1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quản lý không gian kiến trúc cảnh quan di tích lịch sử văn hóa tại làng bình đà xã bình mình huyện thanh oai (luận văn thạc sĩ)

100 120 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 6,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI NGUYỄN DUY QUÂN QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI LÀNG BÌNH ĐÀ XÃ BÌNH MINH, HUYỆN THANH OAI, TP... BỘ GIÁO DỤC VÀ Đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI

NGUYỄN DUY QUÂN

QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI LÀNG BÌNH ĐÀ

XÃ BÌNH MINH, HUYỆN THANH OAI, TP HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH

Hà Nội - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ XÂY DỰNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI

NGUYỄN DUY QUÂN KHÓA: 2017-2019

QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI LÀNG BÌNH ĐÀ

XÃ BÌNH MINH, HUYỆN THANH OAI, TP HÀ NỘI

Chuyên ngành : Quản lý đô thị và công trình

Mã số : 60.58.01.06

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.KTS LÊ QUÂN

Hà Nội - 2019

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI

TP HÀ NỘI

Chuyên ngành : Quản lý đô thị & công trình

Mã số: 60.58.01.06

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ & CÔNG TRÌNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS KTS LÊ QUÂN

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

PGS.TS ĐỖ TÚ LAN

Hà Nội - 2019

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sỹ là kết quả đánh giá lại những kiến thức trong quá trình học tập, và nghiên cứu, tổng kết trong quá trình học Thạc sỹ cũng như là thành quả cuối cùng thể hiện những nỗ lực và cố gắng của học viên cao học trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Để có được tới ngày hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến toàn thể quý thầy cô giáo Khoa Đào tạo Sau đại học, Khoa Quản lý đô thị và công trình đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS.KTS Lê Quân Người thầy đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn để tôi có thể hoàn thành luận văn đúng thời gian quy định Những đóng góp, ý kiến của thầy là rất quan trọng góp phần hoàn thành cho luận văn

Xin gửi lời cám ơn chân thành đến bạn tập thể lớp CH17QL2 đã luôn động viên, giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bài luận văn

Do khối lượng kiến thức nghiên cứu thực hiện tương đối lớn, thời gian chuyển bị thực hiện và sự hiểu biết cá nhân hữu hạn nên đề tài không tránh khỏi những sai sót Rất mong được những nhận xét và đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè

Sau cùng, em xin kính chúc thầy cô có nhiều sức khỏe để tiếp tục sự nghiệp giáo dục thế hệ mai sau

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Duy Quân

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được tìm hiểu rõ ràng, kết quả nêu trong bài luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Duy Quân

Trang 6

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng biểu

Danh mục các hình minh họa

MỞ ĐẦU 1

* Lý do lựa chọn đề tài 1

* Mục tiêu nghiên cứu: 3

* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4

* Phương pháp nghiên cứu: 4

* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 5

* Các khái niệm, thuật ngữ: 6

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG I : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, TẠI LÀNG BÌNH ĐÀ XÃ BÌNH MINH, HUYỆN THANH OAI 9

1.1 Khái quát chung về hệ thống các di tích của làng Bình Đà: 9

1.1.1 Vị trí địa lý, các di tích lịch sử làng Bình Đà: 9

1.1.2 Các di tích cấp quốc gia được xếp hạng tại Làng Bình Đà 13

1.2 Thực trạng không gian kiến trúc, cảnh quan các di tích lịch sử văn hóa, tại Làng Bình Đà xã Bình Minh 22

1.2.1 Thực trạng chung của các di tích văn hóa lịch sử của Làng Bình Đà: 22 1.3.2 Bộ máy và phương thức quản lý: 31

1.4 Các công trình nghiên cứu về quản lý không gian kiến trúc cảnh quan, các khu di tích lịch sử văn hóa 32

1.5 Quản lý không gian kiến trúc cảnh quan các khu di tích lịch sử văn hóa trong khu vực và trên thế giới 33

1.6 Những vấn đề tồn tại cần giải quyết trong công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan khu di tích lịch sử văn hóa 35

Trang 7

CHƯƠNG II: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, TẠI

LÀNG BÌNH ĐÀ 37

2.1 Cơ sở pháp lý: 37

2.1.1 Các Hiến chương và Công ước quốc tế: 37

2.1.2 Các văn bản pháp quy liên quan: 40

2.2 Cơ sở lý thuyết: 42

2.3 Cơ sở thực tiễn: 44

2.4 Những yếu tố ảnh hưởng tác động tới quản lý không gian kiến trúc cảnh quan di tích lịch sử văn hóa, tại Làng Bình Đà xã Bình Minh 44

2.4.1 Điều kiện tự nhiên 44

2.4.2.Điều kiện kinh tế và văn hóa xã hội: 47

2.5 Bài học kinh nghiệm về quản lý không gian kiến trúc cảnh quan 48

2.5.1 Kinh nghiệm trong nước: 48

2.5.2 Kinh nghiệm nước ngoài 50

2.5.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 54

2.6 Định hướng bảo tồn và phát triển văn hóa các di tích 55

CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CHO CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA,TẠI LÀNG BÌNH ĐÀ XÃ BÌNH MINH 56

3.1 Quan điểm và nguyên tắc quản lý 56

3.1.1 Quan điểm: 56

3.1.2 Nguyên tắc: 56

3.2 Giải pháp quản lý không gian kiến trúc các di tích theo quy hoạch 58 3.2.1 Xác định danh giới quản lý không gian kiến trúc cho hệ thống di tích 67 3.2.2 Giải pháp hoàn thiện về chính sách quản lý 70

3.2.3 Giải pháp tổ chức bộ máy quản lý 72

3.3 Phương thức quản lý không gian kiến trúc cảnh quan có sự tham gia đóng góp của cộng đồng 76

3.3.1 Nâng cao nhận thức của công đồng dân cư trong công tác quản lýkhông gian kiến trúc cảnh quan các khu di tích lịch sử văn hóa tại địa phương 76

3.3.2 Cách thức tham gia 78

3.3.3 Phương thức tham gia 79

Trang 8

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 81 KẾT LUẬN 81 KIẾN NGHỊ 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KDTVH Khu Di tích văn hóa

BQLDT Ban quản lý di tích

UBND Ủy ban nhân dân

QHDTVH Quy hoạch di tích văn hóa

KG,KTCQ Không gian kiến trúc cảnh quan

Bộ VHTT &

DL

Bộ văn hóa thông tin và du lịch

QH12 Quốc Hội khóa 12

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU SƠ ĐỒ MINH HỌA

Sơ đồ 1.1 Bộ máy tổ chức quản lý khu di tích 2 Đền 31

Sơ đồ2.2 Bộ máy các ban ngành trong quản lý các di

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH MINH HỌA

Hình 1.1 Bản đồ thể hiện vị trí các di tích tại Làng Bình

Đà được trích từ xã.

