1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng dư lượng một số hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả và nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe tại một số quận thành phố hà nội năm 2013

85 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu “Đánh giá thực trạng dư lượng một số hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả và nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe tại một số quận thành phố Hà Nội năm 2013” với mục tiêu: 1.. Tổ c

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rau củ và trái cây là một trong những nguồn thực phẩm chủ yếu cung cấpcác loại vitamin, khoáng chất, chất chống oxy hóa, chất xơ và một số chất dinhdưỡng quan trọng khác cho cơ thể con người Tại châu Âu việc tiêu thụ các mặthàng rau vào khoảng 160 kg/bình quân đầu người/năm, ở châu Á lượng rau đượctiêu thụ còn nhiều hơn nữa Một lượng lớn rau củ và trái cây đã được khuyếnkhích ăn vào, không chỉ để ngăn chặn hậu quả do thiếu vitamin và khoáng chất

mà còn để giảm tỷ lệ mắc các bệnh nguy hiểm như ung thư [1], bệnh tim mạch

và béo phì Nhưng rau củ, trái cây tươi cũng có thể là một nguồn tiềm năng củacác chất độc hại Vì vậy, an toàn thực phẩm trong rau quả đã và đang là một mốiquan tâm lớn trên toàn thế giới [2]

Hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) là những chất hóa học, thường đượcdùng trong các hoạt động nông nghiệp hiện đại để bảo vệ cây trồng khỏi dịch hại[3] Các loại rau củ và cây ăn quả bị tấn công bởi sâu bệnh trong quá trình sảnxuất và bảo quản dẫn đến thiệt hại làm giảm chất lượng và năng suất Việc sửdụng thuốc trừ sâu đã tăng lên bởi vì chúng có tác động nhanh chóng đến cácloại tác nhân gây bệnh hơn các phương pháp kiểm soát dịch hại khác Ở nước tahiện nay, người trồng rau đã và đang lạm dụng quá nhiều HCBVTV để phuntưới cho rau quả với mục đích lợi nhuận mà chưa có những hiểu biết cần thiết vềcách sử dụng an toàn cho sức khỏe con người Theo báo cáo của Cục Bảo vệthực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Hội nghị tổng kết về côngtác vệ sinh an toàn thực phẩm trong ngành nông nghiệp được tổ chức vào tháng8/2009, đã công bố kết quả kiểm tra 25 mẫu rau tại các tỉnh phía Bắc, kết quảcho thấy có tới 44% mẫu rau có dư lượng HVBVTV, trong đó 4% mẫu rau bịnhiễm vượt quá giới hạn cho phép Kết quả kiểm tra trên 35 mẫu rau tại các tỉnh

Trang 2

phía Nam cũng đã phát hiện có 8,6% mẫu rau có hàm lượng HCBVTV đủ khảnăng gây ngộ độc cho người ăn [4].

Quận Hai Bà Trưng và huyện Thanh Trì là hai địa bàn có diên tích gieotrồng và buôn bán rau quả và các sản phẩm lớn của Hà Nội Với vị trí địa lí gầnsông nên hệ thống cung cấp nước tưới cho cây trồng chủ yếu từ các sông Lừ, TôLịch, Kim Ngưu… là những con sông đã và đang bị ô nhiễm quá nặng từ cácnguồn thải dân sinh, công nghiệp và bệnh viện Đây là nguồn cung cấp nướcchính, bên cạnh đó việc sử dụng HCBVTV tại đây cũng được sử dụng tràn lan,diễn ra thường xuyên để đáp ứng nhu cầu của một thị trường lớn, đông dân cưcủa Hà Nội

Nghiên cứu “Đánh giá thực trạng dư lượng một số hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả và nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe tại một số quận thành phố

Hà Nội năm 2013” với mục tiêu:

1 Xác định dư lượng một số hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả thông dụngđược bày bán tại chợ thông thường tại Hà Nội

2 Mô tả tình trạng thải trừ hóa chất bảo vệ thực vật qua sữa mẹ và nước tiểu củaphụ nữ đang cho con bú dưới 12 tháng tuổi tại vùng nông thôn và thành phố

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN1.1 Đại cương về hóa chất bảo vệ thực vật.

1.1.1 Định nghĩa.

Theo cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA), HCBVTV là: “Bất kỳ chấthoặc hợp chất dùng để ngăn chặn, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sâu bệnh Sâubệnh bao hàm các loại: Sâu, chuột, các loại động vật khác, các loại thực vậtkhông mong muốn (có), nấm, vi sinh vật như vi khuẩn và virus”

Tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm thế giới (FAO) năm 1986 định nghĩaHCBVTV là bất kỳ một chất nào đó hay hỗn hợp các chất nào đó được dùng đểphòng, phá hủy hay diệt bất kỳ một vật hại nào kể cả vectơ bệnh của người haysức vật, những loại cỏ dại hoặc các động vật gây hại hoặc can thiệp trong quátrình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hoặc tiếp thị thực phẩm, thức ăn gia súc.Khái niệm này bao hàm các chất được dùng để điều chỉnh sự phát triển, làm rụng

lá hoặc làm khô thực vật hoặc là các chất được sử dụng cho mùa màng trướchoặc sau khi thu hoạch nhằm bảo quản hàng hóa khỏi hư hỏng trong quá trìnhcất giữ và vận chuyển[5]

HCBVTV là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế phẩm vi sinh vật có tácdụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu diệt hoặc kiểm soát vi sinhvật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật hoặc côn trùng bảo quản thựcvật; làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thuốc (Theo Luật Bảo vệ và kiểmdịch thực vật số 41/2013/QH13) HCBVTV là loại hàng hóa kinh doanh có điềukiện và phải được quản lý theo danh mục Hằng năm, Bộ trưởng Bộ Nôngnghiệp và phát triển nông thôn ban hành “Danh mục HCBVTV được phép sửdụng tại Việt Nam” và “Danh mục HCBVTV cấm sử dụng tại Việt Nam” Các tổchức, cá nhân được phép nhập khẩu, sản xuất, buôn bán, sử dụng thuốc có trong

“Danh mục HCBVTV được phép sử dụng tại Việt Nam”

Trang 4

Như vậy, ta thấy HCBVTV thường là những chế phẩm có nguồn gốc hóahọc hay sinh học và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ dịch hại hay điềukhiển quá trình sinh trưởng và phát triển cây trồng Các chế phẩm này thường cónguồn gốc hóa học là chủ yếu và thường là những chất độc gây độc cho conngười và gia súc Các chế phẩm có nguồn gốc sinh học ít độc hơn, ít gây hại chongười và gia súc nhưng giá thành lại cao nên cũng ít được sử dụng.

1.1.2 Phân loại.

HCBVTV là các loại hoá chất do con người sản xuất ra để trừ sâu bệnh và

cỏ dại có hại cho cây trồng HCBVTV được phân thành hai loại chính là thuốctrừ sâu và thuốc diệt cỏ Các loại thuốc này có ưu điểm là diệt sâu bệnh, cỏ dạinhanh, sử dụng lại đơn giản, nên được nông dân ưa thích Nhưng HCBVTVcũng có rất nhiều tác hại, đó là:

Trong tự nhiên có rất nhiều loại sâu hại khác nhau, có loại sâu ẩn núp dưới

lá, có loại đục vào thân cây, có loại lại chui vào đất, nên phải dùng nhiều loạithuốc khác nhau để tiêu diệt chúng Việc này gây khó khăn cho người sử dụng,nhất là những người nông dân có trình độ văn hoá thấp Nhiều người chỉ thíchmua thuốc rẻ để phun, không cần biết phạm vi tác dụng của chúng ra sao Cóngười hay phun quá liều chỉ dẫn để cho "chắc ăn", làm tăng lượng thuốc thừatích đọng trong đất và nước

Các loại thuốc trừ sâu thường có tính năng rộng, nghĩa là có thể diệt đượcnhiều loại côn trùng Khi dùng thuốc diệt sâu hại một số côn trùng có ích cũng bịdiệt luôn, đồng thời ảnh hưởng tới các loại chim ăn sâu, vì chim ăn phải sâu đãtrúng độc Nói cách khác, sau khi phun thuốc trừ sâu, số lượng thiên địch củanhiều loại sâu cũng giảm Ðiều đó có lợi cho sự phát triển của sâu hại

Các loại thuốc trừ sâu đều có tính độc cao Trong quá trình dùng thuốc, một

Trang 5

quả Người và động vật ăn phải các loại nông sản này có thể bị ngộ độc tức thờiđến chết, hoặc nhiễm độc nhẹ, từ từ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ.

