NGÔ THẾ QUÂN KHAI THÁC ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC KHÔNG GIAN NHÀ Ở DÂN GIAN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG CÁC CÔNG TRÌNH DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG Ở VIỆT NAM... TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN GIAN VÙNG ĐỒN
Trang 1NGÔ THẾ QUÂN
KHAI THÁC ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC KHÔNG GIAN NHÀ
Ở DÂN GIAN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG CÁC CÔNG
TRÌNH DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG Ở VIỆT NAM
Trang 2NGÔ THẾ QUÂN
KHÓA 2017-2019
KHAI THÁC ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC KHÔNG GIAN NHÀ
Ở DÂN GIAN ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG CÁC CÔNG
TRÌNH DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kiến trúcMã số: 60.58.01.02
LUẬN VĂN THẠC SỸ KIẾN TRÚC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ HỒNG CƯƠNG
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
HÀ NỘI – 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
-
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn thạc sĩ là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn thạc sĩ là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, đã được nêu trong luận văn và đưa vào phần danh mục tài liệu tham khảo
Tôi cam đoan đã được công bố về hậu quả kỷ luật đối với các trường hợp sao chép hoặc gian dối có chủ ý đối với các dữ liệu khoa học đã thu thập và sử dụng trong luận văn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Thế Quân
Trang 4Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS.KTS Vũ Hồng Cương, người thầy đã
định hướng và chỉ bảo tận tình cho công trình nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp của các Phó giáo sư, Tiến sĩ, các nhà khoa học đã giúp tôi hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn khoa Kiến trúc, Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn
Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã luôn chia sẻ, giúp đỡ tôi trên con đường nghiên cứu khoa học
Sau cùng tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn vô hạn tới cha mẹ, những người đã sinh thành và giáo dưỡng tôi Xin cảm ơn vợ và những người thân luôn là nguồn động viên, sát cánh cùng tôi trong quá trình làm luận văn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Ngô Thế Quân
Trang 5Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu , chữ viết tắt
Danh mục các bảng , biểu
Danh mục các hình vẽ , đô thị
MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài Mục đích nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Ý nghĩa khoa học và thực tiễn PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN GIAN VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VÀ KIẾN TRÚC DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG Ở VIỆT NAM 5
1.1 Tổng quan về kiến trúc nhà ở dân gian trên thế giới và Việt Nam 5
1.1.1 Kiến trúc nhà ở dân gian trên thế giới 5
1.1 Kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống Việt Nam 10
1.1.3 Quá trình hình thành kiến trúc nhà ở dân gian của Việt Nam qua các thời kỳ 12
1.2 Tổng quan về kiến trúc nhà ở dân gian vùng Đồng bằng bắc bộ (ĐBBB) 19
1.2.1 Tổng quan về môi trường tự nhiên và xã hội vùng ĐBBB 19
Trang 6trúc 27
1.2.4 Khái niệm về các loại cấu trúc truyền thống xây dựng nên ngôi nhà ở dân gian 28
1.2.5.Khái niệm về các cấu kiện gỗ xây dựng nên công trình kiến trúc truyền thống 31
1.3 Khái niệm và thực trạng các khu du lịch nghỉ dưỡng ở Việt Nam 34
1.3.1.Khái niệm về kiến trúc du lịch nghỉ dưỡng 34
1.3.2.Kiến trúc các khu du lịch nghỉ dưỡng ở Việt Nam 35
1.3.3 Thực trạng về kiến trúc các khu du lịch nghỉ dưỡng ở Việt Nam 36
1.4 Tổng quan về tình hình nghiên cứu kiến trúc khu du lịch nghỉ dưỡng hiện nay[6] 37
1.4.1 Nghiên cứu liên quan đến các yếu tố địa điểm 37
1.4.2 Nghiên cứu liên quan đến yếu tố bản địa 38
1.4.3 Nghiên cứu về kiến trúc du lịch nghỉ dưỡng ở Việt Nam 39
1.4.4 Một số nhận xét về các nghiên cứu du lịch nghỉ dưỡng 40
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC KHAI THÁC ĐẶC ĐIỂM ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ Ở DÂN GIAN VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VÀO KIẾN TRÚC DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG Ở VIỆT NAM 41
2.1 Các yếu tố tự nhiên tác động đến kiến trúc nhà ở dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ 41
2.1.1 Vị trí địa lý – khí hậu vùng ĐBBB 41
2.1.2 Yếu tố tự nhiên tác động đến kiến trúc nhà ở dân gian 42
2.2 Các yếu tố văn hóa xã hội tác động đến kiến trúc nhà ở dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ 42
Trang 72.2.3 Mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và kiến trúc 56
