1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu đặc điểm lâm SÀNG và cận lâm SÀNG PHỤ nữ MANG THAI có LƯỢNG HUYẾT sắc tố dưới 100 GL ở BỆNH VIỆN PHỤ sản TRUNG ƯƠNG năm 2020

36 155 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 169,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀTheo thống kê của tổ chức y tế thế giới trong năm 2011 trên thế giới có38% tương ứng 32,4 triệu phụ nữ mang thai ở độ tuổi sinh đẻ bị thiếu máutrong đó các nước công nghiệp phá

Trang 1

DƯƠNG VĂN VŨ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG PHỤ NỮ MANG THAI CÓ LƯỢNG HUYẾT SẮC TỐ DƯỚI 100 G/L Ở BỆNH VIỆN PHỤ SẢN

TRUNG ƯƠNG NĂM 2020

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

`

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

DƯƠNG VĂN VŨ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG PHỤ NỮ MANG THAI CÓ LƯỢNG HUYẾT SẮC TỐ DƯỚI 100 G/L Ở BỆNH VIỆN PHỤ SẢN

TRUNG ƯƠNG NĂM 2020

Chuyên ngành: Sản Phụ khoa

Mã số: 60720131

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS PHẠM THỊ THANH HIỀN

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới trong năm 2011 trên thế giới có38% tương ứng 32,4 triệu phụ nữ mang thai ở độ tuổi sinh đẻ bị thiếu máutrong đó các nước công nghiệp phát triển chiếm khoảng 18%, các nước đangphát triển chiếm tỷ lệ từ 35-75% [3]Thiếu máu ở phụ nữ mang thai là vấn đềlớn về sức khỏe cộng đồng tại nhiều quốc gia Điều tra của Viện Dinh dưỡngQuốc gia cho thấy 36,8% phụ nữ mang thai tại Việt Nam thiếu máu [4]

Trong thời kỳ mang thai, sự hình thành và phát triển của thai nhi phụ thuộcrất nhiều vào sức khỏe của mẹ Thai nhi được nuôi dưỡng bởi sự cung cấpmáu từ tuần hoàn của người mẹ tới bánh rau và thai Tuần hoàn của máu mẹquyết định sự phát triển khỏe mạnh của thai nhi Nếu tuần hoàn máu mẹ đầy

đủ sẽ cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho thai, ngược lại nếu người mẹ bịthiếu máu trong giai đoạn mang thai sẽ có ảnh hưởng xấu đến sự phát triểncủa thai [5]

Thiếu máu khi có thai làm ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ, làm chongười mẹ dễ bị tai biến trong quá trình mang thai và trong khi đẻ như sảy thai,thai lưu, đẻ non, băng huyết Thiếu máu trong quá trình mang thai cũng làmtăng các tỉ lệ đẻ khó, mổ đẻ, tử vong của mẹ Thiếu máu làm tăng tai biếnchảy máu trong và sau đẻ, nhiễm khuẩn hậu sản, sót rau, choáng trong cuộc

đẻ, chậm phục hồi sức khỏe của sản phụ sau đẻ.[6]

Với thai nhi, thiếu máu của mẹ trong thời kỳ có thai có thể làm tăng nguy

cơ mắc bệnh và tử vong ở trẻ, thai nhi kém phát triển, giảm cân nặng sơ sinh,làm ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực và trí tuệ của thai nhi sau này.[6-8]Trong các nguyên nhân thiếu máu ở phụ nữ mang thai thì thiếu máu thiếusắt chiếm đại đa số Thiếu máu do thiếu sắt chiếm khoảng 80% các trườnghợp thiếu máu khi có thai, 10-20% các PNMT có chế độ ăn đầy đủ bị thiếu

Trang 7

máu do thiếu sắt.[9] Vì vậy bổ sung viên sắt/acid folic trước và trong quatrình mang thai được xem là một trong những giải pháp quan trọng để giảiquyết tình trạng thiếu máu do thiếu sắt[10]

Như vậy thiếu máu ở phụ nữ mang thai là một trong những vấn đề sứckhỏe quan tâm toàn cầu đặc biệt ở một nước đang phát triển như nước ta Sựhiểu biết các khía cạnh của vấn đề thiếu máu cũng như đánh giá hiệu quả điềutrị thiếu máu sẽ giúp nâng cao kiến thức, thái độ thực hành vàđóng góp vào sựnghiệp bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em.Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài:“ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

phụ nữ mang thai có lượng huyết sắc tố dưới 100 g/l ở Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2020” với các mục tiêu sau:

1) Mô tả một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng phụ nữ mang thai có

lượng huyết sắc tố dưới 100 g/l ở Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2020.

