Tuy nhiên, chất lượng hệ thống thoát nước vẫn còn thấp; công tác quản lý hệ thống thoát nước chưa hiệu quả; quy hoạch, xây dựng chưa chú trọng đến cao độ nền; mạng lưới thoát nước chưa h
Trang 1BÙI DUY NINH
QUẢN LÝ HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC
ĐÔ THỊ NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
Trang 2BÙI DUY NINH
LUẬN VĂN TH SĨ QUẢN LÝ Ô THỊ V ÔN TRÌNH
N ƯỜ HƯỚN ẪN KHOA HỌ :
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS Trần Thị Hường - Người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong Ban Giám hiệu, khoa Sau đại học, khoa Đô thị, khoa Quản lý đô thị trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn tới các Sở ban ngành của tỉnh Ninh Bình và UBND huyện Nho Quan đã cung cấp số liệu và giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như làm luận văn
Trang 4Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
HỌC VIÊN
Bùi Duy Ninh
Trang 5* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
NỘI DUNG
CHƯƠNG I THỰC TR NG QUẢN L H TH NG
1.1 Giới thiệu chung về đô thị Nho Quan tỉnh Ninh ình 5
1.1.4 Khái quát hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Nho
1.2 Hiện trạng hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan 14
Trang 61.2.3 Hiện trạng các công trình phòng chống úng ngập đô thị 17
1.2.4
Tình hình ngập úng đô thị, ô nhiễm môi trường nước và
ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ thống thoát nước đô
1.3 Thực trạng công tác quản lý hệ thống thoát nước đô thị
1.3.1 Thực trạng cơ cầu tổ chức và năng lực quản lý hệ thống
1.3.2 Thực trạng cơ chế chính sách quản lý hệ thống thoát nước
1.3.3 Thực trạng về sự tham gia của cộng đồng trong công tác
quản lý hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan 34
1.4 Đánh giá thực trạng quản lý hệ thống thoát nước đô thị
CHƯƠNG II CƠ SỞ HOA HỌC QUẢN L H TH NG
2.1.1 Nhiệm vụ và phân loại hệ thống thoát nước đô thị 36 2.1.2 Các nguyên tắc trong quản lý hệ thống thoát nước đô thị 36 2.1.3 Các yêu cầu trong quản lý hệ thống thoát nước đô thị 37 2.1.4 Các hình thức tổ chức quản lý hệ thống thoát nước 43
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hệ thống thoát nước đô
2.1.6 Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý hệ thống thoát
2.1.7 Quản lý hệ thống thoát nước đô thị bền vững và ứng phó
Trang 72.2.1 nước cấp Trung ương ban hành 49
2.2.2 Các văn bản quản lý hệ thống thoát nước do cơ quan nhà
2.2.3 Định hướng quy hoạch thoát nước trong Quy hoạch chung
đô thị Nho Quan đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 52
2.3 inh nghiệm trong nước và quốc tế trong lĩnh vực
3.2.1 Quy hoạch lồng ghép ứng phó với tác động của biến đổi
3.2.2 Giải pháp quản lý cao độ nền và cao độ của hệ thống thoát
3.2.3 Giải pháp trong việc xử lý nước thải, giảm thiểu ô nhiễm
3.2.4
Triển khai các dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ
thống thoát nước đô thị và các công trình chống ngập đô
3.2.5 Áp dụng các giải pháp, công nghệ mới trong quản lý hệ
Trang 83.3.2 Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý 80
3.4.1 Đề xuất bổ sung, hoàn thiện các quy định cụ thể trong quản
3.4.2 Chuyển quản lý thoát nước từ quản trị tài sản sang phương
3.4.3 Đề xuất thu phí dịch vụ thoát nước và phí bảo vệ môi
3.4.4 Huy động các nguồn lực, xã hội hóa đầu tư các dự án thoát
3.5 Giải pháp quản lý với sự tham gia của cộng đồng 90 3.51 Xây dựng mô hình cộng đồng ứng phó với biến đổi khí hậu 90
3.5.2 Huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện
Trang 10Số hiệu
bảng biếu
27
Trang 11Số hiệu hình Tên hình Trang
nghẽn do rác thải tại đường ĐT477 đoạn đi qua
Trang 12Hình 2.1
Hình 3.7
Minh họa hoạt động của các tổ tình nguyện, hỗ trợ người dân phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn
83
Trang 13Điều chỉnh Quy hoạch chung đô thị Nho Quan đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 đã được phê duyệt nhằm cụ thể hóa các quy hoạch của vùng, của tỉnh; đảm bảo phù hợp với thực trạng phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn; khắc phục các tồn tại, bất cập của quy hoạch đã được phê duyệt trước đây; mở rộng, phát triển đô thị đáp ứng các tiêu chí đô thị loại IV, hướng đến trở thành thị xã trong tương lai Theo Điều chỉnh quy hoạch, đô thị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình được hình thành bao gồm thị trấn Nho Quan và 07 xã lân cận (Lạc Vân, Phú Sơn, Đồng Phong, Lạng Phong, Văn Phong, Văn Phương, Yên Quang), với diện tích 5.771ha, dân số năm 2017 khoảng 41.338 người Đây là khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn sông Lạng, sông Sui; nằm trong vùng phân lũ, chậm lũ sông Hoàng Long, tỉnh Ninh Bình và là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, đặc biệt là lũ lụt và úng ngập vào mùa mưa