2.3 Các loại cấu trúc không gian nhà ở dân gian vùng ĐBBB 59 2.3.1 Cấu trúc không gian nhà 3 gian 59 2.3.3 Các bố cục đặc trưng không gian khuôn viên nhà ở dân gian vùng ĐBBB.[6] 64 2.4 Cơ sở lý luận về khai thác đặc trưng kiến trúc bản địa đối với kiến trúc
du lịch nghỉ dưỡng 66
2.5 Mối quan hệ giữa tư tưởng và triết lý của kiến trúc dân gian đối với kiến trúc du lịch nghỉ dưỡng 67 2.5.1 Tư tưởng và triết lý của kiến trúc nhà ở dân gian đối với kiến trúc nghỉ dưỡng theo tư tưởng phương Đông 67 2.5.2 Ý nghĩa về tinh thần đối với kiến trúc du lịch nghỉ dưỡng 70
CHƯƠNG 3 KHAI THÁC CÁC ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC KHÔNG GIAN NHÀ Ở DÂN GIAN VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG CÁC CÔNG TRÌNH DU LỊCH NGHỈ DƯỠNG Ở VIỆT NAM 73
3.1 Những đặc điểm kiến trúc nhà ở dân gian được khai thác trong các công trình DLND 73 3.1.1 Đặc điểm bố cục tổng thể trong kiến trúc nhà ở dân gian ĐBBB 73 3.1.2 Đặc điểm cấu trúc không gian trong nhà ở dân gian 81 3.1.3 Đặc điểm về tính linh hoạt trong kiến trúc nhà ở dân gian 90 3.1.4 Khai thác giá trị đặc trưng trong cách tạo hình kiến trúc và trang trí
mỹ thuật 92 3.1.6 Đặc điểm về chất cảm, màu sắc trong kiến trúc nhà ở dân gian
ĐBBB 97
Trang 83.3 Các cấp độ khai thác đặc điểm không gian trong kiến trúc nhà ở dân gian đồng bằng Bắc Bộ vào kiến trúc du lịch nghỉ dưỡng 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Chữ viết tắt Tên đầy đủ
ĐBBB Đông bằng Bắc bộ
NODG Nhà ở dân gian
CTKG Cấu trúc không gian
DLND Du lịch nghỉ dưỡng
YTTN Yếu tố tự nhiên
DK Du khách
Trang 10Số hiệu bảng Tên bảng
Bảng 2.1 Tổng hợp hướng nhà tại các địa điểm khảo sát
Bảng 2.2 Biểu đồ hướng nhà
Bảng 2.3 Thống kê về biểu hiện và chi tiết kiến trúc
Bảng 2.4 Mức độ trang trí theo phương đứng
Bảng 2.5 Số nhà có cửa sổ và không có cửa sổ sau
Bảng 2.6 Mối quan hệ và mức độ trang trí theo phương dọc Bảng 2.7 Các khung cảnh kiến trúc và hoạt động tương ứng Bảng 2.8 Các khung cảnh kiến trúc và hoạt động tương ứng Bảng 3.1 Sơ đồ tổ chức không gian nhà ở dân gian vùng ĐBBB
Trang 11Số hiệu hình Tên hình
Hình ảnh 1.1 Nhà ở dân gian Hàn Quốc thời xưa
Hình ảnh 1.2 Nhà ở dân gian Hàn Quốc thời xưa
Hình ảnh 1.3 Nhà ở dân gian Trung Quốc thời xưa
Hình ảnh 1.4 Nhà sàn dài Việt Nam
Hình ảnh 1.14 Kiến trúc truyền thống Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc Hình ảnh 1.15 Hệ thống đồi tháp tại Chí Linh Hải Dương
Hình ảnh 1.16 Đê ven sông Hồng tại Hoài Đức, Hà Tây
Trang 12Hình ảnh 2.16 Mặt bằng mặt cắt nhà ở 5 gian
Hình ảnh 2.17 Ứng dụng thước tầm trong nhà ở dân gian
Hình ảnh 2.18 Tam tài trong nhà ở dân gian
Hình ảnh 2.19 Thuyết tương sinh tương khắc trong nhà ở dân gian
Hình ảnh 3.1 Mặt bằng tổ chức không gian nhà ở dân gian vùng ĐBBB Hình ảnh 3.2 Tổ chức sơ đồ không gian nhà ở dân gian vùng ĐBBB Hình ảnh 3.3 Mặt cắt khuôn viên nhà ở dân gian vùng ĐBBB
Hình ảnh 3.4 Không gian hiên của nhà ở dân gian vùng ĐBBB
Hình ảnh 3.5 Cấu trúc không gian mở của nhà ở dân gian vùng ĐBBB Hình ảnh 3.6 Các dạng tổ chức không gian hiên NODG vùng ĐBBB Hình ảnh 3.7 Các loại vì thân nhà ở dân gian vùng ĐBBB
Hình ảnh 3.8 Hình thức nóc nhà ở dân gian vùng ĐBBB
Hình ảnh 3.9 Hình ảnh niên đại các cấu trúc nhà ở dân gian vùng ĐBBB Hình ảnh 3.10 Hình ảnh cấu trúc không gian nhà ở dân gian
Hình ảnh 3.11 Cấu kiện liên kết hệ khung nhà ở dân gian
Hình ảnh 3.12 Cấu trúc liên kết linh hoạt của nhà ở dân gian
Hình ảnh 3.13 Một số mô típ trang trí vì kèo
Hình ảnh 3.14 Mặt cắt khuôn viên nhà ở dân gian vùng ĐBBB
Hình ảnh 3.15 Mặt cắt thể hiện tính vi khí hậu nhà ở dân gian
Hình ảnh 3.16 Chi tiết thông gió nhà ở dân gian
Hình ảnh 3.17 Phối cảnh tổng thể một dạng nhà ở dân gian vùng ĐBBB Hình ảnh 3.18 Các vật liệu tre nứa, gỗ được sử dụng trong nhà ở dân gian Hình ảnh 3.19 Gỗ được sử dụng trong nội thất nhà ở dân gian
Hình ảnh 3.20 Vật liệu gỗ lim thường được sử dụng trong nhà ở dân gian Hình ảnh 3.21 Vật liệu ngói đỏ thường được sử dụng trong nhà ở dân gian Hình ảnh 3.22 Các vật liệu ngói thông dụng
Trang 13Hình ảnh 3.25 InterContinental Đà Nẵng Hình ảnh 3.26 InterContinental Đà Nẵng Hình ảnh 3.27 InterContinental Đà Nẵng Hình ảnh 3.28 Lăng cô Resort Đà Nẵng
Trang 14Nhà ở cổ truyền - nhà ở truyền thống của các dân tộc là một trong những đối tượng nghiên cứu phức tạp và quan trọng nhất trong văn hoá vật Nhà ở như
là một phức hợp sinh hoạt văn hoá của các cư dân hay cũng có thể nói nhà ở là một không gian văn hoá Đây là một di sản kiến trúc khổng lồ, là nguồn tài nguyên kiến trúc phong phú đầy tiềm năng lại chưa được quan tâm khai thác một cách đầy đủ và hệ thống
Hơn nữa trong bối cảnh quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ hiện nay
sự phát triển cũng đi đôi với nguy cơ mất mát các giá trị văn hoá truyền thống nếu không được giữ gìn Mỗi làng xã có giá trị văn hoá lâu đời đã bị mai một
và quy trình này ngày càng phổ biến và lan rộng
