Trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu, tác giả tìm hiểu và nghiên cứu về kiến trúc của lejandro ravena – một kiến trúc sư thành công trong các dự án xã hội, tạo ra những ngôi nhà sáng tạo,
Trang 1NGUYỄN KIỀU HUẾ
TÍNH NHÂN VĂN TRONG KIẾN TRÚC
CỦA ALEJANDRO ARAVENA
LU N VĂN TH C S KIẾN TRÚC
Hà Nội – 2019
Trang 2NGUYỄN KIỀU HUẾ
KHÓA: 2017 - 2019
TÍNH NHÂN VĂN TRONG KIẾN TRÚC
CỦA ALEJANDRO ARAVENA
Trang 3ể hoàn thành đề tài nghiên cứu này, trước hết tôi xin chân thành cảm
ơn cô giáo TS.Ngô Thị Kim ung đã hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong hội đồng khoa học nhà trường đã hướng dẫn, động viên để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn trường ại học Kiến trúc, khoa Sau đại học, thư viện nhà trường, các đồng nghiệp và bạn bè đã tạo điều kiện, khích lệ tôi trong quá trình học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LU N VĂN
Nguyễn Kiều Huế
Trang 4Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi ác số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LU N VĂN
Nguyễn Kiều Huế
Trang 5Lời cam đoan
Mục lục
anh mục bảng biểu
Danh mục các hình minh họa
MỞ ẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
Mục tiêu nghiên cứu 2
ối tượng nghiên cứu 2
Giới hạn nghiên cứu 2
Phương pháp nghiên cứu 2
Ý nghĩa khoa học 3
ấu trúc luận văn 3
N I DUNG 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍNH NHÂN VĂN VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA KIẾN TRÚC SƯ ALEJANDRO ARAVENA 4
1.1 Chủ nghĩa nhân văn 4
1.1.1.Khái niệm 4
1.1.2 hủ nghĩa nhân văn trong các lĩnh vực xã hội 5
1.2 Tính nhân văn 11
1.2.1.Khái niệm 11
1.2.2.Quá trình hình thành 12
Trang 6trúc… 16
1.3.2 ác biểu hiện của tính nhân văn trong kiến trúc 21
1.4 Giới thiệu về kiến trúc sư Alejandro Aravena 23
1.4.1.Tiểu sử kiến trúc sư lejandro ravena 23
1.4.2 ác giải thưởng lejandro ravena đã đạt được 25
1.5 Giới thiệu các tác phẩm của kiến trúc sư Alejandro Aravena 28
1.5.1.Giới thiệu các tác phẩm kiến trúc 28
1.5.2.Giới thiệu các ấn phẩm khác 30
CHƯƠNG II: CƠ SỞ HÌNH TH NH TÍNH NHÂN VĂN TRONG KIẾN TRÚC CỦA ALEJANDRO ARAVENA 34
2.1 Các yếu tố tác động đến sáng tác của kiến trúc sư Alejandro Araena 34
2.1.1 ối cảnh thế giới 34
2.1.2 ối cảnh đất nước hile 40
2.2.Quan niệm về tính nhân văn trong kiến trúc của Alejandro Aravena … 48
2.2.1.Kiến trúc hướng tới sự bình đẳng 48
2.2.2.Kiến trúc dựa trên sự tổng hợp các vấn đề xã hội 50
2.2.3.Kiến trúc là cuộc cách mạng tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản của cuộc sống 50
Trang 7CHƯƠNG III: TÍNH NHÂN VĂN TRONG KIẾN TRÚC CỦA
ALEJANDRO ARAVENA 54
3.1.Các đặc điểm thể hiện tính nhân văn trong tác phẩm của kiến trúc sư Alejandro Aravena 54
3.1.1.Phân tích yếu tố nhân văn trong tác phẩm nổi bật của lejandro ravena qua từng giai đoạn 54
3.1.2.Quan niệm sáng tác kiến trúc của lejandro ravena qua từng giai đoạn 66
3.2.Triết lý sáng tạo của KTS Alejandro Aravena 67
3.3.Tác phẩm tiêu biểu nhất 68
3.3.1.Nhà ở xã hội Quinta Monroy, Iquique, hile, 2004 69
3.3.2.Nhà ở xã hội Villa Verde, onstiucion, hile, 2010 74
3.4 Nhận xét chung 78
KẾT LU N V KIẾN NGHỊ 80
Kết luận 80
Kiến nghị 81
T I LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8bảng
Bảng 1.1 Các tác phẩm kiến trúc của kiến trúc sư Alejandro Aravena
Trang 9hình
Hình 1.1 Tỷ lệ vàng trong kiến trúc Phục hưng
Hình 1.2 Chân dung của Alejandro Aravena
Hình 1.3 Alejandro Aravena nhận giải thưởng Pritzker năm 2016
Hình 1.4 Trang bìa cuốn sách “Los Hechos de la Arquitectura”
Hình 1.5 Trang bìa cuốn sách “El Lugar de la Arquitectura”
Hình 1.6 Trang bìa cuốn sách “Material de Arquitectura”
Hình 1.7 Trang bìa cuốn sách chuyên khảo “Elemental: Incremental
Housing and Participatory Design Manual”
Hình 1.8 Trang bìa cuốn sách “Alejandro Aravena: The Forces In
Architecture”
Hình 1.9 Trang bìa cuốn sách “Alejandro Aravena: Progettare e
costruire ” Hình 2.1 Sa mạc Atacama
Hình 2.2 Thành phố Concepcion, thủ phủ vùng Biobio
Hình 2.3 Thành phố Punta Arenas, thủ phủ vùng Magallanes y La
Antarctica Chilena
Trang 10Hình 2.6 Nhà thờ ở Chiloé
Hình 2.7 Kiến trúc Chile hiện đại
Hình 2.8 Khu ổ chuột Tocopilla
Hình 2.9 Villa Verde Housing Constiucion (Khu nhà ở gia tăng tại
Chile) Hình 2.10 Một dự án nhà ở do chính phủ Chile đặt hàng, 100 gia đình
trên 5,000m 2
Hình 2.11 Một thiết kế Half – Half (trái) và bên phải là khi các “Kiến trúc
sư người dân” đã vào ở và thêm vào điều họ muốn Hình 3.1 Sơ phác ý tưởng thiết kế
Hình 3.2 Sơ đồ vị trí và mặt bằng tầng 1
Hình 3.3 Mặt đứng và mặt cắt công trình
Hình 3.4 Sơ đồ ý tưởng về kết cấu bao che 2 lớp
Hình 3.5 Tháp Siamese
Hình 3.6 Nhà ở xã hội Quinta Monroy
Hình 3.7 Nhà ở xã hội Villa Verde
Trang 11Hình 3.17 Sơ đồ thể hiện tiến trình thực hiện xây dựng một dãy nhà
Hình 3.18 Hình ảnh dãy nhà với các căn hộ trong giai đoạn đầu và sau
khi mở rộng và hoàn thiện Hình 3.19 Một số hình ảnh công trình và bên trong căn hộ
Trang 12MỞ ẦU
Lý do chọn đề tài
Sự nhức nhối ở Việt Nam hiện nay là đón nhận quá nhiều kiến trúc đã thuộc về quá khứ, chúng được thúc đẩy bởi trào lưu thương mại hóa Và cũng may mắn thay cho Việt Nam khi trong năm 2016, thế giới tôn vinh các giá trị nhân bản và tư tưởng Kiến trúc với Trách nhiệm xã hội mà tiêu biểu là kiến trúc sư người hile lejandro ravena – người đã có những đóng góp to lớn cho việc phát triển nhà ở vì người nghèo với giải thưởng cao quý Pritzker
Trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu, tác giả tìm hiểu và nghiên cứu
về kiến trúc của lejandro ravena – một kiến trúc sư thành công trong các
dự án xã hội, tạo ra những ngôi nhà sáng tạo, cho phép người sử dụng tham gia hoàn thành chính ngôi nhà của mình
Theo đánh giá của Trưởng an giám khảo Pritzker Peter Palumbo,
“kiến trúc sư lejandro ravena không chỉ am hiểu vật liệu xây dựng, ngành xây dựng mà còn quan tâm tới thơ ca và tầm quan trọng của kiến trúc với nhiều cấp độ”
Ông là kiến trúc sư thứ 41 được vinh danh ở giải thưởng Pritzker, và là người châu Mỹ Latin thứ 4 được trao giải thưởng cao quý này sau kiến trúc sư Luis arragan (1980), kiến trúc sư Oscar Niemeyer (1988) và kiến trúc sư Paulo Mendes da Rocha (2006) Tác phẩm của ông đều hướng đến sự tương tác giữa người với người trong không gian kiến trúc thông qua sử dụng không gian mở, vật liệu đơn giản