Trong những năm qua, hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình đã và đang được đầu tư xây dựng mới cũng như nâng cấp, cải tạo nhằm
Trang 14mục tiêu thoát nước đảm bảo yêu cầu, giảm bớt các điểm ngập lụt trong mùa mưa lũ cũng như hạn chế nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường từ nguồn nước thải Tuy nhiên, chất lượng hệ thống thoát nước vẫn còn thấp; công tác quản lý hệ thống thoát nước chưa hiệu quả; quy hoạch, xây dựng chưa chú trọng đến cao độ nền; mạng lưới thoát nước chưa hoàn thiện; chưa có trạm xử
lý nước thải dẫn đến nước thải chưa được xử lý thải ra kênh mương, sông hồ vẫn còn nhiều, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân; mất mỹ quan đô thị và giảm sút sự hấp dẫn đầu tư Bên cạnh đó, dưới tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu, đòi hỏi phải có các giải pháp quản
lý hệ thống thoát nước hiệu quả và bền vững
Chính vì vậy, đề tài: “Quả t t t c đô t ị Nho Quan,
tỉnh Ninh Bình” là hết sức cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
* Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình nhằm đảm bảo thoát nước,
chống úng ngập hiệu quả, bền vững
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đ i t ợng nghiên cứu: Công tác quản lý hệ thống thoát nước đô thị
- Phạm vi nghiên cứu: Đô thị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (bao gồm thị
trấn Nho Quan và 07 xã: Đồng Phong, Lạng Phong, Văn Phong, Văn Phương, Yên Quang, Lạc Vân, Phú Sơn của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) theo Quy hoạch đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin;
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa;
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã có
Trang 15* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý ĩa k a ọc: Xây dựng phương pháp luận trong quản lý hệ
thống thoát nước đô thị nhằm đảm bảo thoát nước, chống úng ngập hiệu quả
- Ý ĩa t ực tiễn: Đề tài nghiên cứu tìm ra các giải pháp hiệu quả
trong công tác quản lý hệ thống thoát nước đô thị, nhằm bảo đảm yêu cầu thoát nước, giảm úng ngập và ô nhiễm môi trường cho đô thị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Trên cơ sở đó, các đô thị khác có đặc điểm tương đồng có thể tham khảo, áp dụng
* Các khái niệm (thuật ngữ)
- Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn [12]
- Quản lý hệ thống thoát nước đô thị có nội dung bao quát từ quy hoạch phát triển, kế hoạch hóa việc đầu tư, thiết kế xây dựng đến vận hành, duy tu sửa chữa, cải tạo nâng cấp và theo dõi thu thập số liệu để thống kê đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống thoát nước đô thị [11]
- Hoạt động thoát nước và xử lý nước thải là các hoạt động về quy hoạch, thiết kế, đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống thoát nước [6]
- Dịch vụ thoát nước là các hoạt động về quản lý, vận hành hệ thống thoát nước nhằm đáp ứng yêu cầu thoát nước mưa, nước thải và xử lý nước thải theo các quy định của pháp luật [6]
- Hệ thống thoát nước gồm mạng lưới thoát nước (đường ống, cống, kênh, mương, hồ điều hòa ), các trạm bơm thoát nước, các công trình xử lý nước thải và các công trình phụ trợ khác nhằm mục đích thu gom, chuyển tải, tiêu thoát nước mưa, nước thải, chống ngập và xử lý nước thải [6]
Trang 16- Hệ thống thoát nước mưa bao gồm mạng lưới cống, kênh mương thu gom và chuyển tải, hồ điều hòa, các trạm bơm nước mưa, cửa thu, giếng thu nước mưa, cửa xả và các công trình phụ trợ khác nhằm mục đích thu gom và tiêu thoát nước mưa [6]
- Hệ thống thoát nước thải bao gồm mạng lưới cống, giếng tách dòng, đường ống thu gom và chuyển tải nước thải, trạm bơm nước thải, nhà máy xử
lý nước thải, cửa xả, và các công trình phụ trợ khác nhằm mục đích thu gom, tiêu thoát và xử lý nước thải [6]
- Nguồn tiếp nhận là các nguồn nước chảy thường xuyên hoặc định kỳ như sông suối, kênh rạch, ao hồ, đầm phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất [6]
- Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan [1]
* Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của luận văn gồm
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG I THỰC TRẠNG ẢN Ý H H NG H NƯỚC Đ HỊ NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
1.1 Giới thiệu chung về đô thị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
1.1.1 Vị trí, quy mô
a Vị trí, ranh giới [14]