Các làng xã khu vực đồng bằng Bắc Bộ là một vùng đất hội tụ của nhiều dấu tích văn hoá và tôn giáo lớn, là quê hương của chùa tháp, lễ hội và các sinh hoạt văn hoá cổ truyền là địa phương có nhiều ngành nghề thủ công nổi tiếng
cả nước Đặc biệt ngôi nhà dân gian ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã cất lên tiếng nói những giá trị tinh hoa của kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống Bắc Bộ, những giá trị không chỉ để lại bài học thiết thực cho kiến trúc hiện đại mà những giá trị đó là kết tinh của nền văn hoá dân tộc Việt Nam, là nguồn tài nguyên
Trang 15kiến trúc đầy tiềm năng cần bảo tồn và khai thác tinh hoa về kiến trúc gỗ cổ
Kiến trúc Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi những phong cách kiến trúc khu vực cũng như phong cách kiến trúc thế giới Những giá trị của kiến trúc truyền thống đang dần bị lãng quên, những di tích kiến trúc đang dần thành phế tích hoặc thay thế bằng bê tông hóa Những giá trị văn hóa vật thể bị xuống cấp kéo theo mai một của một giá trị văn hóa phi vật thể
Cùng với đó kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ là một di sản kiến trúc văn hoá khổng lồ nên người viết mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc khai thác những giá trị kiến trúc văn hoá nhà ở dân gian truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ vào các công trình kiến trúc hiện đại, người viết đã chọn đề
tài “ Khai thác đặc điểm cấu trúc không gian nhà ở dân gian đồng bằng Bắc
Bộ trong các công trình du lịch nghỉ dưỡng ở Việt Nam” cho công trình nghiên
cứu khoa học đầu tay của mình Qua tìm hiểu có thể thấy những giá trị kiến trúc trong văn hoá cư trú ở mỗi làng quê Việt là nguồn tài nguyên kiến trúc đầy tiềm năng cần phải bảo tồn và khai thác những nét tinh túy có hiệu quả
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu, khai thác cấu trúc không gian nhà ở dân gian ở đồng bằng Bắc
Bộ nói riêng và kiến trúc gỗ của các thể loại nhà ở dân gian nói chung
Định hướng khai thác kiến trúc nhà ở dân gian đồng bằng Bắc Bộ và nghiên cứu ứng dụng vào kiến trúc hiện đại, cụ thể là vận dụng vào kiến trúc công trình resort ở Việt Nam
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: nhà ở dân gian và resort nghỉ dưỡng
Phạm vi nghiên cứu: vùng đồng bằng Bắc Bộ
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu:
Trang 16Là phương pháp chính được sử dụng trong đề tài Trên cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn khác nhau có liên quan tới đề tài nghiên cứu, người viết sẽ xử lý, chọn lọc để có những kết luận cần thiết, có được tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu
Phương pháp thực địa:
Quá trình thực địa giúp sưu tầm tài liệu, nhằm nhận được thông tin xác thực cần thiết để thành lập ngân hàng số liệu cho việc hoàn thiện đề tài
Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp:
Phương pháp này giúp định hướng, thống kê, phân tích để có cách nhìn tương quan, phát hiện ra các yếu tố và sự ảnh hưởng của yếu tố tới hoạt động
du lịch trong đề tài nghiên cứu; việc phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin
và số liệu mang lại cho đề tài cơ sở trong việc thực hiện các mục tiêu dự báo, các chương trình phát triển, các định hướng, các chiến lược và giải pháp phát triển du lịch trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn đề tài
Về lý luận, từ xem xét các yếu tố tổ chức không gian, sắc thái dân tộc, chi tiết kỹ thuật về kết cấu, cấu tạo nhà ở, công trình công cộng, nêu ra các nét đặc trưng về phong cách, thức kiến trúc, Kiến trúc nhà ở dân gian vùng đồng bằng Bộ là một bộ phận của kiến trúc dân gian truyền thống Việt nam, tìm hiểu
để góp phần gìn giữ, bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc, lý luận kiến trúc Qua các khía cạnh nghiên cứu, hoàn thiện, bảo tồn, khai thác các nét tinh túy của giá trị kiến trúc cổ mang lại
Về thực tiễn, ứng dụng, khai thác, ứng dụng các nét tinh túy đó vào các công trình hiện đại, các nhà ở nông thôn đang bị bê tông hóa, những màu sắc kiến trúc đang khá nhạt nhòa và để thổi hồn của dân tộc vào các công trình hiện nay
Trang 17 Cấu trúc luận văn:
Trang 18PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN GIAN VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VÀ KIẾN TRÚC DU LỊCH NGHỈ
DƯỠNG Ở VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về kiến trúc nhà ở dân gian trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Kiến trúc nhà ở dân gian trên thế giới
Kiến trúc nhà ở dân gian Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.[19]
được đặt trên nền tảng triết lý về vũ trụ, phong thủy và nhân sinh Nhà ở thường được xây dựng hòa hợp với thiên nhiên, lấy thiên nhên làm cơ sở thiết kế xây dựng Bố cục của ngôi nhà phù hợp với hình thái khu đất, sự hiện diện của sông, suối, ao hồ, kiểu dáng của các loài thảo mộc cũng đều được nghiên cứu kỹ trước khi xây dựng ngôi nhà Các ngôi nhà truyền thống thường khép kín hình chữ nhật, chỉ có một cửa mở ra đường, ở giữa có sân trong Các cửa của nhà chính, nhà phụ đều mở ra sân trong Nền nhà làm bằng đất nện, tường nhà làm bằng tre gỗ, mái lớp tranh hoặc ngói âm dương Các nhà giàu có đều có xây tường kín bốn mặt, nhà có nhiều sân trong, các sân trong được ngăn cách bởi các hành lang có mái che và tạo nên nhiều cấp bậc gắn với vườn cảnh làm cho sân trong thêm sinh động Mái nhà lợp ngói âm dương, tường xây gạch, các kết cấu vì kèo gỗ cầu kỳ, trang trí hoa văn đẹp mắt Cửa nhà ở được trang trí bởi giấy màu, các vách liên phòng cũng được trang trí giấy màu và ngăn không gian ước
lệ thông qua các lỗ thủng trên vách gỗ
Nhà ở dân gian Trung Quốc được biết đến nhiều nhất là hai loại nhà, đó
là nhà ở Tứ hợp viện ở vùng Bắc Kinh và loại nhà ở Nhà tròn (Thổ lâu) ở tỉnh Phúc Kiến với những đặc điểm kiến trúc rất nổi bật (Hình: 1.7,1.8,1.9)
Trang 19- Kiến trúc nhà ở dân gian Nhật Bản: Nói đến kiến trúc nhà ở dân
gian Nhật Bản ta phải nói đến nghệ thuật kiến trúc gỗ nổi tiếng của Nhật Bản
có từ hơn 2000 năm trước Ngôi nhà thường có 2 cửa, một cửa liên hệ ra đường
và một cửa ra vườn Mặt bằng chia làm hai phần: phía Nam dành cho các phòng sinh hoạt chung, phòng tiếp khách, phía Bắc bố trí các phòng ngủ, phòng phụ
và kho chứa đồ
Sang thế kỷ XII, nhà ở dân gian Nhật Bản lấy kích thước của chiếu Tatami (bện bằng rơm rạ) làm đơn vị đo chuẩn, modun cơ sở cho việc bố trí không gian ngôi nhà (kích thước của chiếu Tatamin có chiều dài gần 2m, chiều rộng = ½ chiều dài) Kích thước các phòng ở được xác định bằng 3; 4; 4,5; 6; 7; 8; 10; 12 Tatamin [20] Các phòng ở trong ngôi nhà Nhật Bản rất rộng rãi, nội thất bằng gỗ đơn giản với nhiều tủ tường để chứa đồ Nhà ở bố trí không gian linh hoạt, có thể thay đổi nhờ vào các vách tường nhẹ bằng gỗ, hoặc vách khung gỗ bồi giấy Đặc biệt, các tường ngoài của ngôi nhà được làm bằng những khung gỗ nhẹ dán giấy dày hai mặt có thể di chuyển nhờ vào các rãnh ở trên trần và dưới nền nhà, các tấm này có thể tháo lắp dễ dàng Vào mùa đông, các bức tường ngoài được bổ sung them các tấm “amado” bằng gỗ để chống gió lạnh Còn các vách tường trong được dán bồi thêm bìa hoặc giấy dày hai phía Tường nhà hướng Bắc được cấu tạo bằng hai lớp ván gỗ kép và trát bằng
hồ vữa nhằm chống gió lạnh Mái nhà miền Bắc thường lợp bằng rơm, rạ, còn miền Nam lợp ngói là chủ yếu Người Nhật còn biết cách làm mái nhà bằng ván gỗ hoặc vỏ cây
Do là khu vực thường xuyên có động đất, nên nhà ở dân gian truyền thống Nhật Bản thường làm bằng kết cấu gỗ để chống động đất Việc xây dựng ngôi nhà được tiến hành rất nhanh do một người thợ cả chỉ đạo, thời gian dựng xong ngôi nhà gỗ chỉ mất khoảng hai tuần
Kiến trúc nhà ở Nhật Bản có mối quan hệ gắn bó mật thiết với thiên nhiên
Trang 20và môi trường Các ngôi nhà đều có sân vườn trồng hoa, cây cảnh kết hợp với trồng rau xanh, ngoài vườn có hồ nước, suối nhân tạo, núi giả bằng các tảng đá xếp thành Các vật liệu sử dụng trong trang trí vườn đều từ thiên nhiên và gần gũi với thiên nhiên như: đá, sỏi, cây tre, trúc, mặt nước, cây xanh Nhà có nhiều hành lang và cửa sổ lớn nhìn ra vườn, cảnh bài trí đẹp mắt và cầu kỳ, trong nhà
có nhiều chậu hoa cảnh Nghệ thuật trang trí vườn cảnh của người Nhật đã phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật và trở thành quy tắc trang trí từ thế kỷ thứ VIII Giống như người Trung Hoa, việc sử dụng hồ nước, núi non bộ, gò đồi nhân tạo, đường lát đá, bể nước, giếng nước, đèn đá… là yếu tố không thể thiếu khi trang trí nghệ thuật vườn cảnh của người Nhật Bản Vườn nhà người Nhật ngoài chức năng tạo dựng cảnh quan, vườn thiền còn là nơi để chủ nhà tiếp khách, uống trà đạo và tổ chức các nghi lễ Nhìn chung, nhà ở dân gian truyền thống Nhật Bản mang phong cách riêng và độc đáo (Hình 1.10; 1.11; 1.12)
Người Hàn Quốc từ xưa đã có trình độ kiến trúc vô cùng khoa học, tinh
tế để xây dựng nhà ở vừa an toàn, kiên cố, vừa thích nghi với môi trường tự nhiên xung quanh Một đặc điểm đặc biệt của hanok là hệ thống làm nóng dưới sàn nhà được gọi là ondol Đây là cách giữ ấm đã có từ xa xưa,trước cả khi người Hàn phát triển ra kiểu nhà Hanok
Phương pháp sưởi ondol sử dụng hệ thống các ống dẫn chạy bên dưới sàn đá của phòng với hơi nóng được thoát ra từ lò sưởi trong bếp Hệ thống này cũng được thiết kế để hút khói hiệu quả qua các đường dẫn dưới sàn nối với ống khói
Một yếu tố quan trọng khác của ngôi nhà truyền thống Hàn Quốc là tấm ván lót sàn (maru) Các tấm lót sàn maru thường được bố trí đặt sao cho duy trì một khoảng không nhất định so với mặt đất để không khí tự do lưu thông bên dưới, tạo một môi trường sống mát mẻ trong suốt mùa hè Kiến trúc thông minh
Trang 21kết hợp ondol và maru tạo cho ngôi nhà truyền thống Hàn Quốc một không gian sống thoải mái, giúp gia chủ giữ ấm trong mùa đông khắc nghiệt và mát
