1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giải pháp chuẩn bị kỹ thuật khu đất xây dựng ứng phó với biển đổi khí hậu ở đảo quan lạn huyện vân đồn tỉnh quảng ninh

116 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CBKT NHẰM ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU NƯỚC BIỂN DÂNG TẠI KHU VỰC ĐẢO QUAN LẠN – HUYỆN VÂN ĐỒN – TỈNH QUẢNG NINH .... Theo kịch bản về

Trang 1

NGUYỄN KHẢ CƯỜNG

GIẢI PHÁP CHUẨN BỊ KỸ THUẬT ỨNG PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU Ở ĐẢO QUAN LẠN TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CƠ SỞ HẠ TẦNG

Hà Nội - 2019

Trang 2

NGUYỄN KHẢ CƯỜNG

KHÓA 2017 - 2019

GIẢI PHÁP CHUẨN BỊ KỸ THUẬT ỨNG PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ

HẬU Ở ĐẢO QUAN LẠN TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Kỹ thuật cơ sở hạ tầng

Mã số: 60.58.02.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CƠ SỞ HẠ TẦNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN THỊ HƯỜNG XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

PGS TS VŨ THỊ VINH

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại khoa Sau Đại học – Trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ chuyên ngành kỹ thuật cơ sở hạ tầng

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Trần Thị Hường đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp trong Công ty và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn Thạc sĩ này

Xin trân trọng cảm ơn !

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Khả Cường

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Khả Cường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT VI DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VII DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VIII

MỞ ĐẦU 1

*Lý do chọn đề tài 1

*Mục đích nghiên cứu 3

*Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

*Phương pháp nghiên cứu 3

*Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

*Các thuật ngữ chính 4

*Cấu trúc luận văn 5

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ KỸ THUẬT ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẢO QUAN LẠN – HUYỆN VÂN ĐỒN – TỈNH QUẢNG NINH 6

1.1 Khái quát về toàn bộ khu vực đảo Quan Lạn 6

1.1.1 Vị trí địa lý 6

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 7

1.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 11

1.1.4 Đặc điểm cơ sở hạ tầng kỹ thuật 13

1.2 Thực trạng công tác chuẩn bị kỹ thuật tại đảo Quan Lạn hiện nay 20

1.2.1 Thực trạng công tác lựa chọn đất trong quy hoạch xây dựng 20

1.2.2 Thực trạng cốt nền xây dựng 20

1.2.3 Thực trạng thoát nước mưa 22

Trang 6

1.2.4 Thực trạng công tác san nền 23

1.2.5 Thực trạng các công tác chuẩn bị kỹ thuật khác 23

1.3 Ảnh hưởng của thiên tai lũ lụt đối với toàn tỉnh Quảng Ninh và đối với khu vực đảo Quan Lạn 25

1.3.1 Ảnh hưởng đối với tỉnh Quảng Ninh 25

1.3.2 Ảnh hưởng đối với khu vực đảo Quan Lạn 27

1.4 Ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đối với công tác chuẩn bị kỹ thuật đảo Quan Lạn 29

1.4.1 Đối với cao độ nền xây dựng 29

1.4.2 Đối với hệ thống thoát nước mưa 30

1.4.3 Đối với hệ thống đê trên đảo Quan Lạn 30

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CBKT NHẰM ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU NƯỚC BIỂN DÂNG TẠI KHU VỰC ĐẢO QUAN LẠN – HUYỆN VÂN ĐỒN – TỈNH QUẢNG NINH 33

2.1 Cơ sở lý luận 33

2.1.1 Nguyên tắc ứng phó với biến đổi khí hậu 33

2.1.2 Nguyên tắc trong quy hoạch CBKT ứng phó với BĐKH 33

2.1.3 Nguyên tắc và giải pháp chuẩn bị kỹ thuật cho khu vực ven biển – hải đảo 35

2.2 Cơ sở pháp lý 36

2.2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật về hạ tầng kỹ thuật đô thị và phòng chống thiên tai 36

2.2.2 Quy hoạch phân khu chức năng tỉ lệ 1/2000 khu vực đảo Minh Châu – Quan Lạn, khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 39

2.2.3 Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho tỉnh Quảng Ninh 44

2.3 Cơ sở thực tiễn 55

2.3.1 Kinh ngiệm trong công tác CBKT phòng chống lũ lụt, nước biển dâng trên Thế giới 55

Trang 7

2.3.2 Kinh nghiệm trong công tác CBKT phòng chống lũ lụt, nước biển dâng ở Việt

Nam 59

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUẨN BỊ KỸ THUẬT NHẰM ỨNG PHÓ VỚI BIỂN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẢO QUAN LẠN – HUYỆN VÂN ĐỒN – TỈNH QUẢNG NINH 64

3.1 Giải pháp về lựa chọn đất xây dựng có tính đến ảnh hưởng của BĐKH 64

3.1.1 Đánh giá riêng lẻ từng yếu tố tự nhiên 64

3.1.2 Đánh giá tổng hợp đất xây dựng 66

3.1.3 Lựa chọn đất xây dựng có tính đến ảnh hưởng của BĐKH 68

3.2 Giải pháp về quy hoạch cao độ nền xây dựng và thoát nước mưa có tính đến ảnh hưởng của BĐKH 69

3.2.1 Giải pháp về quy hoạch cao độ nền xây dựng 69

3.2.2 Giải pháp về thoát nước mưa 73

3.2.3 Giải pháp thoát nước mưa theo hướng bền vững 77

3.3 Đề xuất giải pháp xây dựng cấu kiện Tetrapod giảm sóng biển tràn hiệu quả 78

3.3.1 Xác định các thông số của đê 78

3.3.2 Đề xuất dạng mặt cắt ngang đê biển hợp lý 83

3.3.3 Khả năng giảm sóng tràn và hiệu quả cải thiện của cấu kiện Tetrapod trước đê 84

3.4 Các giải pháp khác 85

3.4.1 Giải pháp cải tạo địa hình 85

3.4.2 Giải pháp gia cố mái dốc, vệt tụ thủy 87

3.4.3 Các giải pháp hỗ trợ 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

KẾT LUẬN 92

KIẾN NGHỊ 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Số hiệu

bảng, biểu

Bảng 1.1 Tổng chiều dài các tuyến đê biển 25 Bảng 2.1 Bảng tổng hợp cơ cấu sử dụng đất của 12 phân khu thuộc

đảo Quan Lạn

40

Bảng 2.2 Biến đổi của nhiệt độ trung bình theo các mùa trong

năm (oC) so với thời kỳ cơ sở của tỉnh Quảng Ninh (1986 - 2005)

45

Bảng 2.3 Biến đổi của lượng mưa theo các mùa trong năm (%)

so với thời kỳ cơ sở của tỉnh Quảng Ninh (1986 - 2005)

Bảng 3.2 Tần suất thiết kế và mức đảm bảo thiết kế công trình đê

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Số hiệu

hình vẽ

Hình 1.2 Các công trình công cộng trên địa bàn 12

Hình 1.6 Hình ảnh tuyến đê vào năm 2015 đã bị hoang hóa 30 Hình 1.7 Hình ảnh tuyến đê khi đang tiến hành nâng cấp năm 2018 31 Hình 2.1 Quy hoạch phân khu chức năng khu vực đảo Minh Châu –

Quan Lạn tỉ lệ 1/2000

39

Hình 2.3 Kịch bản biến đổi nhiệt độ trung bình năm ( o C) ở khu vực

Hình 2.8 Bản đồ nguy cơ ngập ứng với mực nước biển dâng 100cm,

cụm đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

55

Hình 2.9 Hà Lan tiên phong trong cuộc chiến chống BĐKH 56 Hình 2.10 Đê biển Afsluitdijk - công trình kỳ vĩ của người Hà Lan 57

Trang 11

Hình 2.11 Công trình trị thủy Oosterschelde thuộc dự án Delta Works 58 Hình 2.12 Đê biển Saemangeum – Hàn Quốc dài nhất thế giới 59 Hình 2.13 Đê chắn sóng và cảng xuất sản phẩm nhà máy lọc dầu

Hình 3.8 Hướng thoát nước mưa của lưu vực 1 74 Hình 3.9 Hướng thoát nước mưa của lưu vực 2 75 Hình 3.10 Giải pháp thoát nước mưa bền vững với mái xanh tự nhiên 78 Hình 3.11 Cấu kiện Tetrapod bảo vệ công trình đê biển, đụn cát trong

bão

83

Hình 3.12 Dạng mặt cắt hợp lý cho đê biển đoạn thuộc xã Quan Lạn 84 Hình 3.13 Bố trí các đơn nguyên nhỏ phù hợp với địa hình 86 Hình 3.14 Bố trí các công trình theo nhiều cấp nền 86 Hình 3.15 Trồng cỏ Vetiver chống xói mòn đất 87

Trang 12

MỞ ĐẦU

*Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến động về chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường Trong đó, biến đổi khí hậu đang là vấn đề toàn cầu được loài người quan tâm sâu sắc Theo kết quả đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất trước tác động của Biến đổi khí hậu Nếu mực nước biển dâng cao lên 1 m, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội (GDP) [1]

Biến đổi khí hậu đã và đang tác động mạnh mẽ đến nước ta mà điển hình

là làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão lũ, ngập lụt, hạn hán ngày càng khốc liệt hơn Khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình nước ta tăng khoảng 0,7°C; mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm Trong khi đó, lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa năm đã giảm khoảng 2% trong 50 năm qua

Số lượng những đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong 2 thập niên gần đây, chỉ còn 15 - 16 đợt không khí lạnh (bằng 56% trung bình nhiều năm trước) Đồng thời số cơn bão có cường độ mạnh nhiều hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam, mùa bão kết thúc muộn hơn và nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường, khó đoán hơn Sau bão thường là mưa lũ, sạt lở đất, lũ quét, lũ ống [1]

Là một tỉnh ven biển Việt Nam, trong những năm qua song song với những lợi thế mà biển đem lại, Quảng Ninh đã phải gánh chịu không ít những tác động tiêu cực Dưới những biến động bất thưởng của Biến đổi khí hậu, Quảng Ninh sẽ gánh chịu những ảnh hưởng rõ rệt do Biến đổi khí hậu gây ra

Trang 13

Đảo Quan Lạn thuộc quần đảo Vân Hải huyện Vân Đồn, trên đảo có 02

xã trực thuộc huyện Vân Đồn là: xã Quan Lạn, xã Minh Châu Bề rộng đảo hẹp, địa hình tương đối phức tạp và độ dốc thay đổi từng khu vực Cụ thể có 3 loại địa hình: địa hình đồi núi, địa hình trung du và đồng bằng, địa hình trũng thấp ven biển [23]

Những năm gần đây các cơn bảo đổ bộ vào đảo Quan Lạn thường đi kèm mưa lớn, có cơn bão lượng mưa từ 100 – 200mm, là nguyên nhân chính tạo ra

lũ và gây xói mòn, sạt lở đất, đổ nhà… Năm 2010, trận mưa đá lớn và lốc xoáy đã làm nhiều tàu thuyền du lịch bị chìm Năm 2013, siêu bão Haiyan gây mưa lớn kết hợp gió to khiến hàng trăm nhà dân bị tốc mái

Không chỉ dừng lại ở đó, nhiệt độ trên đảo Quan Lạn đang có dấu hiệu thay đổi bất thường so với nhiều năm trước làm gia tăng nguy cơ cháy rừng

Số ngày có nhiệt độ không khí trung bình trên 30oC (thời tiết oi bức) xuất hiện nhiều hơn, nắng nóng có xu hướng xuất hiện sớm và kết thúc muộn, số đợt nóng nhiều hơn và xảy ra cục bộ Tại đảo Quan Lạn cũng xuất hiện nhiều đợt rét đậm, rét hại kéo dài, kéo nền nhiệt độ thấp hơn giá trị trung bình nhiều năm khoảng 3 – 4oC Ngoài ra, mỗi năm có khoảng trên dưới 100 ngày có mưa, diễn biến mưa thì phức tạp hơn, xuất hiện nhiều trận mưa lớn bất thường kèm theo mưa đá, hiện tượng sạt lở đất sau mưa đã xuất hiện trong 5 năm gần đây gây

Theo kịch bản về biến đổi khí hậu năm 2016, các khu vực ven biển, các đảo dân sinh của tỉnh Quảng Ninh trong đó có đảo Quan Lạn là những nởi chịu ảnh hưởng nhiều nhất của BĐKH

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp chuẩn bị kỹ thuật khu đất xây dựng ứng phó với biển đổi khí hậu ở đảo Quan Lạn – huyện Vân Đồn – tỉnh Quảng Ninh” là cần thiết và mang tính thực tiễn cao

Trang 14

*Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu tại đảo Quạn Lạn

*Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm ứng phó biến đổi khí hậu nước biển dâng gây ngập lụt tại Quan Lạn

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Toàn bộ khu vực đảo Quan Lạn với diện tích 2400ha + Về thời gian: Theo quy hoạch chung đến năm 2030

*Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập; kế thừa tài liệu, kết quả đã nghiên cứu;

- Phương pháp phân tích, đánh giá các thông tin đã thu thập;

- Phương pháp dự báo, đề xuất giải pháp mới

- Phương pháp chuyên gia

*Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho công tác CBKT và phòng chống thiên tai do BĐKH gây ra đối với những khu vực ven biển, hướng đến mục tiêu xây dựng và phát triển đô thị bền vững trong tương lai

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để triển khai các giải pháp chuẩn bị

kỹ thuật cho đảo Quan Lạn, cũng như có thể áp dụng cho các đảo khác có điều kiện địa lý tương đồng trong cả nước

Trang 15

*Các thuật ngữ chính

- Chuẩn bị kỹ thuật (CBKT) cho khu đất xây dựng

Là những giải pháp sử dụng và cải tạo điều kiện tự nhiên phục vụ cho kỹ thuật xây dựng và tổ chức không gian đô thị, không gian sản xuất, tổ chức đời sống, tổ chức cảnh quan và môi trường đô thị [21]

- Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người [1]

- Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu bao gồm:

+ Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên do sự nóng lên của bầu khí quyển toàn cầu

+ Sự dâng cao mực nước biển do giãn nở vì nhiệt và băng tan

+ Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển

+ Sự di chuyển của các đới khí hậu trên các vùng khác nhau của Trái Đất + Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác

+ Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và

thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, địa quyển [Theo Ủy ban liên chính

phủ về biến đổi khí hậu, IPCC]

- Nước biển dâng (NBD)

Nước biển dâng là sự dâng lên của mực nước của đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều cường, nước dâng do bão Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì

có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác [1]

Trang 16

- Kịch bản biến đổi khí hậu

Là sự khác biệt giữa kịch bản khí hậu và khí hậu hiện tại Do kịch bản biến đổi khí hậu xác định từ kịch bản khí hậu, nó bao hàm các giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng [1]

- Ứng phó với biến đổi khí hậu

Là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH

+ Thích ứng với BĐKH: là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc hoạt động của con người đối với hoàn cảnh hoặc thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao dộng và biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng

và tận dụng cơ hội do nó mang lại

+ Giảm nhẹ BĐKH: là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính

*Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn được cấu trúc trong ba chương:

- Chương 1 Thực trạng công tác chuẩn bị kỹ thuật ứng phó với biến đổi khí hậu tại đảo Quan Lạn – Huyện Vân Đồn – Tỉnh Quảng Ninh

- Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu các giải pháp chuẩn bị

kỹ thuật nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu

- Chương 3 Đề xuất một số giải pháp chuẩn bị kỹ thuật nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu cho đảo Quan Lạn – Huyện Vân Đồn – Tỉnh Quảng Ninh

Trang 17

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUẨN BỊ KỸ THUẬT ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẢO QUAN LẠN – HUYỆN VÂN ĐỒN

– TỈNH QUẢNG NINH 1.1 Khái quát về toàn bộ khu vực đảo Quan Lạn

+ Phía Tây giáp vịnh Bái Tử Long

+ Phía Nam giáp biển Đông và đảo Thượng Mai

+ Phía Bắc giáp sông Mang và xã Bầu Sen

Hình 1.1: Vị trí khu vực đảo Quan Lạn [13]

Trang 18

- Diện tích đảo Quan Lạn là 2400 ha, diện tích đất rừng chiếm 330ha Được phân theo loại trung bình dựa trên kích thước đảo Dân số toàn đảo khoảng

7000 người [22]

- Khu vực nghiên cứu có điều kiện thuận lợi về vị trí, thuận tiện về giao thông và mối quan hệ với các đô thị lớn trong vùng Khu vực nghiên cứu được xác định với vai trò trung tâm kinh tế biển, đảo và trọng tâm là phát triển du lịch chất lượng cao

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

- Nhiệt độ không khí cao nhất : 39,6oC

- Nhiệt độ không khí trung bình mùa hè : 29oC

- Nhiệt độ không khí trung bình mùa đông : 12oC

- Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm : 23oC [23]

* Lượng mưa

- Số ngày mưa trung bình trong năm khoảng : 114 ngày

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng : 1245 mm

- Lượng bốc hơi trung bình năm : 722mm/năm [23]

Trang 19

- Tổng số giờ nắng trong năm : 1464,6 h/năm

- Tổng lượng bức xạ hàng năm : 109,4 kcal/ha [23]

* Gió bão

- Gió mùa Đông Nam thường bắt đầu từ tháng 05 đến tháng 10 mang theo nhiều hơi nước từ biển vào gây nên các trận mưa rào Trong những tháng này, đôi khi có gió bão kèm theo mưa lớn gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống

và sản xuất

- Gió mùa Đông Bắc thường bắt đầu tháng 11 đến tháng 4 năm sau Thời tiết thời gian này thường lạnh và khô ở đầu mùa và ẩm ướt vào tháng 2 và 3; tháng 12 và tháng 1 đôi khi có sương mù, sương giá

- Tốc độ gió trung bình hàng tháng dao động từ 2.0 m/s đến 2.9 m/s

- Tốc độ gió lớn nhất ghi nhận lên đến 34 m/s [23]

b Địa chất thủy văn và địa chất công trình

* Địa chất thủy văn

- Mực nước mạch nông khoảng 5m

- Chất lượng nước nhạt rất ít sắt và không có mùi tành

- Mực nước mạch sâu từ 30-50m, thay đổi theo độ cao, địa hình

Trang 20

- Các giếng đào của dân cư trong vùng có biên độ dao động giữa các mùa thay đổi trong phạm vi từ 1,5 – 2,5m [23]

* Địa chất công trình

- Địa tầng được khảo sát tại khu vực mỏ cát Vân Hải có mặt các trầm tích giới Paleozoi và Kainozoi [23]

Giới Paleozoi

+ Cát kết thạch anh màu xám đôi khi phớt tím

+ Cát kết dạng thạch anh Quavzit màu trắng phớt vàng

+ Cát thạch anh trắng nâu đỏ, bột kết, sét bột kết, sét kết

Giới Kainozoi

+ Trầm tích đệ tứ trên đảo Quan Lạn phân bố rộng rãi, trầm tích sớm –

giữa lộ ra rất hạn hẹp

+ Trầm tích biển với diện tích nhỏ hẹp ở khu vực Cầu cảng

+ Trầm tích hỗn hợp biển đầm lầy, kiểu trầm tích này lộ ra ở xã Quan Lạn với diện tích không lớn

+ Trầm tích hỗn hợp biển, gió, biển đầm lầy, biển hiện đại.v.v.v

- Qua nhiều nghiên cứu thành phần thạch học cho thấy địa chất ở đây tốt,

độ chịu tải R ≥ 1,5 kg/cm2 ở các khu vực cồn cát và ven sườn núi; R < 1,5 kg/cm2 ở các khu vực đầm lầy bãi sú vẹt [23]

- Địa tầng khu vực khảo sát có thể chia thành những lớp sau:

+ Lớp 1: Đất đắp, đất thổ nhưỡng, đất phủ

+ Lớp 2: Sét pha xen kẹp cát, lẫn hữu cơ, màu xám ghi, xám đen, dẻo chảy – chảy

Trang 21

+ Lớp 3: Sét có chỗ xem kẹp cát, lẫn hữu cơ, màu xám ghi, xám đen, trạng thái chảy

+ Lớp 4: Sét pha, cát pha có chỗ kẹp cát, màu xám vàng, xám trắng, xám ghi, hay xám nâu, dẻo cứng – cứng

+ Lớp 5: Cát mịn – vừa, cát thô, màu xám ghi, xám trắng, xám vàng, trạng thái rời rạc – chặt vừa

+ Lớp 6: Cát kết hạt mịn – vừa, liên kết rất yếu, dễ bị vụn tơi thành cát khi khoan, màu xám, xám ghi, xám nâu

+ Lớp 7: Sét pha lẫn sỏi sạn và dăm, màu xám vàng, xám trắng, dẻo cứng – nửa cứng

+ Lớp 8: Đá cát kế, bột kết và sét kết phong hóa mạnh [23]

c Hải văn

Khu vực đảo Quan Lạn mang tính nhật triều thuần túy, trong ngày nước lên 1 lần và xuống 1 lần Tổng biên độ của sóng nhật triều chính lớn hơn so với sóng bán triều Độ lớn của triều tăng 4,0m vào lúc triều cường