Nho Quan là huyện miền núi phía Tây Bắc của tỉnh Ninh Bình Phía Bắc giáp các huyện Yên Thủy và Lạc Thủy của tỉnh Hòa Bình; phía Đông giáp các huyện Gia Viễn, Hoa Lư; phía Nam giáp thành phố Tam Điệp; phía Tây giáp huyện Thạch Thành của tỉnh Thanh Hóa
Điều chỉnh Quy hoạch chung đô thị Nho Quan đến năm 2035 tầm nhìn đến năm 2050 đã được UBND tỉnh Ninh Bình phê duyệt năm 2018 nhằm cụ thể hóa các quy hoạch của vùng, của tỉnh; đảm bảo phù hợp với thực trạng phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn; khắc phục các tồn tại, bất cập của quy hoạch đã được phê duyệt trước đây; mở rộng, phát triển đô thị đáp ứng các tiêu chí đô thị loại IV, hướng đến trở thành thị xã trong tương lai
Theo Điều chỉnh quy hoạch chung đô thị Nho quan đến năm 2035 tầm nhìn đến năm 2050, đô thị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình được xác định trên cơ
sở toàn bộ ranh giới hành chính thị trấn Nho Quan và 07 xã Lạc Vân, Phú Sơn, Đồng Phong, Lạng Phong, Văn Phong, Văn Phương, Yên Quang thuộc huyện Nho Quan Cụ thể như sau:
- Phía Bắc giáp xã Thạch Bình (huyện Nho Quan);
- Phía Nam giáp xã Văn Phú và xã Cúc Phương (huyện Nho Quan);
- Phía Đông giáp xã Thượng Hòa và xã Đức Long (huyện Nho Quan);
- Phía Tây giáp huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình
Vị trí, ranh giới đô thị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình được thể hiện ở hình 1.1 và Phụ lục số 01
Trang 18Hình 1.1 Vị trí, ranh gi i quy hoạc đô t ị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình [14]
b Quy mô [5]
- Quy mô đất đai: Khoảng 5.771,23 ha
- Quy mô dân số (năm 2017): Khoảng 41.338 người
Quy mô đất đai và dân số đô thị Nho Quan được giới thiệu bảng 1.1
Bảng 1.1 Di n tích, dân s đô t ị Nho Quan, tỉnh Ninh Bình [5]
TT Tên xã, thị trấn Diện tích (ha) Dân số (người)
Trang 19TT Tên xã, thị trấn Diện tích (ha) Dân số (người)
c Tính chất chức năng theo quy hoạch chung [14]:
- Là đô thị loại IV, tương lai sẽ là thị xã trực thuộc tỉnh;
- Là đô thị sinh thái với chức năng tổng hợp, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội khu vực phía Tây Bắc tỉnh Ninh Bình;
- Là đầu mối giao thông quan trọng phía Tây của tỉnh Ninh Bình
1.1.2 Điều kiện tự nhiên [14]
a Đặc điểm địa hình
Nho Quan nằm trên địa bàn trung chuyển của các hệ thống tự nhiên phía Tây Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với đồng bằng sông Mã qua vùng núi Cúc Phương, là vùng cuối cùng của vùng núi Tây Bắc trong khu đệm Hòa Bình - Thanh Hóa Địa hình nhìn chung không bằng phẳng, được phân thành
+ Vùng đồng chiêm trũng: Nằm giữa vùng đồi núi và các con sông: sông Bôi, sông Hoàng Long, sông Sui, sông Lạng Vùng này có địa hình lòng
Trang 20chảo, độ cao trung bình từ 0,7 - 0,9m so với mực nước biển, vào mùa mưa thường xuyên bị ngập nước Vùng này thuận lợi cho việc canh tác lúa nước và nuôi trồng thủy sản
Ranh giới đô thị Nho Quan chủ yếu thuộc vùng đồng chiêm trũng và một phần thuộc vùng bán sơn địa
60 ngày Tháng lạnh nhất thường là tháng 1 Nhiệt độ thấp nhất có thể xuống đến 5 - 70
C Nhiệt độ cao nhất 370C, nhiệt độ trung bình là 200C
- Độ ẩm: Do chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên huyện Nho Quan có độ ẩm không khí tương đối cao, bình quân độ ẩm của không khí trung bình là 84% - 86% chênh lệch độ ẩm giữa các tháng không nhiều, tháng
có độ ẩm không khí cao nhất là 90% (tháng 2), thấp nhất là 81% (tháng 10)
- Lượng bốc hơi: Trung bình năm từ 850 ÷ 870mm, trong đó mùa hạ chiếm 60% lượng bốc hơi cả năm, tháng 7 có lượng bốc hơi lớn nhất là 105mm, tháng 02 có lượng bốc hơi nhỏ nhất là 45mm
- Chế độ gió: Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, mùa đông hướng gió thịnh hành là hướng Đông Bắc, những tháng giữa và cuối mùa đông gió
có xu hướng lệch dần về hướng Đông Mùa hè hướng gió thịnh hành từ Đông hoặc Đông Nam Vào các tháng 7, 8, 9 thường có bão làm ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt trên địa bàn
- Lượng mưa trung bình cả năm 1.900mm Mưa tập trung chủ yếu vào mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 11, trung bình trên 100mm/tháng Trong mùa
Trang 21mưa, lượng mưa chiếm trên 80% tổng lượng mưa cả năm Tháng 8 - 9 có lượng mưa lớn nhất trong năm (trung bình 300 - 400mm) Vào mùa đông, lượng mưa chiếm khoảng 10 - 20% tổng lượng mưa, chủ yếu là dạng mưa nhỏ, mưa phùn Mưa phùn thường xảy ra vào nửa sau mùa đông và kéo dài nhiều ngày duy trì một tình trạng ẩm ướt thường xuyên
c Chế độ thủy văn
Sông Lạng: bắt nguồn từ Hoà Bình chảy vào Nho Quan (tại xã Thạch Bình) và đổ ra sông Bôi tại xã Đức Long Đây là con sông khá lớn, chảy cắt ngang đô thị Nho Quan và là nguồn cung cấp nước ngọt chủ yếu cho khu vực trung tâm đô thị và các xã lân cận