mẻ, thư thái trong cả mùa hè nóng như thiêu
Mái nhà truyền thống hanok được lợp bằng ngói làm từ đất sét với nhiều màu sắc hoặc lợp bằng rơm khô Thông thường mái ngói có màu xám đậm, nhưng một số nhà lại phủ ngói màu xanh giống như dinh làm việc của Tổng thống Hàn Quốc được gọi là “Cheongwadae”, nghĩa đen là “Nhà ngói xanh”
Hình ảnh 1.1 Nhà ở dân gian Hàn Quốc xưa
Hình ảnh 1.2 Nhà ở dân gian Hàn Quốc xưa
Trang 22Các ngôi nhà truyền thống Hàn Quốc thường là nhà gỗ, nhưng nếu được bảo quản tốt thì có thể sử dụng được rất lâu Ví dụ như Geungnakjeon (Điện cực lạc) ở Chùa Bongjeongsa, nằm trên Núi Cheondeungsan, thành phố Andong, tỉnh Gyeongsangbuk-do được xây dựng từ năm 1363, là tòa nhà còn tồn tại lâu nhất của Hàn Quốc còn duy trì nguyên vẹn cấu trúc ban đầu sau 650 năm
Vị trí lí tưởng để xây dựng nhà hanok là khu đất mà đằng sau là núi để chắn gió lạnh, đằng trước là suối để dễ dàng lấy nước Nhà hanok, công trình kiến trúc hài hòa giữa thiện nhiên và con người đang ngày càng càng thu hút nhiều sự quan tâm, không chỉ ở Hàn Quốc mà còn trên toàn thế giới
Ngày nay, có hơn 60% dân số Seoul sống trong các căn hộ chung cư hiện đại, nhưng điều thú vị là những tòa nhà chung cư cao tầng này đều áp dụng hệ thống sưởi bằng các đường ống nước nóng bố trí dưới sàn nhà lấy cảm hứng từ
hệ thống sưởi ondol cổ xưa Kể cả những căn nhà riêng cũng sử dụng ondol khi xây dựng Hệ thống sưởi này không chỉ rất thịnh hành ở Hàn Quốc mà gần đây
đã dần trở nên được ưa chuộng ở nhiều quốc gia có nền nhiệt thay đổi cao [17]
Hình ảnh 1.3 Nhà ở dân gian Trung Quốc thời xưa[17]
Trang 231.1 Kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống Việt Nam[1]
Ở Việt Nam, mỗi dân tộc đều có những cách xây dựng nhà ở với hình thức và tổ chức công năng khác nhau, nó đặc trưng cho nền văn hóa, khí hậu, địa hình, thói quen canh tác, lao động sản xuất và phong tục tập quán của mỗi dân tộc Nhưng do giao thoa về văn hóa, tiếng nói, chữ viết, nên nhiều dân tộc cũng có cách tổ chức không gian nhà ở tương đối giống nhau, hoặc khai thác kinh nghiệm của tộc người khác để sáng tạo không gian nhà ở cho tộc mình
Các dân tộc sống quần cư thành các bản trên sườn núi hoặc làng đông đúc ven sông, suối Trong đó, người Việt có cơ cấu tổ chức làng chặt chẽ nhất Mỗi làng có hàng trăm gia đình sinh sống tạo thành một cộng cư với hương ước riêng Quanh làng có lũy tre xanh dày như thành lũy nhằm bảo vệ dân làng Công trình công cộng của làng là đình làng, thường được xây dựng trên khu đất cao ráo nằm ở giữa làng Về hình dáng kiến trúc ngôi nhà: phần lớn sử dụng loại nhà trệt ba gian hai chái, mái lợp tranh hay ngói âm dương, tường trình bằng đất dày, phía trước có hiên đón, cửa ra vào mở ở gian giữa, hai bên có cửa
sổ nhỏ mở ra hiên Người Hoa thường làm nhà có hình chữ Môn hay chữ Khẩu Nhà có ba gian hai chái, hoặc năm gian không có chái Kết cấu vì kèo gỗ đơn giản Tường xây gạch hay tường trình đất Mái lợp ngói âm dương hay lá tre, phên nứa Nhà có hiên phía trước, cửa chính mở ra hiên
Nhà ở truyền thống người Việt được tổ chức trong khuôn viên ở có hàng rào chung quanh bằng cây xén tỉa, hoặc xây bằng gạch, đá ong Nhà ở người Việt xây dựng rất phù hợp với khí hậu nóng ẩm Mỗi gia đình thường có nhà chính, nhà phụ, sân phơi, vườn cây, ao cá Nhà chính từ 3 -5 gian, có hiên phía trước quay ra hướng Nam đón gió mát Nhà phụ 2-3 gian vuông góc với nhà chính quay ra hướng Đông Nhà phụ dùng làm bếp và làm các nghề phụ thủ công Phía trước nhà có sân phơi, trước sân là giếng nước, bể nước mưa, ao thả
cá và vườn cây ăn quả Phía sau nhà ở bố trí chuồng trại chăn nuôi gia súc, nhà
Trang 24vệ sinh Nhà ở thường xây gạch, mái lợp tranh hoặc ngói, kết cấu vì kèo gỗ chắc chắn, chạm trổ hoa văn đẹp mắt Về tổ chức công năng ngôi nhà: gian giữa thờ cúng tổ tiên và tiếp khách, hai gian bên ngăn thành không gian ngủ của chủ nhà, nơi ở con gái và để đồ đạc Nhà ở dân gian đầu hồi có một cửa đi ra gian bếp nấu Phía trên quá giang của vì kèo, thường có gác xép bằng gỗ, nơi để ngũ cốc và chỗ ngủ của con trai lớn chưa cưới vợ Mặt bằng nhà ở dân gian bố trí thành ba không gian, gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên và tiếp khách, phía gian bên
là nơi ở của con trai và bếp phụ, phía còn lại dành cho con gái đồng thời là nơi đặt bếp chính
Nhà ở dân gian truyền thống Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch
sử, qua bao đổi thay của xã hội vẫn giữ được những nét văn hoá, bản sắc và đặc điểm riêng của dân tộc mình Ngày nay, dưới tác động của đô thị hoá cũng như
sự phát triển của xã hội, văn hoá truyền thống và nhất là kiến trúc nhà ở truyền thống đang bị mai một dần, có nguy cơ sẽ biến mất Thay thế vào đó là những ngôi nhà bê tông cốt thép nhiều tầng, vững chắc nhưng vô cảm, nặng nề… làm mất đi vẻ đẹp thanh bình vốn có của làng quê Việt.[18]
Hình ảnh 1.6 Nhà ở dân gian vùng ĐBBB[18]