Mặc dù kiến trúc của ravena không phô trương, không hoành tráng, nhưng ông hoàn toàn xứng đáng được tôn vinh trong giới kiến trúc vì những đóng góp thiết thực đầy tính nhân văn cho xã hội
Trang 13Thông qua việc phân tích tác phẩm một kiến trúc sư trên thế giới – cụ thể là lejandro ravena, ta có thể tiếp nhận được một số bài học bổ ích phục
vụ trực tiếp cho nghề nghiệp của các kiến trúc sư
Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu và phân tích tác phẩm kiến trúc của lejandro ravena tìm
ra triết lý sáng tạo kiến trúc của ông
- Nghiên cứu tính nhân văn trong kiến trúc của lejandro ravena
- Tăng thêm phần hiểu biết về nền kiến trúc thế giới
ối tượng nghiên cứu
Tính nhân văn trong kiến trúc của kiến trúc sư Alejandro Aravena
Giới hạn nghiên cứu
- Luận văn tập trung đề cập đến phong cách kiến trúc của kiến trúc sư lejandro ravena, cũng như đề cập đến quan điểm sáng tác của ông
theo thời gian
- Nghiên cứu công trình tiêu biểu nhất cho phong cách sáng tác của lejandro ravena tại quê hương ông, hile: nhà ở xã hội Quinta Monroy và Villa Verde
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: xem xét cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của kiến trúc sư lejandro ravena trên góc nhìn tổng thể của nền kiến trúc, bối cảnh văn hóa xã hội, nơi mà kiến trúc của ông được sinh ra và công nhận Xem xét quá trình làm việc của ông để nhìn nhận việc hình thành phong cách kiến trúc riêng
- Phương pháp phân tích thu thập: tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin trên các tạp chí, sách báo, internet
Trang 14- ánh giá, hệ thống tác phẩm theo thời gian để thấy rõ giá trị kiến trúc của lejandro ravena
- Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về kiến trúc và lý luận phê bình
để tăng tính khách quan cho đề tài nghiên cứu
Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần MỞ ẦU và KẾT LU N - KIẾN NGHỊ, luận văn còn
có N I UNG gồm ba chương:
- HƯƠNG I: TỔNG QU N VỀ TÍNH NH N V N VÀ S NGHIỆP
S NG T Ủ KIẾN TRÚ SƯ LEJ N RO R VEN
- HƯƠNG II: Ơ SỞ HÌNH TH NH TÍNH NH N V N TRONG KIẾN TRÚ Ủ LEJ N RO R VEN
- HƯƠNG III: TÍNH NH N V N TRONG KIẾN TRÚ Ủ ALEJANDRO ARAVENA
Trang 15N I DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍNH NHÂN VĂN VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA ALEJANDRO ARAVENA
1.1 Chủ nghĩa nhân văn
1.1.1 Khái niệm [8]
hủ nghĩa nhân văn là trào lưu tư tưởng và văn hóa thời kì Phục hưng ở châu u ây là một phong trào chống Thiên chúa giáo nhằm đề cao con người, giải phóng cá nhân khỏi sự đè nén tinh thần của chế độ phong kiến, chống lại chủ nghĩa kinh viện và giáo hội, hướng con người vào xây dựng cuộc sống thực tại
Lịch sử ra đời của chủ nghĩa nhân văn được xác lập từ khi xuất hiện phong trào Phục hưng Với lý do khôi phục lại nền văn hóa cổ đại, các nhà nhân văn đã khởi xướng phong trào Phục hưng khôi phục các giá trị văn hóa
cổ đại – những gì mà húa đã cho phép – nên giáo hội không có cách gì ngăn cản
hủ nghĩa nhân văn khởi phát ở Ý và được thực hiện bởi những nhà tư tưởng, những cá nhân ưu tú, uyên bác, giàu tinh thần cách mạng và canh tân.Hơn nữa, họ còn quyết tâm mạnh mẽ để thực hiện lý tưởng nhân văn ấy.“Tinh thần nhân văn trước hết là một tinh thần tranh đấu Tranh đấu cho dân tộc Ý chống lại cuộc xâm lăng của những dị tộc”.[8]
Với tinh thần đấu tranh chống lại sự cai trị hà khắc của chế độ phong kiến, chủ nghĩa nhân văn trở thành một trào lưu tư tưởng hiện thực với sức mạnh to lớn và có ý nghĩa sâu sắc Những người thực hiện, đem lại sức sống cho chủ nghĩa ấy được tôn vinh và ghi nhận trong lịch sử: “ ác nhà nhân văn chủ nghĩa đều là những nhà văn uyên bác, cổ học Hy lạp dưới ánh sáng của tinh thần mới đã tươi sáng thêm và có một khí sắc mới Học cổ không phải là
Trang 16cứu cánh mà chỉ là một phương tiện để chống phong kiến, chống dị tộc để xây dựng văn hóa mới.Tinh thần nhân văn là tinh thần để xây dựng văn hóa mới Tinh thân nhân văn là tinh thần tranh đấu cho một tư tưởng, một chế độ tiến
bộ hơn, một đời sống lành mạnh, đầy đủ, công bằng hơn đời sống phong kiến
an đầu, tư tưởng nhân văn xuất hiện trong lòng người, mang âm hưởng thời đại, được quần chúng nhiệt liệt hưởng ứng, mang tính tự nguyện,
tự phát ác tư tưởng này hướng về cái mới, chống lại sự thủ cựu của những
kẻ bóc lột, chống lại sự xuống cấp đạo đức trong xã hội và của cả tầng lớp tăng lữ
ần dần, những tư tưởng tiến bộ này đã được các nhà triết học, các nhà văn, các nghệ sĩ có tên tuổi tán thành Họ nhiệt tình đem kiến thức sâu rộng của bản thân để hoàn thiện, nâng cao những tư tưởng ấy thành chủ nghĩa nhân văn
hủ nghĩa nhân văn Phục hưng đã được hoàn thiện trong các tác phẩm của Voltaire, iderot, J.J.Rousseau ở nước Pháp thời Khai sáng – thế kỷ XVIII
Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng được kết tinh trong khẩu hiệu “Tự do – ình đẳng – ác ái”, từ hành vi muốn lật nhào chế độ phong kiến, đem Louis XVI ra chém đầu ở quảng trường Louvere, lập nên nước ộng hòa Pháp
1.1.2 hủ nghĩa nhân văn trong các lĩnh vực xã hội
hủ nghĩa nhân văn Phục hưng xuất hiện với sứ mệnh làm đảo lộn những quan niệm sống cổ lỗ và mở ra một chân trời mới cho những hy vọng mới Như vậy, chủ nghĩa nhân văn Phục hưng phải đảm bảo dựa vào một hình thái kinh tế xã hội mới, nghĩa là phải dựa vào một nền văn minh mới – văn minh công nghiệp
Trang 17Nói đến ảnh hưởng của một triết thuyết đối với sự phát triển của con người, tức là nói nói tới vai trò của lý luận, mở ra một triển vọng thực tiễn cho bước tiến mới của xã hội
ây là thời kỳ mà “dưới ảnh hưởng của sự cải tạo tư tưởng, con người phương tây đã thoát ly khỏi cái bầu trời ảm đạm của đêm trường trung cổ mà bước vào một đời sống mới, như được một luồng sinh khí mầu nhiệm vừa thổi vào trong mạch máu, bộ mặt châu u bỗng trẻ trung, hồng hào lại hâu
u từ ấy ngày càng tiến bộ và đã có cơ vượt hẳn những dân tộc khác để làm
bá chủ thế giới suốt mấy thể kỷ về tất cả các phương diện kinh tế - chính trị - văn hóa
ối cảnh thời lịch sử xã hội châu u thời kỳ Phục hưng có nhiều nét đặc thù ây là thời kỳ mà châu u thực hiện cuộc cách mạng to lớn, thay đổi