Các eo, lạch chịu chi phối và ảnh hưởng của biển cũng như nước lục địa, cao trình mực nước biển thuộc hệ tọa độ quốc gia ở các trạm như sau:

+ Trạm Hòn Gai:

Mực nước triều: Hmax = +4,1m, Htb = +2,06m; Hmin = +0,2m

Số ngày trong năm có mức triều cao > +3,5m là 120 ngày

+ Trạm Hòn Dấu:

Mực nước triều: Hmax = +3,8m; Htb = +1,86m; Hmin = +0,1m

Số ngày trong năm có mức triều cao > +3,0m là 181 ngày [23]

Trang 22

d Tài nguyên khoáng sản

- Đảo Quan Lạn có trữ lượng lớn, khoảng 100 triệu tấn cát thủy tinh với chất lượng cao Công suất khai thác đạt đến hàng nghìn tấn trên năm [23] 1.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Tổng diện tích đất: 2.226 ha bao gồm các loại đất:

+ Đất nông nghiệp 1.636,5 ha chiếm 74% tổng quỹ đất

+ Đất phi nông nghiệp 466,5 chiếm 21% tổng quỹ đất

Trong đó: Đất nhà ở chiếm 31ha (1,4% tổng quỹ đất); Đất chuyên dụng chiếm 400ha (18% tổng quỹ đất); Đất tôn giáo chiếm 1,2ha (0,05% tổng quỹ đất); Đất nghĩa trang chiếm 23ha (1% tổng quỹ đất); Sông hồ chiếm 11ha (0,5% tổng quỹ đất)

+ Đất chưa sử dụng đến 123ha chỉ chiếm 5%.[23]

* Nhà ở

- Trong khu vực nghiên cứu có 1128 hộ, nhà ở của dân cư chủ yếu là nhà

kiên cố, mất độ xây dựng tập trung cao tại khu trung tâm xã, theo hình thức

Trang 23

nhà ở hiện đại tầng cao 2-3 tầng, có 1 số nhà ở kết hợp dịch vụ xây dựng cao 3-4 tầng [23]

* Công trình công cộng

- Trong khu vực thuộc 2 xã có cơ sở y tế (bệnh viện đa khoa Vân Đồn, trạm

y tế xã), trường học các cấp (trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học Quan Lạn), đài truyền hình – truyền thanh xã, nhà văn hóa các thôn các công trình đều được xây dựng kiên cố [23]

Hình 1.2 Các công trình công cộng trên địa bàn [23]

Trang 24

- Trên toàn đảo có khoảng gần 1000 phòng nghỉ, bước đầu hình thành khu

du lich nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp trên đảo Năm 2017 tổng số khách đến địa phương ước đạt trên 50.000 du khách đến thăm quan và nghỉ dưỡng 1.1.4 Đặc điểm cơ sở hạ tầng kỹ thuật

a Hiện trạng hệ thống giao thông

* Mạng lưới đường bộ

- Hệ thống đường bộ được thiết kế dựa trên điều kiện địa hình hiện trạng, mạng lưới đường xây dựng dựa trên trục chính xuyên đảo Các tuyến đường được quy hoạch dựa trên cấu trúc xương cá, ô bàn cờ Các tuyến đường chính liên kết trực tiếp với các bến, cảng du lịch

- Tuyến đường xuyên đảo đóng vai trò là tuyến giao thống huyết mạch xuyên suốt, liên kết giữa các khu vực chức năng, khu dân cư toàn đảo Tuyến đường xuyên đảo Quan Lạn – Minh Châu được đi vào sử dụng từ năm 2015 với chiều dài toàn tuyến trên 15km, điểm đầu tại cảng Cồn Trụi xã Minh Châu, điểm cuối tại cảng Quan Lạn; theo tiêu chuẩn đường đô thị và đường cấp III đồng bằng

- Đường giao thông nông thôn: cải tạo và nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn tại các khu vực dân cư hiện hữu trên địa bàn 2 xã để đạt tiêu chuẩn đường nông thôn mới Mặt đường rộng 3 - 5m, nền đường rộng 5 - 8m

- Trên đảo đã có các bãi đỗ xe tập trung phục vụ các khu chức năng, nhu cầu người dân và các phương tiện vận tải công cộng trên đảo

- Mật độ giao thông tập trung chủ yếu tại trung tâm 2 xã Quan Lạn và Minh Châu Phương tiện giao thông công cộng chủ yếu trên đảo là xe điện phục vụ khách du lịch và xe Lam phục vụ chuyên chở hàng hóa Đây là loại hình giao thông phù hợp với địa hình và điều kiện trên đảo [23]

Trang 25

- Khai thác các tuyến quanh đảo, liên kết giữa các bến thuyền du lịch

- Cảng Quan Lạn (thôn Thái Hòa, xã Quan Lạn): Cải tạo, nâng cấp thành cảng hành khách, quy mô 150 – 200 ghế, công suất 200.000 hành khách/năm

- Cảng Cồn Trụi (mũi Minh Châu): Nâng cấp cải tạo thành cảng tổng hợp, tiếp nhận tàu 1000 – 2000 DWT, công suất 0,5 – 1 triệu tấn/năm

- Xây dựng 03 bến thuyền vận tải hàng hóa:

+ 01 bến tại phân khu 1 (thôn Tân Phong, xã Quan Lạn)

+ 01 bến tại phân khu 9 (thôn Tiền Hải, xã Minh Châu)

+ 01 bến tại phân khu 5 (thôn Hải Yến, xã Quan Lạn)

- Giao thông kết nối giữa đảo Quan Lạn và các đảo lân cận hoàn toàn thông qua đường thủy Hiện có nhiều tuyến phà cao tốc và phà chậm xuất phát chủ yếu từ cảng Cái Rồng tới đảo Quan Lạn

- Các tuyến phà tuy chạy chậm nhưng thường xuyên và mang tính kinh tế hơn do vậy là phương tiện chính để kết nối giữa các đảo Di chuyển bằng tàu cao tốc đắt đỏ hơn nhưng chắc chắn sẽ được các khách du lịch cao cấp lựa chọn để tiết kiệm thời gian

b Hiện trạng cấp nước

- Hiện nay người dân trên đảo đang sử dụng nguồn nước được lấy từ hồ Lòng Dinh tại thôn Tân Lập, xã Quan Lạn có dung tích thiết kế 1 triệu m3,

Trang 26

công suất khoảng 2400m3/ng.đ, với hơn 12km đường ống từ hồ Lòng Dinh về phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân trên đảo Quan Lạn.[23]

- Chuẩn bị xây dựng mới trạm bơm 1 đặt tại hồ Long Dinh Nước thô được bơm lên từ hồ chứa qua ống xi phông HDPE, qua sông Mang về nhà máy xử

lý nước đặt tại xã Minh Châu

- Đang có dự án xây mới nhà máy nước công suất 4000 m3/ngđ đặt tại xã Minh Châu

- Mạng lưới dẫn chính được thiết kế gồm 8 vòng, khu vực đô thị Quan Lạn thiết kế 5 vòng, khu vực đô thị Minh Châu thiết kế 3 vòng Các họng cứu hỏa được bố trí dọc theo các tuyến đường, tại các khu vực công trình công cộng, dịch vụ, nút giao thông đảm bảo khoảng cách yêu cầu [23]

- Khó khăn về nước ngọt hợp vệ sinh ở Minh Châu, Quan Lạn đang dần được khắc phục, nguồn nước đảm bảo chất lượng không chỉ giúp người dân sinh hoạt hàng ngày mà còn phục vụ phát triển du lịch được hiệu quả

c Hiện trạng cấp điện, thông tin liên lạc

- Tính đến thời điểm hiện tại 100% các hộ dân đều được sử dụng lưới điện Quốc gia, cấp điện trực tiếp từ đường dây 22kV Với 03 trạm cắt 22kV, 10 trạm biến áp 22/0,4kV với tổng công suất 2.880kVa, 22.551km đường dây hạ

áp và lắp đặt 1.123 công tơ điện [23]

- Hiện trạng hệ thống điện trên địa bàn xã Quan Lạn gồm: 06 trạm biến áp công suất 1730KVA, đường dây trung áp dài 17km, đường dây hạ áp dài 14km [26]

- Chuẩn bị xây mới tuyến 35kV cấp điện cho đảo Minh Châu – Quan Lạn, hướng tuyến chạy song song với tuyến đường xuyên đảo, lưới hạ thế khu vực

sử dụng cáp ngầm

Trang 27

- Hệ thống trạm biến áp và đường dây trung áp, hạ áp chia đều trên 8 thôn hoạt động ổn định đảm bảo tiêu chuẩn theo yêu cầu kỹ thuật ngành điện

- Lưới điện hạ thế được xây dựng tại trung tâm xã Quan Lạn, sử dụng cáp bọc ABC tiết diện dây dẫn 35mm2 đối với đường nhánh và 95mm2 đối với đường chính Chất lượng đường dây còn tương đối tốt do mới được đầu tư đi vào sử dụng

- Lưới điện chiếu sáng được lấy từ các trạm biến áp khu dân cư Đã lắp đặt

hệ thống chiếu sáng mới và đang hoàn thiện toàn bộ mạng lưới chiếu sáng hiện trạng, hệ thống chiếu sáng được hạ ngầm

- Lưới điện chiếu sáng cũng đã được đầu tư ở khu vực trung tâm xã Quan Lạn, sử dụng bóng Compac đi chung với lưới điện hạ thế

- Thông tin liên lạc: đang nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, phát triển mạng lưới truyền thông, mạng điện thoại, mạng truyền hình, truyền thanh nội bộ, mạng ngoại vi đảm bảo thông tin liên lạc trên đảo được thuận lợi, chất lượng dịch

vụ được nâng cao

d Hiện trạng thoát nước

- Hệ thống thoát nước tại 2 xã Quan Lạn và Minh Châu là hệ thống thoát nước chung, hiện chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải riêng Nước thải từ khu dân cư, khu du lịch và các công trình công cộng đều chưa qua xử

lý trước khi xả ra môi trường.[24]

- Hiện tại trên địa bàn xã Quan Lạn nhân dân chủ yếu sinh sống bằng nghề khai thác, nuôi trồng thủy sản, kết hợp với dịch vụ du lịch, một phần do diện tích đất canh tác không tập trung tại một vị trí mà giải rác, một số diện tích còn lại đa số nằm trong quy hoạch xây dựng do vậy trên địa bàn xã không xây dựng hệ thống thủy lợi

Trang 28

- Năm 2016 đã xây dựng được hơn 500m hệ thống thoát nước trong khu dân cư [26]

- Đang có dự án xây dựng trên địa bàn đảo 04 trạm xử lý nước thải sinh hoạt và 01 trạm xử lý nước thải sản xuất Toàn bộ phạm vi đảo được chia thành 2 lưu vực thoát nước thải, thu gom bằng mạng lưới ống D300 – 400 về trạm xử lý Nước thải khu dân cư, công cộng và dịch vụ sau khi được xử lý sơ

bộ qua bể tự hoại sẽ được thu gom và đưa hệ thống cống thoát nước thải đặt dưới lòng đường

- Nước thải của các khu du lịch sẽ được tính toán chi tiết theo từng dự án riêng biệt

e Hiện trạng quản lý chất thải rắn và nghĩa trang

* Chất thải rắn

- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý tại nhà máy xử lý rác thải do Công ty Môi trường và Đô thị huyện Vân Đồn xử lý theo quy định, trên địa bàn xã có hệ thống thoát thải sinh hoạt của các hộ gia đình đảm bảo vệ sinh và môi trường, 6/8 thôn đã thành lập tổ thu gom rác thải, hoạt động hiệu quả được tập kết và vận chuyển về nhà máy xử lý rác thải trên địa bàn thôn Sơn Hào và được xử lý theo đúng tiêu chuẩn và quy định [26]

- Đang tuyên truyền người dân phân loại CTR tại nguồn thải thành các chất hữu cơ và vô cơ trước khi thu gom, vận chuyển đến khu xử lý CTR

- Hiện tại đang hoàn thiện đầu tư xây dựng khu xử lý CTR tập trung có diện tích 1ha, xây dựng 02 trạm trung chuyển cỡ vừa và lò đốt rác thải tại thôn Sơn Hào, xã Quan Lạn.[24]

* Nghĩa trang

Trong giai đoạn chưa có nghĩa trang tập trung thì tiếp tục sử dụng các điểm:

Trang 29

- Thôn Nam Hải thuộc xã Minh Châu: Tổng diện tích đất nghĩa địa là 9,4ha (chiếm khoảng 7% tổng diện tích đất tự nhiên của xã)

- Thôn Tân Phong thuộc xã Quan Lạn: đã được khoanh giới, tổ chức cây xanh cách li với khu dân cư, được phép chôn cất đến khi lấp đầy

- Hàng năm nghĩa trang được chỉnh trang, dọn dẹp vệ sinh Hiện các khu nghĩa trang vẫn đảm bảo phục vụ việc mai táng của nhân dân địa phương, UBND xã thường xuyên kiểm tra và xây dựng kế hoạch mở rộng hoặc khảo sát mở các điểm quy hoạch nghĩa trang trong thời gian tới [26]

- Trong tương lai khi nghĩa trang tập trung đi vào sử dựng sẽ đóng cửa các điểm nghĩa trang này và lộ trình chuyển đổi chức sử dụng đất phù hợp với định hướng phát triển đảo

g Hiện trạng môi trường

- Trong những năm qua, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn xã đã được chú trọng Tuy nhiên, 1 số hộ gia đình được cấp đất rừng, đất nuôi trồng thủy sản diện tích quá hạn mức, sử dụng không hiệu quả cần phải thu hồi Tình hình khai thác cát đá trái phép tại xã Minh Châu; sử dụng đất sai mục đích, xây nhà trái phép trên đất nông nghiệp, lâm nghiệp tại xã Quan Lạn chưa được kiểm tra, ngăn chặn và xử lý kịp thời

- Tình trạng ô nhiễm môi trường trong khu vực đang ở mức xấu do ảnh hưởng, ô nhiễm bởi các khu thu mua chế biến hải sản đan xen với khu vực dân cư

* Môi trường nước mặt

- Nguồn nước mặt lớn nhất trong khu vực nghiên cứu là sông Mang Nguồn nước trên đảo của với quy mô nhỏ nên không có các dòng chảy mặt thường xuyên, chỉ có một số suối ngắn và dốc được hình thành trong mùa mưa

Trang 30

- Chất lượng nguồn nước mặt trên địa bàn huyện Vân Đồn vẫn còn tốt, chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm Tuy nhiên, hiện nay ở Đảo Quan Lạn có nghề chế biến sứa xuất khẩu Thời gian thường bắt đầu từ giữa tháng giêng đến tháng ba âm lịch Sứa sau khi được thu gom thường được tách phần chân, đưa vào hệ thống bể lọc gồm 8 khoang, mỗi khoang có máy sục và ống nước thải dẫn ra mặt vịnh Sứa được ngâm với muối, phèn Phần thân sứa không dùng đến và nước ngâm bị đổ trực tiếp ra môi trường, gây hại đến môi trường

* Môi trường nước ngầm

- Tài nguyên nước ngầm trên địa bàn 02 xã Minh Châu, Quan Lạn có trữ lượng không lớn do đặc điểm địa hình đồi núi dốc, hẹp ngang, sông suối ngắn nên lượng nước được giữ lại không lớn

- Về chất lượng nguyên nước ngầm trong khu vực nhìn chung chất lượng đảm bảo Tuy nhiên, nguồn nước không được lớn và các công trình khai thác nước đưa vào sử dụng còn ít chưa đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và nước sạch cho sinh hoạt Chủ yếu nước ngầm ở tầng nông được nhân dân khai thác phục

vụ sinh hoạt Một số nơi bị nhiễm mặn không thể sử dụng cho sinh hoạt được

* Môi trường sinh thái

- Xã Minh Châu, Quan Lạn là vùng biển tập hợp của nhiều hệ sinh thái điển hình, có nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao và quí hiếm Các rạn San

hô ven đảo là nơi phân bố của các loài hải sản có giá trị kinh tế như cá Song, Cầu gai, Tôm, Bàn mai, Hải sâm và các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, các rạn San hô là nơi quần cư của Trai ngọc, Bào ngư, Vẹm xanh, Hàu

- Rừng ngập mặn là nơi phân bố của Cua, Ngán, Ghẹ Đặc biệt vùng bãi triều của xã Minh Châu, Quan Lạn là nơi phân bố của loài hải sản đặc biệt quí hiếm đó là Sá Sùng Đây là một loài hải sản có giá trị kinh tế cao chủ yếu phân bố trên vùng biển khu vực này

Trang 31

- Xã Minh Châu có 4 thôn: Quang Trung, Ninh Hải, Nam Hải, Tiền Hải nằm trong khu vực vườn quốc gia Bái Tử Long

- Đặc biệt, xã Minh Châu có 14 ha rừng Trâm trải dài thành hình vòng cung theo bãi biển Tuy chiều cao trung bình chỉ khoảng 10 m song rừng Trâm là bức tường chắn cát, chắn sóng, giữ đất bảo vệ xóm làng Đây là rừng Trâm thuần loài tự nhiên rất có giá trị trong nghiên cứu khoa học và là đối tượng bảo tồn, du lịch sinh thái

1.2 Thực trạng công tác chuẩn bị kỹ thuật tại đảo Quan Lạn hiện nay

1.2.1 Thực trạng công tác lựa chọn đất trong quy hoạch xây dựng

- Năm 2012, 02 xã Quan Lạn và xã Minh Châu đã được lập Quy hoạch phân khu dựa trên cơ sở phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyện Vân Đồn

Tiêu chí đánh giá lựa chọn đất xây dựng đô thị, cụ thể:

+ Đất thuận lợi cho xây dựng: độ dốc địa hình từ 0,4 đến 10%, không bị ngập lụt với tần suất 1%

+ Đất ít thuận lợi cho xây dựng: độ dốc địa hình từ 10 đến 30%, tần suất

bị ngập không quá 1m là 1%, không bị ngập là 4%

+ Đất không thuận lợi cho xây dựng: độ dốc địa hình > 30%, tần suất bị ngập > 1m là 1%, tần suất bị ngập > 0,5m là 4% [24]

1.2.2 Thực trạng cốt nền xây dựng

Cao độ nền xây dựng của khu vực nghiên cứu được chia như sau:

- Khu vực xã Quan Lạn: Tại trung tâm xã, mật độ xây dựng tương đối dày đặc, đặc biệt dọc trục tuyến đường chính, 2 bên xây dựng nhà cao từ 2-3 tầng, cao độ nền xây dựng công trình từ 4,5 – 6,0m

Trang 32

+ Tại khu vực ven sườn đồi núi, dân cư hiện trạng vẫn còn thưa thớt nên công trình xây dựng chủ yếu là nhà cấp 4, nhà tạm, cao độ nền xây dựng công trình từ ≥ 10m, khu vực này không bị ngập úng

+ Khu vực chế biến thủy hải sản với cao độ nền xây dựng công trình ≥ 2,5m, khu vực này tuy không bị ngập nhưng đôi khi bị úng cục bộ tại các vị trí tụ thủy

+ Khu đất dự kiến phát triển trong quỹ đất có cao độ nền xây dựng công trình tương đối cao từ 4,8 – 10m, địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc ≤ 4%, rất thuận lợi cho xây dựng trên nền hiện tại và không bị ngập úng

+ Khu vực ven biển có cao độ nền xây dựng công trình tương đối thấp trũng ≤ 1,5m bị ngập úng tạm thời trong những trận mưa lớn, tuy nhiên thời gian ngập lại ngắn

+ Khu vực đồi núi cao có cao độ nền tự nhiên trung bình từ 35 – 95m với

độ dốc lớn ≥ 20%, khu vực này không bị ngập úng nhưng sau những trận mưa lớn, cường độ cao thì cần đề phòng sạt lở đất Nếu phát triển xây dựng trong khu vực này cần đầu tư nghiên cứu kỹ địa chất, xây dựng các công trình có thể phòng tránh thiên tai

- Khu vực xã Minh Châu: Tại trung tâm xã, mật độ xây dựng tương đối dày đặc, cao độ nền xây dựng công trình từ 5,5 – 11,5m

+ Khu vực chế biến thủy hải sản có cao độ nền xây dựng công trình ≥ 3,3m, là khu vực không bị ngập úng khi mưa lớn

+ Khu đất dự kiến phát triển trong quỹ đất có cao độ nền xây dựng công trình tương đối cao từ 5 – 10m, địa hình bằng phẳng với độ dốc ≤ 4%, rất thuận lợi cho xây dựng

Trang 33

+ Khu vực ven biển có cao độ nền xây dựng công trình tương đối thấp trũng ≤ 1,5m, là khu vực thường xuyên bị ngập úng Nếu phát triển xây dựng trong khu vực này, cần đầu tư nhiều để cải tạo tôn nền xây dựng

+ Khu vực đồi núi cao có cao độ nền xây dựng công trình từ 55 – 120m với độ dốc lớn ≥ 20%, khu vực này không phù hợp xây dựng các công trình lớn, chỉ phù hợp xây dựng các công trình nhỏ và phải có sự tính toán kỹ [24] 1.2.3 Thực trạng thoát nước mưa

- Trên đảo Quan Lạn chưa có hệ thống thoát nước mưa hoàn chỉnh Riêng khu vực trung tâm xã Quan Lạn, Minh Châu có 1 số tuyến mương xây dậy nắp BTCT chạy trên vỉa hè dọc theo trục giao thông chính với kích thước B400 x 600m [24]

- Định hướng sẽ sử dựng hệ thống thoát nước mặt riêng hoàn toàn, mạng lưới thoát nước mặt phân theo từng lưu vực nhỏ với hướng thoát nước chính

ra sông Mang và ra biển

- Địa hình trên đảo có núi, có đồng bằng hẹp ven biển, do đó việc thoát nước mặt tương đối thuận lợi Nước mưa thoát theo các vệt tụ thủy, các lưu vực xuống các khu trũng, các khe suối và đổ ra biển

- Do địa hình đảo có bề mặt hẹp, chiều dài đảo hướng Tây Nam, Đông Bắc, nên chia thành 2 lưu vực chính thoát nước như sau:

+ Lưu vực 1: Phía Tây tuyến đường xuyên đảo, nước mưa theo trục chính được thiết kế mới bằng hệ thống cống hộp BTCT đi ngầm dưới vỉa hè sau đó xả trực tiếp ra sông Mang, một phần ra biển

+ Lưu vực 2: Phía Đông tuyến đường xuyên đảo, nước mưa theo trục chính được thiết kế mới bằng hệ thống cống hộp BTCT đi ngầm dưới vỉa hè sau đó xả trực tiếp ra biển

Trang 34

- Vì nhiều con đường nhỏ chưa có cống rãnh thoát nước mưa dọc đường nên bị ngập khi có mưa lớn, cường độ cao gây khó khăn cho việc đi lại, cũng như gây hư hại cho mặt đường

- Hiện nay thực trạng thoát nước mưa trên toàn bộ khu vực đảo Quan Lạn còn nhiều tồn tại như sau:

+ Định hướng thoát nước cho đảo Quan Lạn chưa đảm bảo được thoát nước nhanh nhất theo hình thức tự chảy là chính, chưa được tính đến các yếu

tố biến đổi khí hậu đã được cảnh báo trước đó

+ Định hướng thoát nước cho đảo Quan Lạn chưa được quy hoạch dựa trên nguyên lý cân bằng nước và thoát nước bền vững

1.2.4 Thực trạng công tác san nền

- Hiện nay trên địa bàn đảo Quan Lạn trong khi xây dựng đã tận dụng được quỹ đất thoải chân đồi để phát triển, tạo quỹ đất xây dựng theo nguyên tắc cân bằng, đào đắp tại chỗ

- Hiện nay trên địa bàn toàn đảo Quan Lạn khống chế cao độ nền xây dựng công trình là ≥ 3,5m

+ Khu vực cải tạo xây dựng: Khu vực này có cao độ nền xây dựng công trình tương đối ổn định từ 3,2 – 11m, đã xây dựng nhà ở kiên cố, mật độ lớn Khi cải tạo để xây dựng công trình thì phải thiết kế cao độ nền xây dựng không ảnh hưởng đến khu vực xung quanh và vẫn đảm bảo cao độ xây dựng + Khu vực xây dựng mới: Khu vực này phát triển xây dựng công trình mới với cao độ khống chế từ 3,5 – 9,5m Khu vực cây xanh, hồ nước công cộng cao độ từ 2,5 – 3,5m

1.2.5 Thực trạng các công tác chuẩn bị kỹ thuật khác

a Hệ thống hồ chứa nước

Trang 35

- Khu vực đảo Quan Lạn cách xa đất liền, nguồn nước ngọt khan hiếm, do

đó việc tích trữ nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp được quan tâm và đầu tư Địa phương 02 xã Quan Lạn và Minh Châu đã tiến hành xây dựng 1 đập chắn nước để tạo thành các hồ chứa trên sườn núi vừa đảm bảo nhu cầu nguồn nước sạch và đồng thời giảm thiểu các vấn đề lũ quét, sạt lở đất khi có mưa lớn xảy ra

- Hồ Lòng Dinh tại thôn Tân Lập xã Quan Lạn có dung tích thiết kế khoảng

1 triệu m3 với mục đích chính là cung cấp nước sinh hoạt cho 02 xã Quan Lạn

và Minh Châu được thể hiện trong Hình 1.3

Hình 1.3: Hồ chứa nước Lòng Dinh [14]

b Hệ thống đê biển

- Do khu vực sản xuất nông nghiệp tập trung tại những khu vực có địa hình thấp từ 2 – 3m Vì vậy, để người dân có thể canh tác thuận lợi thì cần có hệ thống đê biển ngăn không cho nước biển xâm nhập vào khu vực sản xuất

- Tổng chiều dài các tuyến đê biển là 8km, các tuyến đê có mặt rộng từ 1 – 3m, cao độ đê trên 3,5m và được thể hiện như trên bảng 1.1

Trang 36

Bảng 1.1: Tổng chiều dài các tuyến đê biển [25]

1.3.1 Ảnh hưởng đối với tỉnh Quảng Ninh

- Mùa mưa bão ở miền Bắc nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng rơi vào khoảng tháng 5 đến tháng 10 hằng năm Mưa nhiều, thậm chí mưa lớn xảy ra trong những tháng này là chuyện bình thường Trận mưa lớn chưa từng có diễn ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào khoảng tháng 8/2015 được đánh giá

là trận mưa lớn nhất trong lịch sử 50 năm qua Với thời gian mưa kéo dài trong 10 ngày, hơn 1.500 mm nước đã đổ xuống địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong khoảng thời gian này Nguyên nhân chính là do đợt áp thấp tạo luồng đối lưu mạnh Vùng áp thấp nằm trọn trong vịnh Bắc Bộ, nên vùng ven biển Quảng Ninh chịu ảnh hưởng trực tiếp

Khu vực bị thiệt hại nặng nề nhất là phường Cửa Ông của TP Hạ Long với cường độ mưa đo được lên tới 436.8mm Do ảnh hưởng của mưa lớn, cường

độ cao, kéo dài nhiều ngày đã gây ra tình trạng ngập úng, sạt lở tại nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, trong đó có khu vực đảo Quan Lạn

Trang 37

Với việc mặt cắt dòng chảy sông bị thu hẹp tại nhiều chỗ, dẫn đến giảm khả năng thoát lũ của lòng sông; các vị trí đập giữ nước chưa có sự phối hợp quản

lý chặt chẽ tới việc xả lũ đột ngột gây ngập úng xung quanh khu vực Hệ thống hạ tầng kỹ thuật, công trình xây dựng đang triển khai thực hiện dẫn tới việc tiêu thoát nước trên địa bàn chưa đồng bộ cũng là các nguyên nhân dẫn đến trận ngập lịch sử

- Các địa phương trên địa bàn Tỉnh có mưa vừa, mưa to cục bộ tại nhiều khu vực trên địa bàn thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí và hầu hết các trung tâm huyện, Đông Triều, Vân Đồn, Hoành Bồ, Ba Chẽ đều bị ngập sâu

từ 1 – 1,5m và bị cô lập trong nhiều giờ, việc tiếp cận ứng cứu gặp nhiều khó khăn Nước sông Ba Chẽ và các sông suối khu vực Đông Triều, Uông Bí lên nhanh