Đô thị Nho Quan chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của sông Lạng, sông Sui gây lũ lụt hàng năm cho các xã phía Bắc sông Lạng đến cốt cao độ 4,5m Mức lụt cao nhất là +5,55m (tại bến Đế năm 1985) có tần suất 2% Tuy nhiên Khu vực trung tâm đô thị (thị trấn Nho Quan) nằm trong đê Năm Căn nên không bị lũ lụt mà chỉ bị ngập úng cục bộ Đây cũng là khu vực thuộc vùng phân lũ, chậm lũ sông Hoàng Long và đồng bằng sông Hồng
d Tài nguyên khoáng sản
Huyện Nho Quan có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú, trong
đó quan trọng nhất là đá vôi và đá đolomit với trữ lượng lớn, bên cạnh còn có các loại khoáng sản khác nhưng trữ lượng không lớn như than bùn, than đá…
e Tài nguyên du lịch
Nho Quan có tiềm năng du lịch tương đối phong phú, có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, cảnh quan, tâm linh, lễ hội… trong số đó quan trọng nhất là:
- Vườn Quốc gia Cúc Phương;
- Dự án Khu công viên động vật hoang dã quốc gia;
- Dự án Khu du lịch văn hoá tâm linh hồ Yên Quang, hồ Đồng Chương;
Trang 22- Dự án Khu du lịch Kênh Gà - Vân Trình, kết nối với quần thể danh thắng Tràng An, Ninh Bình
1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội [14]
- Tăng trường kinh tế: Kinh tế cơ bản ổn định và có mặt phát triển Tổng giá trị sản xuất toàn huyện năm 2016 đạt được 5.180 tỷ đồng, trong đó: Tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản đạt 1.637 tỷ đồng; ngành công nghiệp - xây dựng cơ bản đạt 1.734 tỷ đồng; ngành thương mại, dịch vụ đạt 1.808 tỷ đồng Tốc độ tăng giá trị sản xuất năm 2016 toàn huyện đạt 10,3%
- Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế khu vực chuyển dịch theo hướng khai thác lợi thế của từng ngành, giảm tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp và tăng dần
tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
- Thu nhập: Năm 2016, thu nhập bình quân theo đầu người/năm đạt 26 triệu đồng/người/năm, tăng 04 triệu đồng so với năm 2015
- Thu, chi ngân sách:
+ Thu ngân sách có những bước tăng trưởng nhanh qua các năm Cụ thể, năm 2016 tổng thu ngân sách nhà nước đạt 61.506 triệu đồng, tăng gấp 1,9 lần so năm 2012
+ Chi ngân sách luôn đảm bảo hoạt động của chính quyền địa phương, các đoàn thể, chi cho sự nghiệp kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng
và đầu tư phát triển Tổng chi năm 2016 là 45.092 triệu đồng
Tổng thu,chi ngân sách đô thị Nho Quan năm 2016 được nêu trong bảng 1.2
Bảng 1.2: Tổng thu, chi ngân sách đô t ị Nho Quan ăm 2016 [5]
Trang 231.1.4 Khái quát hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Nho Quan [15]
a Hiện trạng giao thông
- Giao thông đối ngoại tại đô thị Nho Quan hiện nay chủ yếu là đường
bộ, bao gồm các tuyến đường chính sau:
+ Tuyến Quốc lộ 12B từ thị xã Tam Điệp đi Hoà Bình qua đô thị Nho Quan với chiều dài L=7.586m và Tuyến tránh Quốc Lộ 12B;
+ Tuyến đường tỉnh ĐT 477 vào trung tâm thị trấn Nho Quan (đến bến xe) có chiều dài L=4.148m Đoạn trong khu trung tâm đã được nâng cấp và đầu tư với B=15m, hè mỗi bên 3m chất lượng hiện nay còn tốt
+ Tuyến đê Năm Căn kết hợp với đường giao thông có chiều dài 20,6km nằm bao bọc khu vực trung tâm của đô thị Nho Quan (phía nam sông Lạng) với B=6m, chất lượng mặt đê tương đối tốt
- Giao thông đô thị: Các tuyến đường trong khu trung tâm hiện nay đã được đầu tư xây dựng, cải tạo và mở rộng mặt đường từ 11,5m đến 15m Các
Trang 24đường ngõ trong toàn khu vực hiện nay đã được bê tông hoá với mặt cắt ngang từ 2,5m đến 4m Một số đường ngõ đang xuống cấp, không đảm bảo giao thông liên hệ giữa các khu dân cư với nhau
- Bến xe: Bến xe trung tâm hiện nay đã được cải tạo lại đảm bảo yêu cầu về vận chuyển hành khách của đô thị Nho Quan với các khu vực khác
b Hiện trạng cấp nước
Đô thị Nho Quan sử dụng nguồn nước sông Sui và hồ Yên Quang là những nguồn nước tốt có khả năng cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt Tuy nhiên tỷ lệ cấp nước đô thị thấp, chỉ đạt khoảng 30%
- Công trình đầu mối:
+ Trạm cấp nước thị trấn Nho Quan có công suất 2.400m3/ngđ, nguồn nước sông Sui Tỷ lệ thất thoát nước 38% Số hộ dân được cấp nước sạch 1.600 hộ dân
+ Trạm cấp nước Lạng Phong công suất 720m3/ngđ, nguồn nước sông Sui Số hộ dân được cấp nước sạch 860 hộ
+ Trạm cấp nước Yên Quang 1 công suất 900 m3/ngđ và trạm cấp nước Yên Quang 2 công suất 200 m3/ngđ, nguồn guồn nước mặt hồ Yên Quang Số
hộ dân được cấp nước sạch 130 hộ
+ Trạm cấp nước xã Đồng Phong với công suất khoảng 700m3/ngđ, nguồn nước ngầm, đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 200 hộ trong xã
- Mạng lưới cấp nước