2) Tìm hiểu một số nguyên nhân hay gặp ở nhóm phụ nữ mang thai có lượng

huyết sắc tố trên.

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.1 Thay đổi về máu của phụ nữ mang thai.

Khi mang thai, thể tích huyết tương tăng 40-50% và thể tích hồng cầuchỉ tăng 20 - 30% [11] Những thay đổi này xảy ra chủ yếu trong 3 tháng giữa

và trước khi mang thai 32 tuần [12] Bình thường người phụ nữ ngoài thời kỳthai nghén có khoảng 4l máu thì khi có thai có thể tăng lên tới 6l Khối lượngmáu bắt đầu tăng trong 3 tháng đầu, tăng nhanh trong 3 tháng giữa và caonhất ở tháng thứ 7 của thai nghén Sau đó khối lượng máu hằng định ở trongnhững tuần lễ cuối của thai nghén Sau đẻ khối lượng máu giảm nhanh và trởlại bình thường.[13]

Hiện tăng thể tích máu ở cơ thể người mẹ mang thai được phát hiện từnăm 1915 nhờ kỹ thuật pha loãng máu Các kỹ thuật ngày nay đo lường thểtích hồng cầu có độ chính xác cao hơn nhiều và giúp đưa ra các thông tinchính xác vể thể tích máu mẹ, hầu như tất cả các nghiên cứu trong nhữngnăm gần đây đều có sự tăng đáng kể thể tích máu mẹ, các nghiên cứu đềuchỉ ra rằng tổng thể tích máu mẹ tăng lên 40-50% Thể tích máu tăng đạt tối

đa ở cuối quý 3 của thời kỳ mang thai và giữ nguyên ở mức đó trong vàituần trước sinh

Quá trình tăng thể tích máu bắt đầu ngay từ quý đầu của quá trình mangthai, nhưng lúc đầu chỉ tăng rất ít trong khoảng 20 tuần đầu Quá trình nàydiễn ra nhanh hơn ở quý 2 của thai kỳ và tiếp tục tăng dần cho tới tận vài tuầntrước sinh và từ đó tổng lượng thể tích máu thường được duy trì ổn định trongkhoảng 6-8 tuần trước khi sinh

Tăng thể tích máu trước tiên là do tăng thể tích huyết tương nhưng có cả

sự tăng đáng kể số lượng hồng cầu Trình tự của quá trình đó như sau: đầutiên là do tăng thể tích huyết tương do tăng cường hệ tuần hoàn tử cung rau,

Trang 9

hiện tượng này diễn ra rất từ từ cho tới khoảng tuần thứ 12 sau đó tốc độ tăngcao lên đáng kể từ tuần thứ 23 cho tới tuần thứ 36.

Thể tích hồng cầu trong máu lưu hành cũng tăng nhưng chậm và ít hơn,khoảng 300ml trong thời kỳ mang thai Khi thể tích máu hữu ích đã tăng và dừng

ở mức đỉnh cao thì hồng cầu tiếp tục tăng ở tốc độ hơn để bổ sung vào tuần hoàn

Sự tăng thể tích huyết tương và thể tích hồng cầu làm cho thể tích máulưu hành tăng khoảng 1300ml, nhưng do thể tích huyết tương tăng sớm vànhiều hơn còn thể tích hồng cầu tăng muộn và ít hơn dẫn tới hiện tượng làgiảm độ nhớt máu tạo nên tình trạng thiếu máu do pha loãng máu ở thời kỳthai nghén Tỷ lệ này làm cho tỷ lệ huyết sắc tố giảm xuống còn khoảng 1-2g/100ml máu được thấy ở những phụ nữ có thai bình thường có dinh dưỡngđầy đủ và được bổ sung sắt và acid folic đầy đủ Vì vậy một số tác giả coi đó