12

Hình1.2 Ảnh đền nội Bình Đà được sưu tầm năm 1990. 14

Hình1.3 Ảnh Đền Nội Bình Đà được chụp gần đây 15

Trang 12

Hình1.14 Mặt bằng thực trạng tu bổ tôn tạo tại di tích Đền

Trang 13

MỞ ĐẦU

* Lý do lựa chọn đề tài

Không gian kiến trúc cảnh quan là một phần không thể thiếu trong quy hoạch kiến trúc và phát triển đô thị, nhất là trong bối cảnh thực tại hiện nay đô thị hóa đang được thúc đẩy phát triển mạnh diễn ra ở khắp mọi nơi, trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, quyết định trực tiếp đến sự hình thành chiến lược nâu dài qua từng thời kỳ, góp phần làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, chính sách của Nhà nước

Công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan nói chung và di tích lịch sử văn hóa nói riêng Trong giai đoạn thực hiện đổi mới hiện nay các công trình di tích lịch sử văn hóa có một vị trí, ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý phát triển và bảo tồn các giá trị của Nhà nước, đồng thời góp phần duy trì, lưu giữ các di tích có giá trị lịch sử cao mà hiệu quả của nó đem lại những giá trị về vật chất và tinh thần không hề nhỏ cho xã hội ngày nay Quản

lý không gian khu di tích lịch sử văn hóa và môi trường sống xung quanh là một hoạt động quản lý đặc thù, phức tạp luôn có những biến động, nhất là trong bối cảnh điều kiện môi trường pháp lý, các cơ chế chính sách quản lý của nhà nước chưa được hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và luôn biến đổi như ở nước ta hiện nay

Làng Bình Đà xã Bình Minh là một trong những nơi có truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời, bao gồm có 13 di tích lịch sử với một hệ thống đình, đền chùa với rất nhiều các di tích lịch sử có liên đại hàng trăm năm Trong đó phải kể tới 4 di tích đã được xếp hạng công nhận di tích quốc gia, các hệ thống đền chùa, miếu mạo vẫn còn gìn giữ được cho đến tận ngày nay Làng Bình Đà thuộc xã Bình Minh, huyện Thanh Oai nằm trên trục đường có tuyến quốc lộ 21B chạy qua Trong thời kì phát triển kinh tế thị trường như hiện nay

đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm của thời gian, nét đẹp văn hóa của cây đa

Trang 14

giếng nước mái đình vẫn còn hiện hữu quanh chúng ta, không những mang đậm nét dấu ấn cổ kính của di tích mà nó còn đi vào lịch sử của thơ ca và được lưu giữ cho đến ngày nay

Trên thực tế để quản lý được tốt kiến trúc các không gian bao quanh khu

di tích, ta cần phải có giải pháp quản lý nhằm đảm bảo các yếu tố không gian kiến trúc, cây xanh, mặt nước, môi trường cảnh quan Không chỉ ở bên trong

và bên ngoài khu di tích, mà cả các khu vực liền kề bao quanh khu di tích đều cần được bảo vệ quản lý, để phù hợp với cảnh quan truyền thống không làm phá vỡ đi những giá trị lịch sử của làng, của một di tích lịch sử văn hóa Thông qua đó góp phần bảo tồn các giá trị đặc trưng, hay những dấu ấn lịch

sử văn hóa của di tích đã để lại

Xoay quanh vấn đề quản lý kiến trúc cảnh quan và không gian sống, luôn là một vấn nạn nhức nhối của các nhà quản lý hiện nay Mật độ dân cư đông, quá trình đô thị hóa diễn ra quá nhanh đã làm mất đi môi trường sống

tự nhiên vốn có của nó Cơ chế quản lý còn nhiều yếu kém hạn chế, công tác

tổ chức nhân sự quản lý còn nhiều bất cập Nên công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan, văn hóa xã hội và đời sống môi trường xung quanh khu

di tích còn gặp nhiều khó khăn, bất cập và hạn chế, là ý thức của cộng đồng tham gia trong công tác bảo vệ, chấp hành theo quy định đề ra còn chưa được chú trọng và nâng cao Bên cạnh đó một số không gian công cộng, của di tích còn bị xây dựng xâm lấn, xây dựng phát triển ồ ạt không theo quy hoạch, quy định được đề ra trên địa bàn, đã làm mất đi kiến trúc cảnh quan chung Bên cạnh đó một số công trình di tích văn hóa, đã bị xuống cấp vì đã trải qua quãng một thời gian dài sử dụng, tuy nhiên việc duy tu bảo dưỡng vẫn chưa được chú trọng, phân định rõ trách nhiệm thuộc về ai, sự đùn đẩy giữa các ban ngành trong tổ chức quản lý trực thuộc phân công vẫn chưa rõ ràng về nghĩa vụ và quyền hạn của ai

Trang 15

Nhận thức rõ tâm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa, và bảo vệ

sử dụng di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh du lịch Ngày 29/6/2001Quốc hội đã ban hành, luật di sản văn hóa số 28/2001/QH/10 và được sửa đổi bổ sung theo luật số 32/2009/QH12.Luật di sản ra đời với mục tiêu nhận dạng phân loại, phân cấp quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích, đặc biệt là nhằm lưu giữ lại các hiện vật, bảo vật những dấu tích lịch sử mà nó hàm chứa

Do vậy công tác quản lý để sử dụng không gian kiến trúc cảnh quan trong pham vi làng xã, và khu di tích lịch sử văn hóa trong khu vực đã trở thành một vấn đề hết sức nóng bỏng và cấp thiết hiện nay, đối với chính quyền xã và các cấp ban ngành địa phương của huyện, cũng như các di tích văn hóa trên cả nước

Từ những bài học thực tiễn trên, học viên đã nghiên cứu lựa chọn đề

tài: “Quản lý không gian kiến trúc cảnh quan di tích lịch sử văn hóa tại

Làng Bình Đà xã Bình Mình huyện Thanh Oai” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp của mình Mong muốn qua đây nhằm góp phần hoàn thiện hơn, công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan khu di tích lịch sử văn hóa của Làng Bình Đà cho khu vực xã Bình Minh, Huyện Thanh Oai nói riêng và trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung

* Mục tiêu nghiên cứu:

- Tìm ra các mặt hạn chế trong quản lý không gian kiến trúc cảnh quan các di tích lịch sử văn hóa tại Làng Bình Đà xã Bình Minh

- Đề xuất một số giải pháp có hiệu quả, nhằm hoàn thiện công tác quản

lý và gìn giữ các khu di tích lịch sử văn hóa ,để góp phần giáo dục lưu truyền những nét đẹp tâm linh mang giá trị truyền thống riêng biệt của địa phương, đóng góp một phần tất yếu vào công cuộc xây dựng văn hóa Làng xã quê

Trang 16

hương, là điểm đến thu hút du lịch, giao thương buôn bán trong khu vực, cũng như cộng xã hội trong và ngoài khu vực huyện Thanh Oai

- Nhằm nâng cao công tác quản lý có hiệu quả hơn trong việc bảo vệ di tích, góp phần xây dựng Làng Bình Đà xã Bình Minh, huyện Thanh Oai ngày một văn minh, giầu đẹp và hiện đại hơn

* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu:

Quản lý không gian kiến trúc cảnh quan di tích lịch sử văn hóa tại Làng Bình Đà xã Bình Minh, huyện Thanh Oai

- Phạm vi nghiên cứu:

Các cơ sở quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan các di tích lịch sử văn hóa, được xếp hạng tại Làng Bình Đà xã Bình Minh trên địa bàn huyện Thanh Oai,TP Hà Nội

- Thời gian thực hiện đề tài: từ 2018 đến năm 2021

* Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp khảo sát thực tiễn, thu thập số liệu: Thu thập tài liệu có liên quan tổng hợp thống kê, tương tác để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, thiết lập hình ảnh làm căn cứ dẫn chứng xem xét đánh giá và phân tích sự việc,hiện tượng các di tích trên địa bàn Làng Bình Đà xã Bình Minh

- Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp và phân tích để đưa ra các phương hướng giải quyết phù hợp: Với mục tiêu nhận thức tầm quan trọng của di tích, đơn giản hóa các vấn đề trong quản lý, tổng hợp các phương pháp

đã có trên thực tiễn và phân tích đánh giá tối ưu hiện thực hóa các biên pháp

để định lượng đối tượng và xử lý thông tin cho các phạm trù nghiên cứu

- Phương pháp kế thừa và phát huy các giá trị là kết quả của các đề tài đã nghiên cứu trước kia và các dự án quan trọng khác có liên quan: Thông qua các bài viết,bài báo dựa trên các căn cứ luận điểm thực tiễn của quá trình

Trang 17

nghiên cứu, nhằm phát triển các phương pháp kế thừa để đánh giá các giá trị của di tích văn hóa

- Phương pháp chuyên gia, lấy ý kiến phân tích của các chuyên gia, các nhà khoa học để làm luận chứng: Tổng hợp các ý kiến thông tin của chuyên gia, làm luận điểm để tham khảo bổ sung đánh giá, duy trì bảo tồn các di sản, đặc biệt là với mục đích nâng cao công tác quản lý kiến trúc cảnh quan khu di tích lịch sử văn hóa Làng Bình Đà xã Bình Minh

- Phương pháp xã hội học kêu gọi sự tham gia đóng góp của cộng đồng: Đối với các di tích cấp quốc gia luôn cần có sự tham gia đóng góp ý kiến của cộng đồng, trong công tác bảo tồn đề cao các giá trị lịch sử văn hóa để tuyên truyền giáo dục ý thức xây dựng và bảo vệ di tích của cộng đồng góp phần gìn giữ các giá trị cho thế hệ mai sau

- Phương pháp đối chiếu, so sánh nhằm đưa gia đề xuất những giải pháp thực hiện phù hợp: Là lấy dẫn chứng của các đề tài khoa học, các công trình

đã được nghiên cứu với mục đích đối chiếu và so sánh từ những yếu tố thực tiễn đã được chứng minh bằng các giải pháp, quan điểm hiện thực để đưa gia những giải pháp sao cho phù hợp

* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Ý nghĩa khoa học: Góp phần làm hoàn thiện hơn các lý luận về quản lý

sử dụng các không gian kiến trúc cảnh quan của một khu di tích lịch sử văn hóa đối với môi trường sống của người dân xung quanh khu di tích trên địa bàn xã

- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần trực tiếp vào khắc phục các quy định quản lý liên quan đến việc sử dụng các không gian kiến trúc cảnh quan đã được quy hoạch của một khu di tích lịch sử văn hóa và môi trường sống xung quanh, cùng với trật tự xây dựng trên địa bàn Làng Bình Đà xã Bình Minh và trong khu vực huyện Thanh Oai

Trang 18

* Các khái niệm, thuật ngữ:

1 Di tích lịch sử, văn hóa:

Di tích lịch sử, văn hoá được quy định khái quát và đầy đủ hơn trong Luật

di sản văn hoá Di tích lịch sử văn hoá không chỉ là những công trình xây dựng, địa điểm di tích, mà còn bao gồm các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia của công trình, tại địa điểm, trên bàn vùng miền đó được xác mang những giá trị khoa học lịch sử còn sót lại trong quá khứ

2 Quản lý không gian kiến trúc cảnh quan:

Quản lý không gian kiến trúc cảnh quan là một trong những hoạt động, nhằm duy trì bảo tồn cảnh quan vào công tác quy hoạch, hoạch định các phương hướng phát triển, để các hoạt động đó đạt được mục tiêu phát triển của chính quyền địa phương và quản lý phát triển quy hoạch của huyện

Quản lý không gian kiến trúc cảnh quan là một phương pháp nghiên cứu khoa học tổng thể được xây dựng trên cơ sở của nhiều đề tài chuyền ngành, bao gồm các hệ thống chính sách, cơ chế pháp lý Các biện pháp hoạch định phương thức được chính quyền địa phương hay các cấp sử dụng để quản lý và kiểm soát quá trình xây dựng và phát triển của vùng hay địa phương Theo nghĩa rộng thì quản lý không gian kiến trúc cảnh quan là quản lý trật tự xây dựng của con người và không gian sống (nhà ở,nơi làm việc, đường đi lại,khu vực công cộng chung…) ở trong vùng di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng

3 Không gian di tích :

Không gian di tích là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thể kiến trúc của một di tích có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệ thuật kiến trúc của dân tộc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị đặc biệt về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử Sự hình thành và phát triển, thay đổi của không gian di tích phụ

Trang 19

thuộc vào sự phát triển hình thành đặc điểm của đời sống cộng đồng, vốn không giống nhau giữa các nền văn hóa khác nhau, ở các thời điểm khác nhau không gian di tích” dựa trên định nghĩa phổ biến là cho bất kỳ một không gian di tích cụ thể nào mà người dân có thể đến thực hiện những tín ngưỡng đời sống tâm linh

4 Di sản văn hoá: (quy định tại Luật Di sản văn hoá) Bao gồm các di

sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Việt Nam

Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, nhân văn, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống của dân tộc và những tri thức dân gian có giá trị đặc trưng khác

5 Di tích: Theo từ điển Hán –Việt: Tàn tích, dấu vết, dấu tích còn lại của

quá khứ còn lưu giữ hay để lại có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học;

6.Bảo Tồn: Di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật,

bảo vật quốc gia Là hoạt động nhằm gìn giữ, bảo vệ phòng ngừa và hạn chế những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của một di tích văn hóa - lịch sử, các địa danh, không gian danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Trang 20

* Cấu trúc luận văn:

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, TẠI LÀNG BÌNH ĐÀ

XÃ BÌNH MINH HUYỆN THANH OAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 21

NỘI DUNG CHƯƠNG I : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA, TẠI LÀNG BÌNH ĐÀ XÃ BÌNH

MINH, HUYỆN THANH OAI

1.1 Khái quát chung về hệ thống các di tích của làng Bình Đà:

1.1.1 Vị trí địa lý, các di tích lịch sử làng Bình Đà: [20;21]

Các di tích lịch sử Làng Bình Đà nằm trong ranh giới quản lý hành chính của xã Bình Minh, huyện Thanh Oai được giới hạn như sau (hình 1.1): Làng Bình Đà xã Bình Minh nằm ở khu vực vị trí của giữa huyện Thanh Oai, phía Bắc giáp xã Bích Hòa, phía Tây giáp với xã Cao Viên (ở phía Tây Bắc)

và Thanh Cao (ở phía Tây Nam), phía Nam giáp xã Thanh Mai, phía Đông giáp 2 xã Tam Hưng (ở phía Đông Nam) và Cự Khê (ở phía Đông Bắc) Làng Bình Đà xã Bình Minh trước đây đã từng là một làng nghề truyền thống, nổi tiếng với nghề sản xuất pháo hoa, pháo nổ tiếng vang một thời Nằm ngoài rìa phía Tây của Làng có con đường quốc lộ 21B chạy qua, theo hướng Bắc-Nam, Nối với đường tỉnh Lộ 427 từ xã Bình Minh đi huyện Thường Tín

Bình Đà xưa vốn mang một cái tên khác là Làng Bùi, sang thời kì Tiền

Lê mang danh Chạ Bảo Cựu, cho đến thời nhà Lý lại được đổi là Bảo Đà Địa danh Làng Bình Đà có từ triều vua Minh Mạng thời nhà Nguyễn năm (1820)

có tên gọi của phạm vi hành chính là "nhất làng, nhất xã" Trong sách Đại Nam nhất thống Chí (Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn) có ghi: "Lỵ sở huyện Thanh Oai ở xã Bảo Đà" Cho đến thời kì vua Minh Mệnh năm 1831,

Xã Bảo Đà đã được đổi thành xã Bình Đà, huyện Thanh Oai Ngày nay Làng Bình Đà thuộc xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội Làng Bình Đà hiện nay có 7 thôn, bao gồm: Thôn Đìa, Thôn Dộc, Thôn Chua,

Trang 22

Thôn Quyếch, Thôn Chằm, Thôn Thượng và Thôn Chợ, với tổng diện tích hơn 200ha

Điều đặc biệt ở nơi đây có ngôi Đền Nội Bình Đà thờ Đức Quốc tổ Lạc Long Quân người đã khai sinh ra đất nước Đại Việt Ngôi Đền Ngoại thờ Linh Lang Đại Vương, là hoàng tử nhà Lý con trai của vua Lý Thánh Tông, người đã có công trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm thời đó Lễ hội Bình Đà được mở từ ngày mùng 1đến hết ngày 6/3 âm lịch là một trong những lễ hội cổ truyền có truyền thống nâu đời và thời gian tổ chức dài nhất tại huyện Thanh Oai Lễ hội Làng Bình Đà đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2014

Tại nơi đây còn có cây trôi hơn nghìn năm tuổi là nơi tướng quân Đỗ Cảnh Thạc thủ lĩnh 12 xứ quân, đã lập căn cứ ở vùng Đỗ Động Giang ông đã

có công dẹp loạn, giữa bình yên cho nhân dân trong vùng, dạy cho dân phát triển nông nghiệp và nghề phụ Năm 2015 cây đã được hội đồng cây di sản quốc gia công nhận là cây di sản Việt Nam Hay ngôi đền thờ bà chúa miếu

đệ nhất cung tần triều Lý, cùng nhiều di vật quý hiếm có niên đại cách đây hàng 1000 năm tuổi như: cuốn văn tự để tế trong lễ hội làng Bình Đà, hương

án với đôi câu đối được làm từ thời "Khải Định Kỷ Mùi mùa thu"(năm 1919), chiếc chuông đồng cổ có niên đại từ năm 1007

Ngoài ra còn có nhiều công trình kiến trúc di tích khác như: bia đá cổ, khu Ao sen, giếng ngọc, nhà bia; và một số bảo vật quý như: trống đồng Đông Sơn Hêgơ1, gạch hoa văn xây mộ Quốc Tổ Làng Bình Đà có rất nhiều di tích lịch sử văn hóa với một hệ thống các công trình đình, đền chùa, miếu mạo lâu đời Tại Đền Nội thờ Đức Quốc Tổ có nhiều cổ vật quý như: thần phả, sắc phong, bia ký, chuông đồng, hoành phi, câu đối, đồ tế tự có từ thời

Lý đến Lê Trung Hưng Đặc biệt là bức phù điêu "có một không hai"được làm bằng gỗ vàng tâm, chạm khắc cảnh Quốc tổ Lạc Long Quân cùng văn võ

Trang 23

bá quan, xem hội đua thuyền là di vật có giá trị nghệ thuật độc đáo Năm

2015, bức phù điêu này đã được Thủ Tướng Chính phủ ký quyết định sắc phong công nhận là Bảo vật Quốc gia

