TÓM TẮT NGHIÊN CỨU................................................................................... viii ĐẶT VẤN ĐỀ ........................................................................................................... 1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .................................................................................... 3 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................. 4 1.1. Tổng quan về vi rút Zika ..................................................................................... 4 1.2. Dự phòng sự lây truyền của vi rút Zika............................................................... 5 1.3. Tình hình diễn biến dịch bệnh do vi rút Zika...................................................... 6 1.4. Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Zika trên thế giới.......16 1.5. Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Zika tại Việt Nam. .................................................................................................................................. 19 1.6. Giới thiệu một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu........................................... 21 1.7. Khung lý thuyết................................................................................................. 22 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.................. 23 2.1. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................... 23 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu..................................................................... 23 2.3.Thiết kế nghiên cứu............................................................................................ 23 2.4. Cỡ mẫu .............................................................................................................. 23 2.5. Phương pháp chọn mẫu..................................................................................... 24 2.6. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu ......................................................... 25 2.7. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu ............................................................ 27 2.8. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu ........................................................................ 27 2.9. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số ........................ 27 2.10. Các biến số nghiên cứu ................................................................................... 28 2.11. Các khái niệm trong nghiên cứu...................................................................... 30 2.12. Cách đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh do vi rút Zika ........ 30 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................ 31 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ........................................................ 31 3.2. Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh do vi rút Zika............................. 36 3.3. Một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh do vi rút Zika........................................................................................................................... 55 Chương 4: BÀN LUẬN.......................................................................................... 57 4.1. Kiến thức của ĐTNC về phòng bệnh do vi rút Zika ......................................... 57 4.2. Thái độ của ĐTNC về phòng bệnh do vi rút Zika............................................. 64 4.3. Thực hành về phòng bệnh do vi rút Zika .......................................................... 66 4.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh do vi rút Zika........................................................................................................................... 69 KẾT LUẬN ............................................................................................................. 71 KHUYẾN NGHỊ ..................................................................................................... 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 73 Phụ lục 1. Phiếu chấp thuận tự nguyện tham gia nghiên cứu .................................. 77 Phụ lục 2. Câu hỏi phỏng vấn về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng............... 78 bệnh do vi rút Zika ................................................................................................... 78 Phụ lục 3. Khung chấm điểm đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh do vi rút Zika ................................................................................................................. 94 Phụ lục 4. Hướng dẫn phỏng vấn sâu phụ nữ đang mang thai 3 tháng đầu ........... 104 Phụ lục 5. Hướng dẫn phỏng vấn sâu phụ nữ độ tuổi 18 – 40 đang không106 mang thai .......................................................................................................................... 106 Phụ lục 6. Hướng dẫn thảo luận nhóm phụ nữ độ tuổi 18 – 40 ............................. 108 Phụ lục 7. Các biến nghiên cứu định lượng ........................................................... 110 Phụ lục 8. Các biến nghiên cứu phỏng vấn sâu...................................................... 116 Phụ lục 9. Một số hình ảnh khi thực hiện nghiên cứu............................................ 117 Phụ lục 10. Dự trù kinh phí, vật tư, thiết bị phục vụ nghiên cứu…………….…...120 Phụ lục 11. Kế hoạch nghiên cứu............................................................................121
Trang 2BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG BỆNH DO VI RÚT ZIKA CỦA PHỤ
NỮ TỪ 18-40 TUỔI TẠI PHƯỜNG PHƯỚC HÒA THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI – 2017
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về vi rút Zika 4
1.2 Dự phòng sự lây truyền của vi rút Zika 5
1.3 Tình hình diễn biến dịch bệnh do vi rút Zika 6
1.4 Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Zika trên thế giới 16
1.5 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Zika tại Việt Nam 19
1.6 Giới thiệu một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 21
1.7 Khung lý thuyết 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3.Thiết kế nghiên cứu 23
2.4 Cỡ mẫu 23
2.5 Phương pháp chọn mẫu 24
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 25
2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 27
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 27
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 27
2.10 Các biến số nghiên cứu 28
2.11 Các khái niệm trong nghiên cứu 30
2.12 Cách đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh do vi rút Zika 30
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh do vi rút Zika 36
Trang 43.3 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh do vi rút
Zika 55
Chương 4: BÀN LUẬN 57
4.1 Kiến thức của ĐTNC về phòng bệnh do vi rút Zika 57
4.2 Thái độ của ĐTNC về phòng bệnh do vi rút Zika 64
4.3 Thực hành về phòng bệnh do vi rút Zika 66
4.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh do vi rút Zika 69
KẾT LUẬN 71
KHUYẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Phụ lục 1 Phiếu chấp thuận tự nguyện tham gia nghiên cứu 77
Phụ lục 2 Câu hỏi phỏng vấn về kiến thức, thái độ, thực hành về phòng 78
bệnh do vi rút Zika 78
Phụ lục 3 Khung chấm điểm đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh do vi rút Zika 94
Phụ lục 4 Hướng dẫn phỏng vấn sâu phụ nữ đang mang thai 3 tháng đầu 104
Phụ lục 5 Hướng dẫn phỏng vấn sâu phụ nữ độ tuổi 18 – 40 đang không106 mang thai 106
Phụ lục 6 Hướng dẫn thảo luận nhóm phụ nữ độ tuổi 18 – 40 108
Phụ lục 7 Các biến nghiên cứu định lượng 110
Phụ lục 8 Các biến nghiên cứu phỏng vấn sâu 116
Phụ lục 9 Một số hình ảnh khi thực hiện nghiên cứu 117
Phụ lục 10 Dự trù kinh phí, vật tư, thiết bị phục vụ nghiên cứu……….… 120
Phụ lục 11 Kế hoạch nghiên cứu 121
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu ELISA Enzyme-Linked Immuno Sorbent Assay