là tình trạng thiếu máu sinh lý ở phụ nữ có thai

Sự thay đổi đáng kể trong huyết tương và thể tích hồng cầu đòi hỏi sựtăng đồng thời trong cơ chế tạo máu Trong một thời gian tương đối ngắn, tủyxương hoạt động phải tăng được khoảng 30% khối lượng hồng cầu lưu hành

và một mức đáng kể thể tích bạch cầu và tiểu cầu trong tuần hoàn, sau đó duytrì được mức tăng được khối lượng các tế bào máu ngoại vi đó cho tới vàituần trước sinh Quá trình tăng như vậy có kết hợp với sự tăng sản lan tỏa của

hệ thống máu Xét nghiệm tủy xương trên những phụ nữ có thai bình thườngcho thấy có sự tăng đồng nhất và lan tỏa của các nguyên bào tạo hồng cầutrong tủy xương cũng như tăng hoạt động cuả các thành phần tủy xương tạo tếbào máu ngoại vi Kết quả quan trọng của những thay đổi đó là đảm bảo chonồng độ Hb bình thường 12 -13 g/dl máu.[13]

•Thay đổi về thành phần của các tê bào máu ngoại vi

•Thay đổi hồng cầu và các chỉ số

Nguyên nhân làm tăng khối lượng máu ở cơ thể người phụ nữ có thai, đó là vì

Trang 10

cơ thể người phụ nữ tăng giữ nước, làm khối lượng huyết tương tăng lên, khốilượng máu tăng lên Cũng chính vì thế, do khối lượng huyết tương tăng nhiềuhơn hồng cầu làm cho tỷ lệ huyết sắc tố hơi giảm, hematocrit cũng giảm (từ39,5% khi chưa có thai xuống 35,8% khi có thai) Độ nhớt máu cũng giảm,máu có xu hướng loãng làm cho thiếu máu nhược sắc và giảm áp lực thẩmthấu.[13]

1.2 Tổng quan về thiếu máu

1.2.1 Khái niệm thiếu máu

Huyết sắc tố ở trong hồng cầu thực hiện nhiệm vụ vận chuyển oxy từphổi đến tổ chức và vận chuyển khí cacbonic từ tổ chức đưa về phổi để đàothải ra ngoài Lượng HST trong máu phải đạt một mức độ cần thiết dưới mức

đó là thiếu máu

Người ta thấy có một số yếu tố liên quan đến nồng độ HST trong máu:

- Phụ nữ có nồng độ HST thấp hơn nam giới PNMT có nồng độ HST thấp hơnphụ nữ bình thường

- Người sống ở vùng núi cao, nồng độ oxy trong khí thở thấp, nồng độ HSTcao hơn người sống vùng đồng bằng

Do vậy nói thiếu máu phải xem xét người đó có lượng HST là bao nhiêu

và trong hoàn cảnh nào Tổ chức y tế thế giới định nghĩa “ Thiếu máu là tìnhtrạng giảm lượng HST trong máu so với người cùng tuổi, cùng giới, cùngtrạng thái và cùng môi trường sống”.[14]

1.2.2 Phân loại thiếu máu

Thiếu máu là bệnh khá phổ biến đặc biệt ở các nước các vùng có đờisống thấp Tuy nhiên nhiều khi thiếu máu là triệu chứng của bệnh khác Cónhiều lý do gây thiếu máu, nhiều mức độ và đặc điểm khác nhau của thiếumáu Có thể tóm tắt các căn cứ phân loại thiếu máu dựa trên quá trình sinhmáu, đặc điểm và mức độ thiếu máu như sau:[15]

1.2.2.1 Phân loại thiếu máu dựa theo nguyên nhân sinh bệnh

Như chúng ta biết thiếu máu tức là thiếu huyết sắc tố Quá trình tổng hợp

Trang 11

HST gắn liền và song song với quá trình trưởng thành của nguyên hồng cầu.Các hồng cầu được sinh ra ở tủy máu rồi vào mạch máu, theo tuần hoàn thựchiện chức năng vận chuyển oxy Sau một thời gian, hồng cầu sẽ bị hủy ở lách

và hệ liên võng Cơ thể luôn luôn phải sản sinh hồng cầu thay thế

Các lý do làm chậm sinh hồng cầu hay làm hồng cầu bị ra khỏi tuầnhoàn sớm ( mất máu) đều dẫn đến thiếu máu