về chất trong phương thức sản xuất Nền sản xuất nhỏ manh mún, lạc hậu, năng suất thấp dưới chế độ phong kiến được thay thế bằng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính công nghiệp hiện đại, năng suất lao động cao Sự ra đời của phương thức sản xuất mới được thúc đẩy mạnh mẽ bởi nhu cầu của tầng lớp cấp tiến trong xã hội phong kiến – tầng lớp tư sản.Những lái buôn, chủ tầu, chủ xưởng, thợ thủ công… từ lâu đã tạo được một tiềm lực kinh tế khá vững trong lòng chế độ phong kiến.Khi tiềm lực kinh tế đã mạnh,
họ muốn có các chính sách kinh tế, pháp luật, bộ máy nhà nước cũng như các chế tài – tức là một kiến trúc thượng tầng đồng bộ, đảm bảo cho sự phát triển ngày càng cao của họ Mặt khác, chúng ta biết rằng, châu u thế kỷ XV, XVI diễn ra hàng loạt những sự kiện lớn: những phát minh ra máy dệt, máy hơi nước, …; sự thành công của cách mạng tư sản nh, Hà Lan,… đã thổi bùng lên những khát khao giải phóng con người, cụ thể là thoát khỏi sự kìm kẹp của nhà thờ với những điều luật khắt khe, vô nghĩa Yêu cầu đặt ra là làm sao nhà nước và húa trời, tức là vua và giáo hội phải để cho nhân dân được tự do
Trang 18sản xuất, giảm thiểu các loại thuế ao hơn, tầng lớp tư sản còn đòi có nhiều quyền lực hơn, dù đã có một vai trò nhất định trong quốc hội ũng cần nói thêm, để đáp ứng cuộc sống vương giả của giai cấp quý tộc và tăng lữ nhà thờ, tư sản châu u có những đóng góp không nhỏ, nếu không nói là phần lớn, thậm chí mang tính quyết định đối với ngân sách nhà nước
ùng với những nền tảng thực tiễn ấy, những tiền đề về tư tưởng văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng phát triển vô cùng mạnh mẽ Sự phát triển của những thành tựu ấy chủ yếu bắt nguồn từ nhu cầu nhận thức để có căn cứ phản kháng lại sự chuyên chế của giáo hội Mặt khác, những phát kiến địa lý, những phát minh về kỹ thuật, năng lượng đã làm sáng lên tinh thần đổi mới trong lòng xã hội châu u Một phần rất quan trọng của những công trình xã hội ấy có nền tảng từ vệc trở lại và làm hưng khởi những giá trị vốn có từ thời
Hy Lạp và La Mã cổ đại Nói đến các tiền đề nhận thức của triết học châu u thời kỳ này, trước tiên, phải đề cập đến những thành tựu về tư tưởng và văn hóa cổ đại nói chung và văn hóa Hy Lạp nói riêng ác phát kiến khoa học của nhân loại thời cổ như toán học của Talet, Pitago, hình học của Oclit, vật
lý của csimet,… được khôi phục lại sau đêm trường trung cổ Nếu như thời
kỳ trung cổ người ta đã ơ đốc hóa, xuyên tạc các tư tưởng vĩ đại của ristote, Platon… thời sang thời Phục hưng và cận đại, những tư tưởng đó được những nhà triết học thời kỳ này kế thừa và phát triển Ý nghĩa của những giá trị tư tưởng, văn hóa Hy Lạp, La Mã cổ đại đối với xã hội Tây u thời kỳ này lớn tới mức người ta gọi giai đoạn lịch sử từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVI là thời kỳ Phục hưng
Chúng ta thấy những giá trị có được từ thời cổ đại có những ý nghĩa to lớn: một măt, chúng có cơ sở từ việc quan sát, nghiên cứu tự nhiên, phản ánh những quy luật của tự nhiên, nó mang tính vĩnh cửu; mặt khác, những định đề của Talet, Pitago,… trở nên đắc dụng trong những thay đổi to lớn của xã
Trang 19hội.Những công trình kiến trúc, những áng sử thi, những giá trị văn hóa với tinh thần quật khởi và anh hùng sống lại và mang những sinh khí mới sau giấc ngủ dài suốt nghìn năm của châu u trung cổ Lúc này, người châu u khao khát sống một cuộc sống mãnh liệt.Họ mạnh mẽ đòi vứt bỏ cái trầm mặc yếu đuối cũng như sự lặng lẽ đến u uất của những cánh cửa nhà thờ.Họ không muốn phải chờ đến khi chết rồi mới được lên thiên đường với húa.Một thiên đường xa tít tắp không biết có dành cho họ hay không Họ đoàn kết và quyết tâm làm nên một thiên đường thật sự nơi trần thế - nơi mà vợ con, anh em, bạn bè của họ đang sống Họ muốn tình yêu của họ được công khai và tự do
Họ muốn cây trái, sản phẩm của họ làm ra, sau khi đã đóng góp phần nghĩa
vụ công dân, phải thuộc về họ, là của họ và nó phải là phần lớn, phần nhiều, phần cơ bản chứ không phải nộp cho ông chúa đất, ông vua nào xa lắc xa lơ
cả Sau những hồi chuông dài thê thiết suốt thời trung cổ nghìn năm, ánh bình minh của xã hội mới cùng những những cơn gió mát lành của thời đại thổi đến làm bừng lên sinh khí mới trên khắp châu u
ả ngàn năm đọc kinh cầu húa, sau giấc ngủ dài suốt thời kỳ trung cổ, người châu u trở mình vươn dậy trong ánh bình minh của nền văn minh công nghiệp Trong suốt thời kỳ phong kiến, các thương nhân, thợ thủ công châu u dù có khéo tay đến mấy, giỏi nghề đến đâu thì sản phẩm làm ra sau khi trừ thuế nộp cho nhà nước, chỉ còn đủ ăn là may lắm Phương thức sản xuất phong kiến với năng suất lao động thấp và trình độ sản xuất hạn chế đã cản trở rất lớn sức sản xuất của xã hội ầu trời tươi đẹp mà không có tự do Những vụ mùa bội thu mà cửa nhà sa sút ác lãnh chúa quyền lực vô biên, của cải không biết cơ man nào mà kể, chỉ sống để thu thuế, hưởng thụ sự giàu sang; khi cần thì tổ chức chiến tranh để thỏa mãn lòng tham hay những lợi ích
cá nhân đầy tính vị kỷ Sau những trận chiến, vinh quang thuộc về quý tộc, tướng lĩnh và những người chỉ huy, còn mất mát hy sinh thì dân đen đưa mình
Trang 20hứng chịu.Những cuộc khởi nghĩa của nô lệ dưới sự lãnh đạo của giai cấp quý tộc làm nên các vương triều phong kiến Nhưng cả nghìn năm, giai cấp quý tộc phong kiến châu u cầu kinh, chỉ huy, hầu như sống để thu thuế rồi ăn chơi trong sự xa hoa, còn dân nghèo – lực lượng cơ bản làm nên những vương triều ấy bằng sự chiến đấu, hy sinh – có cuộc sống ra sao thì không ai quan tâm đến
Những năm của thế kỷ XIV, XV, những bộ óc đầy trí tuệ và đôi tay khéo léo của Jame Hagrever và Jame Watt đã mở ra một cách nhìn mới, một hướng đi mới cho châu u Những chiếc máy dệt đã thay thế chiếc xa kéo sợi Những chiếc máy hơi nước đã thay thế cối xay gió và đem lại cho con người biết bao lợi ích Với sự ra đời của máy móc, gia súc chỉ còn được nuôi để mang lại nguồn thực phẩm cho con người chứ không còn phải cày kéo Những con tàu ra khơi trên sóng ại Tây ương hay biển ịa Trung Hải không còn phải dùng sức của nô lệ mà bằng những cỗ máy hàng nghìn sức ngựa Những công xưởng dệt ra đời khiến hàng trăm nghìn cái xa kéo sợi thành đồ cổ hoặc gỗ mục Sự ra đời của máy hơi nước đã thực sự mang lại một nền văn minh tươi sáng và mới mẻ cho châu u
