NGUYỄN XUÂN HOÀN QUẢN LÝ KHÔNG GIAN, KIẾN TRÚC, CẢNH QUAN BẢN VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG SÀ RÈN XÃ NGHĨA LỢI THỊ XÃ NGHĨA LỘ LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH... LỜI CAM ĐOAN Tôi
Trang 1NGUYỄN XUÂN HOÀN
QUẢN LÝ KHÔNG GIAN, KIẾN TRÚC, CẢNH QUAN
BẢN VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG SÀ RÈN
XÃ NGHĨA LỢI THỊ XÃ NGHĨA LỘ
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
Trang 2-
NGUYỄN XUÂN HOÀN KHÓA 2017 - 2019
QUẢN LÝ KHÔNG GIAN, KIẾN TRÚC, CẢNH QUAN
BẢN VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG SÀ RÈN
XÃ NGHĨA LỢI THỊ XÃ NGHĨA LỘ
Chuyên ngành: Quản lý đô thị và công trình
Mã số: 60.58.01.06 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN TUẤN ANH
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
PGS.TS KHUẤT TÂN HƯNG
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập chương trình thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý
Đô thị và Công trình, khóa học 2017 - 2019 tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Học viên đã được các thầy cô giáo truyền đạt cho những kiến thức và phương pháp luận nghiên cứu khoa học vô cùng quý báu, đây chính là nền tảng kiến thức giúp học viên tự tin, vững vàng hơn trong công tác và trong lĩnh vực nghiên cứu sau khi tốt nghiệp Học viên xin bày tỏ lòng tri ân tới toàn thể quý thầy cô trong nhà trường Đặc biệt xin được gửi lời cảm ơn chân tới PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, là người trực tiếp hướng dẫn, tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp cho học viên hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các Phòng, Khoa trong nhà trường, cảm ơn Bà con nhân dân bản Sà Rèn, chính quyền xã Nghĩa Lợi, phòng Quản lý đô thị thị xã Nghĩa Lộ đã giúp đỡ học viên hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Xuân Hoàn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ Quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan bản văn hoá truyền thống Sà Rèn xã Nghĩa Lợi thị xã Nghĩa Lộ là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của học viên Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Xuân Hoàn
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình, sơ đồ
MỞ ĐẦU ……… 1
∙ Lý do chọn đề tài ……… 1
∙ Mục đích nghiên cứu ………3
∙ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… ………3
∙ Phương pháp nghiên cứu ………3
∙ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ……… 3
∙ Các khái niệm ……… 4
∙ Cấu trúc luận văn ……… 5
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHÔNG GIAN, KIẾN TRÚC, CẢNH QUAN BẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG SÀ RÈN XÃ NGHĨA LỢI, THỊ XÃ
Trang 61.2 Thực trạng công tác Quy hoạch xây dựng Bản Sà Rèn. 9
1.3 Thực trạng quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan Bản Sà Rèn 13
1.3.1 Thực trạng quản lý không gian Bản Sà Rèn 13 1.3.2 Thực trạng quản lý kiến trúc bản Sà Rèn 16
Trang 72.1.2 Các tiêu chuẩn, quy phạm 36
2 2 Cơ sở lý thuyết để quản lý không gian kiến trúc cảnh quan 38
2.2.2 Các nguyên tắc đê xây dựng mô hình phát triển khu đô thị khả thi và
2.2.4 Cộng đồng trong công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan 44
2.3 Kinh nghiệm trong công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan
Trang 83.1.1 Quan điểm, mục tiêu: 58
3.2 Giải pháp Quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan 61
3.4.2 Các biện pháp để nâng cao năng lực quản lý đô thị 71 3.4.3 Giải pháp thực hiện quy chế phối hợp giữa cá cơ quan quản lý nhà nước
3.5 Giải pháp huy động sự tham gia của cộng đồng 74
3.5.3 Tham gia vào công tác kiểm tra giám sát và đánh giá 76
Trang 9Chữ viết tắt Tên đầy đủ
HTKT
Trang 10Số hiệu Tên bảng
Bảng 1.1 Thống kê hiện trạng sử dụng đất
Trang 11Hình 1.3 Quy hoạch tổ chức không gian bản Sà rèn
Hình 1.4 Bãi tập kết rác trước nhà văn hóa
Hình 1.5 Không gian trống hiện hữu trên bản Sà Rèn
Hình 1.6 Không gian cây xanh trên bản Sà Rèn
Hình 1.7 Không gian mặt nước cây xanh bao phủ bản Sà Rèn
Hình 1.8 Nhà văn hóa bản Sà Rèn
Hình 1.10 Nhà dân cư được xây dựng theo kiến trúc truyền thống
Hình 1.11 Nhà sàn kết hợp mô hình Home stay
Hình 1.12 Nhà sàn kết hợp mô hình Home stay
Hình 1.13 Đoạn đường đã được bê tong hóa
Hình 1.12 Đoạn đường từ phán hạ đến cuối bản
Hình 1.15 Rảnh thoát nước thuộc đường bê tong
Hình 1.16 Hệ thống mạng lưới cấp điện
Hình 1.17 Rác thải tập kết trưowcs nhà văn hóa
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu quản lý đô thị từ tỉnh đến địa phương
Hình 2.1 Suối thia qua địa phận bản Sà Rèn
Hình 3.11 Quy hoạch các khu chức năng
Hình 3.3 Nhà sàn người dân tộc thái trên bản Sà Rèn
Hình 3.4 Mặt bằng nhà sàn người thái trên bản Rà Rèn
Hình 3.5 Hàng rào cây xanh trong thôn bản
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý kiến trúc cảnh quan ở thị xã Nghĩa Lộ
Trang 12MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Thị xã Nghĩa Lộ là một đô thị loại 4 thuộc phía tây tỉnh Yên Bái Cùng với việc phát triển chung thị xã Nghĩa Lộ đang phải đối mặt với nhiều thách thức về quỹ đất để phát triển đô thị dẫn tới thu hẹp cánh đồng Mường Lò Các thôn bản thuộc đô thị thị xã Nghĩa Lộ, phân bố ven cánh đồng Mường Lò
có nét đặc trưng về không gian, kiến trúc, cảnh quan rất thu hút cũng đang chịu những tác động và biến đổi từ việc phát triển đô thị thị xã Nghĩa lộ
Bản Sà rèn thuộc xã Nghĩa Lợi – thị xã Nghĩa Lộ nằm về phía Bắc thị xã Nghĩa Lộ Là một bản thuộc đô thị, có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn nét văn hoá truyền thống, có vị trí địa lý, không gian, kiến trúc, cảnh quan cũng như các giá trị văn hoá quý báu Việc đề xuất các giải pháp quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan bản Sà rèn nhằm đảm bảo phát triển hài hoà
và có bản sắc, phục vụ du lịch
Bản Sà rèn có quần thể các công trình kiến trúc nhà ở đồng bào dân tộc Thái đông đúc ven cánh đồng Mường lò, tạo nên bản sắc riêng với nét đẹp độc đáo là cơ sở để phát triển du lịch văn hoá bản địa (các mô hình nhà ở kết hợp kinh doanh du lịch home stay) Các công trình kiến trúc tại thôn bản Sà rèn gắn liền với cánh đồng Mường Lò về không gian và thời gian tạo nên giá trị cao về cảnh quan tự nhiên và nhân tạo, cần có biện pháp khai thác tích cực
và định hướng bền vững Văn hóa truyền thống lâu đời trong cấu trúc Thôn, bản gắn với lao động, sinh hoạt, vui chơi lễ hội đã tạo thành một chỉnh thể ẩn chứa nhiều khám phá, trải nghiệm đối với khách du lịch trong và ngoài nước mỗi khi đến với Cánh đồng Mường Lò, thị xã Nghĩa Lộ
Trang 13Trong những năm qua vấn đề phát triển đô thị đã tạo nên những áp lực không nhỏ như: Quỹ đất dành cho việc phát triển đô thị khiến đất đai canh tác trên cánh đồng Mường Lò bị thu hẹp ảnh hưởng đến cơ cấu lao động nông nghiệp đang ổn định và hệ sinh thái trên cánh đồng Mường Lò bị nhiều tác động gây biến đổi không bền vững Do đó các thôn bản thuộc thị xã Nghĩa Lộ ven cánh đồng Mường Lò nói chung và Sà rèn nói riêng cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những áp lực này trên phương diện không gian, kiến trúc, cảnh quan
Các hoạt động du lịch tạo nguồn những tác động lớn đến không gian, kiến trúc, cảnh quan thôn bản Trong những tác động tích cực kèm theo các tác động tiêu cực như hoạt động du lịch gây những xáo trộn nhất định tới đời sống văn hoá của nhân dân đặc biệt là các không gian lễ hội có xu hướng thương mại hoá, tự phát mà không nằm trong khung quản lý của nhà nước gây thất thoát và khó kiểm soát nền kinh tế địa phương Các hoạt động du lịch
tự phát cũng làm phức tạp công tác thu gom xử lý chất thải rắn trên địa bàn thôn bản, gây ô nhiễm môi trường và biến đổi hệ sinh thái tự nhiên trên cánh đồng Mường Lò, tạo nên các hệ luỵ cần giải quyết cho công tác bảo vệ môi trường
Các chính sách quản lý phát triển đô thị, văn hoá du lịch, kinh tế chưa được nghiên cứu sâu, chưa được chế tài hoá khiến cho Thôn, Bản văn hoá đang phần biến đổi và mất đi tính định hướng chiến lược Do đó cần có những nghiên cứu cụ thể làm công cụ quản lý cho địa phương để góp phần gìn giữ, phát triển các giá trị tốt đẹp trên thôn, bản Sà rèn tạo tiền đề và hình mẫu cho các thôn bản khác ven cánh đồng Mường lò và trong đô thị thị xã Nghĩa Lộ, hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân bản địa đồng thời tạo lập môi trường sống của cộng đồng hướng tới mục tiêu phát triển bền
Trang 14vững bao gồm cộng đồng dân cư đô thị gắn với cộng đồng dân cư thôn bản đặc trưng
Mục đích nghiên cứu
Đề xuất giải pháp quản lý Không gian, Kiến trúc, Cảnh quan các bản văn hóa truyền thống tại cánh đồng Mường Lò nhằm đảm bảo yêu cầu phát triển bản truyền thống hài hòa, bản sắc, phục vụ du lịch cộng đồng bền vững
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Công tác quản lý Không gian, kiến trúc, cảnh quan các bản truyền thống tại cánh đồng Mường Lò
- Phạm vi nghiên cứu: Các bản văn hóa truyền thống tại Cánh đồng Mường Lò, trong đó nghiên cứ điển hình là bản Sà Rèn
Phạm vi nghiên cứu: Khu vực bản Sà Rèn với diện tích 62 ha, thuộc trung tâm xã Nghĩa Lợi, thị xã Nghĩa lộ, tỉnh Yên Bái
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập; kế thừa tài liệu, kết quả đã nghiên cứu;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa, xử lý thông tin;
- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, tiếp cận hệ thống;
- Phương pháp dự báo
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp Quản lý Không gian, kiến trúc cảnh quan Bản văn hoá truyền thống Sà rèn ven cánh đồng
Trang 15Mường Lò nhằm bảo tồn bản sắc thôn bản văn hoá và phát triển du lịch cộng đồng tại địa phương được hiệu quả
Ý nghĩa thực tiễn: Hoàn chỉnh các giải pháp quản lý quy hoạch không gian, kiến trúc cảnh quan gắn với sinh hoạt lao động sản xuất và sinh hoạt lễ hội giúp cho chính quyền địa phương cũng như cũng như việc tham gia của Cộng đồng có thêm cơ sở khoa học để quản lý hiệu quả thôn bản văn hoá; Góp phần xây dựng một khu vực quần cư thân thiện, hài hòa với thiên nhiên
và môi trường
Là bài học thực tiễn áp dụng và nhân rộng đối với các thôn bản văn hoá ven cánh đồng Mường Lò Quá trình đô thị hoá lân cận luôn có tác động tích cực và hỗ trợ đối với các thôn bản và góp phần bảo tồn cánh đồng Mường lò bao quanh thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái
Các khái niệm
Không gian: Không gian đô thị là không gian bao gồm các vật thể kiến
trúc đô thị, cây xanh, mặt nước trong đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị (theo luật QH 30/2009/QH12)
Kiến trúc: Kiến trúc đô thị là tổ hợp các vật thể trong đô thị, bao gồm
các công trình kiến trúc, kỹ thuật, nghệ thuật, quảng cáo mà sự tồn tại, hình ảnh, kiểu dáng của chúng chi phối hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị (theo luật QH 30/2009/QH12)
Cảnh quan: Là không gian cụ thể có nhiều hướng quan sát ở trong đô
thị như không gian trước tổ hợp kiến trúc, quảng trường, đường phố, hè, đường đi bộ, công viên, thảm thực vật, vườn cây, vườn hoa, đồi, núi, gò đất, đảo, cù lao, triền đất tự nhiên, dải đất ven bờ biển, mặt hồ, mặt sông, kênh,
Trang 16rạch trong đô thị và không gian sử dụng chung thuộc đô thị (theo luật QH 30/2009/QH12)
Sự tham gia của cộng đồng: Theo Clanrence Shubert là quá trình trong
đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch, thực hiện, quản lý sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạch động Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của cộng đồng
- Sự tham gia của cộng đồng là một quá trình mà Chính phủ và cộng đồng cùng nhận một số trách nhiệm cụ thể và tiến hành các hoạt động để cung cấp các dịch vụ đô thị cho tất cả cộng đồng
- Sự tham gia của cộng đồng là đảm bảo cho những người chịu ảnh hưởng của dự án được tham gia vào việc quyết định dự án
- Sự tham gia của cộng đồng là tìm và huy động các nguồn lực của cộng đồng, qua đó để tăng lợi ích cho cộng đồng dân cư giảm các chi phí, tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị cho nhà nước
Cấu trúc luận văn
Chương 1: Tổng quan Quản lý Không gian, kiến trúc, cảnh quan Bản
văn hoá truyền thống Sà rèn ven cánh đồng Mường Lò, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Quản lý Không gian, kiến trúc,
cảnh quan Bản văn hoá truyền thống Sà rèn ven cánh đồng Mường Lò, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả Quản lý Không
gian, kiến trúc, cảnh quan Bản văn hoá truyền thống Sà rèn ven cánh đồng Mường Lò, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
Trang 17NỘI DUNG Chương 1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHÔNG GIAN, KIẾN TRÚC, CẢNH QUAN BẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG SÀ RÈN XÃ NGHĨA LỢI,
THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI.
1.1 Giới thiệu chung
1.1.1 Khái quát về thị xã Nghĩa Lộ
Thị xã Nghĩa Lộ là một đô thị loại 4 nằm về phía Tây thuộc tỉnh Yên Bái Sau 20 năm thành lập, xây dựng và phát triển, Thị xã Nghĩa Lộ đã không ngừng khẳng định vị trí trung tâm kinh tế, văn hóa, thương mại và dịch vụ du lịch, là địa phương có tốc độ đô thị hoá và phát triển khá cao, có nhiều tiềm năng hấp dẫn, có sức hút và khả năng lan toả tạo động lực thúc đẩy cho sự phát triển của cả vùng Với tiền đề quan trọng và khách quan đó, Chính phủ
và Tỉnh Yên Bái đã có những định hướng chiến lược để phát triển không gian thị xã Nghĩa Lộ gắn với phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch vùng tỉnh đã được UBND tỉnh Yên Bái phê duyệt
Thị xã Nghĩa Lộ có 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 4 phường: Tân
An, Trung tâm, Pú Trạng, Cầu Thia và 3 xã: Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc Nghĩa Lộ nổi tiếng với hoa Ban, gạo Mường Lò, xôi ngũ sắc, thổ cẩm, ngòi Thia và đặc biệt là điệu xòe Thái uyển chuyển Chợ Văn hóa Mường Lò
và mạng lưới thương mại dịch vụ đã làm cho Nghĩa Lộ trở thành trung tâm kinh tế xã hội của các địa phương miền Tây Yên Bái
Thị xã Nghĩa Lộ được bao bọc bởi cánh đồng Mường lò nổi tiếng tươi đẹp, cộng đồng người dân tộc sống đan xen trong đô thị và thôn bản thuộc thị
xã tạo nên mối quan hệ phong phú và nét đặc trưng khác biệt so với các đô thị
Trang 18vùng miền khác Do nhu cầu phát triển du lịch, đẩy mạnh nền kinh tế địa phương, trong những năm gần đây thị xã Nghĩa Lộ đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển đô thị đặc trưng kèm theo việc bảo tồn các thôn bản văn hoá truyền thống ven cánh đồng Mường Lò như Bản Đêu 1 xã Nghĩa An và Bản Sà Rèn xã Nghĩa Lợi thị xã Nghĩa Lộ
1.1.2 Đặc điểm Bản Sà rèn, xã Nghĩa An thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái
Bản Sà rèn thuộc xã Nghĩa Lợi – thị xã Nghĩa Lộ nằm về phía Bắc thị xã Nghĩa Lộ có vị trí quan trọng trong phát triển sinh thái, du lịch, bảo tồn văn hóa truyền thống của toàn thị xã Trong những năm qua việc lập quy hoạch chung thị xã Nghĩa Lộ đã đưa khu vực này trở thành vị trí chiến lược phát triển đô thị của tỉnh Yên Bái Nhằm cụ thể hoá, nâng cao công tác Quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng cũng như việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng
xã hội các thôn bản trở thành các khu du lịch tiềm năng cần được hình thành trên cơ sở triển khai các quy hoạch, khai thác văn hóa truyền thống trong quá trình đô thị hoá khu vực
Hình 1.1: Vị trí Bản Sà Rèn thị xã Nghĩa Lộ
Trang 19Vị trí địa lý: Phía Bắc giáp xã Sơn A, huyện Văn Chấn; Phía Nam giáp
xã Nghĩa Phúc, thị xã Nghĩa Lộ; Phía Đông giáp Suối Thia, xã Phù Nham, huyện Văn Chấn; Phía Tây giáp xã Sơn A, huyện Văn Chấn; Tổng diện tích Bản 61,8Ha
Văn hoá đặc trưng: Người Thái đen đã định cư lâu đời ở nơi đây Theo câu truyện sử thi của người Thái, hai anh em Tạo Xuông và Tạo Ngần tìm nơi lập nghiệp Tạo Xuông đã dừng chân dựng bản làng ở Mường Lò, xây dựng nên vùng đất tổ tiên của người Thái Đen ở khắp vùng Tây Bắc vì thấy ở đây đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào Còn Tạo Ngần lên Mường Then (Mường Thanh ngày nay) xây dựng bản làng người Thái Trắng cũng trồng lúa nước là chủ yếu Trong số bốn thung lũng lớn nổi tiếng vì phong cảnh đẹp và khí hậu trong lành ở vùng Tây Bắc, thì cánh đồng Mường Lò được xếp thứ hai sau Mường Thanh (tỉnh Điện Biên) và đứng trên Mường Than (Than Uyên, Lai Châu) và Mường Tấc (Phù Yên, Sơn La) Mường Lò hiện nay gồm thị xã Nghĩa Lộ và một số xã thuộc huyện Văn Chấn Từ trên cao nhìn xuống, cánh đồng Mường Lò như một cái chảo lớn, xung quanh là những triền núi quanh năm mây phủ Vào mùa xuân, sương mù càng đậm đặc hơn
Trang 20Như vậy về lịch sử các thôn, bản nói chung và Sà Rèn nói riêng đã góp phần tạo nên cánh đồng Mường Lò và duy trì sự tồn tại của nó với những giá trị vô cùng to lớn cần gìn giữ và phát triển Bản Sà Rèn xã Nghĩa Lợi thị xã Nghĩa Lộ là một trong những quần cư của người Thái đen, cuộc sống của họ gắn liền với cánh đồng Mường Lò tươi đẹp Trong quá trình lao động sản xuất, sinh hoạt văn hoá, người dân nơi đây đã tạo nên những giá trị trường tồn
để nuôi sống mình, để cải tạo giữ gìn thiên nhiên và tạo nên bản sắc rất riêng
về kiến trúc cảnh quan thôn bản
Với những giá trị hiện hữu về không gian, kiến trúc cảnh quan, thiên nhiên và con người thôn bản Sà Rèn, năm 2014 Sà Rèn đã được công nhận là Thôn bản bảo tồn văn hoá truyền thống gắn với du lịch địa phương
1.2 Thực trạng công tác Quy hoạch xây dựng Bản Sà Rèn
1.2.1 Thực trạng công tác quy hoạch
Xác định được vai trò và tầm quan trọng của Bản Sà Rèn trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội của địa phương Năm 2015 Uỷ ban nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã cho phép lập và phê duyệt “Quy hoạch Bảo tồn Làng bản văn hoá truyền thống gắn với du lịch Bản Sà Rèn”
Hình 1.3: Quy hoạch tổ chức không gian Bản Sà Rèn thị xã Nghĩa Lộ
Trang 21Kinh tế thôn bản được cải thiện dẫn đến đời sống tinh thần của người
dân được duy trì phát triển hơn Các lễ hội truyền thống được tổ chức hàng
năm, các cơ sở hạ tầng phục vụ lễ hội được mở rộng cải tạo đáp ứng đầy đủ
nhu cầu sinh hoạt cộng đồng Xã hội được ổn định, an toàn và có định hướng
tốt nhờ vào sự tham gia tích cực của Cộng đồng
Tổng diện tích đất tự nhiên trong khu vực lập quy hoạch là 61,8ha, chủ
yếu là đất nông nghiệp và một phần đất ở ngoài ra còn có hai dòng suối Thia
và suối Nung bao quanh khu vực Thực trạng công tác quản lý quy hoạch sử
dụng đất được chính quyền địa phương tổng hợp như sau:
Bảng 1.1: Thống kê hiện trạng sử dụng đất
(ha)
Tỷ lệ (% )
Trang 22hộ gia đình áp dụng mô hình nhà ở kết hợp phục vụ du lịch và đạt thu nhập 50 – 200 triệu đồng/ năm Với các chính sách ổn định đời sống nhâ dân của nhà nước tại thôn bản nhân dân yên tâm định cư lao động sản xuất kết hợp các ngành nghề thủ công phục vụ khách du lịch nhờ đó tỷ lệ hộ nghèo đã giảm 4%/ năm, không còn hộ đói Quy chế quản lý quy hoạch được phê duyệt và công bố cho từng hộ gia đình nhân dân đã giảm thiểu được việc xây dựng trái phép và xây dựng bừa các công trình nhà tạm ảnh hưởng xấu đến cảnh quan
và sinh hoạt thôn bản
Việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng xã hội theo quy hoạch như nhà văn hoá, sân vui chơi cộng đồng, các kết nối tạo ra chuỗi không gian lễ hội còn chưa được đầu tư và triển khai thành dự án cụ thể Với các công trình
hạ tầng đô thị như kè suối, đường giao thông, hệ thống thoát nước… chưa được đầu tư xây dựng do thiếu vốn, thiếu chương trình mục tiêu cụ thể
Đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá thực trạng về công tác quy hoạch
đó là các Quy chế quản lý đô thị, các mô hình nhà ở kết hợp với sản xuất, du lịch và bảo tồn văn hoá còn chưa cụ thể, chưa làm rõ để cộng đồng dân cư hiểu và làm theo Nói chung công tác quy hoạch đã thực hiện trên địa bàn Bản văn hoá truyền thống Xà Rèn nói riêng và các thôn bản truyền thống xung
Trang 23quanh cánh đồng Mường Lò nói chung đang chỉ là bước đầu tạo nền tảng cho các đề tài nghiên cứu khoa học sâu hơn, thực tiễn hơn nhằm giúp ích cho địa phương trong tương lai
1.2.2 Thực trạng công tác thiết kế đô thị
Thiết kế đô thị là một phần trong đồ án Quy hoạch Bảo tồn làng bản văn hoá truyền thống Bản Sà Rèn đã được phê duyệt, tuy nhên với mức độ định hướng chung nên thực trạng công tác này tại địa phương còn chưa được triển khai cụ thể Lối kiến trúc truyền thống của đồng bào dân tộc Thái được áp dụng một cách tự phát và tuỳ theo điều kiện kinh tế của từng hộ gia đình mà giải pháp hoàn thiện được đưa ra khác nhau, dẫn đến sự thiếu đồng bộ cho các công trình nhà ở và thiếu không gian cho các công trình công cộng
Nhìn chung công tác thiết kế đô thị chưa được triển khai tại bản Sà Rèn
Hình 1.4: Do chưa có TKĐT nên bãi tập kết rác được đặt trước nhà văn hoá
Trong thời gian tới cần có sự tham gia của các nhà hảo tâm, của cộng đồng dân cư, của các cấp chính quyền có liên quan cùng nhau thực hiện công tác thiết kế và quản lý thiết kế đô thị nhằm tạo dựng bộ mặt thôn bản văn hoá đặc sắc thu hút du lịch cộng đồng và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân
Trang 241.3 Thực trạng quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan Bản Sà Rèn
1.3.1 Thực trạng quản lý không gian Bản Sà Rèn
Bản Sà Rèn được ví như một hòn đảo thu nhỏ, xung quanh được bao bọc bởi suối Thia, suối Nung, suối Đôi, khí hậu quanh năm mát mẻ Sà Rèn có các không gian lễ hội, không gian lao động sản xuất, không gian cây xanh tự nhiên mang đậm nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Thái Về tổng thể bản Sà Rèn là sự hoà quyện của không gian của nhiều lễ hội, của kiến trúc nhà sàn Thái, những điệu múa xòe, ẩm thực Không gian được phân tích theo 3 nhóm đối tượng sau:
Không gian trống: Trong những năm gần đây được Chính phủ và các
cấp, ngành quan tâm bảo vệ, đây là phần đất trồng lúa chiếm 60% phần diện tích bản Không gian trống này bao bọc và xen kẽ với không gian công trình kiến trúc và hạ tầng tạo nên nét đẹp riêng của một ngôi làng trù phú thân thiện khi đứng nhìn từ xa Các yếu tố tự nhiên như nắng, gió, mặt nước trên cánh đồng được gìn giữ vận dụng và tôn tạo phục vụ cuộc sống quần cư nơi đây, giưới sự tác động của con người thông qua lao động canh tác các không gian trống này có giá trị vô cùng to lớn trong việc tạo nên sự cân bằng sinh thái cũng như ổn định và phát triển kinh tế bản địa đặc biệt là với công tác bảo tồn nền văn hoá truyền thống phi vật thể gắn với phát triển du lịch địa phương
Hình 1.5: Không gian trống hiện hữu trên bản Sà Rèn
Trang 25Không gian cây xanh mặt nước: Do chưa hình thành được hệ thống bộ
máy quản lý và các quy định cụ thể tại địa phương nên không gian cây xanh mặt nước tại Bản Sà rèn chưa được quản lý đồng bộ, các không gian đẹp được hình thành do người dân tự điều chỉnh, tác động tự phát, phục vụ nhu cầu thẩm mỹ từng hộ gia đình Là cấu trúc hệ thống cây xanh phân chia các không gian trong và ngoài thôn bản, trong ngoài các công trình công cộng và nhà ở Đối với bản Sả Rèn hệ thống cây xanh được phân chia thành 3 cấp tầng: Cấp thấp phân chia khu vực trong và ngoài công trình công cộng và nhà
ở hoặc phân chia phạm vi quyền sử dụng đất bao gồm các loại cây như găng, ozo, dâm bụt…chúng được cắt tỉa đảm bảo làm hàng rào ngăn cách và khái quát các không gian riêng và chung
Hình 1.6: Không gian cây xanh trên bản Sà Rèn
Ngoài hệ thống cây hàng rào được trồng để ngăn cách hay phân chia khu vực sử dụng đất, Sà Rèn còn có hệ thống cây cao tầng được trồng dọc ven suối Nung và suối Thia gần như bao quanh bản Hệ thống tre tạo lập không gian lớn bao gồm bên trong và ngoài bản, góp phần giảm thiểu bức xạ, gió bão và chống sạt lở ven các suối chính Đối với đường trục chính dẫn vào bản
Sà Rèn nằm dọc suối Ngòi Nung được trồng hàng Tre và cây Nhãn tạo bóng mát có cảnh quan không gian cuốn hút khi vào với thôn bản
Trang 26Đối với cây xanh bóng mát được trồng dọc các trục đường giao thông chính của xã, xung quanh các sân chơi cộng đồng và công trình công cộng tạo nên tổng thể cây xanh xen kẽ hài hoà trong toàn bộ khu vực xã Sà Rèn Không gian cây xanh nói chung tồn tại tự phát
qua quá trình phát triển của Bản Sà Rèn tạo
nên nét đặc thù và khác biệt Thông qua đó có
thể hình dung ra quá trình vận động, phát triển
của văn hoá, tập tục gắn với quá trình lao động
sản xuất của con người nơi đây, từ đó đặt ra
các vấn đề tôn tạo gắn kết hài hoà, bền vững
cho các đối tượng là không gian cây xanh,
không gian trống và không gian các công trình
kiến trúc
Không gian các công trình kiến trúc và hạ
tầng thôn bản: Được hình thành và biến đổi từ
lâu đời gắn với lịch sử phát triển của người
Thái thông qua quá trình lao động sản xuất chủ
yếu là canh tác lúa nước trên cánh đồng Mường Lò Các công trình kiến trúc
ở đây bao gồm nhà ở nhà sàn theo lối kiến trúc đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái; Công trình nhà văn hoá cộng đồng cũng là một biến thể của hình thức nhà sàn nhưng phù hợp hơn cho việc tổ chức các sự kiện đông người; Các công trình giao thông phục vụ sản xuất, đi lại của người dân và kết nối các không gian hiện hữu tạo nên bản sắc riêng của Sà Rèn Đối với quần thể các công trình nhà ở có mật độ không cao phù hợp với việc kết hợp các mô hình sản xuất hộ gia đình (mỗi hộ gia đình có diện tích đất từ 400 – 600 m2, chiều cao của các công trình nhà ở và nhà sinh hoạt cộng đồng bao gồm sàn tầng giưới cùng 1,7m đến 2,1m, tầng trên sử dụng từ 1,7 đến 5,7 tuỳ vào độ
Trang 27dốc mái, do đó về tổng thể không gian các công trình trên bản Sà Rèn có chiều cao thấp dưới các tán cây và luỹ tre làng có giá trị cao về thẩm mỹ và không gian kiến trúc phi áp lực đô thị
Hình 1.7: Không gian mặt nước cây xanh bao bọc bản Sà Rèn
1.3.2 Thực trạng quản lý kiến trúc bản Sà Rèn
Thực trạng kiến trúc bản Sà Rèn bao gồm các vấn đề về công trình công cộng, công trình nhà ở, công trình trang trí hiện hữu trong không gian tổng thể thôn bản Các Vật thể kiến trúc là đại diện quá trình lịch sử phát triển của đồng bào dân tộc Thái và số ít dân tộc khác tại bản Sà Rèn vì vậy cần nghiên cứu cụ thể làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý cho kiến trúc thôn bản
Công trình công cộng: Trong khu vực có 1 nhà văn hóa bản đã được
xây dựng với kiến trúc nhà sàn truyền thống, được đặt tại vị trí trung tâm của bản nên rất thuận tiện cho người dân sinh hoạt văn hóa cộng đồng và tạo được không gian kiến trúc cảnh quan đẹp cho khu vực, tuy nhiên do quỹ đất nhỏ, không đủ diện tích cần thiết, hơn nữa công trình đang bị xuống cấp do vậy cần được mở rộng quỹ đất và cải tạo chỉnh trang lại kiến trúc công trình
Trang 28Hình 1.8: Nhà Văn hóa Bản Sà Rèn Công trình nhà ở: Các công trình nhà ở trong khu vực chủ yếu là nhà sàn
do dân tự xây dựng, một số công trình đã được xây dựng khá kiên cố từ 1 -:- 2 tầng, bình quân khuôn viên của một hộ gia đình khoảng 300 -:- 400m2 Tổng
số có 97 công trình nhà ở, trong đó: Nhà sàn: 87 nhà; nhà xây 1 tầng: 09 nhà; nhà xây 2 tầng: 01 nhà Hiện trạng một số công trình kiến trúc nhà sàn đã bị xuống cấp và bị pha trộn bởi kiến trúc nhà xây nên đã và đang làm ảnh hưởng đến kiến trúc truyền thống cũng như cảnh quanh của toàn khu vực Các hạng mục phụ: Cổng, hàng rào, khuôn viên… không thống nhất ảnh hưởng tới kiến trúc cảnh quan của khu
Một số công trình nhà ở được xây dựng bằng vật liệu kiến trúc nhà sàn làm bằng gỗ, mái lợp fibrôximăng, cọ, tôn, cửa gỗ Một số công trình nhà xây kiên
cố từ 1-:-2 tầng vật liệu chủ yếu là xây tường gạch, mái đổ BTCT hoặc lợp fbrôximăng, lợp tôn
Hình 1.9: Nhà ở dân cư được xây dựng theo kiến trúc truyền thống
Trang 29Hình 1.10: Nhà ở dân cư được xây dựng không theo kiến trúc truyền thống
Trong các công trình nhà ở gần đây một số hộ dân đã cải tạo công trình của mình để phục vụ khách du lịch đến thăm bản Sà Rèn Các mô hình đã dần được hoàn thiện theo định hướng giữ lại bản sắc kiến trúc dân tộc Thái gắn với kinh doanh du lịch Về vật liệu xây dựng và hình thái kiến trúc sử dụng vật liệu địa phương như gỗ, tre, đá và một số vật liệu thông dụng khác như tôn, ngói, tấp lợp xi măng…Từ năm 2015 hưởng ứng chương trình bảo tồn văn hoá gắn với phát triển du lịch cộng đồng, một số hộ gia đình đã thử nghiệm mô hình nhà Home stay và đã đạt được kết quả rất cao và ảnh hưởng tích cực đến phong trào chung của thôn bản Đã có 9/ 97 hộ gia đình áp dụng
mô hình nhà ở kết hợp phục vụ du lịch và đạt thu nhập 50 – 200 triệu đồng/ năm
Trang 30Hình 1.11: Nhà sàn kết hợp mô hình Home stay
Hình 1.12: Nhà sàn kết hợp mô hình Home stay
Nhìn chung về hiện trạng kiến trúc thôn bản Xà Rèn vẫn còn giữ được nhiều công trình kiến trúc đậm đà bản sắc của dân tộc Thái Các công trình kiến trúc nhà ở và công cộng được tôn tạo vào những dịp lễ hội bằng các hình
Trang 31tượng biểu trưng nhân dân tự làm, sự kết hợp khéo léo giữa các vật thể kiến trúc hàng năm đã thu hút rất nhiều lượt khách du lịch đến thăm quan và nghỉ dưỡng
1.3.3 Thực trạng cảnh quan bản Sà Rèn
Giao thông thôn bản: Trong khu vực thôn bản Sà Rèn có trục đường giao
thông chính từ bản Phán Hạ đến khu vực nghiên cứu đã được bê tông hóa và các trục đường giao thông nội bộ đi tới các khu dân cư một số đường đã được
bê tông hóa một phần còn lại là đường đất
Hình 1.13: Đoạn đường đã được bê tông hoá
Hình 1.14: Đoạn đường từ Phán Hạ đến cuối bản
Trang 32Trục đường chính từ bản Phán Hạ đến sân thể thao của bản Sà Rèn dài 1,757km: Kết cấu đường bê tông, bề rộng mặt đường 3m, hành lang mỗi bên 1m; Trục đường từ nhà văn hóa bản đến suối Nung qua khu dân cư dài 4,88km: Kết cấu đường bê tông, bề rộng mặt đường 3m, hành lang mỗi bên 0,5m; Trục đường đến các khu dân cư dài 2km: Kết cấu đường bê tông, bề rộng mặt đường 2m, hành lang mỗi bên 0,3m; Các trục đường ven suối, ven ruộng và đường đến các hộ dân dài 2,2km: Kết cấu đường đất, bề rộng mặt đường từ 1-:- 2m; hành lang 0,2-:-0,8m Giao thông đường thủy có hai suối Thia và suối Nung chảy hai bên bản
Hệ thống thoát nước mặt và thuỷ lợi: Hệ thống thoát nước nước mưa của
khu vực chảy theo địa hình tự nhiên, chảy theo mương, suối Nước thải sinh hoạt của các hộ dân một phần đã được xử lý cục bộ, một phần chảy theo địa hình ra các khu vực trũng, cánh đồng và hai con suối Nung và suối Thia
Hình 1.15: Rãnh hở thoát nước dọc đường bê tông
Bản Sà Rèn có hai dòng suối Thia và suối Nung chảy hai bên dọc theo chiều dài từ Bắc tới Nam, cung cấp nguồn nước cho hệ thống mương thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu cho khu vực cánh đồng Hệ thống mương thủy lợi một số đã
Trang 33được xây dựng kiên cố rộng từ 0,3 -:- 0.5m còn lại là mương đất.Tại khu phía Nam của bản phần giáp với bản Phán Hạ đã được xây dựng hệ thống kè suối nhằm chống lũ lụt, sạt lở
Thu gom rác thải: Trong thôn bản Sà Rèn chưa có hệ thống thu gom rác
thải để đưa về điểm tập kết rác thải và đưa về khu vực xử lý rác chung của thị
xã Khu vực suối Thia và suối Nung đang có hiện tượng ô nhiễm bởi rác thải của người dân khu vực trên nguồn gây ô nhiễm nhẹ môi trường nước suối Thia và suối Ngòi Nung.Thời gian gần đây chính quyền địa phương đã tích cực vận động nhân dân tham gia công tác bảo vệ môi trường bằng cách nâng cao ý thức tự quản lý chất thải rắn, phân loại CTR và không xả rác bừa bãi ra môi trường
Hệ thống cấp điện: Mạng lưới cấp điện cho bản Sà Rèn chưa bố trí trạm
biến áp Nguồn điện được lấy từ trạm điện 50KVA đặt tại thôn Phán Hạ đường dây 0,4KV, cột treo, tổng chiều dài 1.610m Trong phạm vi nghiên cứu
có tuyến đường điện 110KV dài 200m chạy qua khu vực cánh đồng Các cột điện nằm dọc các đường giao thông ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị
Trang 34Hình 1.16: hệ thống mạng lưới cấp điện
Hình 1.17 Rác thải tập kết trước nhà văn hoá
Điện chiếu sáng tại bản Xà Rèn được xã hội hoá, các hộ gia đình thường lắp đặt bóng đèn trên cột tre tại vị trí cổng vào nhà Hệ thống chiếu sáng đô thị chưa được đầu tư lắp ddawtj do điều kiện kinh tế của địa phương còn rất hạn chế
Trang 35Đánh giá chung: Do điều kiện kinh tế của địa phương còn rất hạn chế vì
vậy chưa có dự án triển khai nâng cấp hạ tầng đồng bộ, chưa đặt ra được mục tiêu, lộ trình thực hiện việc đẩy mạnh việc hoàn thiện cấu trúc làng nghề nhằm phát huy tối đa tiềm năng thu hút du lịch, Chưa có cơ sở để tạo lập không gian cảnh quan chung gắn với kiến trúc các công trình nhà ở và công cộng cũng như các không gian lễ hội văn hoá phi vật thể
Thực trạng công tác Quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan tại thôn bản Sà Rèn xã Nghĩa Lợi, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái chưa được triển khai Các hoạt động mang tính quản lý nhằm vào các đối tượng còn cục bộ, tự phát dẫn đến khó thực hiện Các quy định chưa cụ thể hoá bằng pháp chế hoặc chưa tuyên truyền phổ biến để người dân hiểu và làm theo nên công tác Quản
lý còn gặp phải vấn đề như việc xây dựng những công trình nhà ở còn tự phát (một vài công trình đã mất đi nét kiến trúc truyền thống đặc trưng) Việc tham gia của cộng đồng dân cư trong công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan đã có những bước tiến nhất định tuy nhiên vẫn chưa đạt được mục tiêu yêu cầu phát triển du lịch cộng đồng bền vững
Vì vậy để cụ thể hoá mục tiêu những nghiên cứu đóng góp vào quá trình phát triển của một làng nghề hay thôn bản văn hoá truyền thống nói chung và
Sà Rèn nói riêng cần tiếp tục điều tra, cập nhật hiện trạng tình hình thực tế tại địa phương, hoàn thiện các tổng kết đánh giá, tiếp tục nghiên cứu Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan, văn hoá truyền thống bản Sà Rèn xã Nghĩa Lợi thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
1.4 Thực trạng sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý
Cơ chế giám sát đầu tư của cộng đồng theo Nghị định số
84/2015/NĐ-CP ngày 30/09/2015 và Luật Đầu tư công có quy định cơ chế thành lập và vận hành các Ban giám sát đầu tư cộng đồng tuy nhiên khá cồng kềnh khó khuyến
Trang 36khích người dân tham gia cũng như có thể tạo ra mâu thuẫn về lợi ích do chính quyền địa phương phải cấp kinh phí cho các ban này giám sát lại chính mình Các phương tiện thông tin đại chúng là kênh tích cực nhất trong việc truyền tải ý kiến của người dân đến chính quyền tại đây Đây được coi là yếu
tố tích cực trong việc đóng góp ý kiến cá nhân cũng như thông qua các tổ chức nghề nghiệp
Các quy định về phổ biến thông tin để tạo điều kiện cho người dân tham gia đều đã có Tuy nhiên, thông tin thường được cung cấp không đầy đủ, thiếu tính liên kết, thiếu các hướng dẫn tìm thông tin nào ở đâu và nhiều người dân không sử dụng internet là các cản trở để họ có thể nắm bắt được thông tin để tham gia một cách hiệu quả Mặc dù còn nhiều hạn chế đã nói ở trên, vai trò
sự tham gia của người dân ngày được đánh giá cao Đa số mọi người cho rằng phần lớn người dân, kể cả người nghèo và người có học thức thấp, đều có nhận thức ngày một tốt hơn về trách nhiệm xã hội và vai trò trong công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan, có khả năng và mong muốn tham gia vào quá trình ra quyết định
Quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị là một bộ phận trong quản lý đô thị Tuy nhiên, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực này không đề xuất đầy đủ việc người dân có thể giám sát các dự án liên quan đến quản lý không gian kiến trúc cảnh quan này như thế nào