Kỹ thuật sinh hóa phát hiện kháng thể/ kháng nguyên GBS Guillain-Barre Syndrome (Hội chứng Guillain-Barre ) KAP Knowledge, Attitude and Practices
(Kiến thức, Thái độ, Thực hành) PAHO Tổ chức Y tế thế giới khu vực châu Mỹ
RT-PCR Real time – Polimerase Chain Reaction
Phản ứng tổng hợp chuỗi thời gian thực
UNICEF United Nations Children's Emergency Fund
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Trường hợp người nước ngoài nhiễm vi rút Zika tại Việt Nam 14
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.2 Nguồn cung cấp thông tin về vi rút Zika cho ĐTNC 33
Bảng 3.3 Nhu cầu muốn được cung cấp thông tin về vi rút Zika 34
Bảng 3.5 Đối tượng có thể mắc bệnh do vi rút Zika 36
Bảng 3.6 Kiến thức về đường lây truyền của vi rút Zika……….38
Bảng 3.7 Kiến thức về các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm vi rút Zika…………39
Bảng 3.8 Kiến thức của ĐTNC về triệu chứng của bệnh do vi rút Zika 39
Bảng 3.9 Kiến thức của ĐTNC về dị tật đầu nhỏ và hội chứng Guillain - Barre 40
Bảng 3.10 Kiến thức của ĐTNC về nguy cơ đối với40 phụ nữ mang thai khi nhiễm vi rút Zika 40
Bảng 3.11 Kiến thức của ĐTNC về nguy cơ đối với thai nhi khi nhiễm vi rút Zika 41
Bảng 3.12 Kiến thức phòng bệnh do vi rút Zika của ĐTNC theo các nhóm tuổi 43
Bảng 3.13 Thái độ của ĐTNC về trách nhiệm phòng bệnh do vi rút Zika 43
Bảng 3.14 ĐTNC lựa chọn cơ sở y tế có thể điều trị nếu mắc bệnh do vi rút Zika 44
Bảng 3.15 Thái độ của ĐTNC đối với trẻ bị mắc tật đầu nhỏ do vi rút Zika 45
Bảng 3.16 Thái độ đối với vắc xin ngừa bệnh do vi rút Zika (nếu có) 46
Bảng 3.17 Thái độ của ĐTNC về phòng bệnh do vi rút Zika theo nhóm tuổi 48
Bảng 3.18 Thực hành phòng tránh lây nhiễm vi rút Zika của ĐTNC……… 48
Bảng 3.19 Thực hành loại trừ véc tơ truyền bệnh Zika của ĐTNC……….50
Bảng 3.20 Lựa chọn các kênh truyền thông của ĐTNC theo nhóm tuổi 50
Bảng 3.21 Thực hành phòng lây nhiễm vi rút Zika của ĐTNC theo nhóm tuổi 51
Bảng 3.22 Trở ngại của ĐTNC khi thực hiện biện pháp phòng tránh Zika……….53
Bảng 3.23 Thực hành súc rửa dụng cụ chứa nước của ĐTNC 52
Bảng 3.24 Phương pháp vệ sinh dụng cụ chứa nước 53
Bảng 3.25 Các hoạt động phòng chống Zika của chính quyền53 địa phương đã được triển khai 53
Trang 7Bảng 3.26 Thực hành phòng bệnh do vi rút Zika của ĐTNC theo nhóm tuổi…….56 Bảng 3.27 Mối liên quan kiến thức với thái độ phòng vi rút Zika của ĐTNC 55 Bảng 3.28 Mối liên quan kiến thức với thực hành phòng bệnh do vi rút Zika của ĐTNC 56 Bảng 3.29 Mối liên quan thái độ với thực hành phòng bệnh do vi rút Zika của ĐTNC 56
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Số lượng quốc gia/vùng lãnh thổ công bố lây nhiễm vi rút zika theo tháng trong giai đoạn từ năm 2007- tháng 4 năm 2016 ……….… 9 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đối tượng đã biết về bệnh do vi rút Zika 32 Biểu đồ 3.2 Kiến thức chung của ĐTNC về phòng bệnh do vi rút Zika 42 Biểu đồ 3.3 Thái độ của ĐTNC về ý định xét nghiệm và phá thai khi nghi ngờ nhiễm
vi rút Zika 46 Biểu đồ 3.4 Đánh giá thái độ của ĐTNC về phòng bệnh do vi rút Zika……….47 Biểu đồ 3.5 Thực hành chung về phòng bệnh do vi rút Zika 54
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ phân bố điểm giám sát trọng điểm Zika năm 2016 15
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đặt vấn đề: Bệnh do vi rút Zika trong 2 năm gần đây là vấn đề y tế rất đáng chú ý cả
ở Việt Nam và trên thế giới bởi mức độ nguy hiểm của các bệnh do nó gây ra Nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy bằng chứng vi rút Zika là một trong những nguyên nhân gây dị tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh và hội chứng Guillan – Barre [32] [35] Tỉnh Khánh Hòa là nơi đầu tiên ghi nhận bệnh nhân nhiễm vi rút Zika tại Việt Nam vào tháng 3/2016 tại Phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang Để có cơ sở lập kế hoạch truyền thông cho nhóm đối tượng đích chính là phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 18-40 tuổi về
phòng bệnh do vi rút Zika, nghiên cứu đã được thực hiện với mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh do vi rút Zika và xác định một số yếu tố liên quan ở phụ nữ từ 18 – 40 tuổi tại phường Phước Hòa, Nha Trang, Khánh Hòa năm 2017
Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp định lượng và định tính Phương pháp định lượng
sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang với cỡ mẫu 400 đối tượng phụ nữ từ
18-40 tuổi, phương pháp định tính sử dụng phỏng vấn sâu trên 9 đối tượng và một cuộc thảo luận nhóm
Kết quả nghiên cứu: Về kiến thức, có 84% số đối tượng biết Zika lây truyền qua muỗi
đốt và 21,3% biết Zika lây qua quan hệ tình dục Có 83,8% cho rằng việc tránh muỗi đốt giúp ngăn ngừa lây nhiễm vi rút Zika và 11,5% biết rằng sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục cũng có tác động tương tự Chỉ có 11% biết về nguy cơ vi rút Zika gây dị tật đầu nhỏ cho trẻ sơ sinh Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức chung đạt 55,7% Tỷ lệ ĐTNC có thái độ tích cực là 41% Về thực hành chung: có 45% thực hành đạt, trong
đó 67,5% thực hành phòng tránh muỗi đốt và 61% thực hành diệt lăng quăng /bọ gậy đạt yêu cầu; Chỉ có 10,5% dùng bao cao su khi quan hệ tình dục để phòng lây nhiễm Zika và 4,5% áp dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình Có mối liên quan giữa kiến thức với thái độ, giữa kiến thức với thực hành về phòng bệnh do vi rút Zika Không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố: nhóm tuổi, trình độ học vấn với kiến thức chung
và thực hành chung phòng bệnh do vi rút Zika Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ từ
18 đến 40 tuổi cần quan tâm tìm hiểu các thông tin về bệnh do vi rút Zika Chính quyền
Trang 11địa phương và ngành Y tế cần tăng cường công tác truyền thông về phòng bệnh do vi rút Zika, nhấn mạnh nguy cơ lây qua đường tình dục, gây dị tật đầu nhỏ cho trẻ sơ sinh, qua các kênh truyền thông chính như truyền hình, nhân viên y tế địa phương
Từ khóa: KAP, Zika, Nha Trang, phụ nữ
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh do vi rút Zika là bệnh truyền nhiễm cấp tính, chủ yếu do muỗi Aedes truyền, ngoài ra bệnh có thể lây qua đường tình dục, đường máu và từ mẹ sang con Khoảng 60% - 80% các trường hợp nhiễm vi rút Zika không có biểu hiện triệu chứng Thời gian ủ bệnh có thể từ vài ngày đến một tuần Người bệnh có biểu hiện phát ban trên da, sốt, viêm kết mạc, đau khớp, phù quanh khớp [4] Các nghiên cứu đã cho thấy vi rút Zika là một trong những nguyên nhân gây dị tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh và hội chứng Guillain-Barre’ [35] [32] Đến nay bệnh do vi rút Zika chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc xin phòng bệnh [4]
Năm 1947 Vi rút Zika được phát hiện lần đầu tiên trên khỉ tại Uganda Năm
1952 phát hiện Zika trên người đầu tiên tại Uganda Năm 2007 xuất hiện vụ dịch lớn
do vi rút Zika đầu tiên tại đảo Yap, bang Micronesia Năm 2015, vụ dịch Zika lan rộng ở các nước Trung và Nam Mỹ, đặc biệt là tại Brazil Nhiều nghiên cứu tại Brazile cho thấy có mối liên quan giữa nhiễm vi rút Zika với hội chứng Guillain-Barre và hội chứng trẻ sơ sinh có đầu nhỏ [8] [26] [31] Tháng 2/2016, WHO tuyên bố sự gia tăng các ca dị tật bẩm sinh nghiêm trọng tại Nam Mỹ có khả năng do vi rút Zika gây ra và coi đây là tình trạng khẩn cấp toàn cầu về y tế [7] Đến cuối năm 2016, WHO tuyên
bố kết thúc sự kiện y tế công cộng khẩn cấp liên quan đến nhiễm vi rút Zika, song vẫn khẳng định đáp ứng với dịch bệnh do vi rút Zika cần có kế hoạch với những mục tiêu chiến lược và lâu dài
Tính đến ngày 10 tháng 3 năm 2017 trên thế giới có 148 quốc gia và vùng lãnh thổ ghi nhận có sự lưu hành hoặc lây truyền vi rút Zika, có 13 quốc gia ghi nhận trường hợp nhiễm từ người sang người, 29 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo ghi nhận trẻ mắc chứng đầu nhỏ có liên quan đến vi rút Zika, 20 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo gia tăng hội chứng viêm đa rễ thần kinh Điều này cho thấy đối tượng phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đặc biệt là khi đang mang thai chịu tác động lớn nhất của dịch bệnh do vi rút Zika bên cạnh các nhóm đối tượng khác [30]