1.2.2.1.1 Do sinh máu

Máu được sinh ra ở tủy sinh máu Nhiều nguyên nhân khác nhau làm ảnhhưởng tới sinh máu đó là có thể do tủy xương( suy tủy xương, giảm sinh tủy,rối loạn sinh tủy, tủy bị ức chế do u ác tính) hay do thiếu các yếu tố tạo máu:sắt, vitamin B12, acid folic, protein Bên cạnh đó các bệnh khác làm rối loạnđiều hòa tạo máu cũng gây thiếu máu

1.2.2.1.2 Do mất máu

- Chảy máu: có thể cấp tính như xuất huyết tiêu hóa nặng, tai biến sản phụ khoahay mất máu do vết thương Có thể mạn tính như: trĩ, bệnh ký sinh trùngđường ruột, xuất huyết tiêu hóa nhẹ, đái máu

- Tạo máu: Bình thường hồng cầu sau khi được sinh ra sẽ mất vào máu và tồntại khoảng 120 ngày, sau đó bị hủy ở lách, tổ chức liên võng Tan máu là tìnhtrạng hồng cầu bị hủy sớm hơn bình thường Có nhiều nguyên nhân gây tanmáu, có thể phân chia nguyên nhân tan máu là do tại hồng cầu hay ngoài hồngcầu

+ Tan máu do nguyên nhân tại hồng cầu: Hồng cầu bị vỡ sớm có thể domàng hồng cầu, do thiếu enzym hay huyết sắc tố:

Bệnh màng hồng cầu: bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh như bệnhMinkowski- Chauffard, hay bị bệnh mắc phải nhu bệnh tan máu kịch phát banđêm Các glycoprotein cấu tạo màng bị biến đổi vì vậy hồng cầu dễ bị vỡ.Cũng có thể do thiếu một đoạn enzym: bệnh tan máu do thiếu enzymchuyển hóa trong hồng cầu thường gặp như thiếu hụt glucose 6phosphatdehydrogenase (G6PD), thiếu pruvatkinase Thiếu các enzym này, hồng

Trang 12

cầu không sử dụng được hiệu quả năng lượng vì vậy không tồn tại được lâu.

Do huyết sắc tố : Do không tổng hợp hay giảm tổng hợp chuỗi globin đó

là bệnh thalassemia, hay đột biến gen globin tạo ra huyết sắc tố bất thường.+ Tan máu do nguyên nhân ngoài hồng cầu: nhiều nguyên nhân từ bênngoài hồng cầu gây tan máu:

Thiếu máu tan máu miễn dịch : Cơ thể sinh kháng thể chống lại hồng cầucủa mình ( bệnh tan máu tự miễn), tan máu do bất thường miễn dịch sautruyền máu ( bất đồng ngoại hệ ABO), hay bất đồng hệ miễn dịch mẹ con.Tan máu do nhiễm ký sinh trùng, nhất là ký sinh trùng sốt rét

Tan máu do nhiễm độc : Độc tố một sô vi khuẩn hay một số thuốc có thểgây nhiễm độc

Tan máu do bệnh hệ thống : bệnh lupus ban đỏ cũng là bệnh tự miễn, cóthể có tan máu và giảm tiểu cầu

Thiếu máu do cường lách: lách hoạt động quá mức bình thường gây pháhủy hồng cầu

1.2.2.2 Phân loại thiếu máu dựa trên đặc điểm hồng cầu

Chúng ta biết các thông số hồng cầu phản ánh kích thước hồng cầu vànồng độ huyết sắc tố trong hồng cầu là: thể tích trung bình hồng cầu (MCV)

và nồng độ HST trung bình hồng cầu (MCHC) Căn cứ các thông số này đểđánh giá hồng cầu to hay bình thường hoặc nhỏ, thiếu máu là bình sắc haynhược sắc:

1.2.2.2.1 Thiếu máu bình sắc hồng cầu to: MCV trên 100fl MCHC từ

Trang 13

Các triệu chứng lâm sàng nhiều khi không phản ánh mức độ thiếu huyếtsắc tố Người thiếu máu mãn tính có lượng HST 60-70g/l vẫn cảm thấy bìnhthường, trong khi cũng lượng HST đó ở một người bị mất máu cấp (tan máuhay chảy máu nặng) thì biểu hiện nặng Các trường hợp thiếu máu mãn tínhthì có thể phân loại dựa vào lượng HST như sau:

Ở cả nam và nữ bình thường HST trong máu trên 125g/l Coi dưới 120g/l

là thiếu máu, có thể chia ra:

- Thiếu máu nhẹ: HST từ 90 tới dưới 120g/l

- Thiếu máu vừa: HST từ 60 tới dưới 90g/l

- Thiếu máu nặng: HST từ 30 tới dưới 60g/l

- Thiếu máu rất nặng: HST dưới 30g/l

1.2.3 Biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm của thiếu máu

1.2.3.1 Lâm sàng

1.2.3.1.1 Triệu chứng cơ năng

- Cảm giác mệt mỏi, chán ăn, hay bị hoa mắt, chóng mặt nhất là khi thay đổi tưthế như đang ngồi đứng dậy nhanh

- Cảm thấy khó thở: Biểu hiện nhẹ là chỉ xảy ra khi gắng sức, đi lại nhiều, biểuhiện nặng là khó thở thường xuyên

- Cảm giác đánh trống ngực nhất là khi làm việc nặng

1.2.3.1.2 Triệu chứng thực thể

Da xanh, niêm mạc nhợt, gan bàn tay trắng, móng tay khum, tóc khô dễgãy, ở phụ nữ có thể rối loạn hay mất kinh nguyệt

Tùy theo nguyên nhân thiếu máu mà có thể biểu hiện

- Sốt, rét run từng con hay sốt liên tục trong tan máu, sốt rét, lơ xê mi

- Bệnh nhân có biểu hiện nhiễm trùng, nhiễm trùng nặng, có thể kèm loét họngtrong trường hợp thiếu máu do lơ xê mi hay suy tủy

- Có thể vàng da và niêm mạc, nước tiểu vàng sậm trong tan máu

- Có thể dị dạng mặt, sọ, lách to trong thiếu máu tan máu bẩm sinh

- Có thể xuất huyết trong những trường hợp thiếu máu có kèm giảm tiểu cầu

- Có thể phù: thường gặp trong thiếu máu dinh dưỡng và thiếu máu suy thận

Trang 14

1.2.3.2 Biểu hiện xét nghiệm

1.2.3.2.1 Huyết học

- Xét nghiệm huyết đồ: Số lượng hồng cầu giảm, lượng huyết sắc tố, hematocritgiảm Chú ý số lượng hồng cầu không phải luôn luôn phản ánh tình trạng vàmức độ thiếu máu Nhiều trường hợp số lượng hồng cầu bình thường, thậmchí cao hơn bình thường nhưng vẫn thiếu máu, đó là các trường hợp bệnhhuyết sắc tố, ở bệnh này hồng cầu bệnh nhân rất nhỏ

Một số thông số hồng cầu: MCV, MCH, MCHC có thể tăng giảm haybình thường phụ thuộc nguyên nhân thiếu máu RDW nói lên mức độ phân bốcủa các hồng cầu có kích thước khác nhau Phân bố rộng là tăng cao RDWtrong một số thiếu máu tan máu đặc biệt là thiếu máu do bệnh huyết sắc tố vàthiếu máu thiếu sắt

Mối liên quan giữa MCV và RDW cũng có vai trò định hướng nguyênnhân thiếu máu: Nếu bệnh nhân có hồng cầu lưới >2%, MCV thấp thìRDWcao gợi ý thiếu máu do thiếu sắt, RDW bình thường thì hay gặp thiếumáu do các bệnh mãn tính

- Xét nghiệm tủy đồ: Tùy theo nguyên nhân thiếu máu mà có các hình ảnh tủy

đồ khác nhau

Hồng cầu lưới ở máu và tủy có thể tăng, bình thường hay giảm tùynguyên nhân thiếu máu

1.2.3.2.2 Xét nghiệm hóa sinh

Một số xét nghiệm hóa sinh có giá trị trong định hướng nguyên nhânthiếu máu đó là: bilirubin giáp tiếp, sắt huyết thanh, ferritin, haptoglibin

1.3 Thiếu máu ở phụ nữ mang thai

1.3.1 Định nghĩa thiếu máu ở phụ nữ mang thai

Định nghĩa chính xác thiếu máu ở phụ nữ mang thai rất phức tạp bởimột số yếu tố như giá trị bình thường của Hb khác nhau giữa nam và nữ, giữaphụ nữ mang thai và không có thai Các yếu tố về mức sống, tuổi, tình trạng

Trang 15

sinh lý, việc dùng thuốc, hoạt động chủa bệnh nhân trước khi xét nghiệm đều ảnh hưởng đáng kể đến kết quả xét nghiệm.