- Theo thông tin từ Ban phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Quảng Ninh, cơn mưa lũ lớn nhất trong vòng 50 năm qua đã gây thiệt hại nặng nề làm 17 người chết, nhiều người bị thương do mưa lũ, sạt lở đất đá

104 nhà bị đổ hoàn toàn, tổng số nhà bị ngập lên trên 8.900 nhà ở các địa phương như: Hạ Long 4.700 nhà, Cẩm Phả trên 3.750 nhà, Vân Đồn 98 nhà, Hoành Bồ 116 nhà, Uông Bí 148 nhà, Hải Hà 7 nhà, Ba Chẽ 30 nhà, Bình Liêu 21 nhà, Đông Triều 60 nhà, Tiên Yên 3 nhà, và các địa phương khác Tỉnh Quảng Ninh cũng đã di dời hơn 2.100 hộ gia đình đến nơi an toàn, trong đó: Hạ Long trên 400 hộ, Cẩm Phả 1.258 hộ, Vân Đồn 98 hộ, Hoành Bồ 116

hộ, Uông Bí 148 hộ, Đông Triều 60 hộ, Ba Chẽ 30 hộ Đã tổ chức vận chuyển gần 4.000 khách du lịch bị mắc kẹt tại huyện đảo Cô Tô vào đất liền đảm bảo

an toàn

- Về giao thông, trận mưa lũ lịch sử cũng khiến 4.200m tường, đê kè, đường quốc lộ bị sạt lở Hơn 3.800m3 đất đá sạt lở tại các tuyến quốc lộ 18A,

Trang 38

tỉnh lộ 326 và các tuyến đường vùng núi thuộc TP Hạ Long, TP Cẩm Phả, huyện Vân Đồn Về điện, đã gãy đổ sạt lở và hư hỏng trên 170 cột điện, có 35 tuyến đường trung thế và 250 trạm biến áp bị sự cố

- Trên 3.800ha lúa, hoa màu, và nuôi trồng thủy hải sản bị ngập và thiệt hại, hơn 2.000 con gia súc, gia cầm bị cuốn trôi Ước tính ban đầu tổng thiệt hại khoảng 2.200 tỷ đồng, trong đó riêng ngành than khoảng gần 1.200 tỷ đồng

- Một số hình ảnh về về sạt lở đất đá và nước tràn qua đập do trận mưa lũ lịch sử năm 2015 tại Quảng Ninh được thể hiện trên hình 1.4 và hình 1.5 [15]

Hình 1.4: Sạt lở đất tại TP Hạ Long Hình 1.5: Đập tràn tại xã Quảng Sơn

1.3.2 Ảnh hưởng đối với khu vực đảo Quan Lạn

- Trong trận lũ lịch sử tại Quảng Ninh vào năm 2015 thì đảo Quan Lạn cũng bị ảnh hưởng tương đối nghiêm trọng, gần 100 hộ dân bị ngập sâu trong nước, đã xảy ra sạt lở đất đá tại một vài điểm trên địa bàn xã Minh Châu

- Năm 2016 bão “Thần Sét” giật cấp 14 đổ bộ địa bàn đảo gây ra mưa lũ kèm theo gió mạnh cấp 12 làm sạt lở nghiêm trọng tuyến đường liên thôn tại

xã Minh Châu cản trở các phương tiện lưu thông trên khu vực của xã Theo thống kê của huyện Vân Đồn, mưa lớn kết hợp với gió bão mạnh đã làm gần

Trang 39

100 lồng bè nuôi thủy sản trên địa bàn 02 xã bị sóng cuốn trôi, đánh vỡ, nhấn chìm và tàn phá

Do chịu tác động của BĐKH toàn cầu, tình hình diễn biến của các yếu tố thời tiết tại đảo Quan Lạn trong những năm gần đây có nhiều biểu hiện dị thường:

* Nhiệt độ

- Nhiệt độ có xu hướng tăng lên, nhiệt độ trung bình trong khoảng 10 năm trở lại đây cao hơn từ 0,1 – 0,4 oC Nắng nóng có xu hướng xuất hiện sớm và kết thúc muộn, số đợt nhiều hơn, xảy ra cục bộ và diễn biến phức tạp, số ngày nắng nóng gay gắt nhiều hơn, điển hình là đợt nắng nóng kéo dài gần 30 ngày trong mùa hè năm 2016 với nhiệt độ tối cao tuyệt đối từ 39 – 41oC

- Không khí lạnh có nhiều biểu hiện bất thường, xuất hiện sớm, số đợt nhiều, diễn biến phức tạp nhưng cường độ không mạnh như nhiều năm trước đây Nhưng lại có đợt lạnh kéo dài liên tục trên 20 ngày, trong đó có nhiều ngày rét đậm, rét hại Nhìn chung, trong những năm gần đây không khí lạnh hoạt động phức tạp hơn, số lượng nhiều nhưng cường độ lại không mạnh

- Mùa mưa đến muộn và kết thúc sớm, đặc biệt là một số năm gần đây mùa mưa đến muộn và kết thúc sớm hơn bình thường từ 15 ngày đến 1 tháng

*Tình hình gió bão

Trang 40

- Mùa hè: hướng gió chủ yếu là Nam, Đông Nam, mùa nè thường hay xảy

ra bão và áp thấp nhiệt đới

- Mùa đông: thịnh hành gió Bắc và Đông Bắc, hàng tháng có từ 3 – 4 đợt gió mùa, mỗi đợt kéo dài từ 5 – 6 ngày

- Theo thống kê nhiều năm qua bão thường bắt đầu từ tháng 6 đến tháng

10, gây ra mưa lớn kéo dài trong 3 – 4 ngày và gây lụt cục bộ ở các khu vực trũng thấp

1.4 Ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đối với công tác chuẩn bị kỹ thuật đảo Quan Lạn

1.4.1 Đối với cao độ nền xây dựng

Theo định hướng quy hoạch CBKT khu kinh tế Vân Đồn, quy hoạch cao độ nền đối với khu đất xây dựng mới có tính đến BDKH là ≥ 4,5m

Tác động của BĐKH đối với cao độ nền xây dựng tại 3 dạng địa hình đặc trưng của khu vực đảo Quan Lạn bao gồm:

- Khu vực có địa hình đồi núi: Biến đổi khí hậu khiển cho các trận mưa với lượng nước mưa lớn, kéo dài rất dễ gây ra hiện tượng sạt lở sườn núi, đất đá ảnh hưởng trực tiếp đến các công trình, nhà cửa cũng như tính mạng của người dân sống ở khu vực này Khu vực này không bị ảnh hưởng của NBD

- Khu vực có địa hình đồng bằng, trung du: Dân cư khu vực này sống tập trung, các công trình xây dựng ở đây đa số không đảm bảo an toàn trước những cơn bão lớn hay thiên tai với mức độ và tần suất ngày càng gia tăng Hiện tại đã có hệ thống đê biển bảo vệ, tuy nhiên do NBD chiều cao đê tại một số điểm cần củng cố ≥ 4,5m

- Khu vực có địa hình trũng thấp, ven biển: Khu vực này chủ yếu là rừng ngập mặn, bãi tắm với cao độ nền trung bình < 2m Đây là khu vực chịu tác

Ngày đăng: 20/07/2019, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w