Trang 25Hình ảnh 1.7 Các loại nhà ở dân gian vùng DBBB[8]
1.1.3 Quá trình hình thành kiến trúc nhà ở dân gian của Việt Nam qua các thời kỳ
a Kiến trúc nhà ở dân gian Việt Nam thời kỳ Hùng Vương – Âu Lạc[18]
Trang 27Hình ảnh 1.10 Các hoa văn họa tiết mô phỏng nhà sàn cổ [19]
Dù là công trình nhỏ bé như kiến trúc dân gian hoặc đồ sộ, phức tạp như kiến trúc cung đình, vật liệu xây dựng sẵn có ở địa phương đã được khai thác
và sử dụng phổ biến và rộng khắp: tranh, tre, nứa, lá, gỗ, đá , sau này còn có các vật liệu khác như gạch, ngói, sành, sứ Hệ thống kết cấu khung cột, vì kèo
và các loại xà đều có quy định thống nhất về kích thước, tương quan về tỷ lệ và qua đó, những nghệ nhân trước đây đã sáng tạo ra một thức kiến trúc riêng biệt trong kiến trúc cổ và dân gian Việt Nam
Trang 28b Kiến trúc truyền thống Việt Nam thời kỳ Phong kiến[18]
Hình ảnh 1.11 Kiến trúc truyền thống Việt Nam thời kỳ phong kiến
Trải qua nhiều triều đại, nhiều thế kỷ với bao thăng trầm lịch sử, đến ngày nay các công trình đã trải qua nhiều lần trùng tu sửa chữa để tồn tại, một
số còn giữ được cốt cách nguyên sơ song cũng có nhiều công trình bị pha tạp
do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Tuy nhiên, những công trình này vẫn là dấu tích cụ thể ghi lại chặng đường sáng tạo và lao động nghệ thuật, mang dấu ấn lịch sử dân tộc rất rõ nét
Trang 29Hình ảnh 1.12 Kiến trúc truyền thống Việt Nam thời kỳ phong kiến
Kiến trúc cổ Việt Nam được chia thành các loại hình như sau:
Đây là loại hình kiến trúc bao gồm thành lũy, pháp đài, đồn, cửa ô Những kiến trúc quân sự quốc phòng cổ Việt Nam có mặt bằng bố cục gồm các hình như: hình vuông, hình chữ nhật, hình đa giác đều, hình tròn, hình
ngôi sao và những hình đặc biệt khác Vật liệu xây dựng các loại hình kiến trúc này rất phong phú Ở miền núi, người ta sử dụng phiến đá xanh có đẽo gọt hoặc không; ở miền trung du, người ta sử dụng đá ong; ở miền đồng
bằng sử dụng đất hoặc gạch và vôi vữa xây thành
c.Kiến trúc truyền thống Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc (gđ 1945-1975)[18]
Các công trình phong cách địa phương miền Bắc Pháp có mái với độ dốc lớn, các công trình phong cách vùng Paris có độ dốc vừa phải có hệ con sơn gỗ
đỡ phần mái nhô ra khỏi tường
Tuy nhiên cũng phải chú ý rằng kiến trúc phong cách địa phương
Pháp xây dựng ở Hà Nội không giống hoàn toàn ở chính quốc mà đã mang
nhiều tính công năng, thực dụng và dỡ bỏ nhiều những hình thức trang trí nguyên gốc
Trang 30Hình ảnh 1.13 Kiến trúc Đông Dương thời kỳ Pháp thuộc
Những công trình phong cách địa phương Pháp ở Hà Nội nhìn chung
mang đậm tính hồi cố, duyên dáng, mang nhiều nét kiến trúc các địa phương miền Bắc nước Pháp và vùng Paris, tuy nhiên đã có những biến đổi nhất định
để phù hợp với công năng mới và khí hậu nhiệt đời Việt Nam
Một số công trình tiêu biểu: Grand Lycée AIber Sarraut (1B Hoàng Văn Thụ), Petit Lycée (8 Hai Bà Trưng), Trường nữ học Pháp (58 Trần Phú, ảnh 3)
và một số biệt thự tại khu Ngoại giao đoàn
Đặc điểm nhận dạng: Nhà 2-3 tầng, mái dốc lợp ngói, có hệ con sơn đỡ mái bằng gỗ mảnh hình tam giác được tiện khắc công phu, hoạ tiết trang trí không nhiều nhưng khá tinh tế
Trang 31Thập kỷ 1920 ở Hà Nội, sau khi một loạt công trình đại diện cho chính quyền thực dân theo phong cách Tân Cổ điển được xây dựng và đưa vào sử dụng cho thấy chúng hoàn toàn không phù hợp với khí hậu cũng như truyền thống thẩm mỹ và cảnh quan ở đây
Bản thân giới trí thức Pháp ở thuộc địa cũng nhận ra việc áp đặt những giá trị văn hoá từ chính quốc vào một đô thị bản địa có truyền thống văn hoá lâu đời và rất khó chấp nhận
Do vậy việc tìm tòi một phong cách kiến trúc vừa có khả năng đáp ứng công năng hiện đại, vừa phù hợp với khí hậu, cảnh quan và truyền thống văn hoá địa phương được một loạt kiến trúc sư người Pháp và sau đó là người Việt theo đuổi, từ đó tạo ra một phong cách kiến trúc kết hợp sau này được gọi
là phong cách kiến trúc Đông Dương
Kiến trúc theo phong cách Đông Dương là những công trình có cấu trúc mặt bằng, hình khối hoàn toàn theo kiểu Pháp thịnh hành lúc bấy giờ, nhưng
đã có sự tìm tòi, biến đổi về mặt không gian và cấu tạo kiến trúc nhằm tạo ra những công trình có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, cảnh quan cũng như truyền thống văn hoá bản địa
Các kiến trúc sư theo phong cách này thường sử dụng những hình thức
và chi tiết kiến trúc truyền thống Việt Nam, Khmer trong việc tạo nên các bộ mái, ô văng che cửa, cùng các hoạ tiết trang trí khác
Nhìn chung đây là phong cách thành công nhất trong việc tạo ra những công trình kiến trúc đẹp, hiện đại, phù hợp với khí hậu, cảnh quan và văn hoá truyền thống bản địa thời kỳ Pháp thuộc
Một số công trình tiêu biểu: Toà nhà chính Đại học Đông Dương (19 Lê Thánh Tông), Sở Tài chính (ảnh 5), Bảo tàng Louis Finot (*) (1 Phạm Ngũ Lão), Viện Pasteur (1 Y-éc-xanh), Nhà thờ Cửa Bắc, Câu lạc bộ thuỷ quân (36 Trần Phú)