1.5 Thực trạng bộ máy quản lý
1.5.1 Về cơ chế chính sách và văn bản pháp lý
Vấn đề phát triển đô thị đã tạo nên những áp lực không nhỏ cho việc Quản lý Quy hoạch kiến trúc cảnh quan bao gồm: Quỹ đất, hệ sinh thái trên cánh đồng Mường Lò, nét riêng về kiến trúc nhà ở, các hoạt động văn hoá tạo
Trang 37nguồn những tác động lớn từ các chính sách phát triển đô thị, văn hoá du lịch, kinh tế khiến cho các Thôn, Bản văn hoá đang một phần biến đổi theo chiều hướng không tốt Năm 2014 UBND thị xã Nghĩa Lộ đã phê duyệt Quy hoạch bảo tồn làng bản văn hoá truyền thống gắn với du lịch bản Sà Rèn xã Nghĩa Lợi thị xã Nghĩa lộ tỉnh Yên Bái Tại quyết định số 1998/QĐ-UBND ngày 26/9/2018 của UBND tỉnh Yên Bái về việc phê duyệt quy hoạch chung thị xã Nghĩa Lộ và vùng phụ cận đến 2035, theo đó đến năm 2020 xã Nghĩa Lợi chuyển thành phường Nghĩa lợi thuộc thị xã Nghĩa Lộ (đô thị loại III)
1.5.2 Thực trạng bộ máy quản lý:
a Cơ cấu bộ máy quản lý
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cơ cấu quản lý đô thị từ tỉnh đến địa phương
Chính phủ
UBND tỉnh Yên Bái
lượng xây dựng công trình
- Phòng kinh tế và vật liệu xây
Trang 38* Thanh tra xây dựng
Theo Quyết định số 529/QĐ-UBND ngày 16/10/2006 của UBND tỉnh Yên Bái về việc Quy định chức năng, nhiệm vụ các phòng chuyên môn của
Sở Xây dựng tỉnh Yên Bái Chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra Sở Xây dựng tỉnh Yên Bái cụ thể như sau:
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn: Thanh tra hành chính và chuyên ngành trong phạm vị quản lý Nhà nước về: Xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà
Trang 39ở công sở, kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm cư dân nông thôn, hạ tầng kỹ thuật đô thị theo quy định pháp luật
* Phòng quản lý đô thị thuộc UBND thị xã Nghĩa Lộ
Phòng Quản lý đô thị là cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Nghĩa Lộ thực hiện chức năng Tham mưu, giúp cho Uỷ ban nhân dân thị xã thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về kiến trúc; quy hoạch xây dựng; phát triển đô thị; nhà ở và công sở; vật liệu xây dựng; giao thông; hạ tầng kỹ thuật
đô thị (gồm: cấp, thoát nước; vệ sinh môi trường đô thị; công viên, cây xanh; chiếu sáng, rác thải; bến, bãi đỗ xe đô thị)
Thực hiện các nhiệm vụ khác về các lĩnh vực quản lý Nhà nước thuộc ngành xây dựng theo sự phân công, phân cấp hoặc ủy quyền của UBND thị xã Nghĩa Lộ và theo quy định của pháp luật
* Đội trật tự đô thị thuộc UBND thị xã:
Là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND thị xã Nghĩa Lộ Kịp thời phát hiện, phối hợp ngăn chặn những hành vi vi phạm hành chính, đồng thời tham mưu, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: trật tự xây dựng, sử dụng đất đai, trật tư giao thông đô thị, bảo vệ di tích lịch sử, cảnh quan môi trường đô thị, đưa công tác quản lý đô thị đi vào nền nếp; xây dựng đô thị ngày càng sạch đẹp, phát triển thành đô thị trung tâm của vùng Tây Bắc là nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết của địa phương
Đội Trật tự đô thị có chức năng tham mưu giúp UBND thị xã kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, phối hợp xử lý kịp thời các hành vi vi phạm hành chính về: trật tự xây dựng, sử dụng đất đai, bảo vệ di tích lịch sử; trật tự giao thông
đô thị, cảnh quan môi trường đô thị Tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn mọi
Trang 40công dân thực hiện tốt và đầy đủ Quy chế quản lý đô thị và các văn bản pháp luật có liên quan; Kiểm tra lập biên bản, yêu cầu ngừng thi công và đề nghị UBND thị xã; các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật Đội quản lý trật tự đô thị hoạt động trên cơ sở pháp luật có liên quan đến công tác quản lý trật tự đô thị (Quản lý xây dựng, đất đai, môi trường…); quy chế quản lý đô thị của UBND thị xã Nghĩa Lộ; Phối hợp với UBND các xã, phường khi có yêu cầu để kiểm tra, áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính kịp thời, đúng pháp luật Phối hợp thực hiện các Quyết định cưỡng chế, Quyết định xử phạt hành chính; Thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hiện hành về tình hình thực hiện nhiệm vụ trong các lĩnh vực công tác được giao
1.5.3 Năng lực quản lý
Công tác quy hoạch xây dựng đô thị hiện tại còn nhiều khó khăn, việc điều chỉnh quy hoạch vẫn chưa theo kịp với tốc độ tăng trưởng của đô thị, chưa đáp ứng với yêu cầu cấp phép xây dựng và quản lý xây dựng đô thị theo quy hoạch Điều đó dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý xây dựng đô thị, đặc biệt là xây dựng nhà ở đô thị và quản lý không gian kiến trúc cảnh quan
đô thị Đồng thời, năng lực quản lý của chính quyền đô thị còn hạn chế Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan đô thị
1.6 Các vấn đề cần nghiên cứu
1.6.1 Về quản lý quy hoạch xây dựng đô thị
Trên cơ sở các Quy hoạch đã được phê duyệt có liên quan đến hoạt động Qnr lý không gian, kiến trúc, cảnh quan bản Xà Rèn, sau thời gian triển khai thực hiện theo quy hoạch, đến nay một số chỉ tiêu về đất đai, mật độ xây