Bảng 1.1 Bảng tổng hợp danh mục các di tích LSVH đã được công nhận xếp hạng tại Làng Bình Đà [21]

ĐIỂM

QUYẾT ĐỊNH VÀ NĂM CÔNG NHẬN DI TÍCH

1 Đền Nội (Thờ Đức Quốc Tổ

Lạc Long Quân)

Thôn Quếch,

xã Bình Minh

Ngày16/3/1985 tại quyết định số 23 QĐ/VH Công nhận di tích cấp quốc gia Quyết định số: 2382/QĐ TTg ngày 25/12/2015, Bức phù điêu được Thủ Tướng Chính Phủ Công nhận là Bảo vật Quốc gia

2 Đền Ngoại ( Thờ Đức Linh

Lang Đại Vương ) con Trai

Lý Thái Tông (1028- 1054)

Thôn Chợ, xã Bình Minh

Ngày 21/6/1992 tại Quyết Định số: 43 QĐ/BVH Xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia

3

Đền Thờ Bà Chúa Miễu

Thôn Chằm,

xã Bình Minh

Ngày16/5/2017 tại Quyết Định số 76 QĐ/UBND TP

Hà Nội xếp hạng Di tích lịch sử

4 Cây trôi cổ Thụ lâu đời chưa

xác định được chính xác độ

tuổi

Thôn Chua,

xã Bình Minh

Ngày8/6/2015 Tại QĐ số 86/HĐDS Hội đồng cây

di sản Quốc gia, công nhận cây di sản việt nam

Trang 24

Hình 1.1 Bản đồ thể hiện vị trí các di tích tại Làng Bình Đà được trích từ xã.

Trang 25

1.1.2 Các di tích cấp quốc gia được xếp hạng tại Làng Bình Đà

a Di tích Đền Nội thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân:

Đền Nội Bình Đà nằm thuộc vùng châu thổ sông Hồng thuộc xã Bảo Cựu - Phủ Ứng Thiên - Đỗ Động Giang (nay là làng Bình Đà- xã Bình Minh- huyện Thanh Oai- TP Hà Nội) Ngôi Đền tọa lạc với thế đất Lục long triều hội, Lưỡng phượng giao phi, cửa đền nhìn ra hướng Tây Đền được xây dựng

từ cổ xưa, những dấu ấn để lại chỉ còn được lưu giữa qua những tấm bia thời

Lý, thời Lê Trung Hưng Đến thời Khải Định năm 1918 Trải qua nhiều biến

cố thăng trầm của lịch sử, và nhiều lần trùng tu phục dựng Xưa kia dưới các triều đại phong kiến, dân làng Bình Đà mở hội, vua chúa cử các quan trong triều đình cùng nhiều tổng, xã trong vùng về đây để tổ chức lễ hội và dâng hương tưởng niệm Đức Quốc Tổ Năm 1032, vua Lý Thái Tông hiến sắc suy tôn Lạc Long Quân là Đức Quốc Tổ Trong suốt sáu thế kỉ, đích thân 16 vị vua của các triều đại đều đích thân về Bình Đà để dâng lễ lên Đức Quốc tổ

Đã có 16 hiến sắc suy tôn Lạc Long Quân là "Khai Quốc Thần" (các hiến sắc này đều được lưu giữ tại Đền Nội - Bình Đà và bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Đền Nội Bình Đà đã qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo phục dựng, Năm

1947 phần lớn kiến trúc đã bị phá hủy hoàn toàn, khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp tái xâm lược, chỉ còn lại tòa hậu cung mang niên đại thời Nguyễn (1918) Đến đầu thế kỷ 21, khu đền được đại trùng tu, để tạo thành một quần thể văn hóa cùng với các khu chức năng hoạt động văn hóa, như sân vận động, nghĩa trang liệt sĩ và khuôn viên hồ nước ở phía trước Bố cục mặt bằng kiến trúc theo kiểu "Nội Công ngoại Quốc", gồm các hạng mục công trình chính: Giếng Ngọc, nghi môn, phương đình, tả hữu mạc, đại bái và hậu cung, được xây lại trên nền tảng cũ kiểu chữ “Đinh”, tường gạch bao quanh, hậu cung đặt long ngai Đức thánh Lạc Long Quân, cung đệ nhị đặt đồ thờ (tế tự) tiếp đến là đại đình (đại bái), và cuối là phương đình nơi đặt lễ xung

Trang 26

quanh có nhiều cây cổ thụ Với kinh phí 30 tỷ, việc trùng tu đã gặp rất nhiều khó khăn, do hầu hết các cấu kiện gỗ đã bị mối mọt, gạch ngói thì mục nát

Hình 1.2 Ảnh đền nội Bình Đà được sưu tầm năm 1990 [20]

Công đoạn trùng tu phương đình là tốn khá nhiều công sức, bởi gian này

có 16 cột trụ kích thước lớn, hai người ôm mới xuể Gỗ lim có đường kính lớn làm cột trụ 8 mái cũng như ở các đầu xà, đầu kìm của phương đình chạm khắc hoa văn tinh xảo 30 thợ làm việc trong hơn 6 tháng mới hoàn thành phần tu bổ phương đình

Dự án tu bổ, tôn tạo, phục hồi di tích lịch sử văn hóa Đền nội đã được lập và hoàn thành đúng theo yêu cầu chất lượng cũng như mỹ quan công trình

đã đề ra Song bên cạnh công trình chính là di tích lịch sử Đền Nội còn nhiều yếu tố khác như cảnh quan khu vực xung quanh đền, hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ, sân lễ hội và các hạng mục công trình khác còn chưa được đồng bộ, để đáp ứng được yêu cầu phục vụ Do vậy yêu cầu đặt ra cần phải

Trang 27

chỉnh trang, cải tạo nâng cấp một số công trình phụ trợ thuộc di tích cho phù hợp Trước tiền môn là sân ngoài kề bên ao sen rộng 500m2 Nơi đây sẽ là trung tâm của các hoạt động văn hóa, không chỉ của thành phố mà còn là điểm nhấn thu hút tiềm năng về du lịch của huyện Thanh Oai

Hình1.3 Ảnh Đền Nội Bình Đà được chụp gần đây

Việc chỉnh trang được gấp rút bổ sung căn cứ theo quyết định số 2639/QĐ-UBNDTP về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung nằm trong các danh mục dự án thuộc chương trình mục tiêu chỉnh trang, nâng cấp và tăng cường trật tự đô thị phục vụ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