“ ắt đầu từ thế kỷ XV ở Tây u, chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc Trung cổ bước vào thời kỳ tan rã thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển là những công trường thủ công đem lại năng suất cao hơn Việc sáng chế ra máy kéo sợi đã làm cho công nghiệp dệt đặc biệt phát triển, nhất là ở nh Sự khám phá và chế tạo hàng loạt đồng hồ cơ học đã giúp con người thời kỳ này sản xuất có kế hoạch, tiết kiệm thời gian và tang năng xuất lao động”.[8]
Trang 21ồng thời với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp, trong xã hội Tây u thời kỳ này, sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt.Tầng lớp tư sản xuất hiện, vai trò và vị trí của họ trong nền kinh tế và xã hội ngày càng lớn
Không còn là những thợ thủ công hay thương nhân phải ăn nhờ ở đậu tại các thành bang như thời cổ đại Không còn bị phong kiến và tăng lữ miệt thị như ở thời phong kiến Lúc này thương nhân, thợ thủ công, tiểu tư sản trí thức đã thực sự vươn lên, tự khẳng định chính mình.Trí tuệ và tiềm lực của giai cấp tư sản đã làm nên uy tín và giá trị riêng của họ.Họ không còn phải nép mình nộp thuế, chịu sự dạy bảo của những đấng bề trên.Trái lại, với những đóng góp nhất định cho ngân sách nhà nước, giai cấp tư sản châu u bắt đầu bước vào chính trường ác triều đình nh, Pháp dần phải thỏa hiệp với tư sản để đảm bảo có được những nguồn tài chính nhằm duy trì cuộc sống
xa hoa Italia, nơi từng ngự trị của Julius esar, nơi đế chế La Mã một thời ngang dọc lẫy lừng thì cũng đồng thời là một trong những nơi đầu tiên trên thế giới sản sinh ra cách mạng tư sản, thức tỉnh toàn châu u ngắm nhìn mặt trời tự do, vươn lên giành lấy thiên đường nơi trần thế Sự bừng sinh mở ra và nền văn minh chính thức bắt đầu
“ ùng với nhiều biến cố lịch sử khác, những sự kiện trên cho thấy, bước sang thời kỳ Phục hưng và cận đại, sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã trở thành một xu thế lịch sử không có gì ngăn cản nổi Sự quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản là nền tảng thực tiễn
xã hội của triết học Tây u thời Phục hưng và cận đại”.[8]
Trong không khí tưng bừng của giai đoạn hồi sinh, người châu u tràn đầy khí thế đứng lên giành tự do Với sự xuất hiện của máy móc, một phương thức sản xuất hoàn toàn mới đã ra đời Sức người được giải phóng, sự điều khiển bằng máy móc, việc sử dụng bằng năng lượng mới, cách nghĩ cách làm
Trang 22thay đổi hoàn toàn dẫn đến sự phát triển chóng mặt của năng suất lao động Những chiếc tàu thủy hơi nước và những đoàn tàu hỏa lăn bánh trên đường ray đã biến châu u và nhất là nước nh trở thành công xưởng của thế giới Với trí tuệ và hàng loạt những phát minh, người ta sẵn sàng làm bất cứ thứ gì
và có khả năng làm bất cứ thứ gì nếu người ta muốn Hiệu quả kinh tế được đặt lên hàng đầu.Thông thương buôn bán là số một.Lợi nhuận kinh doanh là trên hết.Những cơ sở ấy khiến cho người ta nghĩ đến những điều xa xôi, to lớn và hoàn toàn có thật Những ước muốn ấy người ta không chờ đến ngày mai khi không còn sự sống nữa hay lúc được lên thiên đường, mà người ta quyết tâm làm ngay lúc ấy, cho cuộc sống lúc bấy giờ và được hiện thực hóa nơi trần thế Những thiên thần, ức Mẹ hay các thánh phải là những thiếu nữ,
em bé, phụ nữ, đàn ông khỏe mạnh, tươi sáng và quyến rũ Vẻ đẹp ấy không nên ở mãi trong kinh thánh, nhà thờ mà phải biểu lộ ở trong cuộc sống trần tục này Vẻ đẹp ấy phải có hương thơm, trắng trẻo, khỏe mạnh, phải ăn ngủ, cảm nhận và xúc giác được Phải là thứ mắt nhìn, tai nghe, tay chạm, chân đi đến được Hạnh phúc, tự do, thiên đường, vườn địa đàng phải là sung sướng, chạy nhảy, no nê, thơm ngát, giàu có, ngất ngây và thỏa mãn Người ta nhớ đến húa sau những vụ mùa bội thu hay những chuyến tàu buôn dài ngày trên biển Người ta cầu húa khi muốn những cỗ máy mới được xuất hiện và có thêm những tính năng mới Tức là lúc ấy húa có vai trò giúp người ta thư giãn, làm cho người ta nghĩ ra và làm được thêm nhiều những cái mới mà thôi F.Engels đã chỉ ra một đặc điểm rất quan trọng của thời đại:“ ó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ Khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ
về mặt có lắm tài, lắm nghề và về mặt học thức sâu rộng”.[8]
1.2 Tính nhân văn
1.2.1 Khái niệm [10]
Trang 23“Nhân” là con người, là loài có trí khôn và thông minh nhất trong các loài động vật; “Văn” là văn vẻ, văn từ, cái dấu vết do đạo đức, lễ nhạc giáo hóa mà có vẻ đẹp rõ rệt gọi là “văn”, như văn minh, văn hóa Khi ghép hai từ này lại với nhau ta có thuật ngữ “nhân văn”
Theo đó, nhân văn hay tính nhân văn là phẩm chất tốt đẹp, đạo đức, sáng tạo của con người Tính nhân văn được thể hiện trong những lĩnh vực như lịch sử, văn hóa, triết học, tâm lý học, mỹ học… hủ thuyết nhân văn bao gồm tất cả những cố gắng, tư tưởng và trào lưu lấy con người làm trung tâm
để thực hiện những mục tiêu vì sự tự do giải phóng con người, tin vào sức sáng tạo vô biên của con người, yêu con người và cuộc sống trần gian hủ trương phát triển mọi khả năng con người và xã hội
Tính nhân văn là những giá trị thể hiện những ý nghĩa của con người, tôn trọng con người, giải phóng con người, phát triển và hoàn thiện con người.Hay nói cách khác, tính nhân văn thể hiện tư tưởng, chủ thuyết đặt con người vào vị trí trung tâm của tiến trình xã hội và hoạt động xã hội Lấy con người là chủ thể, làm động lực, làm mục tiêu của sự phát triển và tiến bộ xã hội
1.2.2 Quá trình hình thành
Tính nhân văn là một phần của của chủ nghĩa nhân văn vốn là trào lưu
tư tưởng và văn hóa thời Phục hưng ở châu u ây là một phong trào đề cao con người, giải phóng cá nhân khỏi sự đè nén tinh thần của chế độ phong kiến, chống lại giáo hội, hướng con người vào cuộc sống thực tại
hủ nghĩa nhân văn ra đời từ khi xuất hiện phong trào Phục hưng Với tinh thần đấu tranh chống lại sự cai trị hà khắc của chế độ phong kiến, chủ nghĩa nhân văn trở thành một trào lưu tư tưởng hiện thực với sức mạnh to lớn
Trang 24và có ý nghĩa sâu sắc ây là một cuộc cách mạng diễn ra trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng lấy con người làm trọng