Tại Việt Nam, từ 2016 đến tháng 3/2017 đã ghi nhận 231 trường hợp mắc rải rác tại 12 tỉnh, thành phố Số mắc tập trung ở khu vực phía Nam và chưa bùng phát
Trang 13thành dịch lớn, đã ghi nhận 1 trường hợp trẻ 4 tháng tuổi mắc chứng đầu nhỏ nghi liên quan đến virus Zika tại Đắk Lắk [5] Khánh Hòa là tỉnh đầu tiên ghi nhận bệnh nhân nhiễm vi rút Zika, đến tháng 3 năm 2017 ghi nhận 7 trường hợp nhiễm vi rút Zika tại Nha Trang và hai huyện thị lân cận [14]
Do vi rút Zika có thể gây hậu quả nặng nề đối với phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh, nên một trong những nhóm đối tượng đích chính của các can thiệp được xác định là phụ nữ mang thai và phụ nữ trong độ tuổi sinh sản Phòng chống bệnh do vi rút Zika được khuyến cáo tập trung vào công tác tuyên truyền cho đối tượng đích và cộng đồng, huy động cộng đồng tham gia diệt côn trùng truyền bệnh Các cơ sở y tế giám sát phát hiện ca bệnh, xử lý ổ dịch do vi rút Zika, giám sát phụ nữ mang thai nghi nhiễm vi rút Zika, giám sát thai nhi và trẻ sơ sinh có vòng đầu nhỏ [4] [5]
Cho đến nay, tại Việt Nam cũng như tỉnh Khánh Hòa chưa có nghiên cứu nào
về kiến thức thái độ thực hành phòng chống bệnh do vi rút Zika Chính vì vậy nghiên
cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh do
vi rút Zika của phụ nữ từ 18 – 40 tuổi tại phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa năm 2017” đã được tiến hành Kết quả nghiên cứu sẽ cung
cấp thông tin hữu ích cho việc lập kế hoạch phòng chống Zika tại Thành phố Nha Trang cũng như tỉnh Khánh Hòa
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh do vi rút Zika ở phụ nữ từ 18 - 40 tuổi tại phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa năm 2017
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh do
vi rút Zika ở phụ nữ từ 18-40 tuổi tại phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh
Khánh Hòa năm 2017
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
người qua véc tơ trung gian là muỗi Aedes aegypti Muỗi này đốt người, hút máu ban
ngày cao điểm vào buổi sáng sớm và chiều tối [35] Vi rút Zika cũng có thể lây truyền qua một số con đường khác như đường tình dục, truyền từ mẹ sang con, truyền máu [35] Thời gian ủ bệnh của bệnh do vi rút Zika không rõ ràng, nhưng có thể vài ngày Triệu chứng có thể gồm sốt nhức đầu, mắt đỏ viêm kết mạc, ngứa có ban dát sẫm trên
da, viêm khớp (đặc biệt là các khớp nhỏ ở bàn tay và bàn chân) Các triệu chứng này thường nhẹ và kéo dài từ 2 đến 7 ngày [9] [35] Việc chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng cũng như yếu tố dịch tễ, nhưng để chẩn đoán xác định cần dựa vào phân lập
vi rút Zika hoặc xác định đoạn gen đặc hiệu của vi rút Zika bằng kỹ thuật sinh học phân tử và xác định kháng thể IgM kháng vi rút Zika và hiệu giá kháng thể trung hòa
(PRN) với vi rút Zika ≥ 20 và cao gấp 4 lần hoặc so với nồng độ vi rút Flavi khác
đồng thời loại trừ loại vi rút Flavi khác [9]
Công tác điều trị với vi rút Zika thì chỉ điều trị triệu chứng, người bệnh cần nghỉ ngơi, bù dịch bằng cách uống nhiều nước để chống mất nước Dùng các thuốc
hạ sốt, giảm đau như paracetamol Không dùng aspirin và các thuốc chống viêm không steroid khác như ibuprofen và naproxen như những bệnh khác Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu vi rút Zika và chưa có vắc xin phòng bệnh, việc phòng chống lây nhiễm chủ yếu thông qua các biện pháp kiểm soát véc tơ truyền bệnh [35] Khi vi rút Zika xâm nhập vào cơ thể, nó có thể gây ra các hội chứng chứng rối loạn thần kinh, gồm teo não ở trẻ sơ sinh và hội chứng làm liệt hệ thần kinh ở người lớn (thường
gọi là Hội chứng tự miễn dịch Guillain – Barré) [33] Cần theo dõi các biểu hiện yếu,
liệt cơ sau khi bị bệnh để phát hiện, xử trí sớm hội chứng Gulain Barre nếu có Theo
Trang 16dõi phụ nữ có thai và trẻ sơ sinh bị nhiễm vi rút Zika Phụ nữ có thai nghi ngờ hoặc xác định bị nhiễm vi rút Zika cần được theo dõi siêu âm thai mỗi 3 - 4 tuần một lần
để phát hiện sớm tình trạng dị tật đầu nhỏ hoặc vôi hóa não ở thai nhi Phụ nữ có thai trên 15 tuần bị nhiễm vi rút Zika có thể chỉ định chọc ối làm xét nghiệm RT-PCR hoặc lấy máu dây rốn ngay sau cuộc đẻ để xét nghiệm huyết thanh Trẻ bị dị tật đầu nhỏ hoặc có tiền sử mẹ nhiễm vi rút Zika khi mang thai cần được theo dõi sự phát triển về tinh thần - vận động, đánh giá thị lực và điều trị các rối loạn như co giật, động kinh [35]
1.2 Dự phòng sự lây truyền của vi rút Zika
1.2.1 Kiểm soát véc tơ truyền bệnh, dự phòng muỗi đốt
Muỗi và nơi sinh sản của chúng là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với nhiễm vi rút Zika Phòng ngừa và kiểm soát dựa trên việc giảm muỗi Tại vùng có dịch cần triển khai các biện pháp diệt muỗi trưởng thành, diệt bọ gậy như: vệ sinh môi trường, loại bỏ các vật dụng đọng nước như các mảnh vỡ chai lọ, lốp xe, vỏ lon, vũng nước đọng Đậy kín các chum, vại, bể chứa nước để phòng muỗi Aedes đẻ trứng, thả cá để diệt loăng quăng Diệt muỗi bằng bẫy, vợt Mọi cá nhân trong vùng dịch nên áp dụng các biện pháp hạn chế muỗi đốt như: mặc quần áo kín, sáng màu, dùng các thuốc xua đuổi côn trùng, nằm màn Những nguyên tắc này cũng áp dụng đối với những người đã bị nhiễm bệnh nhằm tránh nguy cơ lây nhiễm cho người khác
Sử dụng hóa chất chống côn trùng trong danh mục của Bộ Y tế ban hành, theo hướng dẫn trên nhãn sản phẩm phải được thực hiện nghiêm túc [3] [4] Đặc biệt chú ý và giúp đỡ cho những người ít có khả năng tự bảo vệ mình đầy đủ, chẳng hạn như trẻ
em, người ốm hoặc người già Trong thời gian bùng phát, cơ quan Y tế cần tổ chức
để phun hóa chất diệt muỗi Khuyến cáo người dân không nên đi du lịch đến các vùng đang có dịch bệnh do vi rút Zika để tránh lây lan bệnh [35]
1.2.2 Phòng tránh vi rút Zika lây qua đường tình dục
Tất cả những người đã bị nhiễm vi rút Zika và bạn tình của họ nên thực hành tình dục an toàn bằng cách sử dụng bao cao su đúng cách và nhất quán Bạn tình của phụ nữ mang thai sống trong vùng dịch hoặc trở về từ những nơi có dịch bệnh do vi rút Zika lưu hành nên thực hành tình dục an toàn, mang bao cao su, hoặc kiêng quan
Trang 17hệ tình dục trong suốt thai kỳ Người dân sống trong khu vực có lan truyền dịch bệnh
do vi rút Zika nên thực hành tình dục an toàn Ngoài ra, những người trở về từ các vùng dịch nên áp dụng thực hành tình dục an toàn hơn hoặc xem xét kiêng quan hệ tình dục ít nhất 4 tuần sau khi họ trở về để làm giảm nguy cơ lây truyền [35]
1.2.3 Phòng tránh lây nhiễm vi rút Zika cho thai nhi
Phụ nữ đang mang thai hoặc dự định có thai không nên đi đến vùng dịch khi không thực sự cần thiết Nếu phụ nữ đang mang thai sống trong vùng dịch vi rút Zika lưu hành hoặc đi du lịch từ vùng có dịch vi rút Zika đang hoạt động, khi quan hệ tình dục phải luôn sử dụng bao cao su hoặc kiêng quan hệ tình dục trong suốt thai kỳ
Ngành y tế cần tổ chức giám sát, lấy mẫu xét nghiệm phát hiện sớm các trường hợp nhiễm vi rút Zika, đặc biệt với nhóm phụ nữ mang thai, triển khai giám sát dựa vào sự kiện để phát hiện sớm trường hợp mắc bệnh do vi rút Zika, trẻ đẻ ra có tật đầu nhỏ và các trường hợp mắc hội chứng viêm đa rễ thần kinh để kịp thời khoanh vùng
và xử lý triệt để Tăng cường khám sàng lọc trước sinh, vận động phụ nữ mang thai
đi khám và siêu âm thai định kỳ, xét nghiệm khẳng định và tư vấn xử trí cho phụ nữ mang thai nghi nhiễm vi rút Zika hoặc có thai nhi nghi đầu nhỏ
Mặc dù đã phát hiện ARN của vi rút Zika trong sữa nhưng chưa có bằng chứng lây truyền vi rút Zika qua nuôi con bằng sữa mẹ nên chưa có khuyến cáo kiêng cho con bú trong khi mẹ nghi ngờ hoặc xác định bị nhiễm vi rút Zika [35]
1.3 Tình hình diễn biến dịch bệnh do vi rút Zika
1.3.1 Tình hình dịch bệnh do vi rút Zika trên Thế giới
Vi rút Zika lần đầu tiên được phát hiện ở Uganda năm 1947 ở khỉ thông qua chương trình kiểm soát bệnh sốt vàng Năm 1952 người ta phát hiện vi rút Zika trên người tại Uganda và Tanzania Các vụ dịch do vi rút Zika cũng được ghi nhận tại châu Phi, châu Mỹ, châu Á và Thái Bình Dương Từ những năm 1960 đến những năm 1980, nhiễm vi rút Zika ở người được tìm thấy từ ở châu Phi cho đến châu Á với những biểu hiện bệnh rất nhẹ Vụ dịch lớn do vi rút Zika đầu tiên bùng nổ tại Yap, liên bang Micronesia năm 2007
