến kinhnghiệm trong tương lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố Bao gồm:

1.4.1 Yếu tố tuổi

Vấn đề lứa tuổi rất quan trọng, với từng lứa tuổi lại có suy nghĩ và cáchnhìn nhận vấn đề khác nhau nên có những cung bậc cảm xúc khác nhau, nóảnh hưởng rất lớn tới nhận thức của bệnh nhân:

Trang 14

 Đối với tuổi thanh niên thường đánh giá cao sức khỏe của mình coithường bệnh, chú ý nhiều đến thẩm mỹ, sợ xấu người,…

 Đối với tuổi trung niên thì nét tâm lý chững trạc hơn, ổn định hơnnên phản ứng với bệnh tật và nhận thức của họ đối với bệnh mang dấu vếtnhân cách và đã hình thành vững chắc

 Đối với người lớn tuổi bệnh nhân thường bi quan với tác hại củabệnh, đánh giá thấp sức khỏe của mình Bệnh nhân dễ lo sợ, hoang mang, khótính, đòi hỏi cao, yêu cầu giải đáp tường tận, khoa học

1.4.2 Giới tính

Theo một vài nghiên cứu, nữ có tâm lý yếu hơn nam giới Họ dễ bị kíchđộng và bị ảnh hưởng bởi các tác nhân xung quanh, nên trước phẫu thuật họthường lo âu hơn nam giới

Trong nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Phương (2007) cho thấy trướcphẫu thuật tỷ lệ rối loạn lo âu ở nữ là 38,6%, ở nam là 19% Như vậy ta thấy

tỷ lệ lo âu trước phẫu thuật ở nữ cao gấp 2 lần so với nam

1.4.4 Nghề nghiệp

Qua nhiều nghiên cứu đã chứng minh những bệnh nhân có nghề laođộng chân tay có tỷ lệ lo âu cao nhất Như nghiên cứu của Hoàng Thị MinhPhương (2007) là 32,5%, trong nghiên cứu của Dương Văn Tú (2013) là 63%

Trang 15

trong khi lao động trí óc chỉ chiếm 16,82% Lao động chân tay thường là côngviệc nặng nhọc, không ổn định và thu nhập không cao Đây là nhóm đốitượng ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ y tế để chẩn đoán và điều trị sớm.

Sự nặng nhọc trong công việc, sự bất ổn về kinh tế là yếu tố gây sang chấntâm lý cho nhóm đối tượng này

1.4.5 Điều kiện kinh tế

Đây luôn là một vấn đề với tuyệt đại đa số bệnh nhân Việt Nam Đốivới nước ngoài, bệnh nhân có bảo hiểm chi trả toàn bộ nên không thành vấn

đề Ở Việt Nam, người bệnh hoặc không có bảo hiểm hoặc bảo hiểm chỉ chitrả một phần vì chi phí cho một cuộc phẫu thuật cột sống là rất tốn kém ngoài

ra còn có các chi phí phát sinh nằm ngoài dự kiến ban đầu Đôi khi vấn đề nàylại làm tăng thêm sự lo âu của người bệnh

“Một trở ngại cần chú ý đó là chi phí cho mỗi lần can thiệp là một sốtiền lớn hàng chục triệu trở lên, với những người không có bảo hiểm là cảmột gia tài, còn đối với những người có bảo hiểm cũng chỉ được bù mộtphần”

1.4.6 Tiền sử bản thân

Tiền sử mắc bệnh của bản thân bệnh nhân cũng ảnh hưởng không nhỏđến tâm lý Những bệnh nhân chưa từng phẫu thuật sẽ đòi hỏi rất nhiều thôngtin về bệnh của mình, về ca phẫu thuật Họ luôn có xu hướng hướng ngoại,luôn bày tỏ nỗi lo lắng của mình và mong muốn được chia sẻ Còn nhữngbệnh nhân có bệnh mạn tính hay đã từng phải phẫu thuật có tâm lý rất phứctạp, có thể theo hướng tích cực và cũng có thể theo hướng tiêu cực Bệnhnhân đã từng được phẫu thuật sẽ ít lo lắng hơn những bệnh nhân chờ phẫuthuật lần đầu tiên Vì họ đã từng trải qua, hiểu và có kinh nghiệm về phẫuthuật trước đó