Kiến trúc ở thời kỳ Phục hưng là kiến trúc của thời kỳ giữa thế kỷ XIV
và đầu thế kỷ XVII ở các vùng khác nhau của châu u, thể hiện sự hồi sinh
và phát triển của một số yếu tố tư tưởng Hy Lạp, La Mã cổ đại và văn hóa vật chất có ý thức Phong cách kiến trúc thời kỳ này theo kiến trúc Gothic và được kế tục bởi kiến trúc aroque Phát triển đầu tiên tại Florence và nhanh chóng lan rộng ra các thành phố khác của Ý Phong cách này cũng được chuyển đến Pháp, ức, nh, Nga và các nước khác của châu u vào những thời điểm khác nhau và với mức độ tác động khác nhau
Kiến trúc thời kỳ Phục hưng mang đậm nét tôn giáo, đặc biệt là đạo Thiên chúa Những hiểu biết về giá trị con người, tôn vinh vai trò và vị trí của con người được khám phá và phát triển mạnh trong thời gian này on người được coi là bản sao hình ảnh của thánh thần
Trào lưu kiến trúc Phục hưng được khởi đầu bằng việc tẩy chay phong cách kiến trúc Gothic và phục hưng lại di sản kiến trúc La Mã cổ đại ố cục công trình rõ ràng khúc triết, dựa trên các hệ thức cột cổ điển, tuân thủ nguyên tắc cổ điển là chuẩn mực, nó tái hiện một cách khoa học các giá trị chuẩn mực của nghệ thuật tạo hình cổ đại
Kiến trúc Phục hưng nhấn mạnh đến những nguyên tắc tổ hợp, tính quy luật, ổn định và sự hài hòa iều đó xuất phát từ việc con người đã tin vào sức mạnh của mình Nó còn nhấn mạnh vẻ đẹp của con người và đẩy mạnh việc dùng số học và hình học để xác định tỷ lệ của công trình
iểm nổi bật của kiến trúc Phục hưng là không sử dụng những yếu tố
có hình dạng phức tạp như các công trình thời trung cổ thiên về các hình học
cơ bản như hình tròn và hình vuông on người thời kỳ này đã lập nên được
Trang 25những bản vẽ về tỷ lệ con người tuân theo những đường giới hạn có dạng hình tròn và hình vuông để qua đó chứng minh rằng tỷ lệ còn người chính là chuẩn mực
Hình 1.1 Tỷ lệ vàng trong kiến trúc Phục hưng
Tiếp nối kiến trúc thời kỳ cận đại là kiến trúc thời kỳ hiện đại với những trường phái và tác giả có các đóng góp to lớn cho một nền kiến trúc mà trong đó con người là chủ thể lớn nhất
Trong khoảng thời gian lịch sử của thời kỳ Xô viết, việc tìm kiếm bản sắc dân tộc là một trong những điểm nổi bật của văn hóa Nga hế độ Nga hoàng bị lật đổ kéo theo đó là sự suy thoái của kiến trúc tân kỳ mà Nga hoàng
ưa chuộng hủ nghĩa cộng sản đã mở ra một biên giới rộng lớn hơn cho thử nghiệm nghệ thuật, đặc biệt là tại những nơi có công trình công cộng
Trang 26Nhắc tới trào lưu kiến trúc hiện đại thế kỷ XX, ta không thể không nhắc tới những người đặt nền móng cho sự phát triển của trào lưu này, nổi bật nhất trong đó phải kể đến kiến trúc sư Le Corbusier
Sau khi đi tìm những giá trị chung về sự hợp lý đô thị của xã hội công nghiệp – dịch vụ trong thế kỷ XX, đã và đang tồn tại sự phản ứng và thất vọng bởi “sự mầu nhiệm của kỹ thuật” và “sự mạo danh về tăng trưởng”, được coi là có thể giải quyết được mọi vấn đề của loài người Sự ỷ lại vào kỹ thuật và tăng tốc xây dựng còn để lại môi trường kiến trúc đơn điệu, giống hệt nhau từ đông sang tây Trong bối cảnh đó, thử tìm lại những vệt đi đã mờ trong lịch sử để tìm lại lý tưởng cao đẹp của kiến trúc
Khởi nguồn từ những năm 1930, cũng chính từ “Luận cương về kiến trúc” nổi tiếng đó, Le orbusier đã mở ra một vấn đề lớn, dai dẳng trong tâm thức kiến trúc Kiến trúc với sứ mệnh xã hội khẳng định kiến trúc là sự biểu hiện bản chất thực sự của xã hội, là bộ mặt và là biểu hiện của bản chất các cá nhân ù gây nhiều tranh cãi, những năm 1930, với tầm nhìn về chính sách đô thị hóa vượt trội, ông đã đem lại một cái nhìn mới, một phong cách mới cho nghệ thuật kiến trúc và xây dựng thế giới
Sau chiến tranh thế giới II, trước thách thức dân số thành thị tăng nhanh, và cần cải thiện điều kiện sống, vệ sinh cho các khu nhà tập thể, Le orbusier là người đã thành công trong việc xây dựng ba triệu căn hộ cho tư nhân trong vỏn vẹn ba thập niên, với một tiêu chí: tạo ra không gian xã hội hài hòa, tiện nghi và bình đẳng cho tất cả mọi thành phần công dân, bằng cuộc cách mạng kiến trúc cho những khu nhà tập thể Le orbusier đã đưa ra phương thức xây dựng kiểu công nghiệp hóa các khu ở tập thể với năm nguyên tắc của chủ nghĩa công năng, với những cửa sổ mở rộng để đem ánh sáng và không khí và căn hộ, bỏ các vách ngăn, đưa luôn tiện nghi hiện đại
Trang 27vào phòng bếp, buồng tắm ặc biệt, với lý thuyết “thành phố trong thành phố”, các thiết kế khu nhà tập thể có đầy đủ chức năng công cộng, như một thành phố thu nhỏ
Mở đầu là khu ite Radieuse, Marseille, ông không ngần ngại đặt dãy căn hộ trái chiều, chỉ để có được nhiều ánh sáng hơn Trường mẫu giáo, sân chơi được xây trên nóc ác cửa hàng thực phẩm, nhu yếu phẩm, khách sạn, hiệu ăn hàng quán và kể cả một trung tâm dành cho sáng tác nghệ thuật, tất cả được thiết kế như cấu trúc phục vụ tại chỗ của tòa nhà Khu Firminy, được thiết kế vào năm 1953 có một trung tâm văn hóa, sân vận động, bể bơi, nhà thờ Le orbusier đã để lại tổng cộng 17 công trình xây dựng, trong đó có 10 địa điểm được đặt trên đất Pháp, một ở ức, rgentina, ỉ và hai di sản ở Ấn
ộ, hai di sản trên đất Thụy Sĩ, quê hương ông
Sứ mệnh xã hội của kiến trúc sư được vinh danh – đã đem lại một cái nhìn mới trong nghệ thuật kiến trúc thế kỷ XX và là cuộc cách mạng kiến trúc khi đáp ứng nhu cầu xây các khu tập thể cho đại chúng Kiến trúc vì con người, vì nhân văn đã được vinh danh dẫn dắt tư tưởng kiến trúc suốt gần một thế kỷ.[10]
1.3 Tính nhân văn trong kiến trúc
1.3.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển tính nhân văn trong kiến
trúc
Sự hình thành và hiện đại hóa hàng trăm thành phố với hàng nghìn khu nhà ở, khu công nghiệp và khu vui chơi giải trí, với những điều kiện sống và lao động mới trong những năm đổi mới, là kết quả của sự lao động sáng tạo của nhân dân, trong đó có sự đóng góp của những người làm công tác kiến trúc và quy hoạch ồng thời cũng là biểu hiện sinh động của sự đổi mới trong phát triển quy hoạch kiến trúc
Trang 28Những tư tưởng nhân văn không phải là lý thuyết trừu tượng mà đã biến thành thực tiễn sinh động có cơ sở khoa học Sự phát triển của nền văn hóa, giáo dục – đào tạo, của khoa học – kỹ thuạt, nghệ thuật và ngay cả những thành tựu trong quá trình phát triển một nền kiến trúc tiên tiến đậm đà bản sắc