Trang 32Đặc điểm nhận dạng: Bố cục mặt bằng hình khồi đăng đối kiểu Châu Âu kinh điển Sử dụng nhiều thức cột, mái và các chi tiết kiến trúc cổ truyền Việt Nam và Khmer, hệ thống cửa lấy ánh sáng và thông gió tự nhiên được chú trọng
d.Kiến trúc truyền thống Việt Nam từ năm 1975 đến nay[18]
Hình ảnh 1.14 Kiến trúc truyền thống Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc
1.2 Tổng quan về kiến trúc nhà ở dân gian vùng Đồng bằng bắc bộ (ĐBBB)
1.2.1 Tổng quan về môi trường tự nhiên và xã hội vùng ĐBBB.[19]
a)Vị trí địa lý
Đồng bằng Bắc Bộ được hình thành do sự bồi đắp phù sa của Sông Hồng
và Sông Thái Bình Ranh giới tự nhiên của vùng này “bắt đầu ở phía đông bắc Yên Lập, đi men chân núi Yên Tử qua Phả Lại, vòng lên Lục Nam rồi theo chân đồi Lạng Giang mà tới Kép, tiếp theo chân đồi vùng Yên Thế sang Phú Bình, Phổ Yên, vòng chân núi Tam Đảo qua Đa Phúc sang Vĩnh Yên, Việt Trì
Trang 33rồi theo sông mà tới Bất Bạt Từ Bất Bạt, ranh giới phía Tây ĐBSH đi theo chân các núi Ba Vì, Viên Nam, Đồi Bù xuống dưới Xuân Mai, rồi tiếp theo chân các núi đá vôi qua Chợ Bến, Đục Khê, Đoan Vỹ, vòng lên Lạc Thuỷ rồi xuống Nho Quan, Rịa, từ đó đi ra biển theo chân dãy núi đá vôi ngăn cách Ninh Bình và Thanh Hoá”
Với ranh giới như vậy, ĐBBB bao gồm địa bàn của 12 tỉnh thành và được chia thành 2 tiểu vùng:
- Tiểu vùng đồng bằng sông Hồng gồm Thái Bình (trừ huyện Kiến Xương, Tiền Hải và Thái Thuỵ), Nam Định (huyện Mỹ Lộc, Nam Trực, Vụ Bản, Ý Yên và thành phố Nam Định), Ninh Bình (trừ huyện Kim Sơn), Hà Tây,
Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương (trừ Chí Linh), Vĩnh Phúc, Bắc Giang (Hiệp Hoà, Việt Yên) và Hà Nội
- Tiểu vùng duyên hải là địa bàn của các tỉnh Hải Phòng, Thái Bình (Kiến Xương, Tiền Hải, Thái Thuỵ), Nam Định (Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng) và Ninh Bình (Kim Sơn)
b) Đặc điểm khí hậu
ĐBBB thuộc vào vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều với một mùa đông thực sự Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22,5 - 23,5oC Lượng mưa trung bình năm 1400 - 2000 mm, nhưng không đều Mùa hè nhiệt
độ lên cao, hướng gió chủ đạo là gió Đông Nam và gió Nam Mùa đông nhiệt
độ trung bình xuống dưới 18oC, thường có gió mùa Đông Bắc mang theo hơi lạnh
Ngoài ra đây cũng là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới, kèm theo những cơn gió mạnh, gió giật và mưa dai dẳng
c Đặc điểm địa hình và môi trường tài nguyên
Địa hình ĐBBB có đặc trưng cơ bản là thấp và tương đối bằng phẳng, dốc thoải theo hướng tây bắc - đông nam Độ cao trung bình từ 15m đến <1m
Trang 34so với mực nước biển nhưng không đồng đều Ngoài ra trong lòng đồng bằng
còn xen kẽ rải rác các đồi sót với các cao độ khác nhau (Hình 1.15)
Hình 1.15 Hệ thống đồi thấp tại Chí
Linh, Hải Dương
Hình 1.16 Đê ven sông Hồng tại
Hoài Đức, Hà Tây
Đặc điểm thứ hai của ĐBBB là hệ thống đê chống lụt dài hàng ngàn km
Hệ thống này ngăn chặn sự bồi đắp của tự nhiên của sông Hồng, làm xuất hiện nhiều ô trũng ngập Như vậy địa hình ĐBBB là kết quả của sự bồi đắp tự nhiên kết hợp với sự can thiệp của con người
d Văn hóa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Trong số các tôn giáo tín ngưỡng có mặt trong đời sống tâm linh của người Việt, phổ biến nhất vẫn là tục thờ cúng tổ tiên Theo Cao Thế Trình,
“hiện tượng thờ cúng tổ tiên ở người Việt không phải là một hình thức tín ngưỡng thuần nhất, đơn nguyên mà là một hình thái tín ngưỡng mang tính đa nguyên, tổng hợp”, bao gồm một số lớp sau:
- Tục thờ người chết nói chung
- Tục thờ Gia tiên
- Tục thờ Tổ tộc
Trang 35- Tục thờ Quốc tổ
Bản thân tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng được pha trộn, đan xen với các hình thái thờ phụng khác như thờ gia thần (ông Bếp, Thổ công/Thổ địa và Bản gia ngũ tự Phúc thần) hay hiện tượng tam giáo đồng nguyên trong đời sống tâm linh của người Việt
Về nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt còn đang
là vấn đề tranh cãi Một số ý kiến cho rằng nghi thức thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng thuộc văn hóa Hán được du nhập vào đời sống tinh thần người Việt Đầu tiên nó được thực hiện trong những gia đình người Hán di cư xuống Giao Châu trong thời Bắc thuộc rồi dần dần lan sang người Việt Cụ thể hơn, Trần Quốc Vượng khẳng định sự thờ cúng tổ tiên, tổ tộc và quốc tổ là do ảnh hưởng của Nho giáo Bằng chứng là người Việt cổ - mà người thừa kế thuần phác là người Mường, không có bàn thờ tổ tiên trong nhà
+Một số ý kiến khác cho rằng chế độ thờ cúng tổ tiên có nguồn gốc bản địa nhưng đã được cấu trúc lại theo Trung Quốc
Hình 1.17 Bàn thờ tổ tiên trong nhà ở dân gian vùng ĐBBB