Do trình độ hạn chế, một số nông dân không tuân thủ đầy đủ các quy định về sửdụng, bảo quản thuốc trừ sâu, có người cất thuốc vào chạn, vào tủ quần áo, nên

đã gây nên những trường hợp ngộ độc, thậm chí chết thảm thương do ăn nhầmphải thuốc

Một số loại thuốc trừ sâu có khả năng bay hơi mạnh nên gây khó chịu, mệtmỏi, thậm chí choáng ngất cho người trực tiếp phun thuốc sâu trên đồng ruộng,nhất là trong trường hợp không có các biện pháp phòng tránh tốt

Việc dùng thuốc trừ sâu liên tục sẽ sinh chứng nhờn thuốc Vì thế mỗi loạithuốc trừ sâu chỉ có tác dụng mạnh một số năm đầu sử dụng Ðể hạn chế bệnhnhờn thuốc, tăng khả năng diệt trừ sâu người ta thường tăng dần nồng độ thuốc,tăng số lần dùng thuốc Tuy nhiên biện pháp này không lâu dài do không thểtăng mãi nồng độ được Mặt khác, nó làm ô nhiễm môi trường mạnh hơn, dolượng tồn dư trong môi trường nhiều lên

Một số loại thuốc trừ sâu có tính năng hoá học ổn định, khó phân huỷ, nên

sẽ tích luỹ trong môi trường Sau nhiều lần sử dụng lượng tích luỹ này có thể caođến mức gây độc cho môi trường đất, nước, không khí và con người Do thuốctồn đọng lâu không phân huỷ, nên có thể theo nước và gió phát tán tới các vùngkhác, theo các loài sinh vật đi khắp mọi nơi Thuốc diệt cỏ được dùng ở mức íthơn Tuy nhiên do có tính độc, chúng cũng gây nên những tác hại tới môi trườnggiống như thuốc trừ sâu

Nói tóm lại, thuốc trừ sâu, diệt cỏ không chỉ có tác dụng tích cực bảo vệmùa màng, mà còn gây nên nhiều hệ quả môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởngtới hệ sinh thái và con người Do vậy cần phải thận trọng khi dùng thuốc và phảidùng đúng liều, đúng loại, đúng lúc theo chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật

Trang 6

HCBVTV có thể được phân loại theo nhiều cách như phân theo đối tượngphòng trừ (thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ ốc, thuốc trừnhện, thuốc trừ tuyển trùng, thuốc điều hòa sinh trưởng, thuốc trừ chuột) hoặcphân loại theo nguồn gốc hóa học (nhóm thuốc thảo mộc, nhóm clo hữu cơ,nhóm lân hữu cơ, nhóm carbamete, nhóm pyrethoid, nhóm pheromone, nhóm trừsâu vi sinh (Thông tư 03/2013/TT-BNNPTNT).

(nguồn gốc vô cơ); nhóm clo hữu cơ; nhóm lân hữu cơ; nhóm Pyrethroit(nguồn gốc sinh học) [6, 7]

Trang 7

Bảng 1 1: Phân loại HCBVTV theo độc tính và các biểu tượng về độ độc cần ghi trên nhãn

>200-2000

1000

>100-4000

Xanhnướcbiển

2000

Xanhlácây

Trang 8

1.1.3 Kĩ thuật 4 đúng trong việc dùng hóa chất bảo vệ thực vật.

1.1.3.1 Đúng thuốc.

Trước khi chọn mua thuốc, nông dân cần biết loại sâu, bệnh, cỏ dại gây hại

mà mình cần phòng trừ Không nên sử dụng cùng một loại thuốc trong suốt vụhoặc từ năm này qua năm khác Nên ưu tiên mua loại thuốc ít độc nhất, ưu tiênchọn mua loại thuốc có thời gian cách ly ngắn nhất

Nên ưu tiên mua những loại thuốc có tác động chọn lọc (có hiệu lực trừ sâubệnh cao nhưng tương đối ít độc đối với sinh vật có ích

1.1.3.2 Đúng liều lượng.

Dùng thuốc với liều cao hơn khuyến cáo càng làm gia tăng nguy cơ bị ngộđộc của người đi phun thuốc, người sống ở gần vùng phun thuốc và người sửdụng nông sản có phun thuốc Ngoài ra còn có nguy cơ cây trồng bị hại do thuốcliều lượng cao gây ra

1.1.3.3 Đúng lúc.

Đối với dịch hại đúng lúc là phun thuốc vào thời điểm mà dịch hại trênđồng ruộng dễ bị tiêu diệt nhất Sâu hại thường mẫn cảm nhất đối với HCBVTVkhi chúng ở giai đoạn sâu non tuổi nhỏ Đối với thuốc trừ cỏ thì phải tuỳ theođặc điểm của từng loại thuốc và sử dụng vào lúc thuốc có tác động mạnh nhấtđến cỏ dại và ít có nguy cơ gây hại cho cây trồng

Phun đúng lúc cũng là tránh phun thuốc khi trời sắp mưa to có thể làm rửatrôi hết thuốc trên mặt lá, thân cây Phun thuốc vào lúc trời mát, không có gió to

để thuốc bay vào mặt hoặc bay vào nhà ở gần nơi phun thuốc

Phun đúng lúc là không phụ thuộc vào quá gần ngày thu hoạch nông sản.Phải tuỳ loại thuốc mà ngừng sử dụng trước khi thu hoạch một thời gian nhấtđịnh

1.1.3.4 Đúng cách.

Dùng thuốc đúng cách thể hiện trước hết ở khâu pha thuốc Pha thuốc đúng

Trang 9

nước, như vậy khi phun thuốc sẽ được trang trải thật đều trên vật phun (lá cây,mặt đất…) Khâu tiếp theo của việc dùng thuốc đúng cách là phun rải thuốc trênđồng ruộng cho đúng cách Phun rải thuốc đúng cách là làm sao cho HCBVTVtiếp xúc được với dịch hại nhiều nhất Có những loại sâu hại chỉ tập trung phá ởgốc (ví dụ rầy nâu), có những loài chuyên sống trên lá, trên ngọn, lại có nhữngloài chỉ sống ở mặt dưới lá, … Do vậy khi phun thuốc phải hướng sao cho tia tậptrung vào nơi quy định phun.

Dùng thuốc đúng cách còn có nghĩa là không tự ý hỗn hợp nhiều loạiHCBVTV với nhau để phun trên đồng ruộng Khi hỗn hợp 2 hay nhiều loạiHCBVTV cũng có trường hợp do phản ứng với nhau mà hỗn hợp sẽ giảm hiệulực trừ dịch hại, hoặc dễ gây cháy lá cây, hoặc dễ gây độc cho người sử dụng Dovậy chỉ thực hiện việc hỗn hợp nếu như điều đó có hướng dẫn trên nhãn thuốchoặc trong các tài liệu khoa học kỹ thuật hướng dẫn dùng HCBVTV

1.1.4 Con đường xâm nhập của HCBVTV

bảo vệ thực vật và vào máu

ứng, một số làm hư da, nếu hóa chất thấm qua da sẽ đi vào máu đến các cơquan của cơ thể Các hóa chất dễ hoà tan trong dầu thấm sâu vào da hơn cáchóa chất để hoà tan trong nước

chất được thấm vào máu qua màng lót của miệng, bao tử, ruột

đó hóa chất có thể vào máu

Trang 10

 Để đảm bảo an toàn cho người, không để HCBVTV xâm nhiễm vào cơ thểcon người, cần hiểu biết về HCBVTV và thực hiện triệt để các nội dung sau:

sinh hoạt khác Phải để xa nguồn thực phẩm không để ánh sáng mặt trời rọivào trực tiếp và được khoá cẩn thận, để xa tầm tay với của trẻ em Các chất

dễ cháy, để HCBVTV phía trên chuồng trại chăn nuôi

trang, mặt nạ, găng tay, ủng, … thay quần áo tắm rửa sạch sẽ ngay sau khi phun hóa chất xong Không dùng bình phun rò rỉ, không để hóa chất rây lên da

bình chứa nước để đựng HCBVTV

loại HCBVTV đã bị cấm sử dụng, HCBVTV không có nhãn mác hoặc cónắp đậy không kín

chơi

1.1.5 Một số HCBVTV thông dụng.

HCBVTV đang sử dụng hiện nay trên thế giới có tới hàng nghìn chế phẩm,

do vậy người ta phải phân chia nhiều loại, theo nhiều cách khác nhau tùy thuộcvào số lượng sâu bệnh, cấu trúc hóa học và hợp chất được sử dụng hoặc mức độ

và hình thức tác động nguy hại cho sức khỏe

Trang 11

Bảng 1 2: Một số nhóm thuốc trừ sâu thông dụng [10].

1

THUỐC TRỪ SÂU THUỘC NHÓM CLO HỮU CƠ

Trang 12

1.2 Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật và ảnh hưởng lên sức khỏe.

1.2.1 Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật.

FAO (1991) đã định nghĩa dư luợng HCBVTV trong thực phẩm là lượng rấtnhỏ HCBVTV hoặc dẫn xuất, đồng phân của chúng có trong thực phẩm và lượngnày được đem so sánh với giới hạn dư lượng tối đa cho phép [6, 11]

Mức dư lượng tối đa cho phép là lượng tối đa một loại HCBVTV được chấpnhận cho phép tồn tại trong nông sản, thực phẩm hay thức ăn gia súc mà khônggây độc hại cho người và vật nuôi Mức dư lượng tối đa cho phép được biểu thịbằng miligam HCBVTV trong một kilôgam nông sản hàng hoá Mức dư lượngtối đa cho phép có thể qui định khác nhau ở mỗi nước, tuỳ theo đặc điểm sinh lý,sinh thái và đặc điểm dinh dưỡng của người dân nước đó

Hầu hết dư lượng HCBVTV đều là rất nhỏ nên phải dùng những phươngpháp phân tích hiện đại mới phát hiện được Dư lượng HCBVTV là một vấn đề

mà rất nhiều tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu như: FAO, WHO [12] Tuynhiên, chưa có một tiêu chuẩn quốc tế nào về giới hạn dư lượng HCBVTV trongthực phẩm được đưa ra mà chỉ là những khuyến cáo về giới hạn dư lượng tối đacho phép Các khuyến cáo này thay đổi ở từng quốc gia và ở từng thời gian khácnhau [6]

Dư lượng và thời gian tồn tại của dư lượng HCBVTV thay đổi rất nhiềuphụ thuộc vào các yếu tố:

Dư lượng của HCBVTV biểu thị tình trạng nguy hại của thuốc đối với môi trường

Trang 13

lượng HCBVTV trong thực phẩm bằng cách tăng cường các nghiên cứu về dưlượng, đưa ra việc sử dụng HCBVTV hợp lý theo hệ thống IPM (Intergrated PestManagement) [12] Do vậy cần phải xác định dư lượng HCBVTV trong thực phẩm,đất, nước, không khí… và nghiên cứu giới hạn cho phép của dư lượng HCBVTVtrong từng loại thực phẩm [6].

Tình trạng lạm dụng và sử dụng HCBVTV không đúng quy định sẽ dẫn đếnhậu quả nghiêm trọng đối với người tiếp xúc với HCBVTV [14], gây ô nhiễmrau quả và môi trường làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng thựcphẩm bị nhiễm HCBVTV [15]

1.2.2 Mức dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật tối đa cho phép trên nông sản.

HCBVTV có khả năng gây hại cho người và động vật Mỗi cơ thể đều cómột giới hạn nhất định chịu đựng lượng HVBVTV gọi là giới hạn chịu đựng của

cơ thể Nếu như loại thuốc đó xâm nhập vào cơ thể với một lượng thấp hơnlượng giới hạn nói trên thì chưa gây hại cho cơ thể Loại HCBVTV nào có độctính càng cao thì giới hạn chịu đựng của cơ thể càng thấp và ngược lại loạiHCBVTV nào có độc tính càng thấp thì giới hạn chịu đựng của cơ thể càng cao.Song quá trình hấp thu lương thực, thực phẩm của cơ thể thì việc tích lũyHCBVTV lâu dài cũng làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người

Những lương thực, thực phẩm chứa dư lượng HCBVTV ít hơn mức tối đacho phép thì được xem như là vô hại đối với sức khỏe người tiêu dùng Ngượclại, những nông sản chứa dư lượng HCBVTV vượt quá dư lượng tối đa cho phépthì không được dùng làm lương thực thực phẩm cho người tiêu dùng [16]

Từ các tài liệu trong nước: Qui định giới hạn tối đa ô nhiễm sinh học và hóahọc trong thực phẩm (ban hành kèm theo Quyết định số 46/2007/QĐ – BYTngày 19/12/2007 của Bộ Trưởng Bộ Y tế) tổng dư lượng tối đa cho phép của một

số hóa chất HCBVTV thường gặp trên rau, kết quả được trình bày ở bảng sau

Trang 14

Bảng 1 3 Tổng hợp dư lượng tối đa cho phép của một số hoạt chất

HCBVTV thường trên rau [10].

Trang 15

Đối với con người, dư lượng HCBVTV là nguyên nhân gây ra nhiều ngộ

độc cấp và mạn tính Nhận xét của FAO/WHO: “Thực phẩm luôn là nguyên nhân gây nhiễm độc cấp và mạn tính”[6].

Những triệu chứng nhiễm độc cấp tính có thể gồm nhức đầu, thị giác mờ,buồn nôn, nôn, thay đổi nhịp tim, yếu tim, liệt cơ hô hấp, tinh thần lẫn lộn, cogiật, mê man và tử vong Nhiều vụ ngộ độc thực phẩm liên tiếp xảy ra trong thờigian gần đây là những lời cảnh báo mạnh mẽ Tại An Giang – Việt Nam (năm1993) có 220 người bị nhiễm độc do ăn rau cải bị nhiễm HCBVTV [6] Điều tracủa Hoàng Đình Hồi trong 4 năm từ 1994 đến 1997 tại 4 tỉnh Tiền Giang, CầnThơ, Khánh Hòa và Huế có 4899 người bị nhiễm độc HCBVTV, chết 286 người,

số nhiễm độc tăng dần hàng năm [6] HCBVTV không chỉ ảnh hưởng nhất địnhtới sức khỏe của những người phun thuốc hay những người dân sống trong vùng

có phun HCBVTV ở nhiều mức độ khác nhau Nghiên cứu thực hiện tại tỉnhTiền Giang, Cần Thơ, Khánh Hòa và Huế cũng cho thấy 23,7% người trực tiếptiếp xúc với HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp có biểu hiện mệt mỏi; 14,8%

có biểu hiện đau đầu và 16,8% có các biểu hiện ngoài da như ngứa, nổi mẩn[17]

Nghiên cứu tại Thái Lan từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1999 trên 130 trườnghợp cho thấy có 80 trường hợp nhiễm độc HCBVTV do cố ý chiếm 61,5%, donghề nghiệp là 70 trường hợp chiếm 28,5%, 10 trường hợp nhiễm độc không chủ

ý chiếm 7,7%

Nghiên cứu tại Indonesia từ tháng 10 năm 1999 đến tháng 4 năm 2000 trên

126 trường hợp cho thấy có 54 trường hợp nhiễm độc HCBVTV do cố ý chiếm44,4%, do nghề nghiệp là 47 trường hợp chiếm 31,75%, 20 trường hợp nhiễmđộc không chủ ý chiếm 15,9%

Trang 16

Nghiên cứu tại Myanmar từ tháng 1 đến tháng 10 năm 200 tại 1 bệnh viện,trên 43 trường hợp cho thấy có 35 trường hợp nhiễm độc HCBVTV do cố ýchiếm 81,4%, do nghề nghiệp là 4 trường hợp chiếm 9,3%, 4 trường hợp khôngchủ ý chiếm 9,3% [18].

Một nghiên cứu về nhiễm độc hoá chất trừ sâu dài ngày tại Kim Bảng, HàNam cho thấy việc sử dụng HCBVTV dài ngày và không đúng quy định đã gâynên các biểu hiện rối loạn thần kinh trung ương như nhức đầu (67%), hoặc cácdấu hiệu về tiêu hoá như chán ăn (41,5%), buồn nôn (41,3%) và đau bụng(42,0%) cho người trực tiếp sử dụng HCBVTV Ngoài ra HCBVTV còn gây racác biểu hiện khác về hô hấp như chứng co thắt phế quản (14,4%) và tăng tiếtdịch [19]

Điều tra của Hoàng Đình Hồi trong 4 năm từ 1994-1997 tại 4 tỉnh Cần Thơ,Tiền Giang, Khánh Hoà, Huế cho thấy có 4899 người bị nhiễm độc HCBVTV,chết 286 người, số nhiễm độc tăng dần hàng năm [20]

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại các tỉnh Tiền Giang, Cần Thơ,Khánh Hoà và Huế cũng cho thấy 23,7% người trực tiếp tiếp xúc với HCBVTVtrong sản xuất nông nghiệp có biểu hiện mệt mỏi, 14,8% có biểu hiện đau đầu và16,8% có các biểu hiện ngoài da như ngứa, nổi mẩn [21]

1.3 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật.

1.3.1 Tình hình trên thế giới.

Sau Cách mạng xanh của Ấn Độ, tiêu thụ thuốc trừ sâu của Ấn Độ đã tănglên gấp vài trăm lần, từ 154 tấn năm 1954 đến 88.000 tấn trong năm 2000- 2001.Theo ước tính trong ngành công nghiệp, sử dụng thuốc trừ sâu tăng cao ở nhềukhu vực như: ở Ấn Độ 0,54kg/ha, ở Mỹ 3,7kg/ha và Châu Âu 2,7kg/ha

Trung Quốc là nhà sản xuất lớn nhất trong ngành công nghiệp HCBVTV

Trang 17

giới Theo Tổng cục Hải quan Trung Quốc tổng lượng xuất khẩu HCBVTV năm

2008 là 485 nghìn tấn với kim ngạch hơn 2 tỷ USD [22]

Tại Hoa Kỳ, từ 1966 đến 1986 nhu cầu đối với HCBVTV của nông dântăng mạnh, diện tích cây trồng được phun HCBVTV và chất diệt cỏ tăng gấp đôi[23], 75% diện tích canh tác nông nghiệp của Hoa Kỳ đã và đang sử dụngHCBVTV [22] Số HCBVTV nông dân sử dụng tăng từ 353 triệu lên 475 triệuPound Ở Hoa Kỳ sản lượng HCBVTV được chi phối bởi khoảng 28 công ty lớn[23] Hoa Kỳ là một quốc gia xuất khẩu HCBVTV lớn, năm 2008 xuất khẩu 115nghìn tấn kim gạch hơn 2 tỷ USD [22]

Nghiên cứu của L.H.Lee Fook Choy và S.Seevassen cho thấy các mẫu rauquả bán ở chợ với 126 mẫu rau quả có 152 mẫu phát hiện các loại thuốc trừ sâunhư loại pyrethroid insecticides cyfluthrin, cypermethrin, deltamethrin và 52mẫu cypermethrin, deltamethrin, methamidophos, profenofos, malathion phầnlớn ở mức dưới liều tối đa cho phép, có 2,3% số mẫu vượt trên ngưỡng chophép Nghiên cứu của C.Lesueur, M.Gartner, P.Knittl, P.List, S.Wimmer,V.Sieler, M.Furhacker năm 2004-2005 trên 3.300 mẫu rau quả bằng phươngpháp GC/MS đã phát hiện thấy thuốc trừ sâu ở mức dưới giới hạn cho phép là90% và có tới 8,2% số mẫu vượt trên ngưỡng cho phép, phần lớn số mẫu có mặtmột loại thuốc trừ sâu nhưng cũng phát hiện một số mẫu có tới 13 loại thuốc trừsâu Nghiên cứu với mẫu lớn như vậy đã phát hiện rất nhiều loại thuốc trừ sâu cótrong rau quả với mức độ khác nhau với các nhóm thuốc trừ sâu

Một số nghiên cứu đã được tiến hành để xác nhận rằng thuốc trừ sâu là yếu

tố có liên quan với bệnh ung thư và các bệnh khác trên toàn thế giới Nhữnggiám sát sinh học là cơ sở để ước tính nồng độ thuốc trừ sâu và chất chuyển hóacủa chúng trong các mô, các dịch thể, hoặc chất thải (phân và nước tiểu) Nhữngbằng chứng các xét nghiệm máu về thuốc trừ sâu đã cung cấp nhưng phân tích về

Trang 18

sự tồn tại của thuốc trừ sâu ở 4 trong 20 mẫu máu ở một làng với các loạiorganochlorine, organophosphorus (Wessels et al, 2003)

Một nghiên cứu từ Ontario, trong đó cặp mẫu mô mỡ và máu được lấy từcác nạn nhân bị tai nạn thường trú tại Nofolk County gồm 52 mẫu từ 315 các cưdân của Hà Lan cho thấy lượng ĐT tương đương là 0,032 và 0,016 (Brown vàChow, 1975)

Phân tích 27 mẫu máu của 19 người nam và 8 người nữ từ độ tuổi 21- 57 tạiphòng thí nghiệm nghiên cứu y tế TokyMetropolitan để tìm terphenyl,polychlorinated (PCTs), polychlorinated biphenyls (PCBs) và ĐE thu được giátrị trung bình tương ứng là 3,2 , 5,0 và 11,2 ppb (Doguchi và Fukano, 1975).Một nghiên cứu mẫu máu và mẫu sữa của 41 bà mẹ tại bệnh viện Quốc giaNairobi, Kenyatta vào năm 1986 đã phát hiện tỉ lệ các chất trong mẫu là ĐE(100%), ĐT (59%), HCH (12%),transnonachlor (15%) và betadieldrin (27%)trong đó có lindane (2%)

Một nghiên cứu của Kanja et al trên 135 mẫu máu của cư dân sống gần cửasông Elb (Shleswig- Holstein, Đức) cho thấy nồng độ HCH từ 0,5-22,9 ng/ml,HCB (benzene hexachloride betachoorganocholorines ) từ 0,8-55,2ng/ml, ĐE

từ 0,5-29,2ng/ml và octachlorostyrene 9,2ng/ml

Theo Frank và Cộng sự từ Veracruz, Mexico nghiên cứu về dư lượngHCBVTV ở huyết thanh và mô mỡ 64 bà mẹ tình nguyện cho thấy dư lượngHCH trong mô mỡ và huyết thanh tương ứng là 0,17 và 0,22mg/kg, t-ĐT tươngứng là 5,851, 5,226mg/kg và benzen hexachloro tương ứng là 0,0065, 0,18mg/kg cân nặng

Trang 19

Nghiên cứu của Waliszewski et al năm 2000 trên 96 mẫu huyết thanh và 46mẫu mô mỡ thu thập được từ những phụ nữ hiếm muộn ở các trung tâm y họcsinh sản tại Bỉ đã phân tích cho thấy có nhiễm organochlorine và 7 biphenyl…Một cuộc khảo sát trên 577 mẫu máu của toàn bộ con em học ở bán đảoMalaysia chiết xuất và phân tích cho thấy dư lượng của organochlorine vàorganophosphorus ( Mohammad et al, 2001).

Một nghiên cứu từ Canada với thu thập 251 mẫu máu từ năm 1994 đến năm

2001 cho thấy có DDE (9,1%), DDT (8,2%) và HCB ( 6,6%) không phát hiệnthấy chordanes (Dallaire et al, 2003)

Một nghiên cứu khác được tiến hành tại Mỹ tiến hành thu thập các mẫuhuyết tương sau khi sinh của 230 cặp mẹ và trẻ sơ sinh từ năm 1998 đến năm

2001 tại Trung tâm mô trường Columbia đem phân tích 29 loại thuốc trừ sâu thuđược kết quả có 7 loại thuốc trừ sâu đã phát hiện ở 48-83% huyết tương với hàmlượng từ 1-270pg/g gồm các thuốc diệt nấm, chlopyrifos organophosphates vàdiazinon, carbamate bendiocarb và 2-isopropoxyphenol, phthalimide vàtetrahydrophthalimide (chất chuyển hóa của captan và captafol)

Nghiên cứu của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh ở Hoa Kỳ (CDC) về mức

độ hóa chất trong 9.282 người dân trên toàn quốc cho thấy 100% máu và nướctiểu của họ có dư lượng thuốc trừ sâu

Một số nghiên cứu tiến hành tại Delhi, Ấn Độ đã cho thấy dư lượng thuốctrừ sâu organochlorine trong máu.Khi tiến hành lấy 182 mẫu máu với mức pháthiện được nồng độ trung bình trong máu toàn phần ở nam giới là 0,177-0,683mg/

l và nữ giới là 0,166-0,329mg/l

Trang 20

1.3.2 Tình hình trong nước.

Ở nước ta, hóa chất bảo vệ thực vật được bắt đầu sử dụng trong nôngnghiệp từ giữa những năm 1950 Khi đó lượng hóa chất sử dụng hàng năm ướctính chỉ khoảng 100 tấn Nhưng chỉ hơn 30 năm sau,lượng hóa chất được sửdụng hàng năm đã lên đến con số gấp 100 lần so với thời điểm bắt đầu sử dụng

Và tính đến năm 2002, lượng thuốc sử dụng hàng năm ước tính khoảng 36.000tấn Không chỉ lượng hóa chất sử dụng tăng lên mà các loại thương phẩm cũngngày càng đa dạng hơn, từ gần 600 loại hóa chất năm 1997 lên đến gần 2.000loại hóa chất năm 2007 theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn 1997, 2007

Cuộc cải cách kinh tế ở nước ta từ những năm đầu của thập kỉ 90 đã đạtđược những thành tựu đáng khích lệ, đời sống kinh tế của đại bộ phận dân cưđược cải thiện Tuy nhiên trong bối cảnh nước ta hiện nay vấn đề vệ sinh an toànthực phẩm đang ở mức báo động đỏ Rau quả là cây trồng được sử dụngHCBVTV nhiều nhất Hàng loạt các vụ ngộ độc thực phẩm đã xảy ra trong cảnước Theo thống kê của Cục An toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế, từ năm 2000-

2007 đã có tới 205 vụ ngộ độc thực phẩm với 3.637 người mắc, 23 người tửvong do thực phẩm gây độc là rau, củ, quả Còn theo thống kê của Tổng cụcthống kê Việt Nam năm 2009 cả nước ta có tổng 152 vụ ngộ độc thực phẩm với

số người ngộ độc 40.432 và tử vong 35 người Năm 2010 là 132 vụ ngộ độc thựcphẩm với 4,7 nghìn người bị ngộ độc trong đó 41 người tử vong.Và tính đến hết

9 tháng đầu năm 2011 đã có 7 vụ ngộ độc thực phẩm làm 171 người ngộ độctrong đó có 3 người tử vong (nguồn: http//wwwgso.gov.vn) Như vậy, số vụ ngộđộc thực phẩm tăng lên đáng kể Bên cạnh đó, số người mắc bệnh ung thư ở ViệtNam ngày càng tăng trong những năm gần đây Theo thống kê năm 2007, ướctính mỗi năm có khoảng 200.000 người mắc bệnh ung thư Trong số này, ảnh

Trang 21

hưởng do lượng tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong thực phẩm cũng góp phầnđáng kể Ngoài ra các số liệu ước tính về các bệnh mãn tính do HCBVTV có thểxảy ra cho khoảng 2 triệu nông dân Việt Nam Bên cạnh đó là những chi phíkhông thể tính toán được hết từ những suy giảm về chất lượng môi trường sảnxuất nói riêng và môi trường sống nói chung do những cố gắng nhằm tăng năngsuất cây trồng thông qua những đầu tư lớn, đặc biệt là phân bón và hóa chất bảo

vệ thực vật, những chi phí được tính toán từ những thiệt hại đang xảy ra cho sứckhỏe người dân và nền kinh tế quốc gia sản xuất từ rau củ quả thâm canh ướctính lên đến 700 triệu đô la vào năm 2006 (World Bank 2006) Con số này tươngđương với tồng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng rau quả dự kiến của Việt Nam đạtđược vào năm 2010

Để hạn chế tình trạng sản xuất manh mún, nhiều địa phương đã có nhữngchương trình khuyến khích người dân “dồn điền đổi thửa” nhằm tạo ra nhữngmảnh ruộng lớn hơn Tuy nhiên, nếu trong điều kiện diện tích sản xuất trungbình ở nước ta là 0,7 ha/hộ so với trung bình 17,7 ha ở Hà Lan, 39ha ở ĐanMạch và 13ha ở Áo, hàng chục ha ở Brazil, thậm chí tới 60% diện tích đất nôngnghiệp ở vùng Rondonia và 90% ở vùng Acre ở nước này…thì ở Việt Nam dù códồn điền đổi thửa thành công, diện tích đất nông nghiệp của mỗi hộ gia đình vẫnthuộc diện siêu nhỏ so với bình quân của thế giới Bởi vậy nó cũng không thểgiúp Việt Nam chấm dứt được tình trạng sản xuất nhỏ lẻ nếu như chúng ta không

áp dụng được các chính sách quyết kiệt hơn, ví dụ như tập trung sản xuất thôngqua các nhóm nông dân hoặc hợp tác xã nông nghiệp để tạo ra những cánh đồng

đủ lớn về diện tích và áp dựng được những kế hoạch sản xuất nhất quán Tuynhiên ở nước ta hiện nay vẫn chưa áp dụng được cơ chế quản lí nào để vừa khaithác được sự sáng tạo và cố gắng của mỗi người dân vừa có thể quản lí được áchoạt động của họ theo mục đích sản xuất chung, hướng đến các vấn đề kiểm soát

có hiệu quả chất lượng thực phẩm và tăng cường xuất khẩu Chính vì vậy, người

Trang 22

sản xuất đã sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật để nâng cao năng suất (ở mức

độ nào đó) và chất lượng cây trồng chỉ với diện tích canh tác nhỏ hẹp của mình.Tuy nhiên vấn đề sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ở nước ta đã và đang là mộtthực trạng đáng lo ngại

Một số những cố gắng của Bộ Nông nghiệp và các cơ quan chuyên môntrong việc hạn chế sử dụng thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục là không thể phủnhận Song vì lợi nhuận kinh tế, những kiến thức về các HCBVTV còn hạn chếtrong cả về lựa chọn cũng như thực hành sử dụng, thị trường buôn bán hóa chấtbảo vệ thực vật còn nhiều bất cập, lượng thuốc giả, không rõ nguồn gốc trôi nổitrên thị trường ngày càng nhiều với giá thành rẻ đã khiến người dân sử dụng hóachất bảo vệ thực vật không đảm bảo là điều không thể tránh khỏi Theo điều tra

về các hoạt động sản xuất hàng ngày của 32 hộ dân trồng rau tại vùng rau ĐôngAnh (Hà Nội) từ tháng 8/2002 đến tháng 3/2003 cho thấy lượng thuốc không xácđịnh được hóa chất chiếm 7,7% trong tổng số 84.84 kg lượng thuốc thươngphẩm được sử dụng

Tuy nhiên khi lặp lại điều tra này từ tháng 8/2006 đến tháng 3/2007, lượngthuốc không xác định được hoạt chất chỉ còn chiếm 1,2% trong tổng số 106.78

kg lượng thuốc thương phẩm được sử dụng

Theo Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nội từ năm 2002 đến năm 2006 trên địabàn Hà Nội đã xây dựng được 9 mô hình sản xuất- tiêu thụ rau an toàn tại các địaphương Lĩnh Nam, Đặng Xá, Đìa, Vân Trì, Trung Na, Yên Mỹ, Phúc Lợi, CựKhối với tổng diện tích 43,5ha canh tác, tương đương 215 ha gieo trồng/năm.Năm 2006 Hà Nội đã xây dựng thí điểm một mô hình rau an toàn theo nguyêntắc GAP (thực hành nông nghiệp tốt) tại Đông Anh Các mô hình được nôngdân, chính quyền địa phương đánh giá cao và hiện đang được nhân rộng Chi cục

đã phối hợp với tư vấn cho các quận, huyện, doanh nghiệp xây dựng được 3

Trang 23

thương hiệu rau an toàn mang tên Năm Sao, Bảo Hà, Yên Mỹ Hiện nay rauNăm Sao chỉ cung cấp cho các bếp ăn, rau an toàn Bảo Hà, Yên Mỹ đang bántrên thị trường Hà Nội Mặc dù hiện chỉ cấp ra thị trường vài trăm kg rau mỗingày và chiếm thị phần rất nhỏ trong thị trường rau Hà Nội, tuy nhiên Bảo Hà,Yên Mỹ đã và đang có mặt trong vài trăm gia đình Hà Nội Ngoài thương hiệuBảo Hà, hiện nay trên thị trường còn xuất hiện nhiều thương hiệu rau an toànkhác như Hương Canh, Vân Nội…

Điều cần nhấn mạnh ở đây là việc loại trừ thuốc cấm ra khỏi “thực đơn”đầu tư của người dân không có nghĩa là rau sẽ an toàn Việc người dân thựchành không đúng đối với các loại thuốc có trong danh mục được phép sử dụngcủa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đặc biệt là là việc tuân thủ đúngthời gian cách ly cũng sẽ gây thảm họa cho cả người sản xuất, người tiêu dùng

và môi trường sống Theo nghiên cứu điều tra ở quận Đông Anh, trong số 1.059lần phun thuốc, chỉ có 43% số lần người dân dùng một loại thuốc, còn lại 57% sốlần phun người dân cộng từ 2 đến 4 loại HCBVTV

Một nghiên cứu mới đây ở 30 quốc gia đang phát triển trong đó có ViệtNam cho thấy rằng đối với các nước này, càng nhận được sự đầu tư trực tiếp củanước ngoài nhiều người dân càng sử dụng nhiều hóa chất bảo vệ thực vật Điềunày cho thấy sức mạnh phát triển thị trường của các công ty sản xuất HCBVTV

Ở nhiều vùng sản xuất người dân được tập huấn sử dụng thuốc bởi các công tysản xuất theo chương trình của các cấp chính quyền hoặc các tổ chức Phi ChínhPhủ Tuy nhiên ở Việt Nam ngay cả đến những người bán hóa chất bảo vệ thựcvật đến những người dân là những người trực tiếp sử dụng hóa chất bảo vệ thựcvật cũng có kiến thức hiểu biết còn hạn chế Hơn thế nữa với mục đích lợi nhuậnkinh tế cao mà việc thực hành tuân thủ đúng quy định sử dụng hóa chất bảo vệthực vật của người dân còn rất thấp Điều này chỉ mang lại những hậu quả khônlường cho môi trường sống, người tiêu dùng và ngay cả chính người sản xuất

Trang 24

Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Văn Hoan và Nguyễn Văn Kính về kiếnthức thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật của người dân còn nhiều hạnchế, một số hóa chất biết cấm nhưng vẫn sử dụng như Mornitor, Volfatoc… Sửdụng dụng cụ phòng hộ lao động không đầy đủ (không có áo mưa 19%, không

có mũ 52,3%, không có ủng 78,7%, không có kính 97%), số lần phun trong mộttháng quá nhiều (trên 3 lần là 62,9%), và 83,3% số hộ sử dung hóa chất bảo vệthực vật vứt bỏ bao bì không cẩn thận gây ô nhiễm môi trường [24]

Dường như sự hiện diện của các công ty tư bản không những ảnh hưởngđến việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật của người dân mà còn ảnh hưởng đếncác đầu tư sản xuất khác Trong điều tra của Phạm Văn Hội - Đại học Nôngnghiệp I Hà Nội từ tháng 8/2002 đến tháng 3/2003, về mặt giá trị đầu tư phânhữu cơ chiếm 41,7% trong tổng số đầu tư tuy nhiên đợt điều tra lặp lại từ tháng8/2006 đến tháng 3/2007, phân hữu cơ chỉ còn 13,2% trong tổng số đầu tư Khi

mà lượng phân hữu cơ giảm, lượng đầu tư cho lượng phân tổng hợp công nghiệptăng lên Một phần lý do cắt giảm cho sự đầu tư phân hữu cơ có thể do nguyênnhân dịch bệnh từ gia súc, gia cầm trong thời gian qua Tuy nhiên có thế khẳngđịnh người dân đã dần trở nên “ngại” sử dụng đầu tư phân hữu cơ cho sản xuấtcủa họ thay vì đó càng ngày càng chuộng các đầu tư sản xuất công nghiệp

Chính vì vậy mà việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tăng lên nhiều, báocáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về vấn đề này tại hội nghị vềcông tác Vệ sinh an toàn thực phẩm diễn ra tháng 8/2009, Cục bảo vệ thực vậtcông bố kết quả kiểm tra 25 mẫu rau tại các tỉnh phía Bắc có tới 44% mẫu rau có

dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, trong đó 4% có hoạt chất độc hại vượt mứccho phép

Kiểm tra 35 mẫu rau tại các tỉnh phía Nam, cục Bảo vệ thực vật phát hiệntới 54% mẫu rau có dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, trong đó 8,6% mẫu được

Trang 25

phát hiện có hàm lượng hóa chất bảo vệ thực vật đủ khả năng gây độc cho người

sử dụng

Theo báo cáo của Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội tháng5-6/2001 có 196% số người sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ngoài danh mục có128% sản phẩm không đảm bảo thời gian cách ly – tạp chí Vệ sinh an toàn thựcphẩm – Cục quản lý VSATTP

Theo Nguyễn Văn Thùy và cộng sự - Trung tâm Y tế dự phòng QuảngBình về Đánh giá thực trạng ô nhiễm một số thực phẩm thông dụng do vi sinhvật và hóa chất bảo vệ thực vật ở Quảng Bình năm 1999 – báo cáo khoa học chấtlượng VSATTP lần 1 thấy tỉ lệ mẫu rau quả tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật là77,7%

Theo Bs Nguyễn Văn Miện, Bs Nguyễn Trọng Hùng, Bs.Ngô Văn Công –Trung tâm Y tế Dự phòng Bắc Ninh, khảo sát tồn dư HCBVTV trong 3 loại rau

xã Vũ Ninh, thị xã Bắc Ninh, 2001 có 82,1% (tổng số 56 mẫu rau muống),67,6% ( tổng số 34 mẫu rau ngót), 100% (tổng số 30 mẫu đậu đũa) còn tồn dưhóa chất bảo vệ thực vật

Theo nghiên cứu của Trần Đáng, Nguyễn Thanh Phong và cộng sự về khảosát ô nhiễm HCBVTV trên một số loại rau ở Hà Nội năm 1999-2000 thấy tỉ lệvượt mức tồn dư cho phép là 29- 50% tùy loại rau và khu vực khảo sát, đặc biệt

có những loại hóa chất bảo vệ thực vật trong danh mục cấm sử dụng

Theo Nguyễn Đình Trọng, Nguyễn Đức Mão, Hồ Quang Trung và cộng sựnăm 2003 khảo sát tồn dư hóa chất hóa chất bảo vệ thực vật trong một số loại rauquả trên thị trường Phú Thọ năm 2001- 2002 cho thấy tổng số các mẫu rau quảđược kiểm nghiệm là 196 mẫu trong đó có 30,6% số mẫu có tồn dư HCBVTV,

có tồn dư vượt ngưỡng cho phép là 21,4% (không đạt tiêu chuẩn vệ sinh) trong

Trang 26

đó cao nhất là rau cải 45,5%, dưa chuột 35,3% đỗ quả và 13,3%, các loại quảTrung Quốc có tỉ lệ tồn dư cao trên mức cho phép 20%-50% trừ quất [25].

Tại Bình Dương kiểm tra 228 mẫu có đến 72 mẫu phát hiện dư lượng clo và

9 mẫu có dư lượng HCBVTV vượt giới hạn Tại Đồng Nai, kiểm tra 495 mẫurau, có tới 56 mẫu có dư lượng HCBVTV cao gấp nhiều lần dư lượng cho phép.Một số loại rau thường bị phát hiện chứa nhiều dư lượng HCBVTV như: hành ,

cà chua, đậu đỗ, mướp đắng, dưa chuột…

Tại một vựa rau ở Hà Nội như Thường Tín, Hoài Đức, Thanh Trì … tìnhtrạng tưới rau bằng phân tươi hoặc nguồn nước bị ô nhiễm khá phổ biến Khôngchỉ các loại rau củ như su hào, khoai tây mà ngay cả các loại rau dùng để ăn sốngnhư hành, rau diếp, rau thơm cũng được tưới bằng nguồn nước không đảm bảo

vệ sinh Một loạt vùng rau như xóm Hồng Thái, Hòa Lương, Quang Trung, TiênHoàng, Phú Cốc, Nội Thôn, Đông Thai, Nỏ Bạn thuộc quận Thường Tín, hoặcvựa rau thuộc quận Hoài Đức, thường có chất thải của gia súc, gia cầm bên cạnh.Theo Nguyễn Thu Ngọc Diệp và Trần Bích Ngọc năm 2003 khảo sát dưlương hóa chất bảo vệ thực vật trong một số loại rau ở trung tâm và vùng venThành phố Hồ Chí Minh Biện pháp khắc phục cho thấy trong 15 mẫu raumuống có dư lượng HCBVTV thấp nhất 4 mcg/kg và cao nhất 160 mcg/kg,trong 15 mẫu bắp cải có dư lượng HCBVTV thấp nhất 3 mcg/kg và cao nhất 82mcg/kg, trong 40 mẫu rau cải và các loại rau khác có dư lương HCBVTV thấpnhất 0,0063 mcg/kg và cao nhất 67 mcg/kg [26]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh và Đỗ Hàm 2009 ở Bắc Ninh với

24 mẫu rau cho thấy có tới 91,7% mẫu rau không đảm bảo tiêu chuẩn dư lượngthuốc trừ sâu, đã có nhiều loại hóa chất trên cùng một mẫu ước tính 4-20 loại hóachất

Trang 27

Nghiên cứu của Lê Công Toàn (2009) khảo sát dư lượng hóa chất bảo vệthực vật trên rau quả tươi ở 17 tỉnh thành phố đã cho thấy hóa chất bảo vệ thựcvật vượt MRLs cao (MRLs là dư lượng hóa chất tối đa cho phép), trong đó caonhất là rau ngót (23%), rau cải (19%) Loại quả nho là loại mẫu có dư lượng hóachất bảo vệ thực vật cao nhất vượt MRLs (24%) Trong 17 tỉnh thành phố đượclấy mẫu kiểm nghiệm, Ninh Thuận là địa phương có dư lượng hóa chất bảo vệthực vật cao nhất (30%), các địa phương khác như Thái Nguyên, Phú Thọ, BìnhDương, Đồng Nai chưa phát hiện mẫu nào vượt MRLs.

Nghiên cứu của Trần Thị Phúc Nguyệt, Đào Ngọc Phong, Lưu Ngọc Hoạtkhảo sát tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong một số rau quả cho thấy trong 40mẫu xét nghiệm có 1 mẫu thuộc nhóm đậu đỗ có tồn dư Permethrin nhưng ởngưỡng giới hạn cho phép [27] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan ở An Giangcũng cho thấy số mẫu rau còn tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trên mức cho phép

ở tỉ lệ khá cao 22,4% trong 90 mẫu được xét nghiệm chủ yếu là Dimedrin nhưngcòn ở ngưỡng cho phép

Trang 28

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu.

2.1.1 Quận Hai Bà Trưng-Hà Nội.

Quận Hai Bà Trưng là 1 trong 10 quận nội thành của thành phố Hà Nội vàđược thành lập từ năm 1981 Quận gồm 20 phường với tổng diện tích 9,6 km² và295.726 nhân khẩu (2009)

Quận có mật độ dân số cao, là nơi tập trung nhiều trường học, tòa nhà hànhchính, chung cư, tập thể và nhiều chợ lớn trong nội thành

2.1.2 Huyện Thanh Trì-Hà Nội.

Thanh Trì là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội, có thị trấn VănĐiển và 15 xã với tổng với diện tích tự nhiên là 63,17 km² và 198.706 nhânkhẩu (2009)

Địa giới hành chính: Huyện Thanh Trì nằm ven phía Nam và Đông Nam HàNội, giáp các quận: Thanh Xuân (ở phía Tây Bắc), Hoàng Mai (ở phía Bắc), HàĐông (ở phía Tây) và các quận Gia Lâm và tỉnh Hưng Yên với Sông Hồng làmranh giới tự nhiên (ở phía Đông), Thanh Oai và Thường Tín (ở phía Nam)

Xã Ngũ Hiệp và xã Vĩnh Quỳnh là 02 trong số các xã có diện tích trồng raulớn của huyện Thanh Trì Nguồn rau quả từ 02 xã này góp phần đáp ứng nhu cầutiêu dùng thực phẩm trong vùng và các khu vực nội thành Hà Nội

2.2 Đối tượng nghiên cứu.

- Rau quả: Theo đề cương sẽ chọn 4 loại rau và 4 loại quả Tuy nhiên do

Trang 29

chọn là: 3 loại rau và 2 loại quả thông thường của mỗi mùa bày bán ở chợ, đượcngười dân ăn thường xuyên và có nguy cơ có tồn dư HCBVTV (gồm: bắp cải,cải xanh, đậu cove, dưa chuột, rau muống).

- Sữa mẹ trưởng thành của phụ nữ đang cho con bú dưới 12 tháng tuổicủa phường Đông Mác, quận Hai Bà Trưng và xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì,

2.3 Thiết kế nghiên cứu.

- Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tảcắt ngang

2.4 Số lượng mẫu và cách chọn mẫu.

2.4.1 Số lượng mẫu.

- Số lượng mẫu để xác định tồn dư HCBVTV trong rau quả:

30 mẫu/loại rau, quả x 5 loại rau, quả/mùa x 2 mùa = 300 mẫu

- Số lượng mẫu để xác định tồn dư HCBVTV trong các mẫu rau quả saukhi được xử lý:

35 mẫu x 2 khu vực (nông thôn, thành phố) = 70 mẫu

- Số lượng mẫu để xác định tồn dư HCBVTV trong nước tiểu của các bà

mẹ đang cho con bú dưới 12 tháng tuổi:

35 mẫu x 2 khu vực (nông thôn/thành phố) = 70 mẫu

- Số lượng mẫu để xác định tồn dư HCBVTV trong sữa mẹ của các bà mẹđang cho con bú dưới 12 tháng tuổi:

Trang 30

35 mẫu x 2 khu vực (nông thôn/thành phố) = 70 mẫu.

2.4.2 Chọn mẫu và lấy mẫu.

- Chọn có chủ đích quận Hai Bà Trưng và huyện Thanh Trì là 2 địa bàn códiện tích trồng rau của Hà Nội để nghiên cứu

- Dựa trên danh sách chợ của 2 quận (huyện) trên, chọn ngẫu nhiên ra 1chợ đầu mối và 4 chợ thông thường thuộc mỗi quận (huyện) để lấy mẫu rau/quả:+ Huyện Thanh Trì: Chợ đầu mối Thanh Trì, chợ Z179, chợ Vĩnh Quỳnh,chợ Vĩnh Ninh, chợ Ngũ Hiệp

+ Quận Hai Bà Trưng: Chợ đầu mối Đền Lừ, chợ Vĩnh Tuy, chợ Yên Lạc,chợ Thanh Lương, chợ Nguyễn Cao

- Chọn 3 loại rau và 2 loại quả được sử dụng thông dụng (là bắp cải, cảixanh, rau muống, đậu cove và dưa chuột) và có nguy cơ nhiễm HCBVTV nhấttrong mỗi mùa

- Ở mỗi chợ đã chọn, lấy ngẫu nhiên 3 mẫu cho mỗi loại rau, quả đã chọn

ở trên

- Phỏng vấn tất cả những người buôn bán rau đã lấy mẫu rau, quả

- Dựa trên danh sách các xã, phường của 2 quận (huyện) trên, chọn ngẫunhiên ra phường Đông Mác thuộc quận Hai Bà Trưng và xã Ngũ Hiệp thuộchuyện Thanh Trì, Hà Nội để tiến hành nghiên cứu:

+ Chọn 35 hộ gia đình có bà mẹ đang cho con bú dưới 12 tháng tuổi tạimỗi xã, phường đã chọn ở trên, bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống để kiểmtra tình trạng sức khoẻ và điều tra khẩu phần các cá thể trong hộ gia đình

+ Lấy mẫu sữa và mẫu nước tiểu của bà mẹ nuôi con bú dưới 12 tháng tuổicủa các hộ gia đình đã chọn ở trên

- Điều tra thông tin về các loại hoá chất HCBVTV tại xã Ngũ Hiệp là xã

đã được chọn để nghiên cứu để phỏng vấn người dân và chủ cửa hàng buôn bánHCBVTV

Trang 31

2.5 Yêu cầu và khối lượng lấy mẫu.

- Các văn bản hướng dẫn:

+ Lấy mẫu rau, quả theo tiêu chuẩn ngành 10TCN 386:1999 (Quyết định

số 116/1999-QĐ-BNN-KHCN ngày 08/4/1999)

+ Tiếp nhận, xử lý và bảo quản mẫu theo TCVN 5141:2008 hướng dẫn

thực hành phòng thử nghiệm tốt khi phân tích dư lượng HCBVTV

- Lấy mẫu rau, quả:

+ Yêu cầu: Các mẫu rau, quả lấy không bị dập, nát.

+ Khối lượng: Mỗi mẫu rau lấy 0,5 kg hoặc một mớ hoặc một cái; mỗi

loại quả lấy 0,5 kg

+ Bao bì đựng: Mỗi mẫu rau, quả đã lấy được cho vào túi nilon dãn nhãn

có đủ thông tin: Tên loại rau quả được lấy mẫu, ngày lấy mẫu, người lấy mẫu,địa điểm lấy mẫu và nhận xét tình trạng mẫu

+ Bảo quản mẫu: Lượng mẫu rau, quả đã lấy được tập hợp, bàn giao và

- Mẫu sữa, nước tiểu:

+ Yêu cầu: Các nước tiểu, sữa đảm bảo được lấy đủ thể tích và đựng trong

bao bì kín, có dãn nhãn

+ Khối lượng mẫu: Nước tiểu: 30-40 ml, sữa mẹ: 30-40 ml.

+ Bao bì đựng: Mỗi mẫu sữa, nước tiểu lấy được cho vào lọ, ống nghiệm

có nắp và dán nhãn có các nội dung: Tên mẫu, ngày lấy mẫu, người lấy mẫu, địa điểm lẫy mẫu, tên người được lấy mẫu (mã hóa), nhận xét tình trạng mẫu Mẫu nước tiểu ghi nhãn màu xanh, mẫu sữa ghi nhãn màu đỏ để phân biệt

+ Bảo quản: Lượng mẫu sữa, nước tiểu đã lấy được tập hợp, bàn giao cho

Trang 32

2.6 Phương pháp thu thập số liệu.

2.6.1 Mô tả.

Thông qua phiếu điều tra khẩu phần ăn và kiểm tra sức khỏe người đi chợtrong gia đình, phiếu điều tra thông tin về hoạt động buôn bán HCBVTV; phiếuđiều tra thông tin của người bán hàng rau, quả tại chợ, phiếu kiểm tra sức khỏe

bà mẹ đang cho con bú dưới 12 tháng và dấu hiệu ngộ độc mạn tính và phiếuđiều tra khẩu phần ăn trong 24h, nhóm nghiên cứu mô tả đầy đủ thông tin liênquan đến tình trạng sức khỏe của bà mẹ đang cho con bú dưới 12 tháng; kiếnthức của người buôn bán hóa chất bảo vệ thực vật; nguồn gốc rau, quả lấy mẫu,thói quen mua rau, quả của người đi chợ trong gia đình

2.6.2 Định lượng.

Nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát tình hình sử dụng HCBVTV tại xã,phường nơi lấy mẫu rau, quả Trên cơ sở kết quả khảo sát, nhóm nghiên cứuđánh giá dư lượng nhóm phospho hữu cơ gồm 02 loại: Chlorpyrifos, Profenofos

và nhóm pyrethroid gồm 03 loại: Cypermethrin, Cis-Permethrin, Permethrin trên 05 loại rau xanh, quả thường sử dụng phổ biến trong gia đình là:Bắp cải, cải xanh, đậu cove, dưa chuột, rau muống

Trans-Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp sắc ký khí khối phổ để xác định

dư lượng HCBVTV có trong rau, quả lấy mẫu và sữa, nước tiểu bà mẹ đang chocon bú dưới 12 tháng

2.6.3 Định tính.

Sử dụng bộ câu hỏi, tiến hành phỏng vấn người bán HCBVTV, người sảnxuất rau, người bán rau…

2.7 Kỹ thuật định lượng dư lượng HCBVTV.

- Lượng mẫu đảm bảo việc kiểm nghiệm theo Quyết định số

Trang 33

183/QĐ Các mẫu rau, quả, nước tiểu, sữa được xử lí và chuẩn bị mẫu theo quitrình định lượng mẫu trên máy sắc kí khí khối phổ GC/MS theo tiêu chuẩn ViệtNam hoặc EPR hoặc AOAC

- Tiêu chuẩn đánh giá mức độ dương tính theo tiêu chuẩn cho phép củatiêu chuẩn TCVN 6663-1:2002, AOAC, FAO, WHO về dư lượng HCBVTV

- Việc kiểm nghiệm HCBVTV được thực hiện tại Labo của Viện Đào tạo

Y học dự phòng và Y tế công cộng thuộc Trường Đại học Y Hà Nội

2.7.1 Kiểm nghiệm mẫu rau quả.

- Đo dư lượng 2 HCBVTV phổ biến nhất thuộc nhóm Pyrethroid(Cypermethrin, Permethrin) trong 300 mẫu rau quả được lấy tại chợ thôngthường

- Đo dư lượng 2 HCBVTV phổ biến nhất thuộc nhóm phospho hữu cơ(Chlorpyrifos và Prophenofos) trong 300 mẫu rau quả được lấy tại chợ thôngthường

2.7.2 Kiểm nghiệm mẫu nước tiểu và mẫu sữa mẹ.

- Khảo sát thực trạng tồn lưu 4 HCBVTV phổ biến nhất thuộc nhómPyrethroid (Cypermethrin, Permethrin) và nhóm phospho hữu cơ (Chlorpyrifos,Prophenofos) trong 35 mẫu sữa mẹ của các bà mẹ ở phường Đông Mác, quậnHai Bà Trưng và 35 mẫu sữa mẹ ở xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội

- Khảo sát thực trạng tồn lưu 3 chất chuyển hóa của HCBVTV có trong

35 mẫu nước tiểu của các bà mẹ ở phường Đông Mác, quận Hai Bà Trưng và 35mẫu nước tiểu của các bà mẹ ở xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội đã lấymẫu sữa ở trên (DMP, DEP và DEPT)

Trang 34

2.8 Các bước phương pháp sắc ký khí khối phổ xác định dư lượng HCBVTV trên rau củ.

- Bước 1 chuẩn bị mẫu: Lấy 50g mẫu được nghiền nhỏ cùng Aceton, lọcmẫu qua bình có phễu lọc chân không Chiết hỗn hợp với n-Hexan 2 lần, mỗi lần

- Bước 2: Làm sạch mẫu, hút 2ml dung dịch mẫu chạy qua cột SPE (Bộchiết pha rắn)

- Bước 3: Xác định hàm lượng trên sắc ký khí khối phổ sử dụng detectorkhối phổ chọn lọc

- Trong quá trình xác định dư lượng HCBVTV có sử dụng nội chuẩn

- Độ lặp lại của tín hiệu đo giữa diện tích PIC chuẩn với diện tích chuẩn nội với dung dịch Chlorpyrifos, Permethrin 50ppb và diện tích PIC chuẩn nội Chlorpyrifos D10 50ppb:

Area

Area Ratio

Average Area Ratio SD

RSD

%1

Trang 35

+ Rau cải xanh:

Trang 36

2.9 Phương pháp xác định dư lượng HCBVTV trên mẫu nước tiểu, sữa của

bà mẹ đang cho con bú dưới 12 tháng tuổi.

- Phương pháp xác định dư lượng HCBVTV trên mẫu nước tiểu, sữa của

bà mẹ đang cho con bú dưới 12 tháng tuổi được xác định bằng phương pháp sắc

Trang 37

Nồng độ chuẩn thêm vào

(%)

RSD%ng/ml

(%)

RSD%ng/ml

Trang 38

- Nhập số liệu bằng phần mềm Epi data 3.5.

- Số liệu được xử lí và phân tích trên phần mềm Excel, Stata 12

kiểm định sự khác biệt của hai giá trị trung bình

2.11 Đạo đức nghiên cứu.

- Nghiên cứu phải được sự đồng ý của trường Đại học Y Hà Nội và địaphương tiến hành nghiên cứu

- Nghiên cứu viên phải có trách nhiệm giải thích cho các đối tượng nghiêncứu về mục đích nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn

- Phải được sự đồng ý tự nguyện của các đối tượng tham gia phỏng vấn Kếtquả nghiên cứu phải được thông báo cho địa phương và có khuyến nghị thíchhợp

- Đảm bảo giữ bí mật về các thông tin mà đối tượng cung cấp

- Thông tin thu thập chỉ được phục vụ cho mục đích nghiên cứu

Trang 39

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng đã được chọn để phỏng vấn Bảng 3 1: Tỷ lệ giới, độ tuổi của các đối tượng đã được chọn để phỏng vấn

Đặc điểm

Người buôn bán rau quả (số lượng

=70)

Người tiêu dùng rau quả (số lượng =63)

Người trồng rau quả (số lượng =21)

Người bán HCBVTV (số lượng =3)

Trang 40

CB-CNV Công nhân N i tr ội trợ ợ HS-SV Khác

Tỷlệ %

Biểu đồ 3 1: Phân bố nghề nghiệp đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 cho thấy phân bố nghề nghiệp theo địa bàn nghiên cứu, ở cả 2quận nghề nghiệp chủ yếu là nội trợ cùng chiếm tỷ lệ 55,6% Chiếm tỷ lệ thứ 2 lànhóm cán bộ công nhân viên của quận Hai Bà Trưng với 41,7%, trong đó không

có nghề nghiệp công nhân Huyện Thanh Trì có sự phân bố đều giữa các nhómnghề nghiệp còn lại

3.2 Kiến thức, thực trạng sử dụng HCBVTV của người trồng rau.

Biểu đồ 3 2: Tỷ lệ sử dụng HCBVTV trên vườn rau tại hộ gia đình

Biểu đồ 3.2 cho thấy có 85,7% hộ gia đình có sử dụng HCBVTV cho vườn

Ngày đăng: 21/07/2019, 11:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Vụ y tế dự phòng (1997), Báo cáo hội thảo ảnh hưởng hóa chất bảo vệ thực vật lên sức khỏe cộng đồng, Hà Nội 26-27/12/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hội thảo ảnh hưởng hóa chất bảo vệ thực vật"lên sức khỏe cộng đồng
Tác giả: Vụ y tế dự phòng
Năm: 1997
15. Trần Mã Ninh (1997), Tình hình ngộ độc thức ăn trong 9 tháng năm 1997 ở Bắc Thái, Hội thảo ảnh hưởng của HCBVTV dùng trong nông nghiệp đến sức khỏe con người, chủ biên, Hà Nội ngày 26-27/12/1997, tr. 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo ảnh hưởng của HCBVTV dùng trong nông nghiệp đến sức khỏe"con người
Tác giả: Trần Mã Ninh
Năm: 1997
16. Trần Thị Hà Phương (2012), Thực trạng kiến thức và thực hành của người buôn bán, người trồng rau, người tiêu dùng về hóa chất bảo vệ thực vật tại quận Hai Bà Trưng và huyện Thanh Trì Hà Nội, Khóa luận tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa, Trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức và thực hành của người buôn"bán, người trồng rau, người tiêu dùng về hóa chất bảo vệ thực vật tại quận Hai"Bà Trưng và huyện Thanh Trì Hà Nội
Tác giả: Trần Thị Hà Phương
Năm: 2012
17. Phùng Thanh Tú (2001), Điều tra ảnh hưởng của hóa chất trừ sâu đối với người tiếp xúc tại các tỉnh Tiền Giang, Cần Thơ, Khánh Hòa và Thừa Thiên Huế, Kỷ yếu công trình Nghiên cứu Khoa học 1995-2001, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ảnh hưởng của hóa chất trừ sâu đối với người"tiếp xúc tại các tỉnh Tiền Giang, Cần Thơ, Khánh Hòa và Thừa Thiên Huế
Tác giả: Phùng Thanh Tú
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2001
18. World Health Organization (2001), Pesticide poisoning database in SEAR contries, Report of a Regional Workshop New Delhi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pesticide poisoning database in SEAR"contries
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2001
19. Trần Như Nguyên, Nguyễn Thị Thu và Đào Ngọc Phong (1996), Về nhiễm độc hoá chất trừ sâu dài ngày tại Kim Bảng – Hà Nam, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Vol. 2, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nhiễm độc"hoá chất trừ sâu dài ngày tại Kim Bảng – Hà Nam
Tác giả: Trần Như Nguyên, Nguyễn Thị Thu và Đào Ngọc Phong
Năm: 1996
20. Hoàng Đình Hồi (1997), Thực trạng sử dụng HCBVTV và ảnh hưởng của nó đến môi trường và sức khoẻ, Hội thảo ảnh hưởng của HCBVTV dùng trong nông nghiệp đến sức khoẻ con người, chủ biên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sử dụng HCBVTV và ảnh hưởng của nó"đến môi trường và sức khoẻ
Tác giả: Hoàng Đình Hồi
Năm: 1997
21. Phùng Thị Thanh Tú (2001), Điều tra ảnh hưởng của hoá chất trừ sâu đối với người tiếp xúc tại các tỉnh Tiền Giang, Cần Thơ, Khánh Hoà và Thừa Thiên Huế, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học 1995-2001, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ảnh hưởng của hoá chất trừ sâu đối với"người tiếp xúc tại các tỉnh Tiền Giang, Cần Thơ, Khánh Hoà và Thừa Thiên"Huế
Tác giả: Phùng Thị Thanh Tú
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
22. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Báo cáo ngành thuốc BVTV Việt Nam quý II/2009 và triển vọng, Trung tâm thông tin Phát triển nông nghiệp nông thôn (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo ngành thuốc BVTV"Việt Nam quý II/2009 và triển vọng
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2009
24. Bùi Văn Hoan và Nguyễn Văn Kính (2002), "Đánh giá thực trạng kiến thức- thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người trồng rau phường Túc Xuyên- Thành phốThái Nguyên ", Tạp chí Y học dự phòng, 5(VIII), tr. 62-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng kiến thức-thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người trồng rau phường TúcXuyên- Thành phốThái Nguyên
Tác giả: Bùi Văn Hoan và Nguyễn Văn Kính
Năm: 2002
(2003), Khảo sát tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật trong một số loại rau quả trên thị trường tỉnh Phú Thọ năm 2001-2002, Hội nghị khoa học An toàn vệ sinh thực phẩm lần thử 2-2003, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật trong một số loại rau quả trên"thị trường tỉnh Phú Thọ năm 2001-2002
Nhà XB: NXB Hà Nội
26. Nguyễn Thu Ngọc Diệp và Trần Bích Ngọc (2003), Khảo sát dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong một số loại rau ở trung tâm và vùng ven Thành phố Hồ Chí Minh- Biện pháp khắc phục, Hội nghị khoa học An toàn thực phẩm lần thứ 3, NXB Hà Nội, 51-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát dư lượng hoá chất"bảo vệ thực vật trong một số loại rau ở trung tâm và vùng ven Thành phố Hồ"Chí Minh- Biện pháp khắc phục
Tác giả: Nguyễn Thu Ngọc Diệp và Trần Bích Ngọc
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2003
27. Trần Thị Phúc Nguyệt, Đào Ngọc Phong và Lưu Ngọc Hoạt (2009), "Khảo sát thực trạng tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật trong một số loại rau quả tại một số xã ( Hà Tây cũ) năm 2008", Tạp chí Y học thực hành, 701-702, tr. 200-205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sátthực trạng tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật trong một số loại rau quả tại một sốxã ( Hà Tây cũ) năm 2008
Tác giả: Trần Thị Phúc Nguyệt, Đào Ngọc Phong và Lưu Ngọc Hoạt
Năm: 2009
28. Vũ Yến Khanh (2001), "Nhận thức, thái độ, thực hành của người nội trợ về VSATTP tại một phường nội thành Hà Nội ", Tạp chí Y học thực hành, 8, tr.8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức, thái độ, thực hành của người nội trợ vềVSATTP tại một phường nội thành Hà Nội
Tác giả: Vũ Yến Khanh
Năm: 2001
29. Trịnh Thị Phương Lâm (2005), Thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành về VSATTP của người nội trợ chính trong gia đình và một số yếu tố liên quan tại huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, Trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức - thái độ - thực hành về"VSATTP của người nội trợ chính trong gia đình và một số yếu tố liên quan tại"huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây
Tác giả: Trịnh Thị Phương Lâm
Năm: 2005
30. M.L Aponso (2002), "Exposure and Risk Assessment for Farmers Occupationally Exposed to Chlorpyrifos", Annals of the Sri Lanka Department of Agriculture, 4, tr. 233-234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exposure and Risk Assessment for FarmersOccupationally Exposed to Chlorpyrifos
Tác giả: M.L Aponso
Năm: 2002
32. Viện Bảo vệ thực vật (2005), Kỹ thuật sản xuất rau an toàn, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật sản xuất rau an toàn
Tác giả: Viện Bảo vệ thực vật
Nhà XB: Nhà xuất bản Nôngnghiệp
Năm: 2005
33. M. Kumar, S.K. Gupta, S.K. Garg và các cộng sự. (2006), "Biodegradation of hexachlorocyclohexane-isomers in contaminated soils", Soil Biology &Biochemistry, 38, tr. 2318-2327 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biodegradation ofhexachlorocyclohexane-isomers in contaminated soils
Tác giả: M. Kumar, S.K. Gupta, S.K. Garg và các cộng sự
Năm: 2006
34. J.H Andersen và M.E Paulsen (2001), "Results from the monitoring of pesticide residues in fruit and vegetables in the Danish market 1998-1999", Food Additive Contamination, 18, tr. 906-931 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Results from the monitoring of pesticideresidues in fruit and vegetables in the Danish market 1998-1999
Tác giả: J.H Andersen và M.E Paulsen
Năm: 2001
36. P Panuwet và et al (2008), "Concentrations of urinary pesticide metabolites in small-scale farmers in Chiang Mai Province, Thailan", Science of The Total Environment, 407, tr. 655-668 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concentrations of urinary pesticide metabolites insmall-scale farmers in Chiang Mai Province, Thailan
Tác giả: P Panuwet và et al
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w