sẽ không thể có được nếu không có cơ sở tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn
Ta hiểu tính nhân văn trong kiến trúc và quy hoạch là một khái niệm rất rộng Nó chứa đựng nhiều yếu tố và đặc điểm Nó tổng hợp những đòi hỏi muôn hình muôn vẻ của con người về kinh tế - xã hội, khoa học – kỹ thuật và thẩm mỹ nhằm tạo nên những không gian đầy đủ tiện nghi, thoải mái, lành mạnh và đẹp cho các nhu cầu ở, làm việc, nghỉ ngơi, sinh hoạt công cộng… Những đòi hỏi về tính hợp lý, khoa học và vẻ đẹp hiện đại, trong sáng của các công trình kiến trúc và thành phố đã thể hiện những quan điểm thẩm mỹ mới của con người và xã hội
Kinh nghiệm phát triển cho thấy nhu cầu văn hóa của con người và xã hội ngày càng tăng đòi hỏi chất lượng thẩm mỹ của các công trình kiến trúc
và giải pháp quy hoạch cũng ngày càng hoàn chỉnh hơn và cao hơn
Thực tiễn của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế cũng như đấu tranh cho sự tiến bộ xã hội luôn luôn khẳng định sức sống mãnh liệt của tư tưởng nhân văn và truyền thống văn hóa dân tộc
Ngay đối với những người làm công tác kiến trúc và quy hoạch, những người có nhiệm vụ tổ chức môi trường không gian cho xã hội, sự thấm nhuần mục tiêu vì con người trong ý thức và hành động luôn có một ý nghĩa rất quan trọng và là thước đo trình độ chuyên môn của mỗi người
Khác với các ngành nghề khác, trong quá trình tổ chức môi trường không gian, người kiến trúc sư phải có tư duy, dự đoán xa hơn, táo bạo hơn,
có trách nhiệm đạo đức cao và phải luôn nghĩ tới tương lai
Trang 29Trong mỗi một nhiệm vụ, người kiến trúc sư cần phải làm sáng tỏ các câu hỏi: “Thiết kế cho ai? ho cộng đồng nào? ho những con người như thế nào? Mỗi một sự lảng tránh trước những câu hỏi này đều dẫn đến những giải pháp sai lầm không thể tránh khỏi trong những cố gắng để nắm bắt tương lai
Trách nhiệm xã hội của những người làm công tác kiến trúc và quy hoạch đã được đặt ra một cách rõ ràng Với các phương tiện cùng khả năng tổ chức không gian và tổ chức thẩm mỹ - nghệ thuật, người kiến trúc sư có nhiệm vụ góp phần thúc đẩy quá trình tạo lập những điều kiện sống và lao động mới cho con người trong một xã hội văn minh và phát triển
ó là nhiệm vụ thực tế đặt ra cho quá trình lao động sáng tạo của kiến trúc sư Nhiệm vụ này đòi hỏi người kiến trúc sư phải có khả năng thâm nhập vào cuộc sống và nắm vững những quy luật phát triển khách quan của xã hội
và sự phát triển nhu cầu của con người
Ngày nay những mục tiêu vì con người đã giúp cho những kiến trúc sư tham gia vào quá trình tổ chức môi trường lao động hiểu rõ: Tổ chức môi trường lao động là yếu tố quan trọng để đẩy mạnh và hợp lý hóa sản xuất cũng như để nâng cao thực sự mức sống vật chất và văn hóa cho người lao động Tổ chức môi trường lao động là một điều kiện quan trọng để đạt tới những biến đổi tích cực trong nội dung lao động và qua đó dẫn tới sự hình thành những đặc điểm lao động mới
Mặt khác, việc tổ chức môi trường lao động một cách có ý thức và có
kế hoạch còn là một bộ phận không thể thiếu được của văn hóa lao động cũng như của sự phát triển văn hóa nói chung Qua việc tổ chức môi trường lao động, có thể tạo nên những điều kiện không gian nhằm phát triển con người toàn diện và các mối quan hệ xã hội tốt đẹp trong quá trình lao động, cũng như qua đó góp phần xây dựng phương thức sống mới, tiến bộ
Trang 30Nếu ngày nay, yêu cầu phát triển đặt ra nhiệm vụ xây dựng nhà ở trên quy mô lớn nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn của nhân dân và sự phát triển của xã hội, thì những mục tiêu cơ bản về việc xây dựng một môi trường ở văn minh, hiện đại, phù hợp với thiên nhiên và con người , cũng như một môi trường ở đảm bảo cuộc sống hạnh phúc, sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi thành viên trong xã hội, có một ý nghĩa vô cùng to lớn
Rõ ràng là sự phát triển của các điều kiện sống và lao động không đòi hỏi vượt quá xa những điều kiện và khả năng của cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện có và trình độ ý thức con người hiện tại, nhưng cũng không được phép
gò bó trong những khó khăn tạm thời với những suy nghĩ và thói quen cũ kỹ, lạc hậu
Với những điều kiện phát triển nền kinh tế mở, theo cơ chế thị trường
và xu thế hội nhập quốc tế, trong sự phát triển của kiến trúc – quy hoạch cũng xuất hiện nhiều yếu tố mới và xu hướng mới Ta phải tiếp cận và nghiên cứu một cách nghiêm túc những mầm mống của cái mới, phải giành cho chúng sự quan tâm và phải bảo vệ, chăm sóc những mầm mống này iều đó không có nghĩa là tất cả những cái mới đều phù hợp với tương lai húng ta phải kiểm tra thật chính xác, cái gì là mầm mống thật sự của cái mới tích cực, cái gì là
xu hướng chỉ có ý nghĩa nhất thời trong một giai đoạn quá độ hoặc chỉ là những ảnh hưởng từ bên ngoài; cái gì là nhu cầu sống và lao động thực sự mới, tiến bộ và cái gì là những nhu cầu hình thức bắt nguồn từ những ý đồ phô trương, giả tạo
Không còn nghi ngờ gì nữa, những mầm mống của cái mới xuất hiện ở nhiều khu công nghiệp và các đô thị mới trong thời gian qua đã phản ánh những thay đổi tích cực trong các hoạt động của con người và các mối quan
hệ xã hội trong môi trường lao động, môi trường ở và nghỉ ngơi ặc biệt có ý
Trang 31nghĩa là những xu hướng và giải pháp quy hoạch – kiến trúc đáp ứng sự phát triển con người và nhu cầu của con người trong những điều kiện của nền kinh
tế thị trường
Một vấn đề khác cũng có ý nghĩa trong mối quan hệ này là việc xóa bỏ
sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn ây không chỉ là một đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội, của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, mà thực chất cần xem xét quá trình này đồng thời xuất phát từ những mục tiêu của sự phát triển con người, phát triển các dân tộc một cách bình đẳng, đồng đều, không phân biệt đẳng cấp, vùng miền
Một sự tiếp cận biện chứng với các vấn đề phát triển lãnh thổ, một bộ phận rất quan trọng của cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện nay, là đặc trưng nổi bật của các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội có liên quan tới cuộc sống hàng ngày của hàng triệu con người