Tháng 7 năm 2015 Brazil báo cáo có mối liên quan giữa nhiễm vi rút Zika và hội chứng Guillain-Barre Tháng 10 năm 2015 tiếp tục có báo cáo về mối liên quan
Trang 18giữa nhiễm vi rút Zika và hội chứng trẻ sơ sinh có đầu nhỏ [29] Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), tình hình dịch bệnh do vi rút Zika vẫn diễn biến phức tạp Đến 10/3/2017 đã có 148 quốc gia và vùng lãnh thổ ghi nhận có sự lưu hành hoặc lây truyền vi rút Zika, trong đó có 48 quốc gia ở châu Mỹ, 23 quốc gia ở châu Á, 7 quốc gia ở châu Âu và 3 quốc gia ở châu Phi Có 13 quốc gia ghi nhận trường hợp nhiễm từ người sang người, 29 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo ghi nhận trẻ mắc chứng đầu nhỏ có liên quan đến vi rút Zika, 20 quốc gia và vùng lãnh thổ báo cáo gia tăng hội chứng viêm đa rễ thần kinh Ngày 01/2/2016, WHO tuyên bố sự gia tăng các ca dị tật bẩm sinh nghiêm trọng tại Nam Mỹ có khả năng do vi rút Zika gây ra và coi đây là yếu tố đủ để cấu thành tình trạng khẩn cấp toàn cầu về y tế Ở Brazil, cho đến nay thì quốc gia này đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất với 1.482.701 trường hợp nhiễm vi rút Zika Sau Brazil, Colombia là quốc gia có 20.297 trường hợp nhiễm vi rút Zika trong khoảng thời gian
từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 1 năm 2016 [35]
Ngày 08/3/2016, WHO tiếp tục khẳng định tình trạng dịch bệnh do vi rút Zika hiện nay là sự kiện YTCC khẩn cấp gây quan ngại quốc tế và cho rằng sự lan truyền của vi rút Zika sẽ tiếp tục mở rộng trong thời gian tới WHO cảnh báo dịch Zika đang
có dấu hiệu lan rộng tại châu Á và có khả năng sẽ tiếp tục ghi nhận các trường hợp nhiễm vi rút Zika do sự phân bố rộng của véc tơ truyền bệnh trong khu vực, gia tăng giao lưu, du lịch đến và đi từ các quốc gia có dịch và miễn dịch quần thể thấp [29]
Tháng 11/2016 WHO nhận thấy nhiễm vi rút Zika và những hậu quả do nhiễm
vi rút vẫn là một thách thức YTCC đòi hỏi phải hành động mạnh mẽ nhưng không còn là một sự kiện y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế được xác định theo Điều lệ Y tế quốc tế Ngày 18/11/2016, Tổng giám đốc WHO tuyên bố kết thúc sự kiện YTCC khẩn cấp gây quan ngại quốc tế liên quan đến nhiễm vi rút Zika, song đáp ứng với dịch bệnh do vi rút Zika cần có kế hoạch với những mục tiêu chiến lược
và đáp ứng lâu dài [29]
Giai đoạn từ tháng 1/2015 đến tháng 2/2016 đánh dấu giai đoạn phát triển nhanh và rất mạnh mẽ của virus Zika tại khu vực châu Mỹ Dịch do vi rút Zika bắt đầu bùng phát tại miền đông Brazil và lan ra các nước lân cận khắp khu vực Nam
Trang 19Mỹ, Trung Mỹ và Caribê Những quốc gia có khí hậu lạnh hơn như Argentina, Chi
Lê, Mỹ và Canada không xuất hiện dịch do vi rút Zika
Tại Trung và Nam Mỹ, người ta quan sát thấy sự bùng nổ của dịch bệnh do vi rút Zika cũng trùng hợp với sự gia tăng các trường hợp đã báo cáo về hội chứng Guillain-Barre (GBS) và chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh và thai nhi Dựa trên các kết quả nghiên cứu, giới khoa học đồng thuận rằng vi rút Zika là một trong những nguyên nhân gây ra tật đầu nhỏ và GBS [30]
Ngày 11 tháng 11 năm 2015, Bộ Y tế Brazil tuyên bố "Tình trạng khẩn cấp YTCC ở tầm quan trọng quốc gia" với sự gia tăng mạnh về số lượng trẻ sinh ra với tật đầu nhỏ, tổn thương não vĩnh viễn [19] Trong khi trung bình có khoảng 163 trường hợp đầu nhỏ được báo cáo hàng năm tại Brazil giai đoạn 2001 - 2014, gần 4.800 trường hợp đã được báo cáo từ đầu năm 2015 đến tháng 3/2016 Các quan chức
y tế lo ngại rằng phụ nữ mang thai có nhiễm vi rút Zika có thể truyền vi rút cho thai nhi gây dị tật đầu nhỏ Chính phủ Brazil đã đưa ra một kế hoạch quốc gia về chống
muỗi Aedes aegypti và tật đầu nhỏ bao gồm các nỗ lực nghiên cứu, phòng chống và
kiểm soát muỗi, hỗ trợ sức khỏe cho phụ nữ mang thai và trẻ em Họ đã phái 220.000 binh lính và 300.000 nhân viên y tế đến các cộng đồng trên khắp đất nước để tuyên truyền, giáo dục sức khỏe và loại bỏ nơi sinh sản của muỗi Các nhà quan sát đã đặt trọng tâm là các nỗ lực kiểm soát muỗi tại Rio de Janeiro, nơi đăng cai Thế vận hội mùa Hè 2016 [19] [25] [26]
Trang 20Biểu đồ 1.1 Số lượng quốc gia/vùng lãnh thổ công bố lây nhiễm vi rút zika theo
tháng trong giai đoạn từ năm 2007- tháng 4 năm 2016 [29]
1.3.2 Diễn biến dịch bệnh do vi rút Zika tại khu vực Đông Nam Á
Tính đến 9/11/2016 khu vực Đông Nam Á đã có 9 quốc gia ghi nhận sự lưu hành vi rút Zika, bao gồm: Singapore, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Malaysia, Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam
Tuyên bố chung cuộc họp trực tuyến của các Bộ trưởng Y tế Đông Nam Á về nguy cơ virus Zika tại khu vực nêu rõ, trước tình hình lây lan của bệnh dịch do vi rút Zika gây ra và những hậu quả của nó với bệnh nhân bao gồm bệnh đầu nhỏ và các rối loạn thần kinh khác, vi rút Zika đã trở thành mối nguy khẩn cấp về YTCC trên toàn cầu Nhằm chuẩn bị cho các hoạt động ứng phó của tất cả các nước thành viên Đông Nam Á trước dịch do vi rút Zika, bao gồm xây dựng năng lực giám sát, phòng thí nghiệm, kiểm soát véc tơ, truyền thông nguy cơ công cộng, các Bộ trưởng Y tế các nước đã nhất trí tăng cường chuẩn bị và ứng phó dịch bệnh do vi rút Zika gây ra cũng
như các bệnh mới nổi và tái xuất hiện ở khu vực bằng các biện pháp như: (1) Tăng cường giám sát dịch trong nước với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế, mạng lưới đào tạo dịch tễ học; (2) Có các biện pháp thích hợp để kiểm soát nguy cơ bằng
Trang 21cách tăng cường các phương pháp kiểm soát véc tơ, đảm bảo tiếp cận chẩn đoán xét nghiệm Zika ở các nước, củng cố mạng lưới phòng thí nghiệm quốc gia và truyền thông thích hợp; (3) Tiến hành nghiên cứu và chia sẻ kiến thức mới về bệnh liên quan tới vi rút Zika, thông qua cơ chế hợp tác dựa vào các diễn đàn khác khác nhau bao gồm: Chương trình An ninh Y tế toàn cầu, các Bộ trưởng Y tế/ Trưởng đoàn của 10 nước Đông Nam Á cũng cam kết triển khai các chiến lược đã đề ra nhằm đảm bảo
an ninh y tế và sức khỏe, hạnh phúc cho người dân
Trường hợp Zika đầu tiên được báo cáo ở Singapore là một ca nhiễm bệnh ở một người du lịch trở về từ Brazil vào tháng 5 năm 2016 Tháng 8 năm 2016, ca bệnh đầu tiên được phát hiện ở một phụ nữ 47 tuổi Từ ngày 27/8 đến ngày 30/11/2016, có
455 trường hợp nhiễm vi rút Zika đã được xác nhận trong vụ dịch này với 15 ổ dịch
Từ tháng 1 đến tháng 6/2017, Bộ Ngoại giao Singapore đã báo cáo thêm 38 trường hợp nhiễm vi rút Zika [21]
Tháng 9 năm 2014, một du khách người Đức đến Malaysia đã được phát hiện nhiễm vi rút Zika Năm 2016 có 02 trường hợp tử vong do vi rút Zika đã được xác định Người ta thấy rằng vi rút Zika đã có mặt tại Malaysia ít nhất vài thập kỷ Kết
quả phân lập đầu tiên của Zika ở châu Á là từ muỗi Aedes aegypti được thu thập ở
Malaysia vào năm 1966 Các nghiên cứu huyết thanh học trước đây cũng cho thấy sự hiện diện của vi rút Zika ở Malaysia trước đó [24]
Tại Philippine, thử nghiệm hồi cứu 267 mẫu máu được thu thập trong thời gian giám sát chủ động của một nghiên cứu gần đây tại thành phố Cebu từ năm 2012-2013
đã phát hiện trường hợp nhiễm Zika bằng phương pháp phân lập vi rút, qua xét nghiệm RT-PCR, đó là một trường hợp xảy ra vào năm 2012 ở một cậu bé 15 tuổi bị sốt nhẹ Tính đến tháng 2 năm 2017, Bộ Y tế Philippine đã báo cáo 57 trường hợp nhiễm Zika bao gồm 7 trường hợp ở phụ nữ có thai [15]
Tại Thái Lan ghi nhận 392 trường hợp mắc, trong đó có 30 phụ nữ mang thai nhiễm vi rút Zika, 02 trường hợp trẻ mắc chứng đầu nhỏ do vi rút Zika Ca nhiễm vi rút Zika lần đầu tiên được báo cáo từ Thái Lan vào đầu năm 2013 ở một nữ du khách Canada trở về từ miền nam Thái Lan Một thử nghiệm hồi cứu được thực hiện trên
61 mẫu huyết thanh từ 38 cá nhân ở 4 ổ dịch riêng biệt với các bệnh nhân có hai trong
Trang 22số các triệu chứng sau: phát ban, viêm kết mạc, hoặc đau cơ; và với xét nghiệm sốt xuất huyết dengue và chikungunya âm tính Kết quả xét nghiệm RT-PCR cho thấy có 7/38 (18,4%) bệnh nhân sốt đã nhiễm vi rút Zika, mỗi nhóm bệnh nhân sốt có ít nhất