Trang 16

Mặt khác, một số biểu hiện tâm lý tiêu cực có thể xuất hiện là :

 Lo lắng thái quá, stress về bệnh tật và cuộc phẫu thuật Bản thân họđang mang trong người một bệnh lý mạn tính nào đó và việc phải trải quacuộc phẫu thuật là quá sức đối với họ Họ lo sợ về những rủi ro, về ảnh hưởngkhông tốt của căn bệnh mạn tính đến ca PT Hay một người đã trải qua PT,phải chịu rất nhiều đau đớn và đặc biệt đã có những biến chứng sau PT thìviệc phải trải qua thêm một cuộc PT nữa là một điều kinh khủng đối với họ

 Thờ ơ, không quan tâm, coi thường sức khỏe Việc đã từng mắcbệnh, từng phải phẫu thuật khiến bệnh nhân thấy quen thuộc với bệnh tật Họkhông còn cảm giác lo lắng, họ phó mặc cho số phận

1.4.7 Tình trạng đau của bệnh nhân trước phẫu thuật

Đau làm thay đổi trạng thái tâm lý và khả năng lao động của con người

Nó làm giảm các chất lượng các hoạt động chú ý, tư duy, trí nhớ, Những cơnđau trung bình (đau răng, đau do sẹo chai…) cũng làm cho người bệnh mấtvui, giảm tri giác thẩm mỹ và hoạt động sáng tạo Những người phải chịuđựng đau đớn kéo dài thường trở nên nóng nảy, thô bạo, lạnh nhạt, thậm chíđộc ác, không thích đùa, không hài lòng khi thấy người khác vui, thế giới nộitâm và ý thức bị thu hẹp, có trường hợp dẫn đến trầm cảm điển hình với ýđịnh tự sát hoặc bị các rối loạn tâm thần khác Ngay từ năm 1897, Tocarxki

đã viết: “Đau làm rối loạn quá trình tâm lý, mọi ý nghĩ dường như bị ngắtquãng một thời gian ngắn và trong ý thức chỉ còn cảm giác đau rõ rệt nhất”

Con người vật lộn với cơn đau và dùng tâm lý để khắc phục cơn đau

Vỏ não đóng vai trò điều chỉnh cơ thể trong đấu tranh chống lại cơn đau theoquy luật cảm ứng hưng phấn ưu thế Trong lâm sàng phẫu thuật hàm mặt, vôcảm bằng âm nhạc với âm thanh có cường độ lớn, có thể đạt kết quả 90%trường hợp Trong thực tế, có rất nhiều bằng chứng chứng minh khả năng dùngtâm lý để khắc phục cơn đau một cách kỳ diệu Vì vậy, người thầy thuốc cầnphải giúp người bệnh thoát khỏi sự đau đớn bằng thuốc và bằng tâm lý

Trang 17

1.4.8 Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân trước khi vào viện

Bệnh nặng hay nhẹ là một trong những vấn đề bệnh nhân lo lắng Khichưa rõ tình trạng bệnh của bản thân, BN thường tự đi tìm hiểu qua cácbệnh nhân khác, qua NVYT hay qua các tài liệu tìm được Nếu thông tin từnhững nguồn này không chính xác sẽ gây những lo âu không cần thiết chongười bệnh

Nếu nhẹ thì nỗi lo tất nhiên ít, nếu bệnh nặng, ác tính, khả năng tử vongcao, thì tất nhiên lo lắng nhiều thậm chí tuyệt vọng Bệnh nhân không phải làngười am hiểu về chuyên môn nên họ không phân biệt được bệnh nặng haynhẹ, chính trong hoàn cảnh đó bệnh nhân thường hay tìm hiểu ở NVYT, dòhỏi bệnh nhân khác hay tìm đọc tài liệu chuyên môn

1.4.9 Sự giải thích của nhân viên y tế

Khi vào viện bệnh nhân luôn mong muốn được nhân viên y tế giải thích

tư vấn cho họ và họ luôn có một lòng tin vào nhân viên y tế Các yếu tố có thểlàm giảm lo lắng trước phẫu thuật liên quan đến việc cung cấp các thông tincủa nhân viên y tế Như vậy, nhân viên y tế làm việc trong bệnh viện cungcấp thông tin đầy đủ hay không sẽ liên quan đến sự lo âu cho bệnh nhân

1.5 Đánh giá mức độ stress

Stress là một vấn đề phổ biến ở mọi người trong cuộc sống Để giúp việcchẩn đoán và điều trị những trường hợp stress, lo âu bệnh lý, các nhà nghiên cứuđặc biệt là lĩnh vực tâm thần, tâm lý lâm sàng đã xây dựng rất nhiều thang đo(trắc nghiệm) , chuẩn hóa và ứng dụng trong thực hành lâm sàng

Thang đánh giá stress, lo âu và trầm cảm (DASS): Năm 1995,

Lovibond S H và Lovibond P F tại khoa tâm lý học đại học New SouthWales, Australia đã xây dựng nên thang đo đánh giá stress, lo âu và trầmcảm ký hiệu là DASS – 42 Bên cạnh thang đo DASS – 42 còn có mộtphiên bản rút gọn là DASS – 21 được xây dựng năm 1997 Tính phù hợp

Trang 18

của các tiểu mục trong mỗi phần ở cả 2 phiên bản DASS – 42 và DASS –

21 đều cao (Cronbach‟s Alpha của DASS – Trầm cảm là 0.96-0.97, củaDASS – Lo lắng là 0.84 – 0.92, của DASS – Căng thẳng là 0.90 –

0.95) [46] Thang đo DASS 21 ở Việt Nam được chuẩn hóa trên đốitượng là những phụ nữ ở miền Bắc Việt Nam với hệ số Cronbach‟s Alphakhá cao DASS – Trầm cảm là 0,72, của DASS – Lo lắng là 0,77, của DASS– Căng thẳng là 0,7 [52]

Các nội dung trong thang đo DASS 21 không có ý nghĩa chẩn đoánphân biệt người bệnh như các triệu chứng trong các triệu chứng được đưa ratrong hướng dẫn phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10), mà mụcđích của nó là đưa ra một thực trạng trong quần thể nghiên cứu, giúp chonhà quản lý nhân lực có được cái nhìn tổng quát về tình trạng stress, lo âu

và trầm cảm, từ đó có những chính sách cải thiện, nâng cao hiệu suất laođộng Đây cũng là thang đo đồng thời đánh giá được ba loại rối loạn tâmthần phổ biến stress, lo âu và trầm cảm Đồng thời, thang đo này cũngđược sử dụng phổ biến khi đồng thời nghiên cứu cả ba loại rối loạn tâmthần Từ những lí do trên, thang đo DASS -21 đã được chọn sử dụng chonghiên cứu

1.6 Tình hình nghiên cứu lo âu, stress trước phẫu thuật

Một nghiên cứu về lo lắng trước phẫu thuật và các yếu tố liên quan trongphẫu thuật giữa các người bệnh được tiến hành ở bệnh viện Debre Markos vàFelege Hiwot tại Northwest Ethiopia năm 2017 Nghiên cứu chỉ ra rằng 61%(95% CI:55,5-65,7) bệnh nhân có mức độ lo lắng trước phẫu thuật cao Yếu tốđược báo cáo phổ biến gây nên sự lo lắng trước phẫu thuật là sợ biến chứng187(52,4%) Có một mức độ lo lắng trước phẫu thuật cao đáng kể ở bệnhnhân nữ OR = 2.19(95% CI:1.29-3.71) và bệnh nhân thiếu thông tin trướcphẫu thuật OR = 2.03(95% CI: 1.22-3.33)

Ngày đăng: 21/07/2019, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Guo, P., L. East, and A.J.I.j.o.n.s. Arthur, A preoperative education intervention to reduce anxiety and improve recovery among Chinese cardiac patients: a randomized controlled trial. 2012. 49(2): p. 129-137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A preoperative educationintervention to reduce anxiety and improve recovery among Chinesecardiac patients: a randomized controlled trial
16. Ebirim, L., amp, and M.J.T.i.j.o.A. Tobin, Factors responsible for pre- operative anxiety in elective surgical patients at a university teaching hospital: A pilot study. 2010. 29(2): p. 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors responsible for pre-operative anxiety in elective surgical patients at a university teachinghospital: A pilot study
17. Moser, D.K., et al., Critical care nursing practice regarding patient anxiety assessment and management. Intensive and critical care nursing, 2003. 19(5): p. 276-288 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Critical care nursing practice regarding patientanxiety assessment and management
18. Shuldham, C., 1. A review of the impact of pre-operative education on recovery from surgery. International journal of nursing studies, 1999.36(2): p. 171-177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1. A review of the impact of pre-operative education onrecovery from surgery
19. Norred, C.L., Minimizing preoperative anxiety with alternative caring‐healing therapies. AORN journal, 2000. 72(5): p. 838-843 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minimizing preoperative anxiety with alternative caring‐"healing therapies
20. Ping G and Linda E, A.A., A preoperative education intervention to reduce anxiety and improve recovery among Chinese cardiac patients: a randomized controlled trial. . 2011: p. Int J Nurs Stud.2012;49(2):129- 137. doi: 10.1016/j.ijnurstu.2011.08.008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A preoperative education intervention toreduce anxiety and improve recovery among Chinese cardiac patients: arandomized controlled trial
21. Lê Minh Thuận, Tâm lý người bệnh. 2012: Trường đại học y dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý người bệnh
22. Cecelia Monat Taylor & Dorothy A. Mereness, Mental health and the cause and prevention of mental illness. Essential of psychiatric nursing’(10th edition) - The C.V Mosby Company (Saint Louis), 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental health and thecause and prevention of mental illness
25. Dương Văn Tú, Tìm hiểu các hình thái rối loạn lo âu khác trên bệnh nhân điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần từ năm 2011-2012. 2013, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các hình thái rối loạn lo âu khác trên bệnhnhân điều trị nội trú tại viện sức khỏe tâm thần từ năm 2011-2012
27. Pinar G and Kurt A and Gungor T, The efficacy of preopoerative instruction in reducing anxiety following gyneoncological surgery: a case control study World J Surg Oncol. 2011: p. 9:38. doi: 10.1186/1477- 7819-9-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The efficacy of preopoerativeinstruction in reducing anxiety following gyneoncological surgery: acase control study World J Surg Oncol
30. Heidi A. Haman & Jill B. Nealey & Timothy W. Smith, “Health psychology”, ‘Handbook of psychological change - Psychotherapy processes and practices for the 21st century’. 2001: Macmillan publishing CO, INC (New York) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Healthpsychology”, ‘Handbook of psychological change - Psychotherapyprocesses and practices for the 21st century’
31. Nigussie, S., T. Belachew, and W. Wolancho, Predictors of preoperative anxiety among surgical patients in Jimma University specialized teaching hospital, South Western Ethiopia. BMC surgery, 2014. 14(1): p. 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Predictors of preoperativeanxiety among surgical patients in Jimma University specialized teachinghospital, South Western Ethiopia
32. Celik, F. and I.S. Edipoglu, Evaluation of preoperative anxiety and fear of anesthesia using APAIS score. European journal of medical research, 2018. 23(1): p. 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of preoperative anxiety and fearof anesthesia using APAIS score
33. Jawaid, M., et al., Preoperative anxiety before elective surgery.Neurosciences, 2007. 12(2): p. 145-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preoperative anxiety before elective surgery
34. Huỳnh Lê Phương, et al., Khảo sát mức độ lo âu trước mổ bệnh nhân khoa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w