Ở đây cần nhấn mạnh sự cần thiết, trên cơ sở các giải pháp quy hoạch tổng thể, tận dụng tất cả các phương tiện để lập kế hoạch phát triển đồng bộ các vùng, các hệ thống điểm dân cư trong cả nước nhằm khai thác mọi tiềm năng phát triển
Việc xác định nhiệm vụ này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm hệ thống của quá trình tái sản xuất xã hội trong những điều kiện của nền kinh tế thị trường Nó bao gồm không những sự phát triển những mối quan hệ hợp lý trên toàn lãnh thổ trong khuôn khổ chính sách cơ cấu nền kinh tế quốc dân mà
cả việc cải thiện điều kiện sống và làm việc cũng như việc tổ chức thực hiện chiến lược tái sản xuất sức lao động của con người
Trong cách suy nghĩ tổng hợp này cho thấy tầm quan trọng của tính kinh tế trong các nhiệm vụ tổ chức không gian Lý thuyết về sự thống nhất
Trang 32giữa thời gian và không gian được thể hiện rất cụ thể trong sự tổng hợp tính kinh tế của thời gian và không gian trong kiến trúc và quy hoạch đô thị
Sự phát triển các vật liệu xây dựng và giải pháp kết cấu mới, hiện đại,
sự phát triển các phương pháp xây dựng theo lối công nghiệp cũng như việc
áp dụng các phương pháp thiết kế mới nhằm tiết kiệm lao động trên cơ sở những nguyên tắc thống nhất hóa và áp dụng kỹ thuật máy tính cũng như những tiến bộ kỹ thuật khác đã giúp nâng cao năng suất lao động không những trong quá trình nghiên cứu thiết kế mà cả trong quá trình chuẩn bị và sản xuất xây dựng
Tất nhiên đây chưa phải là tất cả những ảnh hưởng và tác động của kiến trúc sư đối với việc nâng cao năng suất lao động xã hội Kinh nghiệm phát triển cho thấy những thành tựu sáng tạo của kiến trúc sư trong công tác xây dựng quy hoạch cũng như việc tổ chức môi trường ở, lao động và sinh hoạt công cộng (văn hóa, giáo dục – đào tạo, y tế, nghỉ ngơi…) sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao năng suất lao động xã hội, nếu biết lấy phục vụ con người làm mục tiêu hàng đầu của mọi giải pháp
Tính nhân văn trong kiến trúc là một trong những mục tiêu cơ bản của phát triển kiến trúc và đồng thời cũng là một trong những biểu hiện đặc biệt của bản sắc dân tộc trong kiến trúc.[10]
1.3.2 ác biểu hiện của tính nhân văn trong kiến trúc
Ngày nay, khi cuộc sống đô thi này một ngột ngạt, thiên nhiên thường được chọn đưa vào các không gian sống, mặt bằng chung của các thiết kế thường lấy mảng xanh là điểm nhấn, đưa bản ngã của mội con người quay về với sự khởi nguồn – đó là thiên nhiên Tuy nhiên phiên bản xanh của thiên nhiên này liệu đã đủ để giúp người sử dụng tận hưởng cuộc sống?Theo các kiến trúc sư, để có được một không gian sống hoàn hảo là điều khó nói, bởi
Trang 33mỗi giai thời là một phong cách kiến trúc phù hợp với đặc điểm xã hội đó.Nếu những năm trước, kiến trúc đi từ cổ điển đến tinh giản hình khối, thì những năm trở lại đây lại là trào lưu kiến trúc xanh.Nhưng dù trong trào lưu kiến trúc nào thì mục đích của công trình cũng là phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của người sử dụng, họ chính là sự kết nối giữa người kiến trúc sư và công trình Những nhà thiết kế nội thất và kiến trúc sư dù theo đuổi trào lưu nào cũng cần tính toán kỹ lưỡng yếu tố nhân trắc học, xã hội học và cá tính của người sử dụng Vì vậy, con người luôn là yếu tố trên hết, con người quyết định kiến trúc với những nhu cầu về mặt vật chất, tình cảm và tinh thần khác nhau.[11]
Giống như khắp mọi nơi, văn hóa và kiến trúc nằm trong một thể thống nhất, ít ra là về cơ bản Không một hoạt động văn hóa nào của con người lại
có thể diễn ra bên ngoài không gian sản xuất và không gian cư trú của người sản xuất văn hóa, những nơi chốn đó có thể gọi là cơ cấu hạ tầng của văn hóa Hoạt động kiến trúc từ tạo ra ý tưởng, thiết kế đến xây dựng và sử dụng chính
là nhằm tạo ra cấu trúc này.Ngược lại cũng đúng, không một hoạt động kiến trúc nào có thể tách khỏi môi trường văn hóa của nó.Trong mọi trường hợp, văn hóa hay môi trường văn hóa chính là cái nền của hoạt động kiến trúc.Như vậy, “kiến trúc vừa là yếu tố cấu thành môi trường văn hóa, như một bộ phận hợp thành của văn hóa, vừa là sản phẩm của văn hóa
ước sang thế kỷ XXI, kiến trúc xác định lại sứ mạng xã hội, đã quay lại với nguồn gốc con người của kiến trúc hủ nghĩa nhân văn mới đã hiện hữu như một chiến lược nhận thức chung của loài người, của giới kiến trúc để ứng phó với cái bấp bênh, của tiêu dùng quá độ và hủy diệt văn hóa
Trong kiến trúc dường như đã rõ, chủ nghĩa công năng đã mang đến sự hứa hẹn về cuộc cách mạng môi trường sống, sự lập lại trật tự đô thị và ổn
Trang 34định, sự rõ ràng trong tổ chức cuộc sống Nhưng nó không thực hiện được ý định tốt đẹp đó Trong “Luận cương về kiến trúc” nổi tiếng của mình, Le orbusier đã viết “Kiến trúc hay là cách mạng” và ông đã đưa ra ý tưởng thiết
kế thành phố vườn với các đường phố rộng và thẳng, các khối nhà 200m chìm trong cây xanh có thiết kế bên trong thật rõ ràng, hợp lý, đưa sinh hoạt đường phố vào những tòa nhà đó Nhưng thật khủng khiếp khi nhìn vào thực tế hiện nay, khi tất cả những điều đó đươc thể nghiệm vào thực tế Những complex nhà ở khổng lồ, cùng khuôn mẫu với những ngôi nhà dài 200m có mặt ở mọi nới trên thế giới với thẩm mỹ của phong cách quốc tế và ở khắp những nơi
đó, con người đều gặp khó khăn như nhau trong việc định hướng và sinh sống, bởi kiến trúc chỉ thuận tiện với giao thông cơ giới húng xa lạ với hầu hết lối sống bản địa mặc dù chúng to lớn trật tự hơn, nhưng đánh mất sự giao tiếp, việc làm tại chỗ mà các con phố cũ đã tạo ra rất tốt
Thực tế chỉ ra rằng không một đô thị mới nào lại tạo ra một môi trường sống có thể so sánh với môi trường của các thành phố cũ, được hình thành từ
từ qua nhiều thế kỷ Sự đánh mất văn hóa, tinh thần và nhân bản trong những thành phố suốt thế kỷ XX đã tạo ra môi trường sống với những khuyết tật bẩm sinh – xa lạ với bản chất con người, sự hãnh diện, tiêu thụ năng lượng thái quá, ô nhiễm, tỷ lệ tội phạm cao, nhiều người nghèo ở đô thị hơn Và không phải ngẫu nhiên mà đây đó người ta bắt đầu phá hủy các block nhà ở được xây dựng để lấy mặt bằng cho các ngôi nhà mới thấp tầng có thiên nhiên bao quanh, hoặc xây dựng những ngôi nhà sinh thái cao tầng Kiến trúc đang tìm cách trở về cội nguồn văn hóa và con người.[9]