1 trường hợp mắc Zika [16] [17]
Vi rút Zika lần đầu tiên được phát hiện tại Campuchia vào tháng 8 năm 2010 bằng phương pháp RT-PCR và xét nghiệm huyết thanh học trên mẫu máu thu thập được từ cậu bé 3 tuổi ở tỉnh Kampong Speu Năm 2016, Viện Pasteur Campuchia đã tiến hành thử nghiệm hồi cứu trên 2.400 mẫu huyết thanh từ những bệnh nhân nghi ngờ sốt xuất huyết trong giai đoạn từ năm 2007 - 2016 Chỉ có 5/400 (0,2%) là dương tính với kỹ thuật RT-PCR; Tháng 11 năm 2016, một trường hợp nhiễm Zika được ghi nhận ở tỉnh Kampong Cham [18]
Tại Lào, trường hợp Zika đầu tiên đã được báo cáo cho WHO vào tháng 3 năm
2016 Sau đó, Viện Pasteur Lào đã kiểm tra lại 1.353 mẫu máu từ bệnh nhân nghi ngờ sốt xuất huyết vào năm 2012-2013; có 18/1.353 (1,3%) cho kết quả dương tính với
vi rút Zika, trong đó có 17/18 bệnh nhân chỉ cư trú tại địa phương [20] [23]
1.3.3 Khuyến cáo của các tổ chức quốc tế về các điểm chính trong phòng chống Zika và vấn đề áp dụng điều tra KAP
Hiện nay không có thuốc chữa hoặc vắc xin ngừa cho Zika, vì vậy biện pháp phòng ngừa tập trung vào kiểm soát vector truyền bệnh và nhận thức về nguy cơ và
và giảm thiểu nguy cơ cho các nhóm có nguy cơ cao [19] [22] WHO đã hợp tác với một số đối tác xây dựng bộ câu hỏi khảo sát kiến thức - thái độ - thực hành (Knowledge-Attitude-Practice) phòng chống Zika Bộ câu hỏi này có thể được dùng cho việc khảo sát tại các quốc gia có bệnh nhân nhiễm vi rút Zika cũng như các quốc gia có nguy cơ cao [32][32]
Theo hướng dẫn của UNICEF, WHO, PAHO, Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, các quốc gia, vùng lãnh thổ bị nhiễm hoặc có nguy cơ nhiễm vi rút Zika cần thực hiện khảo sát về Knowledge-Attitude-Practice (KAP) và nghiên cứu sâu về sinh thái học-xã hội học để có số liệu sử dụng cho phòng chống bệnh do virút Zika [19] [22] Đối với các quốc gia có nguy cơ lây truyền vi rút Zika cao, WHO khuyến cáo thực hiện truyền thông mối nguy khẩn cấp trong đó cần đánh giá các
Trang 23nhóm đang có nguy cơ cao như phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đánh giá kiến thức cộng đồng và các chính sách về sức khỏe sinh sản WHO cũng khuyến cáo nên thực hiện các nghiên cứu dùng mẫu khảo sát KAP của WHO về các bệnh do vi rút Zika gây ra và các biến chứng tiềm tàng [34] [26]
1.3.4 Tình hình dịch bệnh do vi rút Zika tại Việt Nam
Trường hợp đầu tiên phát hiện nhiễm vi rút Zika là bệnh nhân nữ 64 tuổi, cư trú
tại phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; khởi phát ngày 26/03/2016 với các triệu chứng sốt nhẹ, đau đầu, nổi ban ở hai chân và đau mắt đỏ Bệnh nhân tự uống thuốc hạ sốt ở nhà nhưng không đỡ, đến ngày 28/3/2016 bệnh nhân được người nhà đưa đến khám tại bệnh viện Bệnh nhiệt đới tỉnh Khánh Hòa Kết quả xét nghiệm ngày 31/3/2016 tại Viện Pasteur Nha Trang dương tính với vi rút Zika; xét nghiệm khẳng định lại tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Viện Pasteur
TP Hồ Chí Minh ngày 04/4/2016 đều cho kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút Zika [7]
Trường hợp phát hiện trẻ có chứng đầu nhỏ: Phụ nữ 23 tuổi, dân tộc Ê Đê, cư
trú tại tại Buôn Tlan, xã Cư Pơng, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk và con gái 4 tháng tuổi sinh ra có biểu hiện chứng đầu nhỏ Khi mang thai tháng thứ 3 và tháng thứ 6 mẹ
có sốt, phát ban đi điều trị tại Bệnh viện thị xã Buôn Hồ Sau khi sinh, gia đình đã phát hiện trẻ có chứng đầu nhỏ Khi trẻ được 3 tháng tuổi, gia đình có đưa đi khám tại bệnh viện Nhi đồng 1 TP Hồ Chí Minh (tháng 9 năm 2016) và được chẩn đoán:
Dị tật bẩm sinh não Xét nghiệm: Mẫu huyết thanh của mẹ và con đã được Trung tâm
Y tế dự phòng tỉnh Đắk Lắk lấy mẫu ngày 08/9/2016 và gửi Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương nhận mẫu ngày 21/9/2016 Kết quả xét nghiệm 02 mẫu huyết thanh bằng phương pháp MAC-ELISA (lặp lại 3 lần) và PRNT (lặp lại 2 lần) cho kết quả: Phát hiện kháng thể (KT) IgM kháng đặc hiệu Zika trên 2 mẫu huyết thanh (mẹ-con) Phát hiện KT trung hoà vi rút Zika trên mẫu 2 mẫu huyết thanh (mẹ-con) với hiệu giá 1:160 và 1:320 [7]
Tính đến 3/2017, cả nước ghi nhận 231 trường hợp dương tính với vi rút Zika tại
12 tỉnh, thành phố: TP Hồ Chí Minh (199), Bình Dương (09), Khánh Hòa (07), Đắk Lắk (02), Bà Rịa - Vũng Tàu (02), Phú Yên (01), Long An (01), Tây Ninh (01), Đồng
Trang 24Nai (06), Cần Thơ (01), Bình Phước (01), Lâm Đồng (01) Trong đó ghi nhận 01 trường hợp trẻ đầu nhỏ có nhiều khả năng nghi do Zika [5] Các trường hợp này đều
không có tiền sử đi về từ vùng dịch Ngoài ra cũng đã ghi nhận 09 trường hợp người
nước ngoài đến công tác và du lịch tại Việt Nam Sau khi từ Việt Nam trở về, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng và cho kết quả xét nghiệm dương tính với vi rút Zika [7] Các thông tin chi tiết về bệnh nhân được thể hiện trong bảng 1.1 sau đây:
Trang 25Bảng 1.1 Trường hợp người nước ngoài nhiễm vi rút Zika tại Việt Nam
Ngày khởi hành từ Việt Nam
Ngày khởi phát
Ngày xét nghiệm xác định
Các nước
du lịch đến
Israel 01 9/12/2015 9/12/2015 25/12/2015 23/2/2016
Hồng Kông, Việt Nam
01/5/2016 28/4/2016 07/5/2016 Việt Nam
Đức 01 5/6/2016 10/6/2016 13/6/2016 29/6/2016 Việt Nam Hàn
Quốc 01 11/7/2016 15/7/2016 19/7/2016 28/7/2016 Việt Nam Hàn
Quốc 01 15/8/2016 19/8/2016 25/8/2016 26/8/2016 Việt Nam
Đức 01 Làm việc tại
VN 08/9/2016 05/9/2016 09/9/2016 Nhật Bản Đài
Loan 01 28/8/2016 04/9/2016 06/9/2016 12/9/2016 Việt Nam Hàn
Quốc 01 Sống tại VN
Về Hàn Quốc 16/10/2016 28/10/2016
Hàn Quốc, Việt Nam
Trang 26Hình 1.1 Bản đồ phân bố điểm giám sát trọng điểm Zika năm 2016 [7]
Trước tình hình diễn biến của dịch bệnh, Bộ Y tế đã triển khai chương trình giám sát trọng điểm theo tiêu chuẩn mới, chú ý vào các trường hợp có triệu chứng
Trang 27nhẹ ở các phòng khám điều trị ngoại trú, lấy mẫu xét nghiệm để xác định, đánh giá
sự lưu hành của vi rút Zika tại một số địa phương như: Miền Bắc gồm các điểm là Bệnh viện Đống Đa Thanh Nhàn, Trung tâm Y tế các Quận, huyện trên địa bàn Hà Nội; Miền trung: Bệnh viện đa khoa các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đà Nẵng, các Trung tâm Y tế và bệnh viện huyện Hướng Hóa - Quảng Trị, Phù Cát - Bình Định; Tây Nguyên: Phòng khám Bệnh viện đa khoa 4 tỉnh Đắk Lắc, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Nông; Miền Nam: Thành phố Hồ Chí Minh 45 điểm (trong đó có 15 phòng khám tư), tại 19 tỉnh/thành phố khác có 21 điểm
1.3.5 Tình hình dịch bệnh do vi rút Zika tại Khánh Hòa
Khánh Hòa là tỉnh đầu tiên ghi nhận bệnh nhân nhiễm vi rút Zika vào tháng 3 năm 2016 tại Phường Phước Hòa, TP Nha Trang Ngày 17/10/2016 bênh nhân Nữ 64 tuổi, có triệu chứng sốt, phát ban, đau nhức mình, đau khớp, không viêm kết mạc mắt, uống thuốc không rõ loại, không đỡ, ngày 21/10/2016 đến khám tại phòng khám số
4 chẩn đoán: Sốt phát ban, theo dõi SXHD lấy mẫu xét nghiệm, gửi Viện Pasteur Nha Trang phân lập vi rút Dengue và vi rút Zika Kết quả mẫu bệnh phẩm dương tính Zika Đến tháng 3 năm 2017 ghi nhận trên địa bàn tỉnh có 07 trường hợp nhiễm vi rút Zika tại Nha Trang và các huyện thị lân cận Kể từ tháng 3/2017 cho đến nay (30/9/2017) chưa phát hiện thêm trường hợp nhiễm vi rút Zika tại tỉnh Khánh Hòa [13]
1.4 Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Zika trên thế giới
Do tính chất phức tạp của dịch Zika, WHO phối hợp với nhiều quốc gia và tổ chức khác đã công bố bộ công cụ chuẩn khảo sát về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Zika (KAP) lần đầu tiên vào 4/2016 [28] Với bộ công cụ này, một loạt các nước thuộc châu Mỹ La tinh đã tiến hành các cuộc khảo sát KAP để xác định lỗ hổng kiến thức về vi rút Zika và sửa đổi thông điệp của họ cho phù hợp nhằm khuyến khích thay đổi hành vi của người dân để ngăn chặn sự lây lan và kiểm soát véc tơ truyền bệnh Các cuộc điều tra đã được tiến hành tại Brazil, Colombia, El Salvador, Guatemala, Honduras và Peru từ tháng 9/2016 dưới sự bảo trợ của WHO khu vực Mỹ
La tinh (PAHO/WHO) và có sự phối hợp với Bộ Y tế các nước nêu trên cũng như các đối tác quốc tế khác [22]
Trang 28Đến tháng 9 năm 2017, 45 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Mỹ đã xác nhận