Ở PNMT có thể có thiếu máu sinh lý do sự tăng không đồng đều giữa thểtích huyết tương và khối lượng hồng cầu làm cho Hb giảm 1-2g/dl chủ yếu ở

3 tháng giữa thai kỳ Tình trạng này không gây bệnh lý nhưng có thể làmnặng thêm tình trạng thiếu máu sẵn có của bệnh nhân

Có nhiều định nghĩa khác nhau của nhiều tác giả về thiếu máu ở PNMT:

- Theo Brideau thiếu máu khi Hb<10g/l , HC<3,5 triệu/mm , Hct<30%

- Theo J.Bernard thiếu máu khi Hb <10,5g/dl, HC<3,5 triệu/mm , Hct<30%

- Trung tâm giám sát bệnh tật ở Mỹ đưa ra định nghĩa về thiếu máu ở PNMTkhi Hb <10,5 g/dl ở 3 tháng giữa thai kỳ, Hb<11g/dl ở 3 tháng đầu và 3 thángcuối thi kỳ[16]

Theo WHO định nghĩa về thiếu máu ở PNMT khi Hb < 110g/l [14]

1.3.2 Phân loại thiếu máu ở PNMT của tổ chức y tế thế giới năm 2011[14].

Trang 16

+ Hô hấp; khó thở

+ Thần kinh: đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ngất

+ Cơ và khớp: mỏi các cơ đi lại khó khăn

Thiếu máu mãn tính:

+Da xanh xảy ra từ từ

+Niêm mạc môi, mắt, dưới lưỡi nhợt nhạt, lưỡi trơn hay nứt nẻ

+Móng tay khô mất bóng, có khía dọc và dễ gãy, có thể có móng tay khum+Tim: Nhịp tim nhanh, có thể có tiếng thổi tâm thu thiếu máu Nếuthiếu máu lâu ngày và nặng sẽ dẫn đến suy tim

+Hô hấp: khó thở khi gắng sức, nhịp tim nhanh

+Thần kinh: nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, thoáng ngất và ngất+Cơ và khớp mệt mỏi khi đi lại làm việc

+Rối loạn tiêu hóa; ăn kém, ỉa lỏng hoặc táo bón, gầy sút cân

1.3.3.2 Thiếu máu nhẹ và trung bình

Dấu hiệu lâm sàng nghèo nàn chủ yếu dựa vào xét nghiệm

• Cận lâm sàng

- Xét nghiệm huyết học để định lượng Hb, đếm số lượng hồng cầu, Hematocit

- Trên phụ nữ mang thai bị thiếu máu sẽ có biểu hiện Hb<11g/dl, có thể thấyHC<3,5 triệu/mm , Hct<30%[14]

1.3.4 Nguyên nhân thiếu máu

1.3.4.1 Thiếu máu do thiếu sắt

Sắt trong thức ăn vào ống tiêu hóa nhờ acid chlohdric và vitaminC hấpthụ qua niêm mạc ruột vào huyết tương Tại đây sắt được vận chuyển nhờchất transferin tới nơi dự trữ ở tổ chức dưới dạng ferritin, hemosideren (gan,lách) hoặc hem của men (xytocrom, myoglobin, hemoglobin ) Đây là hỗnhợp sắt thay đổi Tại tủy xương, sắt kết hợp với protoporphyrin thành hem đểhình thành hemoglobin

Nhu cầu sắt trong cơ thể phụ thuộc vào tuổi, giới, và những tiêu hao hằngngày, tiêu hao bất thường như kinh nguyệt, có thai, cho con bú Bình thường,mỗi ngày cơ thể nữ cần khoảng 2,5mg sắt.[17]

Trang 17

Bình thường, hàm lượng sắt trong huyết thanh của nữ giới là 7-26 µmol/lmáu Thiếu máu thiếu sắt khi hàm lượng sắt trong huyết thanh giảm dướingưỡng trên.[15]