1.4 Giới thiệu về kiến trúc sư Alejandro Aravena
1.4.1 Tiểu sử kiến trúc sư lejandro ravena [15]
Trang 35lejandro ravena (tên đầy
đủ là lejandro Gaston ravena Mori)
Ông sinh ngày 22 tháng 6 năm
1967 tại Santiago, hile
Năm 1992, ông tốt nghiệp ại học ông giáo hile
Năm 1994, ông thành lập văn phòng Kiến trúc sư Alejandro Aravena
Ông là giáo sư thỉnh giảng tại trường ại học Thiết kế Harvard
từ năm 2000 đến năm 2005 và là giáo sư ự án Elemental – opec của trường ại học atolia của hile
Ông là thành viên của an giám khảo giải thưởng Pritzker từ năm 1999 đến năm 2015
Năm 2006, ravena trở thành Giám đốc điều hành của Elemental, một công ty hoạt động vì lợi ích xã hội, cộng đồng với mục tiêu giảm bớt sự thiếu thốn, mất cân bằng ên cạnh việc xây dựng các cơ sở công cộng và nhà ở công cộng, Elemental cũng phát triển các cách tiếp cận mới để sắp xếp lại các nguồn lực và tiềm năng của các thành phố bằng các dự án dành cho cơ sở hạ tầng và giao thông
Elemental đã xây dựng nhiều công trình ở hile, Hoa Kỳ, Mexico, Trung Quốc và Thụy Sĩ Sau trận động đất sóng thần xảy ra ở hile vào năm
2010, Elemental được kêu gọi để tái thiết lại thành phố onstiucion sau thảm
Hình 1.2 Chân dung kiến trúc sư
Alejandro Aravena
Trang 36họa ác đối tác của ravena trong Elemental là Gozalo rteaga, Juan erda, Victor Oddo và Diego Torres
Năm 2010, ông là thành viên quốc tế của Hiệp hội Kiến trúc sư Hoàng gia nh và được tạp chí Monocle bình chọn là một trong 20 người anh hùng mới của thế giới
Ông là thành viên Hội đồng chương trình thành phố của trường Kinh tế London từ năm 2011, thành viên an cố vấn khu vực Mỹ Latin của Trung tâm nghiên cứu avid Rockefeller, thành viên Hội đồng quản trị của Quỹ Holcim Thụy Sĩ từ năm 2013
Vào tháng 7 năm 2015, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Khối kiến trúc của Venice iennale, với trách nhiệm tổ chức Triển lãm Kiến trúc Quốc
tế lần thứ 15 tại Venice vào năm 2016
Ngoài ra ông còn là thành viên sáng lập của Hiệp hội hính sách công hile và là lãnh đạo của Phòng thực hành thiết kế Helsinki cho SITR - quỹ đổi mới của chính phủ Phần Lan
Ông là một trong 100 nhân vật có đóng góp quan trọng cho Hội nghị thượng đỉnh Rio+20 năm 2012 diễn ra tại Rio de Janeiro ( razil)
1.4.2 Các giải thưởng lejandro ravena đã đạt được
ên cạnh những hoạt động cống hiến dày đặc của mình, lejandro ravena còn là chủ nhân của nhiều giải thưởng uy tín
ravena giành được Huân chương Kiến trúc của Tổ chức Erich Schelling năm 2006 và giải thưởng Sư tử ạc dành cho kiến trúc sư trẻ triển vọng tại iennale lần thứ 9 ở Venice năm 2008
Ông góp mặt trong vòng chung kết giải Mies van der Rohe năm 2000 oạt giải Ilakhov hernikhov năm 2008, cùng năm ông nhận được giải
Trang 37thưởng Toàn cầu về Kiến trúc bền vững và được tạp chí “Icon” của nh bình chọn là một trong 20 kiến trúc sư trẻ xuất sắc nhất
Ông nhận giải thưởng vonni và giải thưởng kiến trúc Marcus vào năm 2009.Giải thưởng thiết kế rit Insurance cho hạng mục kiến trúc năm 2010
Ông là người chiến thắng ở giải thưởng Index năm 2011 với dự án
“Nhà ở xã hội Quinta Monroy”
Ông nhận được giải bạc của giải thưởng Holcim năm 2011 khu vực châu Mỹ Latin cho các dự án xây dựng bền vững với dự án “Xây dựng quy hoạch bền vững sau thảm họa sóng thần, onstiucion, hile”.[15]
Giải thưởng Pritzker, 2016
Giải Pritzker là ý tưởng được Jay Pritzker tài trợ thông qua tổ chức Hyatt Foundation và có ảnh hưởng lớn trong giới kiến trúc Mỹ, sau đó lan rộng ra toàn thế giới (Xem phụ lục)
Năm 2016, ông được trao giải thưởng Pritzker – giải thưởng danh giá dành cho các kiến trúc sư và được công nhận trên toàn thế giới Từ năm 1979 đến nay, trong gần 40 năm hoạt động, Pritzker đã trở thành giải thưởng danh giá nhất đối với các kiến trúc sư, được coi là “giải Nobel dành cho lĩnh vực kiến trúc”
Tiêu chí để đánh giá các kiến trúc sư không đơn thuần chỉ là tài năng và
sự sáng tạo được thể hiện thông qua những công trình thực tế mà còn bao gồm cả những cống hiến đối với xã hội cũng như phát triển môi trường nghệ thuật của ngành kiến trúc
Trang 38cả thế giới biết đến bởi những
giá trị văn hóa tinh thần vô giá,
ravena nhận giải thưởng này vào năm 2016, thời điểm mà kiến trúc thế giới tôn vinh các giá trị nhân bản và tư tưởng kiến trúc gắn với trách nhiệm xã hội
Giải thưởng Gothenburg vì Phát triển bền vững, 2017
ây là giải thưởng quốc tế trao cho các cá nhân hoặc tập thể có thành tựu xuất sắc vì một tương lại phát triển bền vững Thường được trao cho các nhà hoạt động môi trường, các nhà hoạt động chính trị, các nhà khoa học hay
Hình 1.3 Alejandro Aravena nhận giải thưởng Pritzker năm 2016
Trang 39các kỹ sư, lần đầu tiên kể từ năm 2005, Giải thưởng được vinh dự trao cho một kiến trúc sư
Hội đồng giám khảo đã ca ngợi kiến trúc sư lejandro ravena: “Kiến trúc sư người hile cùng với các cộng sự dám nghĩ dám làm của mình đã áp dựng một triết lý thiết kế mà trong đó coi người sử dụng công trình là một phần của giải pháp thay vì là một phần của vấn đề, tạo cầu nối giữa người dân với nhà nước và nhà đầu tư ả ba khía cạnh của sự bền vững: Xã hội, Môi trường và Kinh tế đều được cân bằng trong một quy trình hoàn toàn dân chủ”
Và câu trả lời cho những thách thức phức tạp nhất đôi khi lại là những giải pháp đơn giản nhất.[18]
1.5 Giới thiệu các tác phẩm của kiến trúc sư Alejandro Aravena
1.5.1 Giới thiệu các tác phẩm kiến trúc
ược ca ngợi trong việc hồi sinh vai trò của kiến trúc sư đối với xã hội, lejandro ravena đã chứng tỏ khả năng kiến trúc có thể giải quyết những vấn đề cấp bách toàn cầu thông qua các công trình kiến trúc đa dạng của mình ác công trình của ông hội tụ những yếu tố như bình dân, dễ thích ứng với tác động của thiên tai, tiết kiệm năng lượng và ưu tiên không gian công cộng
Bảng 1.1 Các tác phẩm kiến trúc của kiến trúc sư Alejandro Aravena
STT Tên công trình ịa điểm Thời
1999
Trang 4002 Trường
Montessori
Santiago, Chile
2004
05 Nhà bên hồ
Pirihueico
Panguippulli, Chile
2010
09 Nhà ở xã hội
Villa Verde
Constitucion, Chile
2010