sự lưu hành của virus Zika có thể gây ra dị tật bẩm sinh ở trẻ sơ sinh và các biến chứng khác Các cuộc điều tra là một trong những hoạt động mà PAHO đang hỗ trợ thực hiện để cải thiện truyền thông nguy cơ ở châu Mỹ, giúp các nước có thể cung cấp thông tin kịp thời và minh bạch về Zika và hậu quả của nó đối với sức khỏe, cũng như các biện pháp phòng ngừa
Sự tham gia tích cực của cộng đồng là chìa khóa để đáp ứng chống lại vi rút Zika mà PAHO/WHO đang xúc tiến, cùng với sự hỗ trợ kỹ thuật cho việc phát triển các chiến lược và kế hoạch truyền thông nguy cơ Với mục tiêu huy động toàn bộ khu vực, các tổ chức đang kêu gọi các quốc gia tham gia vào việc tổ chức Tuần lễ nhận thức về muỗi với khẩu hiệu là "Cùng với nhau, chúng ta sẽ diệt được muỗi!" [22]
Qua một loạt nghiên cứu KAP về phòng chống bệnh do vi rút Zika, kiến thức
về vấn đề này ở người dân các nước khu vực Nam Mỹ - Mỹ La tinh được đánh giá ở mức trung bình Với từng chủ đề nghiên cứu, tỷ lệ người dân có kiến thức đúng tăng giảm thất thường Cụ thể về đối tượng nguy cơ có thể mắc bệnh do vi rút Zika, 81% người dân tại Guatemala nhận định bản thân có nguy cơ mắc, tỷ lệ này tại Dominica,
El Salvador và Brazil đều là 80% Về đường lây truyền bệnh do vi rút Zika, chỉ có 5% số đối tượng tại Guatemala biết vi rút Zika lây truyền qua quan hệ tình dục, sữa
mẹ hoặc truyền máu, tỷ lệ này tại Dominica, El Salvador và Brazil lần lượt là dưới 4%, 3% và dưới 6% Về triệu chứng khi bị nhiễm vi rút Zika: Sốt, đau đầu, phát ban, đau khớp lần lược tỷ lệ này tại các nước như Dominica 20%, 20%, 12%, 13%; El Salvador 24%, 21%, 11%, 17%; tại Brazil là 21%, 18%, 17%, 16% và Guatemala là: 23%, 24%, 12%, 18%; Về biến chứng của việc nhiễm vi rút Zika ở phụ nữ mang thai:
có 30% phụ nữ tại Guatemala biết về dị tật đầu nhỏ và 26% biết rằng có sự liên quan giữa vi rút Zika với tật đầu nhỏ trong khi khoảng 60% không biết tật đầu nhỏ là gì Tại Dominica 20% đối tượng nghiên cứu biết về nguy cơ bị khuyết tật hoặc mắc chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh Tại El Salvador có 42% biết về tật đầu nhỏ, khoảng 50% cho rằng có liên hệ giữa tật đầu nhỏ với vi rút Zika trong khi khoảng 30% cho rằng không có mối quan hệ này Tại Brasil khoảng 80% số phụ nữ biết rằng có liên quan chứng đầu nhỏ đến vi rút Zika Tuy nhiên hơn một nửa không biết hội chứng Guillain-
Trang 29Barré là gì, chỉ 25% biết rằng đó là một dạng bệnh bại liệt, khoảng 40% không biết liệu có mối quan hệ nào giữa vi rút Zika với hội chứng Guillain-Barré hay không Tỷ
lệ này cho thấy người dân tại Brazil có kiến thức về nguy cơ gây dị tật đầu nhỏ của
vi rút Zika lên thai nhi tốt hơn các nước lân cận, điều này rõ ràng là do Brasil là tâm điểm của vụ dịch Zika năm 2016 với hơn 1,5 triệu ca mắc nên công tác truyền thông
về dịch bệnh do vi rút Zika cũng đã được triển khai [36] [38] [39] [40]
Vấn đề thái độ người dân các nước khu vực Nam Mỹ - Mỹ La tinh về: Nguy
cơ nhiễm vi rút Zika Zika ở bản thân họ trong sáu tháng tới, kết quả nghiên cứu ở Guatemala có 40% phụ nữ họ cho rằng nên tránh thai vào thời điểm có dịch bệnh do
vi rút Zika, 30% cho rằng phụ nữ mang thai nhiễm vi rút Zika có nguy cơ trẻ sinh ra
bị khuyết tật, dưới 2/3 số phụ nữ được hỏi tin rằng họ có nguy cơ bị lây nhiễm vi rút Zika cao và 17% cho rằng mình có nguy cơ thấp hoặc không có nguy cơ Tại Dominica 55% số phụ nữ được hỏi cho rằng họ có nguy cơ nhiễm vi rút Zika cao Tại
El Salvador dưới 2/3 số phụ nữ được hỏi tin rằng họ có nguy cơ bị lây nhiễm vi rút Zika cao và 43% phụ nữ tại Brasil được phỏng vấn cho là có nguy cơ cao trong 6 tháng tiếp theo Các tỷ lệ về đánh giá nguy cơ về mắc bệnh ở cộng đồng còn thấp, điều này có thể dẫn đến người dân chủ quan trong công tác phòng bệnh do vi rút Zika; Nghiên cứu về thái độ phòng chống Zika trên đối tượng là phụ nữ tại El Salvador, với câu hỏi đánh giá về trách nhiệm phòng chống bệnh do vi rút Zika, 39% cho rằng phòng chống vi rút Zika là trách nhiệm của cá nhân, sau đó là trách nhiệm của chủ
hộ và chính quyền Tại Guatemala, vai trò của cá nhân chiếm 50%, sau đó là trách nhiệm của chủ hộ và cán bộ y tế Tại Brazil cho thấy trách nhiệm phòng chống Zika của cá nhân là 27%, sau đó là trách nhiệm của cán bộ y tế, các tổ chức quốc tế, cuối cùng là chính quyền địa phương Với kết qua cho thấy người dân các nước Nam Mỹ-
Mỹ La tinh thường trông đợi vào sự hỗ trợ quốc tế; Đối với thái độ lựa chọn cơ sở y
tế điều trị, kết quả nghiên cứu tại các nước như: Brazil cho thấy có 61% đối tượng nghiên cứu lựa chọn các trung tâm y tế, 11% lựa chọn đến bác sĩ tư nhân Ở Cộng hòa Dominica có 73% phụ nữ tìm kiếm sự chăm sóc y tế tại các trung tâm y tế, sau
đó là lựa chọn đến một bác sĩ tư nhân; ở El Salvador có 67% phụ nữ chọn đến các
Trang 30trung tâm y tế, 10% tìm đến bác sĩ tư nhân Phần lớn thái độ lựa chọn cơ sở y tế điều trị ở các nước này gần giống nhau [36] [38] [39] [40]
Kết quả về thực hành phòng bệnh do vi rút Zika các nước khu vực Nam Mỹ -
Mỹ La tinh cho thấy, thực hành làm sạch nguồn trữ nước bằng cách đổ hết nước ra
và chà xát bằng xà phòng của phụ nữ tại El Salvador có tỷ lệ 44%, tại Brazil 37%, Guatemala 76%, Dominica 85% Vệ sinh dụng cụ chứa nước gần đây nhất (từ 1-7 ngày) của phụ nữ tại El Salvador có tỷ lệ 81%, tại Brazil 40%, tại Guatemala 70%, Dominica 76% Thực hành loại bỏ nước ứ đọng của phụ nữ tại El Salvador có tỷ lệ 24%, Brazil 40%, Guatemala 76%, Dominica 51% Thực hành phòng chống muỗi đốt, làm sạch chà dụng cụ chứa nước, loại bỏ nước đọng, đậy nắp trên bể chứa nước của phụ nữ tại El Salvador có tỷ lệ 88%, Brazil 83%, Guatemala 76%, Dominica 85% Với kết quả như trên ta thấy việc thực hành phòng muỗi đốt của phụ nữ ở các nước có tỷ lệ rất cao [36] [38] [39] [40] Nhìn chung với kết quả thực hành của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) ở những nước khu vực Nam Mỹ - Mỹ La tinh cho thấy các biện pháp thực hành để phòng tránh dịch bệnh do vi rút Zika chưa đồng đều có những biện pháp thực hành khá tốt bên cạnh đó còn có một số yếu tố khác có tỷ lệ rất thấp
Thời điểm tháng 7/2016, Hy Lạp là một quốc gia không có dịch bệnh do vi rút Zika, nhưng ngành Y tế ở đây đã triển khai các chiến dịch truyền thông về dịch bệnh do vi rút Zika, nhằm mục tiêu cung cấp thông tin cho người dân đi du lịch đến các nước có dịch vi rút Zika lưu hành, một cuộc khảo sát 573 phụ nữ mang thai dựa vào bộ công cụ của WHO với kết quả: ĐTNC biết về đường lây qua muỗi đốt và qua đường tình dục của vi rút Zika khá cao: có nghe về Zika 77,4%, nghe từ ti vi hoặc radio 75,3%, mạng internet 35,6%, từ Bác sĩ 8,6% Lây truyền qua đường tình dục 63%, lây truyền từ muỗi đốt 73% Qua đó cho thấy công tác truyền thông triển khai khá tốt từ các kênh thông tin như: ti vi, radio, mạng internet [27]
1.5 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Zika tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện tại chưa có nghiên cứu khảo sát về kiến thức thái độ thực hành phòng bệnh do vi rút Zika được công bố Tuy nhiên với tính chất đường lây chủ
Trang 31yếu của bệnh do vi rút Zika là qua muỗi Aedes aegypti nên Bộ Y tế có Chỉ thị số
09/CT-BYT, ngày 20/10/2016 của Bộ y tế về việc tổ chức chiến dịch diệt muỗi, bọ gậy lần thứ 2 năm 2016 và triển khai công tác phòng chống bệnh do vi rút Zika và sốt xuất huyết dengue (SXHD) [3] Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định số 126/QĐ-BYT ngày 17/01/2017 về Kế hoạch đáp ứng phòng chống dịch bệnh do vi rút Zika trong tình hình mới tại Việt Nam, với mục tiêu dự phòng nhiễm mới vi rút Zika, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh đặc biệt với nhóm phụ nữ mang thai, phụ nữ tuổi sinh sản, xử lý kịp thời không để dịch lây lan, hạn chế đến mức thấp nhất biến chứng
do bệnh gây ra (1) Tăng cường dự phòng các trường hợp mắc bệnh do vi rút Zika và trường hợp trẻ đẻ ra có chứng đầu nhỏ; (2) Tăng cường truyền thông nguy cơ dự phòng nhiễm vi rút Zika đặc biệt với nhóm phụ nữ mang thai và phụ nữ tuổi sinh sản
dự định có thai [3] Để quản lý giám sát biến chứng gây ra dị tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh
do vi rút Zika gây nên Bộ y tế ban hành kèm theo quyết định số 1425/QĐ-BYT ngày 13/4/2017 về việc Hướng dẫn giám sát hội chứng đầu nhỏ ở thai nhi và trẻ sơ sinh nghi do vi rút Zika [5]
Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue (SXHD) đã được tham khảo để tiến hành nghiên cứu này Vì đường lây chủ yếu của vi rút Zika là qua muỗi truyền, cùng loại với muỗi truyền bệnh SXHD, đó là muỗi Ades Aegypti Các phương pháp phòng lây truyền bệnh qua đường muỗi đốt của hai bệnh SXHD và Zika cũng tương tự nhau
Đã có một số không ít các nghiên cứu KAP về phòng chống SXHD ở Việt Nam được công bố Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Ánh về Kiến thức, thái độ
và thực hành phòng chống SXH của người dân xã Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi năm 2014 cho thấy 66,3% ĐTNC có kiến thức đúng về bệnh sốt xuất huyết, 52,3% ĐTNC thực hành đúng về phòng bệnh SXHD [2] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Kiệt về kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về phòng chống sốt xuất huyết của người dân xã Quốc Thái, huyện An Phú, tỉnh An Giang năm
2015 cho thấy 39,6% ĐTNC có kiến thức đúng về bệnh SXHD, 28,8% ĐTNC thực hành đúng về phòng bệnh SXHD [8] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vĩnh Điền tại tỉnh Sóc Trăng năm 2015 cho thấy 65% ĐTNC có kiến thức đúng về bệnh
Trang 32sốt xuất huyết, 43% ĐTNC thực hành đúng về phòng bệnh SXHD [1] Nghiên cứu của Nguyễn Minh Quân năm 2011 về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt xuất huyết của các bà mẹ tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 41,3%
bà mẹ có kiến thức chung đúng, 77,96% có thực hành chung đúng Có mối liên quan giữa trình độ văn hóa, nghề nghiệp của các bà mẹ có con từ 2-15 tuổi với thực hành tham gia chiến dịch phòng bệnh SXHD tại địa phương với (p=0,01) [9] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa năm 2011 tại huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy 64% người dân biết triệu chứng của bệnh SXHD; 41,1% biết nguyên nhân gây bệnh SXHD là do nhiễm vi rút gây bệnh; 81,6% biết bệnh SXHD lây truyền do muỗi đốt, trong đó 62,8% biết đúng là do muỗi vằn; 80,5% biết biện pháp phòng chống SXHD là diệt muỗi và bọ gậy; 62,3% cho rằng phải thu nhặt, phá hủy dụng cụ phế thải; 90,1% tự nguyện tham gia vào việc loại trừ nơi sinh sản của muỗi 59,6% đã áp dụng các biện pháp phòng chống bệnh SXHD, 64,6% đưa người bệnh tới cơ sở Y tế đầu tiên khi nghi ngờ mắc SXHD Từ đó đưa ra kết luận, nhận thức của người dân về phòng chống bệnh SXHD khá cao Tuy nhiên vấn đề áp dụng các phương pháp để phòng chống dịch SXHD chưa đồng bộ [11]
1.6 Giới thiệu một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Phường Phước Hòa nằm phía tây thành phố Nha Trang, diện tích khoảng 1km2,với dân số: 11.646 người, số hộ là 2.931 hộ trong đó phụ nữ trong độ tuổi 18 – 40 là 1.885 người Phường Phước Hòa được chia thành 6 tổ dân phố, trong đó tổ Phước Thọ có 596 người, tổ Trần Nhật Duật có 219 người, tổ Hoàn Kiếm có 184 người, tổ Chí Linh có 371 người, tổ Kiến Thiết có 295 người, tổ Yên Thế có 220 người Người dân nơi đây sinh sống bằng nghề kinh doanh nhỏ lẻ, lao động tự do và công chức viên chức [6] Địa phương nằm trong khu vực có SXHD lưu hành Tính đến tháng 11/2016
đã có 10 trường hợp mắc SXHD Ngày 5/4/2016 đã điều tra chỉ số côn trùng tại 30
hộ gia đình xung quanh nhà bệnh nhân nhiễm vi rút Zika kết quả cho thấy mật độ muỗi là 0,07 (thấp), chỉ số nhà có muỗi là 6,5%, tỉ lệ nhà có bọ gậy là 16,7% và chỉ
số BI (số dụng cụ chứa nước có bọ gậy/100 nhà điều tra) là 27 (cao) [13]
Trang 33- Cách điều trị, tiếp cận điều trị
- Yếu tố nguy cơ
- Thực hành xử trí khi nghi nhiễm vi rút Zika ở phụ nữ không mang thai, phụ nữ đang mang thai
DỊCH VỤ Y TẾ
- Tính sẵn có, khả năng tiếp cận
- Chất lượng khám chữa bệnh
YẾU TỐ NHÂN KHẨU HỌC
- Tuổi, học vấn, tôn giáo, nghề nghiệp, số thành viên trong gia đình, số thành viên nữ, tình trạng mang thai, nghề nghiệp, thu nhập
- Thái độ về điều trị, tiếp cận điều trị
- Thái độ về phân biệt đối xử người nhiễm vi rút Zika
- Thái độ về sức khỏe tình dục
HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Thực hiện chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng đảm bảo các tiêu chí: Nguồn
cung cấp thông tin đáng tin cậy; Nội dung truyền thông phù hợp, đầy đủ; Phương pháp truyền thông
dễ hiểu; Phát động các phong trào vệ sinh môi trường, diệt muỗi, bọ gậy
Trang 34CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
Phụ nữ trong độ tuổi từ 18-40 đang sinh sống tại phường Phước Hòa
2.1.1.1 Tiêu chí lựa chọn đối tượng phỏng vấn tại hộ gia đình
Là phụ nữ trong độ tuổi từ 18-40, sống thường xuyên tại phường Phước Hòa trên 3 tháng
Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.1.2 Tiêu chí loại trừ
Phụ nữ không có khả năng trả lời phỏng vấn
Phụ nữ từ chối tham gia phỏng vấn
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
- Phỏng vấn sâu (PVS): phụ nữ trong độ tuổi từ 18-40, có thai trong 3 tháng đầu
và phụ nữ không có thai đang sinh sống tại phường Phước Hòa
- 01 thảo luận nhóm (TLN) phụ nữ trong độ tuổi từ 18-40 tại phường Phước Hòa
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 06 năm 2017
Địa điểm: Phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
2.3.Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, áp dụng phương pháp định lượng kết hợp với định tính
d
p p
Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
Tại thời điểm nghiên cứu, ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào được công bố về
Trang 35kiến thức, thái độ và thực hành của cộng đồng nói chung hay phụ nữ trong độ tuổi
từ 18 – 40 về phòng bệnh do vi rút Zika Vì vậy, để cho đề tài có cỡ mẫu nghiên cứu lớn nhất chúng tôi chọn p=0,5
d: độ chính xác kỳ vọng, chọn d = 0,05
Z: hệ số tin cậy, với = 0,05; Z(1 - /2) = 1,96
Theo công thức trên, cỡ mẫu tối thiểu tính được là 385 người
Thực tế đã có 400 ĐTNC tự nguyện tham gia nghiên cứu này
2.4.2 Phương pháp định tính
- PVS: 10 phụ nữ trong độ tuổi của nghiên cứu, trong đó chọn chủ đích ít nhất
có 3 phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu
- TLN: 1 nhóm từ 6 - 8 phụ nữ trong độ tuổi của nghiên cứu
2.5 Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Chọn mẫu định lượng
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
- Đơn vị lấy mẫu: Nữ trong độ tuổi 18-40 hiện sinh sống tại phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
- Chọn mẫu theo hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Lập khung mẫu là danh sách theo số thứ tự của phụ nữ trong độ tuổi 18-40 hiện sinh sống tại phường Phước Hòa, thành phố Nha Trang theo 6 tổ dân phố là 1885 người Tính hệ số mẫu k, với cỡ mẫu 400 người, ta có: Hệ số k = 1885/400 = 5
+ Giai đoạn 2: Dựa trên danh sách khung mẫu, chọn ngẫu nhiên đối tượng có
số thứ tự I sao cho I ≤ k, các đối tượng được chọn kế tiếp có thứ tự là: (I + k), (I + 2k), (I + 3k), … với k = 5 cho đến khi đủ 400 ĐTNC
2.5.2 Chọn mẫu định tính
Chọn chủ đích các phụ nữ từ danh sách ĐTNC (10 phụ nữ cho phỏng vấn sâu và 6 phụ nữ cho TLN, với độ tuổi, nghề nghiệp khác nhau, có chồng, chưa có chồng, dự định có thai trong thời gian gần, tình trạng kinh tế) Chọn chủ đích 3 phụ
nữ có thai trong 3 tháng đầu
Trang 362.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
2.6.1.1 Công cụ thu thập số liệu định lượng
Bộ câu hỏi thiết kế sẵn được sử dụng để phỏng vấn ĐTNC Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa trên ngân hàng câu hỏi về kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh do vi rút Zika được Tổ chức y tế thế giới công bố tháng 4/2016, được Việt hóa
từ phiên bản tiếng Anh và đã được chỉnh sửa, bổ sung một số điểm cho phù hợp với cách diễn đạt của người dân địa phương [28]
Bộ câu hỏi này gồm 5 phần chính:
+ Một số thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu;
+ Truyền thông về vi rút Zika;
Sau khi có kết quả điều tra thử, nghiên cứu viên sẽ sắp xếp lại trật tự các câu hỏi và chỉnh sửa về từ ngữ để đảm bảo Việt hóa và dễ hiểu với đối tượng nghiên cứu (Phụ lục 2)