Tổng điện tích của khu dất lập dự án đầu tư xây dựng, chỉnh trang một

số công trình phụ trợ thuộc quần thể di tích Đền Nội là 2,37ha Do nằm ở khu vực tập chung dân cư sinh sống đông nên mật độ xây dựng khá cao, khoảng trống không gian ở đây còn khá nhiều hạn chế Nên cần thiết phải có giải

Trang 28

pháp để có thể quản lý không gian kiến trúc tại đây, nhằm bảo tồn những giá trị của di tích lịch sử theo quy định

Hình1.4 Bức phù điêu đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia

b Di tích Đền Ngoại thờ Đức Linh Lang Đại Vương:

Ngôi đền ngoại nằm sát quốc lộ 21B và có cửa chính quay ra hướng nam thờ Linh Lang Đại Vương Hoàng tử thứ chín con vua Lý Thái Tông (1028- 1054), người đã có công dẹp giặc quấy phá ở phía nam nước ta, khi đóng doanh trại tại làng Bảo Đà trước đây Người đã có công giúp dân làng khỏi hạn hán xây dựng mở mang bờ cõi, trấn giữ bình yên cho dân làng thời

kì loạn lạc Sau hy sinh được triều nhà Lý truy phong là Linh Lang Đại Vương Được tôn thờ Ngài là đương cảnh Thành Hoàng Làng cho đến bây giờ" Lấy ngày 26/02 là ngày giỗ Thành Hoàng Linh Lang Đại vương Được dân Làng tổ chức mở lễ hội hàng năm kéo dài từ ngày mùng 1 đến hết ngày mùng 6/3 âm lịch

Trang 29

Hình1.5 ảnh đền ngoại hiện nay đã được cải tạo năm 2011

Vào thời Lý - Trần, Đền Ngoại Bình Đà còn nhỏ bé và lộ thiên sau nhiều năm, được dân làng tu bổ và tôn tạo nay đã khang trang và to đẹp hơn Người xưa đã tưởng tượng nơi đây là mảnh đất quý “ Lục Long Chiều Hội” thế đất hai bên như hai con rồng chầu vào đền, trước cửa đền có ao, gò đống nổi lên tự nhiên như có sự sắp đặt thành hình mũ mão, từ ngoài nhìn vào qua

ao và giếng ngọc là hai bên nhà bia Hai bên thành cầu đắp hai con rồng chầu nổi nhìn trông vào sân trong Trên sân trong hai bên có hai nhà Tả, Hữu mạc, chính giữa là tòa phương đình có kiến trúc kiểu truyền thống hai tầng tám mái, với góc đao đắp hoa văn họa tiết hình rồng

Qua tòa phương đền là đến đại bái gồm năm gian nổi lên đồ sộ ở khu vực sân trong đền Vì mục đích tiêu thổ kháng chiến ngôi đền đã bị tàn phá nặng nề, hiện tại các dấu tích các hạng mục vẫn còn nguyên vẹn (các chân tảng đá) Dấu tích cũ nguyên gốc của đền là tòa Hậu cung, gồm hai phần Tiền

tế và Hậu cung Dài 7m, rộng 3,9m được làm bằng gỗ tứ thiết chia làm ba

Trang 30

gian Gian chính giữa treo bức hoành phi bày hương án và đồ tế tự, đáng chú

ý là bộ 20 di vật gồm bát bửu, gương trường vẫn còn nguyên vẹn

Hình1.6 ảnh khuôn viên đền ngoại hiện nay đã được cải tạo năm 2011

Toàn bộ không gian trong khu hậu cung là kiểu cuốn vòm trát vữa vôi, được bố trí khám trang trí chạm khắc tương đối công phu, có các dòng chữ thếp vàng khác hẳn so với các di tích khác

Năm 2011, Đền được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao cho UBND Huyện Thanh Oai chấp thuận cho tu sửa lại Các hạng mục được tu bổ, phục hồi theo quy định Kết cấu khung bê tông chịu lực được thay thế,

Công trình xây mới các hạng mục hàng rào, nhà bia Hệ thống sân vườn cũng được quy hoạch lại

Tuy nhiên, do công tác quản lý ranh giới di tích một thời gian dài không được chú trọng, cho nên khuôn viên còn lại của di tích không còn nhiều Hệ thống sân vườn mặc dù đã được quy hoạch lại, xong kiến trúc cảnh

Trang 31

quan nơi đây không được nghiên cứu kỹ cho nên các yếu tố như cây xanh, hạ tầng kỹ thuật vẫn chưa được đảm bảo tính thẩm mỹ Các vùng bảo vệ của di tích tại đây cũng chưa được xác định rõ ranh giới

Đền ngoại là di tích có giá trị lớn về mặt lịch sử, là một ngôi đền cổ lâu đời, là một trong những địa danh, điểm đến tham quan du lịch, để nghiên cứu lịch sử văn hóa, cho lên việc đề cao bảo vệ di tích và không gian kiến trúc cảnh quan nơi đây là hết sức cấp thiết hiện nay

d Di tích Miếu thờ Bà Chúa Miễu (Thôn Chằm):

Hình1.7 Ảnh di tích miếu thờ bà chúa miễu đã xếp hạng di tích

Di tích lịch sử văn hóa, cách mạng: Tục dân làng gọi là bà chúa Miễu Thờ Bà Phan Thị Ngọc Lịch - đệ nhất cung tần triều Lý là người làngTràng Cát, huyện Thanh Oai Khi về già, bà được vua Trần Thánh Tông cho quyền

tự chọn nơi an dưỡng tuổi già Bà đã bỏ tiền mua hơn 10 mẫu ruộng của làng thuộc thôn Chằm và thôn Chợ hiện nay Tưởng nhớ công đức của Bà đã có

Trang 32

công sức xây dựng phát triển thời đó, dân làng đã lập miếu để quanh năm hương khói thờ phụng tưởng nhớ công ơn của Bà.

Hình1.8 Ảnh cổng vào di tích miếu thờ bà chúa miễu đã xếp hạng.