Trang 36Dù sao, trong quá trình giao lưu và tiếp xúc văn hóa, tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên của người Việt vẫn giữ/đã có được những nét độc đáo riêng, phù hợp với lối sống, đặc điểm kinh tế và điều kiện xã hội của mình Quy trình sản xuất lúa nước tiểu canh làm cho người Việt gắn bó với gia đình (thường là gia đình hạt nhân) chặt hơn với dòng họ Và do vậy, trong làng Việt truyền thống, hầu
như gia đình nào cũng có bàn thờ tổ tiên (dù thờ chính hay thờ vọng) (Hình
1.17) Tuy nhiên không phải dòng họ nào cũng có từ đường
Trong khi đó ở Trung Hoa, bàn thờ tổ tiên không bắt buộc lập trong mỗi gia đình, song dòng họ nào cũng có từ đường Cùng với sự du nhập và phát triển của Nho giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có điều kiện tồn tại và ngày càng bám rễ chặt chẽ trong đời sống tâm linh Việt Nam để trở thành một thứ phong tục, đạo lý của người Việt [8]
1.2.2 Các loại hình nhà ở dân gian vùng ĐBBB
Phân loại theo quy mô:
Xưa kia các cụ thường gọi là: Nhà Đại đăng khoa Nhà Trung đăng khoa Nhà Tiểu đăng khoa
Nhà có quy mô vừa:
Gia chủ thuộc tầng lớp xưa kia khá giả, buôn bán giàu có Khuôn viên
Trang 37thường rộng 400-500m2, có đủ các thành phần nhà chính, nhà phụ, sân, vườn,
ao, chuồng, trại…Kết cấu gỗ tốt loại 2 như lim, xoan…Chi tiết xà, bẩy, câu đầu, ván thuận, ván bưng…Trang trí, trạm lộng tinh xảo và phong phú song kém hơn so với nhà quy mô lớn
Nhà có quy mô nhỏ:
Chủ nhà là tầng lớp trung nông Khuôn viên thường có diện tích 300m2 Nhà chính có từ 3-5 gian nhưng long nhà không rộng lắm, nhà lợp mái ngói, hệ thống kết cấu và cấu kiện bằng gỗ loại 3 như xoan ngâm, được trang trí đơn gian Các thành phần vườn, sân, chuồng trại khác với hai loại trên
200-Phân loại nhà gia tộc:
Nhà ở kiểu kết hợp nhà thờ họ: thường để con trai trưởng họ, trưởng chi trông nom luôn nhà thờ họ
Nhà ở của các gia đình trong họ: thường ở quay quần với nhau, ở xung quanh nhà thờ họ
Phân loại nhà theo các thế hệ:
Nhà 2 thế hệ: gồm có cha, mẹ, con cái
Nhà 3 thế hệ: gồm có ông bà, bố mẹ, con cái
Nhà 4 thế hệ: gồm có cụ, ông bà, bố mẹ, con cái Xưa kia, “tứ đại đồng đường” được coi là nhà có phúc
Phân loại nhà theo hình thức kết cấu gỗ:
Loại kết cấu quá giang: Hệ thống xà ngang liên kết 4 cột (hai cột cái và
2 cột con) ở trong mặt phẳng kèo Lắp dựng vì kèo cột cái này trước rồi mới tới các phần khác của hệ thống kết cấu vì kèo khung nhà gỗ truyền thống
Loại kết cấu xà lòng: Giữa 2 cột cân liên kết bởi 1 xà ngang Không gian thoáng có được ở giữa 2 cột cái và cột con
Loại kết cấu trốn cột: Loại này bớt đi 1 hay 2 cột, các cột đó kê trên xà ngang (xà vượt khoảng chiều dài lớn tạo ra không gian lớn, không gian thoáng,
Trang 38lại tiết kiệm cột
Phân loại nhà theo hình thức vì kèo:
Kiểu: quá giang, tiền kê hậu bẩy
Kiểu: quá giang kẻ truyền trốn cột Kiểu: xà long kẻ trường
Kiểu: Lọng tàn
Kiểu: Nội khách ngoại tự
Kiểu: Tiền tế hậu tự
Và biến thể từ các kiểu dạng trên
Trang 39Hình ảnh 1.18 Hình thức vì kèo trong nhà ở dân gian
Trang 401.2.3.Khái niệm về các vật liệu truyền thống xây dựng nên công trình kiến trúc.[1]
Vật liệu xây dựng kiến trúc cổ truyền Việt Nam, trước hết phải kể đến: cây tre, tre có mặt ở khắp nơi trên mọi miền đất nước: từ ven biển, đồng bằng đến trung du và miền núi Cây tre Việt Nam không những nhiều về số lượng
mà còn phong phú về chủng loại: tre ngà, tre tàu, tre vầu, hóp, luồng, mai, trúc, dang nứa Tre được dùng làm hàng rào quanh nhà, quanh làng để giới hạn diện tích và bảo vệ an ninh cho khuôn vào nhà cửa, làng xóm Ngoài ra luỹ tre xanh còn có tác dụng cải thiện khí hậu môi sinh, mát mẻ khi oi bức, che chắn khi gió bão và còn là kho dự trữ vật liệu, nguồn lợi kinh tế cho gia đình người nông dân Việt Nam Trong ngôi nhà ở dân gian cổ truyền đơn sơ và mộc mạc, tre được sử dụng là vật liệu chủ yếu để tạo dựng nên ngôi nhà, kết cấu bộ khung sườn chịu lực, cột, vì kèo, đòn tay, rui mè, cốt vách, phên dại, cửa đi, cửa sổ cho đến những sợi lạt buộc, tre leo, đồ đạc, giường, bàn ghế, chạn bát và rất nhiều công cụ thường dùng trong đời sống của người Việt Nam
Trước khi sử dụng làm nhà cửa tre thường được xử lý qua ngâm tẩm (phương thức truyền thống dân gian là ngâm trong ao bùn), để tránh mối mọt
và dễ dàng nắn thẳng, uốn cong tuỳ theo yêu cầu cấu kiện Kĩ thuật liên kết, mộng, ngoàm, con xỏ của kết cấu tre chỉ cần những công cụ đơn giản: con dao sắc lưỡi, cây đục, cây chàng, cái cưa dễ dàng trang bị trong đời sống kinh
tế nghèo nàn của nông thôn với phương thức xây dựng chủ yếu là tương trợ, hợp tác của tình làng, nghĩa xóm vốn có từ lâu đời
Ngoài tre, gỗ là loại nguyên vật liệu xây dựng bền chắc hơn, cao cấp hơn được sử dụng ở những công trình kiến trúc cổ có yêu cầu quy mô đồ sộ, bề thế
và tuổi thọ dài lâu hơn Gỗ rừng có các loại gỗ quý là lí tưởng như: Đinh, Lim, Sến, Táu (gỗ tứ thiết), thứ kém hơn như: Tràm, Chai, Dẻ, Re, Giồi, Sồi, Mỡ Trong các nhà ở gia đình thường trồng và sử dụng gỗ làm nhà có: Mít, Xoan