2.6.1.2 Công cụ thu thập số liệu định tính
Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu nữ trong độ tuổi 18 – 40 (Phụ lục 5) Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm nữ trong độ tuổi 18 – 40 (Phụ lục 6)
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.2.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng
Tiến hành phỏng vấn nữ trong độ tuổi 18 - 40 theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn tại
hộ gia đình của ĐTNC Chỉ thực hiện phỏng vấn khi ĐTNC đồng ý tham gia phỏng
Trang 37vấn Nếu đối tượng từ chối tham gia phỏng vấn, sẽ chọn đối tượng tiếp theo trong danh sách mẫu Nếu điều tra viên đến hộ gia đình mà không gặp được đối tượng sẽ hẹn quay lại phỏng vấn vào ngày khác phù hợp và nếu đến lần thứ hai không gặp sẽ
chọn ĐTNC khác ngay cạnh số thứ tự của đối tượng trước đó (trong danh sách mẫu) Nghiên cứu viên kiểm tra tính logic và đầy đủ của từng phiếu trước khi nhập
liệu Đối với các bản ghi không trả lời đầy đủ các câu hỏi, nghiên cứu viên gọi điện trực tiếp cho ĐTNC để tìm hiểu thêm và hỏi bổ sung cho đầy đủ các nội dung Trên thực tế đã phỏng vấn được 400 ĐTNC
2.6.2.2 Thu thập số liệu định tính
Nghiên cứu viên tới từng hộ gia đình có ĐTNC được chọn và mời họ tham gia PVS Do không phải là chủ đề nhạy cảm, nên tất cả các ĐTNC đều đồng ý tham gia PVS ngay tại hộ gia đình của họ Nhóm nghiên cứu đã thực hiện 9 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó 3 đối tượng đang mang thai trong 3 tháng đầu, 3 đối tượng đã kết hôn nhưng không đang mang thai và 3 đối tượng chưa kết hôn
Một cuộc thảo luận nhóm đã được thực hiện tại trạm y tế phường Phước Hòa,
Tp Nha Trang Số ĐTNC tham gia thảo luận là 6 người đại diện cho 6 tổ dân phố không phân biệt tình trạng hôn nhân hoặc mang thai Nghiên cứu viên chủ trì cuộc thảo luận và 1 thư ký là nhân viên Trung tâm Kiểm dịch Y tế quốc tế Khánh Hòa tiến hành ghi âm và tốc ký nội dung thảo luận
2.6.2.3 Điều tra viên và giám sát viên
Điều tra viên (ĐTV): ĐTV là cán bộ của Trung tâm Kiểm dịch Y tế Quốc tế tỉnh Khánh Hòa và CBYT Trạm y tế phường Phước Hòa Điều tra viên đã được tập huấn trước khi điều tra Nội dung tập huấn bao gồm mục tiêu của nghiên cứu, giới thiệu bộ câu hỏi, hướng dẫn sử dụng bộ câu hỏi, cách thức thu thập số liệu, kỹ năng phỏng vấn, đạo đức nghiên cứu, cách tổ chức tiến hành điều tra và các nội dung yêu cầu khác của cuộc điều tra
Giám sát viên: Giám sát viên là nghiên cứu viên Nghiên cứu viên giám sát việc thu thập số liệu trong suốt quá trình điều tra và kịp thời giải quyết các vướng mắc trong điều tra Các phiếu điều tra được thu lại vào cuối buổi, được kiểm tra về
Trang 38số lượng và chất lượng Những phiếu chưa đạt yêu cầu, ĐTV phải bổ sung và hoàn chỉnh phiếu điều tra
2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.7.1 Đối với phương pháp định lượng
Phiếu điều tra được làm sạch trước khi nhập liệu Nghiên cứu viên kiểm tra tính logic và đầy đủ của từng phiếu trước khi nhập liệu Đối với các bản ghi không trả lời đầy đủ các câu hỏi, nghiên cứu viên gọi điện trực tiếp cho ĐTNC để tìm hiểu thêm và hỏi bổ sung cho đầy đủ các nội dung Thực tế đã thu được 400 bản ghi với đầy đủ thông tin, không có bản ghi nào bị loại khỏi bộ số liệu
Sử dụng phần mềm nhập liệu Epi Data 3.1 để nhập liệu và phân tích thống
kê bằng phần mềm SPSS 22.0 Kết quả phân tích và trình bày số liệu dựa theo các mục tiêu nghiên cứu của đề tài, gồm các phần:
Kết quả thống kê mô tả: Sử dụng các giá trị tần số, tỷ lệ % Sử dụng kiểm
định Khi bình phương (χ 2 )để so sánh sự khác biệt giữa hai tỷ lệ Đưa ra các nhận định về kiến thức, thái độ, thực hành
Thống kê phân tích suy luận: Sử dụng OR để suy luận các yếu tố liên quan đến kiến thức - thái độ - thực hành
2.7.2 Đối với phương pháp định tính
Gỡ băng và phân tích các nội dung theo từng chủ đề nghiên cứu
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, ĐTNC có quyền từ chối tham gia trả lời vào phiếu phỏng vấn
Các số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng xét duyệt và thông qua theo quyết định số 118/2017/YTCC-HD3, ngày 23/3/2017 trước khi tiến hành thu thập số liệu
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu này được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích nên chỉ cho kết quả tại một thời điểm
Trang 39Đến thời điểm hiện tại có rất ít nghiên cứu về KAP phòng chống Zika trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã được công bố, nên nghiên cứu gặp khó khăn trong việc tham khảo các tài liệu nghiên cứu liên quan để hình thành khung lý thuyết nghiên cứu, xây dựng bộ câu hỏi nghiên cứu cũng như để bàn luận kết quả của nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu nhỏ (chỉ 1 phường) nên tính đại diện của kết quả nghiên cứu chưa cao
Trong nghiên cứu này với khả năng hạn chế, tác giả chưa phân tích đa biến hồi quy logistics, không khử được các yếu tố nhiễu trong các mối liên quan… Đây cũng là một hạn chế của nghiên cứu
2.9.2 Biện pháp khắc phục sai số
Có thế có sai số thông tin do đó phần giới thiệu về nghiên cứu được viết rõ ràng, cầu thị nhằm thu hút được sự quan tâm của ĐTNC, từ đó nâng cao chất lượng câu trả lời
Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế đơn giản, dễ hiểu, sử dụng ngôn ngữ địa phương và được thử nghiệm trước khi tiến hành phỏng vấn Sau khi thử nghiệm, bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa và bổ sung cho phù hợp với thiết kế nghiên cứu và đảm bảo việt hoá
Điều tra viên đã được tập huấn kỹ trước khi tham gia điều tra Trong quá trình phỏng vấn có thể đối tượng phỏng vấn chưa hiểu rõ câu hỏi hoặc do ĐTV dẫn đến sai số thông tin Khắc phục bằng cách ĐTV giải thích từng vấn đề cụ thể cho ĐTNC nghe và trả lời câu hỏi
2.10 Các biến số nghiên cứu
2.10.1 Các biến số định lượng
Các biến độc lập: Năm sinh, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng mang thai, nguồn
cung cấp thông tin về vi rút Zika, …
Các biến phụ thuộc:
+ Kiến thức: Nguy cơ bị mắc bệnh do vi rút Zika, khả năng tồn tại vi rút Zika tại địa phương, đường lây, triệu chứng, biện pháp phòng tránh, khả năng điều trị, đối tượng
Trang 40nguy cơ, nguy cơ vi rút gây ra cho thai nhi, mối liên quan tật đầu nhỏ với vi rút Zika, mối liên quan hội chứng Guillain – Barre với vi rút Zika
+ Thái độ: Tầm quan trọng của vấn đề vi rút Zika, cơ sở y tế có khả năng điều trị hiệu quả, thái độ với bệnh nhân nhiễm vi rút Zika và trẻ mắc tật đầu nhỏ, trách nhiệm bản thân trong phòng bệnh do vi rút Zika, thái độ về phá thai khi nhiễm vi rút Zika, thái độ về vacxin phòng vi rút Zika
+ Thực hành: Hành vi phòng lây nhiễm vi rút Zika cho bản thân, cho cộng đồng, hành vi súc rửa DCCN, diệt muỗi, diệt bọ gậy, sử dụng bao cao su và biện pháp tránh thai
+ Tuy nhiên khi xét mối liên quan giữa kiến thức và thực hành thì kiến thức lại là biến độc lập và thực hành là biến phụ thuộc Khi xét mối liên quan giữa thái độ và thực hành, thái độ là biến độc lập và thực hành là biến phụ thuộc Khi xét mối liên quan giữa kiến thức và thái độ thì kiến thức là biến độc lập và thái độ là biến phụ thuộc
Chi tiết các biến số định lượng được trình bày tại Phụ lục 7
2.10.2 Các chủ đề định tính
Các chủ đề phỏng vấn sâu xây dựng theo 4 nhóm chính:
Kiến thức về phòng bệnh do vi rút Zika: Về những đối tượng có nguy cơ mắc bệnh, triệu chứng bệnh do Zika, cách xử lý khi nghi có người nhiễm bệnh do Zika, những biến chứng khi mắc bệnh do Zika
Thái độ về phòng bệnh do vi rút Zika: Về mức độ nguy hiểm của bệnh do vi rút Zika, khả năng tham gia các hoạt động diệt muỗi và bọ gậy ở cộng đồng, vấn đề tiếp xúc với bệnh nhân mắc vi rút Zika, các hoạt động đáp ứng dịch của chính quyền địa phương và các cơ quan y tế liên quan
Thực hành về phòng bệnh do vi rút Zika: Biện pháp phòng tránh muỗi đốt, xua muỗi và diệt muỗi, diệt bọ gậy tại hộ gia đình, theo dõi nguy cơ bị di tật đầu nhỏ của thai nhi, hạn chế đến vùng có dịch Zika
Truyền thông về phòng bệnh do vi rút Zika: Sự phù hợp của những hoạt động truyền thông phòng bệnh do vi rút Zika, vai trò truyền thông của các tổ chức Chi tiết các biến số phỏng vấn sâu được trình bày tại (Phụ lục 8)