Một thực trạng chung đang gây khó khăn cho công tác bảo tồn, di tích miếu thờ bà chúa miễu hiện nay là do công tác quản lý ranh giới xây dựng, của những khu vực bảo vệ di tích vẫn còn chưa được phân định rõ ràng dẫn tới việc hình thành sự lấn chiếm diện tích đất của Miếu từ các hộ dân sinh sống xung quanh khu vực Miếu thờ Môi trường cảnh quan nơi đây bị ôi nhiễm đặc biệt nghiêm trọng, từ những ý thức của một số hộ dân sinh sống quanh khu vực làm nghề giết mổ gia súc, gia cầm đổ thải trực tiếp nước bẩn

ôi nhiễm không qua xử lý ra môi trường sông ngòi, ao hồ, rãnh xung quanh khu vực của đền, gây ra cảnh tượng rất mất vệ sinh cho cảnh quan nơi đây, một cách trầm trọng Một thực trạng ảnh hưởng xấu đến cảnh quan di tích ở

Trang 33

đây Là về mặt khái niệm trong công tác quản lý không gian, kiến trúc cảnh quan của di tích hầu như không được đặt ra và quan tâm đến.

d Cây trôi di sản cổ thụ lâu đời hơn 1000 năm tuổi (Thôn Chua): [20]

Đến nay trong Làng Bình Đà chỉ còn duy nhất một cây trôi có dáng rất đẹp, lá vẫn xanh tốt, đứng sừng sững, hiên nganh giữa cánh đồng, nằm bên cạnh dòng sông Đỗ Động Giang Đây là cây Trôi có tán xòe rộng nhất với đường kính khoảng 15m Chu vi gốc cây khoảng 8m và phải 6 người ôm mới hết Ngày 8/6/2015.Hội đồng cây di sản Quốc gia, đã kiểm tra đánh giá và công nhận là cây di sản việt nam

Hình1.9 Ảnh cây trôi, được công nhận cây di sản Việt Nam

Thực trạng là việc bảo tồn và chăm sóc cây di sản vẫn còn chưa được quan tâm Về ranh giới các vùng bảo vệ chưa được lập theo hồ sơ xếp hạng

Do nằm ở khu vực đông ruộng trống trải cho nên mật độ khoảng trống ở đây còn nhiều đủ đảm bảo an cho vung vùng bảo vệ của di tích Tuy nhiên cần

Trang 34

phải có một số giải pháp để quản lý không gian kiến trúc cảnh quan nơi đây

để bảo tồn và gìn giữ các giá trị đã được công nhận và xếp hạng

1.2 Thực trạng không gian kiến trúc, cảnh quan các di tích lịch sử văn hóa, tại Làng Bình Đà xã Bình Minh

1.2.1 Thực trạng chung của các di tích văn hóa lịch sử của Làng Bình Đà:

Công tác bảo tồn trong suốt quá trình dài chỉ tập trung bảo vệ các công trình kiến trúc của các di tích mà chưa để ý đến yếu tố cảnh quanh xung quanh Qua đó quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh trong mấy thập niên gần đây

đã tác động tiêu cực đến hiện trạng của di tích Việc xâm lấn đất công đã làm thu hẹp rất nhiều diện tích ban đầu của các di tích Cảnh quan xung quanh di tích cũng vì thế mà nhanh chóng bị biến đổi theo Khoảng không gian trống, hay mật độ cây xanh, mặt nước cũng bị lấn chiếm mất dần đi, thay thế vào đó

là nhà ở với đủ kiểu loại hình kiến trúc Đa phần kiến trúc cảnh quan của các

di tích hiện nay không còn giữ được hình thái như vẻ ban đầu của di tích

Hình 1.10 khu vực đường vào bị xâm lấn họp chợ

Trang 35

Hình1.11 Mặt bằng thực trạng sử dụng đất xây dựng tại di tích Đền Nội

Các yếu tố cấu thành nên kiến trúc, cảnh quan ở các di tích lịch sử tại làng Bình Đà cũng chưa được chú trọng, và quan tâm quản lý nên phất triển một cách ồ ạt có tính tự phát Các loại cây xanh được trồng có bố cục lộn xộn, thiếu quy luật, sai về chủng loại Diện tích mặt nước bị chiếm hữu còn rất ít, nên cũng chưa được khai thác một cách hiệu quả Công trình kiến trúc các di

Trang 36

tích được tu bổ theo nguồn tiền của nhà nước cơ bản đảm bảo kỹ thuật, còn những công trình tu bổ theo nguồn vốn huy động xã hội hoá thường không có

bố cục Mất đi tính thẩm mỹ, thường không theo một hệ thống nhất định, hạ tầng kỹ thuật cũng chưa được đầu tư một cách đồng bộ có bài bản

Do chưa được nghiên cứu kỹ các nguyên tắc sắp đặt truyền thống nên các giải pháp hiện tại thường có xu hướng công viên hoá di tích Vật liệu xây dựng sử dụng khá tuỳ tiện, đặc biệt là các loại gạch lát nền, mầu sơn và các loại vật liệu phụ khác Mầu sắc chủng loại không đồng nhất làm mất đi vẻ trang nghiêm đặc trưng của di tích

Hình1.12 Ảnh toàn cảnh khu di tích Đền Nội nhìn từ trên cao [20]

Một thực trạng chung ở các di tích, là đang bị xâm lấn một cách từ từ do các yếu tố quản quản lý chưa được chú trọng, không có phương thức quản lý rõ ràng dẫn tới tình trạng diện tích đất bị trưng dụng và sử dụng sai mục đích Cảnh quan kiến trúc bị che lấp bao phủ, bởi các công trình cao tầng đa dạng

Trang 37

a Hệ thống Cây xanh

Hiện nay, tại các di tích được xếp hạng tại Làng Bình Đà xã Bình Minh, hệ thống cây xanh được trồng thiếu sự tiếp nối truyền thống mà thường mang tính tự phát Chủng loại cây chồng ở đây cũng khá tùy tiện, các hang lối không theo một thể thống nhất, không được tuân thủ về mật độ cây chồng, các loại cây thường chồng là cây đa, cây hoa sữ, cây mít, xoài hay cây xanh, cây

xi Ở Đền Nội và Đền Ngoại mặc dù đã được tu bổ lại, nhưng việc lựa chọn các loại câ y trồng ở đây vẫn chưa phù hợp, như phía trước sân lại bố trí các loại cây xanh, cây xoài lớn,cây bàng, cây xấu rất bất hợp lý cho cảnh quan Là các cây có tán rộng, nhiều lá um tùm và cho quả thường không phù hợp với khu di tích