+ Mạng lưới đường ống cấp nước thị trấn Nho Quan có đường kính D100mm -D200mm bám dọc theo trục đường ĐT477 và trục QL12B cấp cho các khu dân cư xung quanh
+ Mạng lưới cấp nước xã Yên Quang có đường kính D100mm- D150mm
Trang 25c Hiện trạng cấp điện và chiếu sáng đô thị
- Hệ thống trạm điện cao thế 500/220/110KV; 220/110/22KV và các tuyến đường dây truyền tải chạy qua đô thị Nho Quan
- Nguồn điện hiện hiện cấp cho đô thị Nho Quan lấy từ mạng lưới điện quốc gia thông qua hai trạm nguồn: trạm 110/35/22KV Nho Quan công suất máy 25MVA và trạm điện trung gian 35/10KV từ Lạc Vân công suất trạm (4000+3200) KVA, đảm bảo cấp điện sinh hoạt cho toàn huyện cũng như phục vụ cho sản xuất
d Hiện trạng thông tin liên lạc
- Mạng điểm phục vụ bưu chính trên địa bàn Nho Quan bao gồm:
+ Bưu cục cấp II: 3 bưu cục, phân bố tại trung tâm Nho Quan
+ Bưu cục cấp III: 7 bưu cục; phân bố tại các xã
- Viễn thông: Bán kính phục vụ bình quân một trạm chuyển mạch trên địa bàn tỉnh đạt 1,34 km/điểm chuyển mạch Mạng lưới cung cấp dịch vụ điện thoại cố định đã phát triển tương đối rộng khắp, đến 100% xã, phường
e Hiện trạng thoát nước mặt
- Hệ thống thoát nước khu vực trung tâm của đô thị hiện nay là hệ thống thoát nước chung, sử dụng rãnh nắp đan dọc theo các trục đường giao thông chính
- Khu vực các xã lân cận chưa có hệ thống thoát nước đồng bộ, chủ yếu thoát nước tự chảy ra hệ thống kênh mương nội đồng
f Hiện trạng thu gom và xử lý nước thải
- Khu vực nghiên cứu hiện chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung Một số tuyến đường chính đã có hệ thống cống chung, hướng thoát chủ yếu ra các khu vực trũng, chưa có đơn vị quản lý vận hành
- Tỷ lệ hộ dân sử dụng bể tự hoại, nhà tiêu hợp vệ sinh trên địa bàn khoảng trên 90%, góp phần giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước
Trang 26- Nước thải y tế, nước thải các trang trại, tiểu thủ công nghiệp đã được thu gom và xử lý riêng
g Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn
- Khu vực đô thị Nho Quan đã được thu gom và xử lý CTR tập trung Đơn vị chịu trách nhiệm thu gom là Trung tâm VSMT Đô thị huyện (đối với CTR sinh hoạt) và các công ty tư nhân (đối với CTR tiểu thủ công nghiệp) Hình thức thu gôm từ trực tiếp, thông qua các xe chở rác lưu động và thông qua điểm tập kết rác tập trung
- CTR chưa được phân loại tại nguồn, sau khi thu gom, được định kỳ thu gom và chuyển đi xử lý tập trung của tỉnh gần thành phố Tam Điệp
h Hiện trạng quản lý nghĩa trang
Hiện trạng thị trấn và các xã thuộc đô thị Nho Quan chưa có quy hoạch nghĩa trang tập trung, hầu hết sử dụng các nghĩa trang phân tán bố trí theo thôn xóm Tổng diện tích nghĩa trang trong đô thị Nho Quan khoảng gần 75
ha, chiếm khoảng 1,3% diện tích đất tự nhiên Các khu nghĩa trang phân tán, xây dựng không theo quy hoạch, quy mô sử dụng đất lớn sẽ gây khó khăn cho việc quy hoạch sử dụng đất sau này
1.2 Hiện trạng hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan
1.2.1 Hiện trạng cao độ nền và thoát nước mặt
a Hiện trạng cao độ nền [14]
Đô thị Nho Quan có thể chia thành 02 khu vực là Bắc sông Lạng và
Nam sông Lạng, độ dốc chính của khu vực từ Tây Bắc xuống Đông Nam
- Cao độ nền khu vực Bắc sông Lạng:
+ Khu dân cư cao độ nền dao động từ +(4,00 ÷ 6,70)m;
+ Khu vực ruộng canh tác cao độ nền dao động từ +(0,90 ÷ 5,40)m; + Khu vực đồi núi có cao độ và độ dốc lớn
- Cao độ nền khu vực Nam sông Lạng:
Trang 27+ Khu vực trung tâm đô thị có mật độ xây dựng cao, cao độ nền hầu như đã ổn định và được xây dựng trên cao độ nền Hxd ≥+4,5m;
+ Khu vực dân cư các làng xóm cao độ nền Hxd ≥ 5,0m;
+ Khu vực ruộng canh tác cao độ nền ≥+2,50m
b Hiện trạng hệ thống thoát nước
Theo Điều chỉnh quy hoạch chung đô thị Nho quan đến năm 2035 tầm nhìn đến năm 2050, đô thị Nho Quan bao gồm thị trấn Nho Quan và 07 xã Lạc Vân, Phú Sơn, Đồng Phong, Lạng Phong, Văn Phong, Văn Phương, Yên Quang Do đó có thể chia đô thị Nho Quan thành 02 khu vực: khu vực thị trấn Nho Quan và khu vực 07 xã lân cận
- Khu vực thị trấn Nho Quan hiện nay sử dụng hệ thống thoát nước chung với ống cống bê tông cốt thép hoặc rãnh nắp đan dọc theo các trục đường giao thông chính (Số liệu và hình ảnh hiện trạng hệ thống thoát nước khu vực thị trấn Nho Quan được giới thiệu trong bảng 1.3 và hình 1.2)
Bảng 1.3: Hi n trạng h th t t c khu vực thị trấn Nho Quan [15]
Trang 28
Hình 1.2 Hình ả rã t t c trên tuyế QL12B và đ ờ ĐT477
đoạn qua thị trấn Nho Quan
- Nhìn chung, mạng lưới thoát nước khu vực thị trấn Nho Quan có quy
mô nhỏ, cao độ nhiều tuyến không hợp lý do công tác thiết kế, xây dựng và bảo dưỡng chưa thống nhất, dẫn đến tình trạng ngập úng và ô nhiễm tại một
số khu vực Bên cạnh đó, một số tuyến cống cũng đang bị xuống cấp chưa được tu sửa (điển hình là tuyến rãnh thoát nước dọc đường DT477 và rãnh thoát nước tại các khu phố) gây ảnh hưởng tới khả năng tiêu thoát nước và mất an toàn cho người dân Tình trạng vứt rác bừa bãi, gây tắc nghẽn đường cống cũng thường xuyên sảy ra tại khu vực thị trấn Nho Quan (Hình ảnh một
số nắp cống bị xuống cấp hoặc tắc nghẽn do rác thải tại đường ĐT477 đoạn đi qua thị trấn Nho Quan được tác giả thể hiện ở hình 1.3)
Hình 1.3 Hình ảnh một s nắp c ng bị xu ng cấp hoặc tắc nghẽn do rác thải
tại đ ờ ĐT477 đ ạ đi qua t ị trấn Nho Quan
Trang 29- Khu vực 07 xã lân cận có dân cư tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm xã, chưa có hệ thống thoát nước đồng bộ Ngoại trừ các tuyến phố khu vực trung tâm xã là có hệ thống cống, mương nắp đan, còn lại chủ yếu là các tuyến kênh, mương hở hoặc thoát nước tự chảy theo độ dốc bề mặt ra hệ thống kênh mương, nội đồng Riêng đối với khu vực cụm công nghiệp Văn Phong (diện tích 50ha, hiện có 03 doanh nghiệp đầu tư) vẫn chưa có hệ thống
xử lý nước thải tập trung Nước thải sau khi được xử lý qua hệ thống xử lý của nhà máy xả vào nguồn tiếp nhận (Hiện trạng hệ thống thoát nước khu vực
07 xã lân cận được giới thiệu trong bảng 1.4)
4 Hệ thống thoát nước thải cụm công nghiệp Văn Phong
Trang 30
Hình 1.4 Hình ảnh một s tuyế m ơ ở t t c tại khu vực 07 xã lân
cận thuộc đô t ị Nho Quan
1.2.2 Hiện trạng thu gom và xử lý nước thải
- Đô thị Nho Quan hiện chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung Nước thải sinh hoạt được xử lý sơ bộ thông qua các bể tự hoại, đi vào hệ thống thoát nước chung và xả trực tiếp ra sông, hồ Nước thải y tế, nước thải các trang trại, tiểu thủ công nghiệp đã được thu gom và xử lý riêng
- Tỷ lệ hộ dân sử dụng bể tự hoại, nhà tiêu hợp vệ sinh trên địa bàn khoảng 92%, góp phần giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước [15] Tuy nhiên việc xem bể tự hoại như là một công trình xử lý nước thải sơ bộ cũng là một vấn
đề, do hầu hết các hộ gia đình quản lý bể tự hoại chưa tốt bể tự hoại cần phải hút bùn thường xuyên nhưng các hộ gia đình chỉ thực hiện khi có sự cố xảy
ra Do vậy, nhiều bể tự hoại hoạt động trong tình trạng bị quá tải, không xử lý hay xử lý kém hiệu quả nước thải trước khi xả vào hệ thống thoát nước
Trang 31chung Nước thải chưa xử lý tốt trong bể tự hoại khi xả vào hệ thống thoát nước chung vốn đã xuống cấp có thể chứa các chất rắn và làm tắc nghẽn dòng chảy hoặc phát sinh mùi
- Tính đến tháng 6/2018, chỉ có khoảng 40% hộ gia đình trên địa bàn thị trấn Nho Quan đấu nối vào hệ thống thoát nước công cộng [15], thường là
hệ thống cống chung Đấu nối từ đường ống nước thải sinh hoạt của hộ gia đình vào hệ thống thoát nước thường không được thiết kế và thực hiện đúng
kỹ thuật Việc các hộ gia đình tự đấu nối để thoát nước thải vào hệ thống cống công cộng xảy ra phổ biến, dẫn đến tình trạng ô nhiễm mùi ở nhiều khu vực xung quanh công trình và khu vực công cộng
1.2.3 Hiện trạng các công trình phòng chống úng ngập đô thị
a Hiện trạng đê điều [18]
- Trong phạm vi ranh giới quy hoạch đô thị Nho Quan có khoảng 43,2km đê bao gồm đê Năm Căn do tỉnh quản lý và các tuyến đê do địa phương quản lý (đê bối) Các tuyến đê bên cạnh chức năng phòng chống ngập lụt còn là các tuyến giao thông quan trọng, phục vụ sản xuất và dân sinh
+ Tuyến Đê Năm Căn, tường kè thị trấn Nho Quan và đập hồ Yên Quang tạo thành một vòng khép kín bảo vệ cho khu vực các xã: Yên Quang, Đồng Phong, Lạng Phong, Văn Phong, thị trấn Nho Quan và một phần xã Văn Phương với tổng chiều dài 20,6km, trong đó đê Năm Căn dài 16,03 km Toàn tuyên đê đã được thi công hoàn thiện theo Dự án nâng cấp đê Năm Căn, cao trình mặt đê (+6,5)m, bề rộng mặt đê B = 6m, trong đó phần bê tông mặt rộng 4m, mái phía sông m = 2, mái phía đồng m = 3
+ Trên tuyến đê Năm Căn có đoạn tường kè thị trấn Nho Quan (K8+900÷K9+410) và các cống: cống Xuân Viên (K1+750), cống Rồng (K2+938), cống Tràng An tại (K4+650), các cống này hiện trạng vận hành tốt; cống Sào (K8+506), cống Làng Bái (K9+480), cống Lạo (K10+450),
Trang 32cống Mõ (K14+900), cống Yên Quang, các cống này ổn định; cống xả trạm bơm Đồng Đinh tại vị trí K7+050 đã thi công hoàn thiện và thường xuyên được sửa chữa, nâng cấp Hiện trạng tuyến đê Năm Căn đảm bảo yêu cầu chống lũ theo chỉ tiêu chống lũ mực nước tại Bên Đế (+5,3)m Các cống cần theo dõi chặt chẽ và có phương án bảo vệ khi có mưa bão, lũ lụt
a Tuyến đê Năm Căn b Đoạn tường kè thị trấn
Hình 1.5 Hình ảnh tuyế đê Năm Că và đ ạ t ờng kè thị trấn Nho Quan
Trang 33các ao, hồ nhỏ rải rác trên địa bàn Hình ảnh hồ Yên Quang thuộc xã Yên Quang và hồ Đầm Sét thuộc thị trấn Nho Quan được giới thiệu ở hình 1.7
/h Bên cạnh chức năng tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh, các trạm bơm trên còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết, tiêu thoát lũ vào mùa mưa
a Trạm bơm Đồng Đinh b Trạm bơm Rồng
Hình 1.8 Hình ảnh trạm bơm Đồ Đi và trạm bơm Rồng
1.2.4 Tình hình ngập úng đô thị, ô nhiễm môi trường nước và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan
Trang 34a) Tình hình ngập úng đô thị
Vấn đề ngập lụt rất phổ biến và xuất hiện khá thường xuyên tại đô thị Nho Quan vào mùa mưa Do đô thị Nho Quan nằm trong quy hoạch vùng phân lũ, chậm lũ sông Hoàng Long, tỉnh Ninh Bình, thường xuyên chịu ảnh hưởng lũ từ tỉnh Hòa Bình tràn về Trong đó xã Lạc Vân và một phần xã Phú Sơn, Lạng Phong, Văn Phương (khu vực bên ngoài đê Năm Căn) nằm trong vùng chịu lũ và thường xuyên phải sống chung với lũ
Khu vực trung tâm đô thị được đê Năm Căn bảo vệ chủ yếu chỉ xảy ra ngập úng cục bộ Hệ thống thủy lợi và hệ thống thoát nước đô thị đã được đầu
tư xây dựng để kiểm soát lũ lụt nhưng vẫn chưa hoàn toàn cải thiện tình hình
và ngày càng trở nên quá tải do BĐKH, đô thị hóa
Nhìn chung, mức độ và số lượng các điểm/khu vực ngập úng tại đô thị Nho Quan ngày càng tăng qua các năm Đặc biệt, dưới tác động ngày càng khó lường của BĐKH, tình trạng ngập úng tại đô thị Nho Quan những năm gần đây diễn ra bất thường, gây khó khăn cho công tác dự báo và chuẩn bị ứng phó Số liệu thống kê tình hình ngập úng tại thị trấn Nho Quan và trung tâm các xã thuộc đô thị Nho Quan các năm gần đây được thể hiện ở bảng 1.5
Bảng 1.5: S li u th ng kê tình hình ngập úng tại thị trấn Nho Quan và trung
tâm các xã thuộc đô t ị Nho Quan c c ăm ầ đây [16]
Năm Khu vực Điểm ngập úng Mức độ
Thường xuyên khi mưa lớn
Thường xuyên khi mưa lớn
Thường xuyên khi mưa lớn
Trang 35Năm Khu vực Điểm ngập úng Mức độ
Thường xuyên khi mưa lớn
Thường xuyên khi mưa lớn
Tình trạng ngập úng tại đô thị Nho Quan gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân và các hoạt động của đô thị Đặc biệt, trung tuần tháng 10/2017 trên địa bàn huyện Nho Quan đã xảy ra mưa lớn, lượng mưa trung bình đạt trên 200mm, cộng hưởng với lũ từ thượng nguồn các con sông đổ về dẫn đến tình trạng úng ngập rất nghiêm trọng, đỉnh lũ tại bến Đế đạt +5,53m (đỉnh lũ cao nhất lịch sử năm 1985 là +5,55m) [17] Một số hình ảnh từ trận
lũ lịch sử tại đô thị Nho Quan năm 2017 được thể hiện ở hình 1.9
Hình 1.9 Hình ảnh ngập lụt tại đô t ị Nho Quan vào tháng 10/2017
Ước tính thiệt hại toàn huyện trong đợt lũ lịch sử năm 2017 [17]:
+ Khoảng 5.116 ngôi nhà bị ngập sâu dưới 1m; 1.801 ngôi nhà bị ngập
từ 1-3m;
Trang 36+ Hầu hết các trường học, công trình công cộng bị ngập, trong đó có 5 trường bị ngập nghiêm trọng;
+ Nhiều tuyến đường giao thông bị tê liệt: Đường, đê bị ngập khoảng 105.380 m; Đường bị sạt lở khoảng 8.971m; Sạt lở đê quai, kênh mương khoảng 1.845 m, cống: 28 cái;
+ Thiệt hại về nông nghiệp: 369,6ha lúa; 847,9ha cây mầu; 210 con gia súc; 6.011 con gia cầm; 467,53ha thủy sản ao hồ; 2.137ha thủy sản lúa cá…
- Phát triển đô thị ở vùng trũng thấp và vùng thoát lũ làm mực nước lũ dâng cao và thay đổi hình thái ngập lụt, gây ngập lụt trầm trọng hơn ở khu vực đô thị và những khu vực lân cận có cao trình thấp, vốn đã thường xuyên ngập lụt tại đô thị Nho Quan
- Người dân ở vùng trũng thấp bị ảnh hưởng thường xuyên của ngập lụt
sẽ chịu sự gia tăng về thiệt hại và chi phí khắc phục hậu quả do ngập lụt gây
ra Bên cạnh đó, ngập lụt làm ảnh hưởng tới vị thế của đô thị Nho Quan cũng như giá đất trong tương lai, đồng thời chính quyền địa phương phải tốn nhiều chi phí để khắc phục thiệt hại của cơ sở hạ tầng đô thị
b) Tình hình ô nhiễm môi trường nước
Trên địa bàn đô thị Nho Quan, môi trường nước nhìn chung chưa ô nhiễm nghiêm trọng, chỉ xuất hiện ô nhiễm cục bộ tại một số điểm Tuy nhiên
do các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, phát triển dân số và hệ lụy của các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn đã làm cho nguồn nước đang dần bị suy giảm cả về trữ lượng và chất lượng
Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước của huyện bao gồm: Nước thải sinh hoạt, nước thải từ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ, làng nghề, nước thải từ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, nước thải từ cơ sở chăn nuôi gia súc
Trang 37- Nước thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh và làng nghề trên địa bàn
đô thị tập trung chủ yếu vào: chế biến nông sản thực phẩm, tái chế chất thải
Đa số các cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện tốt việc khai thác và xả thải vào nguồn nước; tuy nhiên vẫn còn một số cơ sở xử lý chưa đạt quy chuẩn môi trường hoặc; số lần quan trắc môi trường chưa đảm bảo
- Nước thải sinh hoạt trên địa bàn đô thị Nho Quan ước khoảng 5.949
m3/ngày [15] Chủ yếu chỉ được xử lý qua hệ thống bể tự hoại của các hộ gia đình hoặc xả thải trực tiếp ra môi trường, chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung; đây là nguồn gây ô nhiễm cho nguồn nước mặt và nước ngầm tại một
số khu vực dân cư (Hình 1.10)
Hình 1.10 Hình ảnh ô nhiễm môi tr ờng tại kênh trục sông Giấy, đô t ị Nho
Qua d c thải c a qua xử lý và rác thải sinh hoạt
- Tổng lượng nước thải y tế ước khoảng 118m3/ngày [15]; nước thải y
tế tại Bệnh viện Nho Quan được xử lý qua hệ thống xử lý của bệnh viện trước khi xả thải ra môi trường; nguồn nước thải y tế của các cơ sở y tế còn lại được
xử lý qua bể chứa, sử dụng hóa chất xử lý trước khi xả ra môi trường Cơ bản đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường
- Lượng nước thải từ các trang trại, gia trại và các hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm nhỏ lẻ là rất lớn Một số trang trại, các gia trại đã quan tâm đến công tác xử lý nước thải Tuy nhiên, quy trình xử lý chưa được đảm bảo, nhất là
Trang 38các hộ chăn nuôi gia đình; lượng nước thải chưa qua xử lý và xử lý không đảm bảo đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước
Bên cạnh đó, tình trạng ngập úng thường xuyên diễn ra vào mùa mưa cũng dẫn đến tình trạng nước thải tràn không được xử lý, gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng tới sức khỏe, đời sống người dân trong mùa mưa bão
c) Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ thống thoát nước đô thị Trên địa bàn huyện Nho Quan, biểu hiện của BĐKH ngày càng rõ nét với các hiện tượng ngập lụt, suy giảm đa dạng sinh học, thay đổi nhiệt độ, phát thải khí nhà kính… gây ảnh hưởng đến đời sống người dân Cụ thể, lượng mưa diễn biến hết sức phức tạp, ngày càng cực đoan và không theo quy luật trung bình nhiều năm; nền nhiệt độ có xu hướng tăng trong vòng 30 năm trở lại đây (Bảng 1.6)
Bảng 1.6 Sự t ay đổi nhi t độ, ợ m a tại huy n Nho Quan [16]
STT Năm ƣợng mƣa trung bình
năm (mm)
Nhiệt độ trung bình năm ( o
Trang 39Bảng 1.7 Mức t ay đổi (%) về nhi t độ, ợ m a tỉnh Ninh Bình so v i thời
kỳ cơ sở 1980-1999 theo kịch bản phát thải trung bình [1]
STT Biến đổi Mùa hời gian
Một số ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ thống thoát nước đô thị:
- Tăng lượng mưa dẫn đến lưu lượng nước vượt quá lưu lượng thông thường, làm tăng mực nước sông và chảy tràn tới các vùng thấp dẫn đến lũ lụt, thiên tai…
- Thay đổi tuần suất và cường độ mưa sẽ ảnh hưởng mạnh tới việc thu gom và xử lý nước thải Đặc biệt, với hệ thống thoát nước chung tại đô thị Nho Quan, sẽ ảnh hưởng đến lưu lượng và tần suất của nước thải tràn không được xử lý, ảnh hưởng đến độ đục của nước, tăng hàm lượng các chất hữu cơ, các mầm bệnh, và tăng nồng độ các hóa chất trừ sâu trong sông, hồ, gây ô nhiễm môi trường
- Tăng nhiệt độ có thể thúc đẩy phát triển tảo và phân hủy các hợp chất hữu cơ trong đường ống thoát nước, dẫn đến hàm lượng các hợp chất nitơ hòa tan tăng nhưng hàm lượng các chất hữu cơ thấp hơn Những thay đổi trong
Trang 40đặc tính nước thải đòi hỏi có sự thay đổi và điều chỉnh trong thiết kế và vận hành trạm xử lý
- Năng lượng dùng cho các dịch vụ thu gom và xử lý nước thải là rất lớn Nếu không đánh giá nhu cầu tăng về cấp nước và năng lượng mang tính liên ngành, những tác động từ biến đổi khí hậu trong tương lai có thể khiến chi phí vận hành cao hơn, thường xuyên mất điện và thiếu nước
1.3 Thực trạng công tác quản lý hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan
1.3.1 Thực trạng cơ cầu tổ chức và năng lực quản lý hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan
a) Mô hình quản lý nhà nước hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan
Đô thị Nho Quan bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính của thị trấn Nho Quan và 07 xã thuộc huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Do đó hệ thống thoát nước đô thị được quản lý thông qua bộ máy quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật nói chung của huyện Nho Quan, được phân cấp và tuân thủ các quy định hiện hành của Pháp luật Sơ đồ bộ máy quản lý nhà nước hệ thống thoát nước
đô thị Nho Quan được tác giả minh họa ở Hình 1.11
Hình 1.11 Sơ đồ bộ máy quản lý à c h th ng t t c đô t ị Nho
Quan, tỉnh Ninh Bình
b) Vai trò và cơ cấu tổ chức của một số đơn vị trực tiếp tham gia quản
lý hệ thống thoát nước đô thị Nho Quan