Trong số các khoáng chất của cơ thể, sắt là một nguyên tố quan trọng Cơthể người trưởng thành có khoảng 3-4 g sắt Phần lớn lượng sắt có trong Hb,còn lại dự trữ ở gan, lách, thận, tủy xương.[18]

Khi không có thai, trong khi có kinh người phụ nữ mất khoảng 25mg sắt,mất qua da khoảng 15mg, tổng lượng sắt bị mất 40mg/ tháng Như vậy hấpthu qua thức ăn phải đủ 40mg/tháng.[19]

Nếu sắt hấp thu không đủ để đáp ứng nhu cầu của cơ thể do lượng sắttrong khẩu phần ăn giảm, do có thai nhu cầu sắt tăng lên hay do mất máu sẽxảy ra tình trạng thiếu sắt kéo dài gây thiếu máu Tổng lượng sắt cần cho thời

kỳ có thai trung bình là 1000mg, trong đó 300-500 mg để tổng hợphemoglobin, 250-300 mg giúp thai phát triển, 30-100 mg cần cho máu thai vàbánh rau.[18]

Chảy máu khi sổ rau bình thường khoảng 300ml cũng gây mất 150 mgsắt Như vậy, khi có thai cần khoảng 700mg sắt và cơ thể phải hấp thu được2,5mg/ngày Nhu cầu sắt tăng theo tuổi thai, 3 tháng đầu cần 1mg/ngày, 3tháng cuối cần 0,6mg/ngày.[9]

Với chế độ ăn uống đầy đủ, mỗi ngày cũng chỉ cấp cho cơ thể khoảng1,5mg sắt, sự thiếu hụt phải lấy ở nơi dự trữ, vì vậy nếu người mẹ ngay từ đầuchỉ có dữ trữ sắt hoặc không có sẽ xảy ra tình trạng thiếu sắt nghiêm trọng.Qua nghiên cứu, người ta thấy 30% phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ không có dự trữsắt Dự trữ sắt thiếu ở 50% PNMT lần đầu.[20]

Thiếu máu thiếu sắt thường gặp ở thai phụ lớn tuổi và trẻ tuổi, đẻ nhiềulần, một số bệnh mãn tính: bị sốt rét gây tan máu, trĩ, ung thư dạ dày, ung thư

Trang 18

trực tràng, u xơ tử cung gây chảy máu, mất máu rỉ rả, giun móc không nhữnghút máu mà còn gây viêm tá tràng không hấp thu được sắt,tá tràng là nới hấpthu nhiều sắt nhất, các bệnh có rối loạn tiêu hóa như viêm ruột, viêm dạ dàythì khả năng hấp thu sắt kém.Thiếu máu thiếu sắt, hình ảnh hồng cầu thay đổi,hồng cầu nhỏ, không đều, nhược sắc.

Thiếu máu thiếu sắt chiếm đại đa số các trường hợp thiếu máu trong quátrình mang thai Theo Đào Văn Chính, thiếu máu do thiếu sắt chiếm khoảng80% các trường hợp thiếu máu khi có thai, 10-20% các PNMT có chế độ ănđầy đủ bị thiếu máu do thiếu sắt, tỷ lệ này càng cao hơn nhiều ở những người

đẻ nhiều, đẻ dày và cho con bú kéo dài.[9]

Nghiên cứu trên 300 phụ nữ mang thai tại Plastin phân tích nồng độferritin huyết thanh cho thấy 156 phụ nữ mang thai (52%) có nồng độ ferritinhuyết thanh dưới 15 ng / mL.[21]

Nghiên cứu trên 33 phụ nữ có thai bình thường ở 3 tháng cuối thai kỳđến khám thai tại khoa Sản bệnh viện Thanh Nhàn – Hà Nội năm 1994, HàHuy Khôi và các cộng sự cho thấy: dự trữ sắt bình thường ở thai phụ khôngthiếu máu, khi lượng Hb 6-8g/l dự trữ sắt cạn kiệt, từ đó nhận định rằng thiếusắt là quan trọng dẫn đến thiếu máu ở các đỗi tượng nghiên cứu.[22]

Sukrat B và Sirichitiyakul S nghiên cứu năm 2006 trên 648 phụ nữ cóthai ở bệnh viện Maharaj Chiang Mai, Thái Lan, kết quả cho thấy: tỷ lệ thiếumáu là 20,1 %: phân chia thiếu máu theo từng thai kỳ là 17,3%, 23,8% và50% tương ứng với quý 1,2 và 3 PNMT bị bệnh thalassemia và các bệnhkhác là 56 trong tổng số 102 PNMT bị thiếu máu (54,9%) Trong 58 thai phụthiếu máu, có 25 trường hợp thiếu máu do thiếu sắt Các nguyên nhân khácgây thiếu máu là nhiễm ký sinh trùng (8,7%), thiếu máu do các bệnh mãn tính(2,7%), 37 trường hợp (33%) không xác định được các nguyên nhân thiếu máu.1.3.4.2 Thiếu máu do thiếu acid folic

Ngày đăng: 21/07/2019, 11:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. E.S, D., Anemia in pregnancy. International Journal of Gynaecology Annual, 1972: p. 219-242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anemia in pregnancy
21. Srour, M.A., et al., Prevalence of Anemia and Iron deficiency among Palestinian pregnant Women and its association with pregnancy outcome. Anemia, 2018. 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of Anemia and Iron deficiency amongPalestinian pregnant Women and its association with pregnancyoutcome
22. Giấy, T. and H.H. Khôi, Một vài đặc điểm dịch tễ vê thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ tại một số vùng nông thôn và thành phố Hà Nội. Y học thực hành số 3, 1990: p. 17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm dịch tễ vê thiếu máu dinhdưỡng ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ tại một số vùng nông thôn và thànhphố Hà Nội
24. Ngọc, L.X., Thiếu máu ở phụ nữ có thai tại Hà Nội. 1989, Trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu máu ở phụ nữ có thai tại Hà Nội
25. Nhạn, D.T., Tình hình thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Châu Đốc - An Giang, in Chuyên ngành Phụ sản. 1997, Trường đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại Bệnh việnChâu Đốc - An Giang", in "Chuyên ngành Phụ sản
26. Yên, N.T.M., Tình hình thiếu máu ở PNCT đến đẻ tại BVBMTSS và ảnh hưởng đối với trẻ sơ sinh, in Chuyên ngành Phụ sản. 2002, Trường đại học y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thiếu máu ở PNCT đến đẻ tại BVBMTSS vàảnh hưởng đối với trẻ sơ sinh", in "Chuyên ngành Phụ sản
27. Trung, N.V., Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến nguyên nhân và cơ chế thiếu máu ở phụ nữ mang thai, in Sinh lý bệnh. 2003: Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến nguyên nhân vàcơ chế thiếu máu ở phụ nữ mang thai", in "Sinh lý bệnh
28. Nội, H.T., Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu ở PNCT và một số yếu tố ảnh hưởng Tạp chí DD&amp;TP, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu ở PNCT và mộtsố yếu tố ảnh hưởng
29. E.M, G. and B.O.C.e. al, Prevalence of anemia in pregnancy in Brasil.Rev-Saude-Publica, 1990: p. 380-386 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of anemia in pregnancy in Brasil
30. Desalegn, Prevalence of anemia in pregnancy in Jima Town Southwestern Ethiopia. Ethioipia Medical Journal, 1993: p. 251-258 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of anemia in pregnancy in Jima TownSouthwestern Ethiopia
31. O., O. and W. V., Anemia in pregnancy. East Africa medical Journal, 1994: p. 671-673 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anemia in pregnancy
32. Adam, I. and và cs, Prevalance and ricks factors for anemia in pregnancy women of eastern Sudan. Transactions of Royal Society of Tropical Medicine and Hygienne, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalance and ricks factors for anemia inpregnancy women of eastern Sudan
33. N, M., A. AO, and N. OJ, Iron supplementation during pregnancy.Effect on iron status markers, serum erythropoietin and human placental lactogen. A placebo controlled study in 207 Danish women.Dan Med Bull, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iron supplementation during pregnancy."Effect on iron status markers, serum erythropoietin and humanplacental lactogen. A placebo controlled study in 207 Danish women
34. Bayoumeu, F., et al., Iron therapy in iron deficiency anemia in pregnancy: intravenous route versus oral route. European Journal of Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iron therapy in iron deficiency anemia inpregnancy: intravenous route versus oral route

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w