Hình1.13 Ảnh toàn khu đường dạo di tích Đền Nội cũng thành nơi họp chợ

Ở di tích đền thờ Bà chúa Miễu và đền ngoại, hệ thống cây xanh đa dạng với nhiều chủng loại cây, từ bên trong ra đến bên ngoài khuôn viên của đền Tuy nhiên do không được bố trí theo hệ thống dẫn tới mất diện tích khuôn viên và lối đi lại, tạo lên sự lộn xộn của không gian cảnh quan

Trang 38

Nói chung, hệ thống cây xanh tại các di tích được trồng một cách tự phát, không theo quy hoạch quy định chủng loại, tầng bậc Chưa được chú trọng nghiên cứu về mặt bố cục của từng loại cây trồng, mật độ trồng để góp phần tôn tạo các không gian truyền thống của di tích lịch sử văn hóa

Hình1.14 Mặt bằng thực trạng tu bổ tôn tạo tại di tích Đền Ngoại

b Mặt nước sử dụng:

Hệ thống các di tích cấp quốc gia của Làng Bình Đà chỉ bao gồm có hồ,

ao phía trước cửa đền, ngoại trừ khu Miếu thờ Đền Bà Chúa Miễu, là phía trước cửa Đền có dòng kênh N5 chảy qua không lớn lắm, dùng để tiêu thoát nước cho khu vực trong Làng Việc sử dụng cảnh quan mặt nước ở đây không

có gì đáng chú trọng Toàn bộ bờ song cũng như khuôn viên của Đền khá hẹp

về diện tích, và môi trường nước dưới lòng sông thì đã bị ôi nhiễm khá nặng,

Trang 39

dân tới các ao xung quanh cũng bị ôi nhiễm theo Do ý thức bảo vệ môi trường của người dân sinh sống trong khu vực chưa cao, thường xả thải trực tiếp ra môi trường dẫn tới môi trường nước bị ôi nhiễm nặng

c.Công trình kiến trúc:

*Công trình kiến trúc ở khu vực bảo vệ 1

Do thiếu tính thống nhất và không được nghiên cứu kỹ, trong quản lý không gian dẫn đến chất lượng kiến trúc cảnh quan thuộc khu vực bảo vệ 1của một

số đi tích không đồng nhất Trên địa bàn Làng Bình Đà đã có một số công trình mang giá trị lớn về tầm vóc lịch sử và kiến trúc nghệ thuật được tu bổ tôn tạo theo đúng quy định như Đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân, đền thờ Ngoại thờ Đức thánh Linh Lang Nhưng trong đó cũng có những công trình thiếu sự quan tâm giám sát của các ban ngành có chuyên môn Đã dẫn đến không giữ được hình thức kiến trúc và chức năng sử dụng của di tích như Đền

Bà Chúa Miễu, vấn đề sử dụng đường giao thông nội bộ dẫn tới khu vực di tích cây trôi di sản Ở đây có sự sai lệch về bố cục, mặt bằng các chi tiết kết cấu, họa tiết… Các công trình này sau khi tôn tạo không còn giữ được nét

kiến trúc cảnh quan truyền thống vốn có của nó

*Công trình kiến trúc thuộc khu vực bảo vệ 2

Các di tích cấp quốc gia ở Làng Bình Đà xã Bình Minh với những quy

mô còn lại chủ yếu là nhỏ Các công trình kiến trúc thuộc khu vực bảo vệ 2 thường không có tầm quy hoạch hoặc nếu có thì giá trị lịch sử không cao Tuy vậy, Đền Thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân khá đặc biệt khi khu vực bảo vệ 2 tập trung chủ yếu là các hộ dân cư Do thiếu sự quản lý ở đây bắt đầu, xuất hiện tình trạng chia ô bán hàng họp chợ, các hình thức hiện đại hóa đã bắt đầu diễn

ra Thay thế cho các công trình nhà mái ngói, vườn cây là hệ thống nhà ống, nhà cao tầng khép kín, mái bằng, mái tôn mọc lên với mật độ dầy đặc Dân cư nằm trong khu vực bảo vệ 2 của Khu vực Đền Nội chủ yếu sinh sống bằng

Trang 40

làm nông nghiệp và nghề dịch vụ buôn bán chợ…Dẫn tới các công trình ở đây được cơi nới, xây dựng trái phép không theo kiến trúc khuôn mẫu, lợp mái tôn, bạt dứa, dựng cửa hàng dọc đường vào gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến

mỹ quan của khu di tích

d.Cơ sở hạ tầng kỹ thuật:

*Hệ thống sân đường nội bộ:

Đền Nội và Đền Ngoại là hai di tích mới được xây dựng có hệ thống đường nội bộ được thiết kế theo quy hoạch, tôn tạo lại lên khá bài bản Về chủng loại vật liệu dùng để lát sân và đường dạo ở đây là gạch đất nung, thường lát theo chữ Công, mạch dài chạy theo chiều ngang của nhà để hạn chế các mạch dọc đâm thẳng vào mặt trước của đền Nguyên tắc này hầu như

đã bị lãng quên, bỏ qua là điểm chung các di tích Đền hiện nay cũng đang mắc phải Các di tích còn lại là hệ thống sân đường nội bộ còn khấp khểnh, thiếu sự đầu tư đồng bộ theo một thể thống nhất Do đầu tư dàn trải thiếu tập chung nên hiện có rất nhiều vấn đề bất cập, về hạ tầng kỹ thuật Tất cả tạo nên một bức tranh nộn xộn không theo chuẩn mực, của hệ thống sân đường nội bộ

ở các di tích nơi đây

*Hệ thống biển chỉ dẫn:

Đối với các di tích lịch sử không chỉ là nơi thực hiện các tín ngưỡng mà còn là nơi góp phần không nhỏ vào văn hóa du lịch Chính vì vậy hệ thống biển báo, bảng chỉ dẫn là rất cần và quan trọng trong việc giới thiệu, quảng

bá các di tích lịch sử, góp phần phát triển du lịch, duy trì được các hoạt động văn hoá truyền thống, tạo nguồn thu hút đầu tư giúp duy tu, bảo trì di tích Hệ thống biển báo chỉ dẫn của các di tích cấp quốc gia trên địa bàn Làng Bình Đà vừa thiếu tập trung, vừa chưa có quy định cụ thể Do vậy cần có biện pháp để khác phục, các di tích nếu có biển chỉ dẫn thì từ hình dáng cho đến kích thước

cỡ chữ, vật liệu sử dụng mỗi nơi đều không theo một kiểu dáng nhất định, hay

Ngày đăng: 20/07/2019, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm