1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đánh giá kiến trúc nhà ở công vụ bộ quốc phòng thể loại chung cư cao tầng tại hà nội theo tiêu chí kiến trúc xanh (luận văn thạc sĩ)

103 97 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

"Kiến trúc xanh" đích thực là cuộc cách mạng nhằm đáp ứng được các tiêu chí về bảo tồn sinh thái, môi trường, hiệu quả sử dụng nước, năng lượng, vật liệu xây dựng và điều kiện sống tiện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI

-

LÊ CÔNG TÂN ÁNH

ĐÁNH GIÁ KIẾN TRÚC NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG

THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG TẠI HÀ NỘI

THEO TIÊU CHÍ KIẾN TRÚC XANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KIẾN TRÚC

Hà Nội – 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI

-

LÊ CÔNG TÂN ÁNH KHÓA: 2017-2019

ĐÁNH GIÁ KIẾN TRÚC NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG

THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG TẠI HÀ NỘI

THEO TIÊU CHÍ KIẾN TRÚC XANH

Chuyên ngành: Kiến trúc

Mã số: 60.58.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KIẾN TRÚC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.VŨ HỒNG CƯƠNG

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

Hà Nội – 2019

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn các Giáo Sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà khoa học và quản lí của trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội Đặc biệt tôi chân thành cảm ơn TS.KTS.VŨ HỒNG CƯƠNG đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn trong quá trình làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn Khoa đào tạo sau đại học, các bạn đồng nghiệp đã tận tình chỉ giáo, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Lê Công Tân Ánh

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác (trừ các số liệu, kết quả đã có trích nguồn).

Tác giả luận văn

Lê Công Tân Ánh

Trang 5

LỜI CÁM ƠN………

LỜI CAM ĐOAN………

MỤC LỤC………

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT………

DANH MỤC HÌNH………

DANH MỤC BẢNG, BIỂU………

PHẦN MỞ ĐẦU………

* Lý do chọn đề tài……… ……… 1

* Đối tượng và phạm vị nghiên cứu……….2

* Mục đích nghiên cứu……… 3

* Phương pháp nghiên cứu……… 3

* Ý nghĩa của việc nghiên cứu luận văn……… 3

* Cấu trúc của luận văn………3

PHẦN NỘI DUNG………

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG……… 5

1.1.Khái niệm Kiến trúc xanh……… 5

1.1.1.Khái niệm……… 5

1.1.2.Lợi ích của Kiến trúc xanh……….7

1.1.3.Tình hình phát triển của kiến trúc xanh trên thế giới………8

1.1.4.Tình hình phát triển của kiến trúc xanh ở Việt Nam……… 12

Trang 6

1.2.1.Giới thiệu chung về nhà ở xã hội……….15

1.2.2.Khái niệm về nhà ở công vụ Bộ quốc phòng……… 16

1.2.3.Thực trạng kiến trúc nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao tầng tại Việt Nam……… 19

CHƯƠNG 2: CỞ SỞ ĐÁNH GIÁ KIẾN TRÚC NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG THEO TIÊU CHÍ KIẾN TRÚC XANH……… 22

2.1.Cơ sở pháp lý……….22

2.1.1.Các văn bản pháp lý liên quan đến Kiến trúc xanh………22

2.1.2 Các văn bản pháp lý về việc đánh giá công trình cao tầng theo tiêu chí Kiến trúc xanh……… 23

2.2.Cở sở lý thuyết……… 23

2.2.1.Lý thuyết về phát triển bền vững và kiến trúc bền vững………23

2.2.2.Các vấn đề cần đánh giá trong Kiến trúc xanh………31

2.2.3.Các hệ thống tiêu chí đánh giá Kiến trúc xanh………36

2.2.4.Các ưu nhược điểm của tiêu chí trên………53

2.3 Cơ sở thực tiễn……… 55

2.3.1.Điều kiện tự nhiên khí hậu môi trường tại Hà Nội……… 55

2.3.2.Điều kiện văn hóa………56

2.3.3.Điều kiện khoa học kỹ thuật………57

Trang 7

cao tầng trong nước và quốc tế……… 57

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG TẠI HÀ NỘI THEO TIÊU CHÍ KIẾN TRÚC XANH……… 62

3.1.Xây dựng tiêu chí và phương pháp đánh giá công trình theo tiêu chí kiến trúc xanh……….65

3.1.1.Quan điểm xây dựng tiêu chí……… 65

3.1.2.Hệ tiêu chí đánh giá kiến trúc xanh………65

3.1.3.Phương pháp áp dụng hệ tiêu chí để đánh giá………70

3.2 Đánh giá nhà ở công vụ Bộ Tham mưu/Quân chủng PK-KQ tại 210 Lê Trọng Tấn – quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội theo các tiêu chí……….72

3.3 Đánh giá nhà ở công vụ Lữ đoàn 28/Quân chủng PK-KQ tại phường Minh Khai – quận Bắc Từ Liêm – thành phố Hà Nội theo các tiêu chí………80

3.4.Tổng hợp kết quả đánh giá nhà ở công vụ loại chung cư cao tầng Bộ Quốc phòng tại Hà Nội theo tiêu chí kiến trúc xanh ……… 88

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 89

Kết luận……….89

Kiến nghị……… 90

Trang 8

Chữ viết tắt Tên đầy đủ

Trang 9

Số hiệu Tên hình ảnh

Hình 1.1 Chung cư xanh Bosco Verticale ở Milan

Hình 1.2 Trường Đại học Công nghệ Nanyang

Hình 1.3 Công trình xanh ở Singapore

Hình 2.1

Hình 3.1 Quy hoạch tổng thể Nhà ở công vụ Bộ Tham mưu/ Quân chủng

PK-KQ Hình 3.2 Mặt bằng tầng 1 Nhà ở công vụ Bộ Tham mưu/ Quân chủng PK-

KQ Hình 3.3 Hình khối Nhà ở công vụ Bộ Tham mưu/ Quân chủng PK-KQ Hình 3.4 Thông gió tự nhiên tầng điển hình Nhà ở công vụ Bộ Tham mưu/

Quân chủng PK-KQ Hình 3.5 Thông gió tự nhiên căn hộ điển hình Nhà ở công vụ Bộ Tham

mưu/ Quân chủng PK-KQ Hình 3.6 Chiếu sáng tự nhiên tầng điển hình Nhà ở công vụ Bộ Tham mưu/

Hình 3.11 Thông gió tự nhiên tầng điển hình Nhà ở công vụ Lữ đoàn 28/

Trang 10

Quân chủng PK-KQ

Trang 11

Số hiệu Tên bảng biểu

Bảng 2.1 Cơ cấu điểm của LOTUS

Bảng 2.2 Hệ thống Chứng nhận và các mức xếp hạng

Bảng 2.3 Bảng đánh giá và chấm điểm theo 10 tiêu chí của Lotus

Bảng 2.4 Các tiêu chí bắt buộc Điều kiện tiên quyết (ĐKTQ)

Bảng 2.5 Bảng điểm các tiêu chí KTX của Hội KTSVN

Bảng 3.1 Hệ tiêu chí đánh giá khu đô thị theo tiêu chí kiến trúc xanh

Bảng 3.2 Hệ tiêu chí đánh giá nhà ở công vụ Bộ Tham mưu/ Quân chủng

PK-KQ theo tiêu chí kiến trúc xanh Bảng 3.3 Hệ tiêu chí đánh giá kiến trúc nhà ở công vụ Lữ đoàn 28/ Quân

chủng PK-KQ theo tiêu chí kiến trúc xanh

Trang 12

*Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là

do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính Các đợt nắng nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với trước đây, và

dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của chúng sẽ gấp 100 lần so với hiện nay Sự khủng hoảng năng lượng, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu đã trở thành vấn đề nóng bỏng có tầm quan trọng đặc biệt, cấp bách toàn cầu cần sự chung tay góp sức của nhiều quốc gia, của mỗi con người trong từng lĩnh vực Với thực trạng này, sự phát triển các "kiến trúc xanh" là một xu hướng chung của ngành xây dựng – kiến trúc hiện đại trên toàn thế giới

"Kiến trúc xanh" đích thực là cuộc cách mạng nhằm đáp ứng được các tiêu chí về bảo tồn sinh thái, môi trường, hiệu quả sử dụng nước, năng lượng, vật liệu xây dựng và điều kiện sống tiện nghi cho con người Hội nghị thượng đỉnh quốc tế lần thứ 21 tại Paris một lần nữa khẳng định vai trò của Công trình xanh đã và đang trở nên vô cùng quan trọng trong giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) thông qua chiến dịch mới Better build green (Xanh hóa công trình xây dựng) của Hội đồng công trình xanh thế giới Mục tiêu chính của các công trình xanh là tập trung làm giảm các xung đột giữa môi trường xây dựng nhân tạo với môi trường thiên nhiên và sức khỏe con người

Hiện tại ở nước ta có rất ít toà nhà nhận được chứng chỉ “Công trình xanh”, “kiến trúc xanh” và điều đáng nói là trong số đó cũng chí có một số công trình là nhà ở Mặc dù hiện tại bắt đầu có nhiều dự án chung cư đang được xây dựng đang hướng đến công trình xanh nhưng vẫn là quá ít khi đem so sánh với các nước trên thế giới

Ở thành phố lớn nói chung và Hà Nội nói riêng, việc xây dựng chung cư trên đất quốc phòng đáp ứng như cầu sinh hoạt và làm việc cho cán bộ, nhân viên đủ điều kiện được thuê trong thời gian đảm nhiệm công tác là rất cần thiết Việc định

Trang 13

hướng xây dựng công trình nhà công vụ Bộ Quốc phòng theo các tiêu chí "Kiến trúc xanh" là điều nên làm Bởi lợi ích của Công trình xanh là điều không thể bàn cãi

Đã đến lúc cần nhận diện rõ bản chất và giá trị thực sự của sự phát triển kiến trúc xanh Thực hiện kiến trúc xanh phải là một bài toán tổng thể từ khâu Thiết kế - Thi công - Vận hành công trình Nếu chỉ nhắm để một công đoạn "xanh" trong khi gây ảnh hưởng đội chi phí và hiệu quả kém về năng lượng ở các giai đoạn tiếp theo là điều cần tránh Cũng cần nhận diện rõ ràng các công nghệ được quảng cáo là xanh nhưng thực tế mang lại hiệu quả kém, thậm chí gây hại cho môi trường; cần gỡ bỏ mác của những "công trình chung cư xanh" để tránh sự hiểu lầm, nhận thức sai lệch về "Kiến trúc xanh" của người dân

Tóm lại, do tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang là thường xuyên phải điều động lực lượng phục vụ yêu cầu về quốc phòng, an ninh nên nhu cầu nhà ở công vụ

Bộ Quốc phòng ngày càng lớn như hiện này, đề tài “Đánh giá kiến trúc nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao tầng tại Hà Nội theo tiêu chí kiến trúc xanh” là thực sự cần thiết để nhìn nhận kết quả quá trình phát triển nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng đã đi đúng hướng kiến trúc xanh hay chưa

*Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào đánh giá kiến trúc nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao tầng tại Hà Nội theo tiêu chí KTX

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chi tiết các công trình nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao tầng tại Hà Nội:

- Nhà ở công vụ Bộ Tham mưu/ Quân chủng PK-KQ tại 210 Lê Trọng Tấn – quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội

- Nhà ở công vụ Lữ đoàn 28/ Quân chủng PK-KQ tại phường Minh Khai – quân Bắc Từ Liêm – thành phố Hà Nội

Trang 14

*Mục tiêu nghiên cứu

Từ việc đánh giá kiến trúc nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao

tầng tại Hà Nội theo tiêu chí kiến trúc xanh

- Đánh giá tổng quan, lựa chọn các tiêu chí kiến trúc xanh phù hợp với công trình nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao tầng tại Hà Nội

- Đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá kiến trúc nhà ở công vụ tầng Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao tầng hướng tới kiến trúc xanh trên địa bàn thành phố Hà Nội

*Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận

- Phương pháp điều tra khảo sát thực địa, thu thập số liệu

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

*Ý nghĩa của việc nghiên cứu luận văn

- Ý nghĩa khoa học:

+ Đề tài Phân tích và tổng hợp các cơ sở lý luận khoa học và cơ sở thực tiễn về vấn

đề nghiên cứu để đề xuất ra các tiêu chí đánh giá Kiến trúc xanh

+ Đề tài nghiên cứu, phân tích hiện trạng thực tế nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao tầng tại Hà Nội, đánh giá chung cư này theo tiêu chí Kiến trúc xanh hiện có phù hợp với Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đánh giá nhà ở công

vụ Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao t ầng tại Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung, góp phần định hướng xây dựng công trình nhà ở công vụ thể loại chung cư cao tầng Bộ Quốc phòng theo các tiêu chí "Kiến trúc xanh”

*Cấu trúc luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội

Trang 15

dung chính của Luận văn gồm ba chương:

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG

CHƯƠNG 2: CỞ SỞ ĐÁNH GIÁ KIẾN TRÚC NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG THEO TIÊU CHÍ KIẾN TRÚC XANH

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG TẠI HÀ NỘI THEO TIÊU CHÍ KIẾN TRÚC XANH

Trang 16

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG

1.1.Khái niệm về Kiến trúc xanh

1.1.1 Khái niệm.[25]

Kiến trúc xanh là một khái niệm chưa chính thức và hiện còn đang được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Kiến trúc xanh không mang ý nghĩa mô tả về những công trình kiến trúc mang màu xanh trên mặt đứng ngoại thất hay trong nội thất công trình, cũng không mang hàm ý chú trọng tuyệt đối tới những mảng xanh thực vật có gắn kết với một công trình bất kì Khái niệm thiết kế Kiến trúc xanh nhằm ám chỉ việc thiết kế công trình cần phải đáp ứng được các yêu cầu giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của việc nhân tạo hóa không gian sống tới môi trường và con người.[25

Hình 1.1 Chung cư xanh Bosco Verticale ở Milan [25]

Trang 17

Kiến trúc xanh (Green Architecture) hay còn được gọi với cái tên Kiến trúc bềnvững (Suistantable Architecture) được dùng để đề cập đến công tác kiến tạo các công trình kiến trúc bằng cách sử dụng những phương pháp mang tính thân thiện với môi trường và tính hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong suốt "đời sống" của công trình: từ thiết kế, xây dựng, điều hành, bảo trì, cải tạo cho đến tháo dỡ Khái niệm "Xanh" là một sự thay thế hoàn hảo và mang nhiều tính hình tượng hóa của khái niệm “Bền Vững” Kiến trúc xanh hay Kiến trúc bền vững

là hai tên gọi của cùng một nội dung và không phải là một trào lưu hay xu hướng kiến trúc mới, mà là một phong trào kiến trúc mới kết hợp tổng hòa các xu hướng kiến trúc về sinh thái - môi trường - thích ứng khí hậu với thiên nhiên và conngười

đã được biết trước đây chừng một thế kỷ Mặt khác, khái niệm này cũng mang tính

bổ trợ và mở rộng thêm cho những mục tiêu của công tác thiết kế xâydựng truyền thông bao gồm: tiện nghi - kinh tế - bền vững - thẩm mỹ.Có một khái niệm tương

tự với Kiến trúc xanh, đó là "Kiến trúc tự nhiên" (Natural Architecture) thường dùng cho các công trình kiến trúc mang thiên hướng sử dụng các vật liệu có sẵn tại

địa điểm xây dựng

Hình 1.2 Trường Đại học Công nghệ Nanyang [25]

Trang 18

Khái niệm “Kiến trúc xanh” tại Việt Nam được hiểu theo nghĩa kiến trúc thân thiện với môi trường và kiến trúc sử dụng vật liệu thiên nhiên hiệu quả Có thể thấy nhiều Công trình xanh tại Việt Nam có cùng một mô-típ: quy mô vừa phải, khai thác hợp lý các yếu tố thiên nhiên như ánh sáng, mảng cây xanh, mặt nước; sử dụng vật liệu tự nhiên sẵn có và dễ dàng thay thế trong trường hợp hư hỏng; các bộ phận mái, tường, cửa được xử lý giảm thiểu tác động tiêu cực từ môi trường .Nhìn chung, Kiến trúc xanh là loại hình Kiến trúc chú trọng tới mối quan hệ hài hòa giữa thiên nhiên và con người, đảm bảo điều kiện sống đầy đủ tiện nghi nhất cho con người thông qua việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và năng lượngtừ thiên nhiên, đáp ứng chặt chẽ yêu cầu bảo vệ môi trường

*Phân biệt Kiến trúc xanh và Công trình xanh:

Kiến trúc xanh là kim chỉ nam của hoạt động nghề nghiệp của Kiến trúc sư Mục tiêu của Kiến trúc xanh là đưa ra các chỉ dân, phương pháp, giải pháp dưới

dạngTiêu chí, Tiêu chuẩn thiết kế, góp phần vào việc đề xuất và giới thiệu các chiến lược, tham khảo các ví dụ thực tế điển hình giúp Kiến trúc sư phát huy khả năng sáng tạo thích ứng với từng điều kiện cụ thể Bên cạnh đó, đánh giá Công trình xanh là một hoạt động song hành cùng với Kiến trúc xanh nhằm nhìn nhận kết quả các hoạt động Kiến trúc xanh theo các tiêu chí bền vững của xã hội trong thời đại mới Hai hoạt động này cùng có chung mục đích là sự Phát triển Bền vững của thế giới

1.1.2 Lợi ích của Kiến trúc xanh.[25]

Những lợi ích cơ bản mà Kiến trúc xanh mang lại bao gồm:

- Lợi ích về môi trường: Là lợi ích số một của Kiến trúc xanh, cũng là lợi ích dễdàng nhận thấy nhất Kiến trúc xanh góp phần thúc đẩy và bảo vệ đa dạng sinh học, hệ sinh thái nhờ đó cũng được bảo toàn Các dạng chất thải được giảm thiểu tối đa cũng dẫn tới việc bảo toàn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng thiếu hụt Các giải pháp Kiến trúc xanh cũng nâng cao chất lượng vi khi hậu, thanh lọc bụi

Trang 19

bẩn trong không khí, giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn Theo các số liệu của Hội Đồng Công Trình Xanh Mỹ (USGBC), một công trình xanh sẽ sử dụng ít hơn các công trình thông thường khoảng 26% về mặt năng lượng, 13% chi phí bảo trì và giảm thiểu lượng khí thải nhà kính tới hơn 33% [8]

- Lợi ích về xã hội: Kiến trúc xanh tạo môi trường thân thiện giữa con người và thiên nhiên Do đó cũng sẽ tạo môi trường thân thiện cho người sử dụng ở nhiều khía cạnh khác nhau Nổi bật nhất là chất lượng không gian sống ở đô thị được cải tiến vượt bậc, tối ưu hóa mọi công năng trong các loại hình công trình, bao gồm chất lượng không khí, chất lượng ánh sáng, chất lượng âm thanh và chất lượng nước Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc triệt để tuân thủ các quy tắc về công trình xanh trong Kiến trúc cũng làm giảm thiểu các loại bệnh truyền nhiễm ở con người

Lợi ích về mặt kinh tế: Một công trình xanh sẽ giảm thiểu chi phí đáng kể so với một công trình thông thường không mang tính bên vững Các giải pháp kiến trúc xanh thiên về hướng tối ưu hóa các điều kiện tự nhiên, từ đó giúp cho chi phí vận hành cũng như bảo trì trong suốt vòng của một công trình được giảm thiểu tới mức tối đa Hơn nữa việc sử dụng hiệu quả vật liệu cũng làm cho chi phí xây dựng ban đầu và chi phí tháo dỡ trở nên đơn giản hơn bao giờ hết

1.1.3.Tình hình phát triển kiến trúc xanh trên thế giới

Kiến trúc xanh được nói đến cùng với khái niệm phát triển bền vững mà Liên hiệp quốc đề xướng Kiến trúc xanh thường gắn liền với công trình xanh chủ yếu như tiết kiệm nước, năng lượng và bảo vệ sức khỏe con người, song có phạm trù rộng hơn liên quan tới giảm phát thải ô nhiễm và sự suy giảm môi trường, gần thiên nhiên, thân thiện với môi trường…

Để sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH), tiết kiệm sử dụng các tài nguyên nước và vật liệu, giảm thiểu tác động môi trường và đảm bảo điều kiện sống cho mọi người, trên thế giới đã xuất hiện xu hướng phát triển Công trình xanh

Trang 20

Phát triển công trình xanh được khởi đầu từ Anh Quốc (năm 1990), Hoa Kỳ (1993),

ở Canada (năm 1998) Năm 2000, Hội đồng Công trình Xanh thế giới (WORLDGBC) được thành lập

Đến nay phát triển Công trình Xanh đã lan rộng đến nhiều nước trên thế giới và ngày nay kiến trúc xanh cũng trở thành xu hướng phát triển của thế giới thế kỷ XXI

Không phải ngẫu nhiên Kiến trúc Xanh trở nên thịnh hành trên thế giới Trong nhịp sống năng động, sau những giờ làm việc căng thẳng người ta cần nơi nghỉ ngơi, yên tĩnh nhưng cũng không quá đơn điệu Sống gần thiên nhiên không bị lệ thuộc quá nhiều vào năng lượng nhân tạo sẽ giúp chủ nhân sống khoẻ, tâm hồn thư thái để tái tạo sức lao động

Công trình xanh và đô thị xanh chính là cơ sở tăng trưởng kinh tế xanh để đảm bảo phát triển bền vững, nhằm giảm tốc độ suy thoái môi trường và biến đổi khí hậu

Khái niệm kiến trúc xanh hay còn gọi là kiến trúc bền vững đề cập đến công tác kiến tạo các công trình kiến trúc và sử dụng các phương pháp mang tính thân thiện với môi trường và tính hiệu quả trong việc sử dụng nguyên liệu thiên nhiên trong suốt đời sống của công trình, từ thiết kế xây dựng điều hành, bảo trì, cải tạo cho đến tháo dỡ

Khái niệm này được mở rộng và bổ sung thêm vào những mục tiêu của công tác thiết kế, xây dựng truyền thống là kinh tế, tiện dụng, kiên cố và tiện nghi

Mặc dù con người không ngừng phát triển những kỹ thuật mới để tăng cường cho công tác kiến tạo các công trình xanh, mục tiêu của kiến trúc xanh là xoay quanh vần đề giảm các xung đột chính giữa môi trường xây dựng nhân tạo với sức khỏe con người và môi trường thiên nhiên bằng cách:

-Sử dụng một cách có hiệu quả năng lượng nước và tài nguyên thiên nhiên

Trang 21

-Bảo vệ sức khỏe người sử dụng công trình và tăng sức sản xuất của nhân lực

-Giảm phát thải ô nhiễm và sự suy giảm chất lượng của môi trường

Ở Mỹ, hàng năm Viện Nghiên cứu Kiến trúc Hoa Kỳ (American Institute of Architects) và một số tổ chức nghề nghiệp có uy tín đều có giải thưởng cho các

“Công trình xanh” (Green building) với các tiêu chí như: sử dụng năng lượng hiêu quả, tận dụng ánh sáng tự nhiên và tiết kiệm nước, công trình có tác động tích cực tới cảnh quan xung quanh, thân thiện với môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người

sử dụng, giảm tới mức tối đa chất thải, ô nhiễm và không làm suy thoái môi trường sống… Một số công trình xây dựng ở nước ta cũng đã được Hội đồng Công trình Xanh Hoa kỳ (USGBC) công nhận là công trình xanh theo tiêu chí Định hướng thiết kế về năng lượng và môi trường (Ledership in Energy and Environmental Design – LEED).[25]

Ở phương Tây ngày nay người ta còn sử dụng nông nghiệp chiều thẳng đứng (vertical farming) thay cho cây xanh ở mặt đứng và trên mái, để vừa làm xanh công trình vừa mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường

Trước đây, khi thiết kế và xây dựng gần như tất cả đều chưa nghĩ tới “xanh”, tới

“môi trường” và các khái niệm “Kiến trúc xanh”, “Kiến trúc bền vững với môi trường”… là những khái niệm cho là thiếu tính thực tế và tính kinh tế Tuy nhiên, trong tình trạng khủng hoảng về năng lượng, tài nguyên và môi trường thiên nhiên hiện nay thì “kiến trúc xanh” chính là cảm hứng, gần hơn với con người Trước đây, khi thiết kế và xây dựng gần như tất cả đều chưa nghĩ tới “xanh”, tới “môi trường” và các khái niệm “Kiến trúc xanh”, “Kiến trúc bền vững với môi trường”… là những khái niệm cho là thiếu tính thực tế và tính kinh tế Tuy nhiên, trong tình trạng khủng hoảng về năng lượng, tài nguyên và môi trường thiên nhiên hiện nay thì “kiến trúc xanh” chính là cảm hứng, gần hơn với con người

Cái nhìn đúng đắn về “kiến trúc xanh”

Nhắc đến khái niệm này, chúng ta cần phân biệt giữa kiến trúc xanh với hình ảnh của các khu nghỉ sang trọng rợp bóng cây hay các toà nhà hi-tech hiện đại Để hiểu

Trang 22

được khái niệm “kiến trúc xanh” thì ta quan tâm công trình được xây có tác động thế nào đến môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh Mặt khác, cũng không nên quan niệm “xanh” là hoàn toàn không dùng đến máy móc như máy lạnh, mà nên hiểu là trong phương án thiết kế có sử dụng các giải pháp cách nhiệt tốt, che chắn nắng tốt… để máy lạnh hoạt động thấp mà hiệu quả cao Xanh cũng không phải là không dùng kính (vì kính giúp đưa ánh sáng vào nhà giảm chi phí chiếu sáng) nhưng phải dùng kính hai lớp, phản quang, cách nhiệt, cách âm, chống bụi tốt Ở những nơi có thể, người ta tận dụng tối đa thông thoáng tự nhiên, cải tạo vi khí hậu quanh nhà bằng cây xanh, hồ nước, thảm cỏ… Từ đó tiến dần đến ngôi nhà hoàn toàn thông thoáng tự nhiên (passive house)

Hình 1.3 Công trình xanh ở Singapore [25]

“Xanh” mang lại lợi ích gì cho con người

Trang 23

Điều đầu tiên có thể nói, kiến trúc xanh mang đến cái lợi trực tiếp chứ không viển vông Nếu tuân thủ thiết kế xanh, hoá đơn tiền điện sẽ giảm rất nhiều do ta giảm được máy lạnh, điện chiếu sáng, điện nấu nước nóng… Nếu thiết kế xanh, căn nhà

sẽ có bầu không khí sạch, giảm thiểu bụi bặm và các hoá chất (có rất nhiều trong vật liệu xây dựng, đồ nội thất, các loại sơn, thảm…) giúp ta giữ gìn sức khoẻ, giảm các chi phí y tế… Bên cạnh đó, ngày nay con người có thể hiểu rõ mối đe doạ từ sự xuống cấp của môi trường ngày càng sát sườn Với tất cả những tác động gần, xa, những trách nhiệm cùng quyền lợi khái quát trên, ta gần như đoán chắc rằng, nhận thức và áp dụng “kiến trúc xanh” đang đứng ngay trước cửa ngõ nhà mình và không có cách nào khác hơn là phải chú ý và dần áp dụng nó thôi

1.1.4.Tình hình phát triển kiến trúc xanh ở Việt Nam

Tại Việt Nam hiện nay, năng lượng tiêu thụ cho khu vực các tòa nhà, đặc biệt là các công trình nhà ở và công trình công cộng cao tầng ngay từ năm 1994 đã chiếm khoảng 23-24% trên tổng số năng lượng tiêu dùng Tỷ lệ này tăng lên rất nhiều trong thời gian gần đây khi các đô thị phát triển mạnh mẽ và nguồn vốn đầu tư nước ngoài gia tăng đáng kể Chỉ tính riêng Hà Nội và TP.HCM đã có hàng trăm

dự án các KĐT mới và rất nhiều công trình nhà ở, căn hộ cao tầng được xây dựng hoàn thiện, trong đó phần lớn đã đi vào sử dụng Song các chủ đầu tư chưa quan tâm đến những biện pháp để tiết kiệm năng lượng cũng như chưa tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội của các biện pháp này Còn các công trình công cộng như các tòa nhà hành chính, trường học, bệnh viện… được xây dựng trước đây đều dựa trên tiêu chuẩn thiết kế thấp, sử dụng các thiết bị lạc hậu có hiệu suất năng lượng chưa cao Và do hạn chế của điều kiện kinh tế - xã hội, việc sử dụng năng lượng trong những công trình này kém hiệu suất, gây lãng phí [25]

Theo kết quả điều tra tổng quan tiềm năng tiết kiệm năng lượng do Bộ KH&CN thực hiện, những bất hợp lý trong các giải pháp thiết kế công trình, đặc biệt là phần

vỏ công trình kém hiệu quả cách nhiệt và lắp đặt thiết bị đã làm thất thoát nguồn năng lượng sử dụng trong công trình xây dựng 20 - 30% Hiện tại, chúng ta chưa

Trang 24

xây dựng được thị trường tiêu thụ vật liệu thân thiện môi trường, chưa khích lệ tiêu dùng, đầu tư công nghệ chưa tương xứng dẫn đến năng suất thấp, chủng loại không phong phú Kết quả là giá bán cao và người tiêu dùng không chấp nhận

Chúng ta cũng chưa có một tính toán cụ thể và sâu sắc nào về việc “đắt - rẻ” trong

sử dụng loại vật liệu này Liệu có phải “đắt” nếu sử dụng vật liệu thân thiện môi trường mà giảm tải trọng cho công trình, thời gian thi công được rút ngắn, tốn ít xi-măng , sắt thép…và khi đi vào vận hành sử dụng lại tiết kiệm năng lượng hơn, môi trường sống tốt hơn, nhờ ngăn chặn được tối đa tình trạng bức xạ nhiệt, hiệu ứng lồng kính…? Đó chưa kể đến những yếu tố có lợi cho cả xã hội, nền kinh tế và môi trường sống, sức khỏe cho cả cộng đồng

Trên thị trường VLXD tại các đô thị Việt Nam hiện thiếu hụt các loại vật liệu thân thiện với môi trường, trong công tác quản lý quy hoạch, kiến trúc, và phát triển đô thị hoàn toàn chưa quan tâm tới vấn đề hiệu suất năng lượng của công trình xây dựng cao tầng và thương mại, chưa có những hướng dẫn và quy định cụ thể trong thẩm định Cho đến nay Việt Nam chưa có luật và văn bản dưới luật để bảo tồn và tiết kiệm năng lượng Trong khi đó, trên thế giới mặc nhiên coi việc sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường để xây dựng “kiến trúc xanh” là một điều bắt buộc Các chế tài xử lý ô nhiễm môi trường và lãng phí năng lượng trên thế giới cũng rất chặt chẽ Trong khi đó, nhìn tổng thể, chúng ta vẫn chưa có một chế tài cụ thể nào cho việc khuyến khích các công trình được xây dựng theo mô hình “kiến trúc xanh”, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường cũng như các hướng dẫn chi tiết và đồng bộ

Trong danh mục TCVN hiện nay, xem xét riêng các tiêu chuẩn về VLXD, chúng ta hiện có 31 tiêu chuẩn về xi măng và phụ gia xi măng, 24 tiêu chuẩn về cát sỏi, 42 tiêu chuẩn về gạch ngói, 57 tiêu chuẩn về bêtông vữa, 23 tiêu chuẩn về gỗ và gỗ xẻ,

8 tiêu chuẩn về bột màu và vecni, 4 tiêu chuẩn về gốm sứ vệ sinh, 26 tiêu chuẩn về kim loại Đồng thời có 25 tiêu chuẩn về thủy tinh và kính trong xây dựng, 4 tiêu chuẩn về vật liệu lợp, 17 tiêu chuẩn về vật liệu chịu lửa Các tiêu chuẩn về VLXD

Trang 25

đã bao trùm lên hầu hết các chủng loại VLXD Tuy nhiên, hiện nay chỉ mới có rất ít các tiêu chuẩn về vật liệu này đạt được các yêu cầu tiết kiệm năng lượng Trong khi

đó kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy, nếu quản lý tốt khâu thiết

kế xây dựng công trình theo hướng sử dụng năng lượng có hiệu quả sẽ tiết kiệm được 20 - 30% năng lượng tiêu thụ trong khu vực này [19]

Mặc dù Chính phủ đã có chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và các dự án về sử dụng năng lượng có hiệu quả trong các lĩnh vực, nhưng người sử dụng vẫn loanh quanh khắc phục nắng nóng, tiếng ồn bằng những phương pháp thủ công song hết sức tốn kém như dùng quạt phun sương, điều hòa nhiệt độ, lợp mái 2 - 3 lớp mà lại thiếu những thông tin về các vật liệu tiết kiệm năng lượng có khả năng khắc phục được những nhược điểm này Các nhà đầu

tư, nhà sản xuất, cũng như người sử dụng đều chịu thiệt thòi trước mắt và lâu dài

Số lượng các tài liệu về “kiến trúc xanh” lưu hành tại Việt Nam chưa nhiều và chưa được phổ cập rộng rãi Đa phần các tài liệu có xuất xứ từ Châu Âu hay Bắc Mỹ, nơi chủ yếu chống lạnh, trong khi tại Việt Nam, vấn đề chống nóng và thoát ẩm phải đặt lên hàng đầu (Thực tế, đây là hai nhiệm vụ khá mâu thuẫn gây khó khăn cho người thiết kế tại Việt Nam) “Kiến trúc xanh” không có một quy tắc chung nhưng vấn đề bối cảnh địa phương phải đặt lên hàng đầu, từ đó xem xét giải pháp nào là phù hợp, ứng dụng nguyên lý thiết kế ở đâu, như thế nào… và kết quả cuối cùng là một “kiến trúc xanh” của chính chúng ta sẽ ra đời

Trong thời gian qua đã có rất nhiều hoạt động của chính quyền, các nhà quản lý, các tư vấn, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình nhằm tiết kiệm năng lượng cho công trình và gìn giữ môi trường Tuy nhiên hầu như các hoạt động của Việt Nam còn chưa đồng bộ, dù đã có nhiều các nghiên cứu trong lĩnh vực kiến trúc tiệm cận đến

“kiến trúc xanh” theo các hướng tiếp cận khác nhau, nhưng trên thực tế, do sự nhận thức chưa đầy đủ về “kiến trúc xanh” đã dẫn đến những cách làm còn chưa triệt để, thiếu tính bền vững Về mặt thiết kế kiến trúc, chưa phát huy được các lợi thế của điều kiện tự nhiên, các kinh nghiệm truyền thống của ông cha trong việc tạo dựng

Trang 26

môi trường ở xứ nhiệt đới Về mặt quản lý và sử dụng công trình chưa chú trọng toàn diện vấn đề tiết kiệm năng lượng, việc quản lý chất thải, khí thải chưa được thực hiện triệt để Tóm lại, trước khi ứng dụng rộng rãi mô hình “kiến trúc xanh” trong tiết kiệm năng lượng, chúng ta cần có những khảo sát, chuẩn bị, nghiên cứu

lý thuyết… để ứng dụng hiệu quả nhất và đặc biệt cần thiết phải đưa vào một mô hình hợp lý để năng lượng được sử dụng hiệu quả, đảm bảo môi trường phát triển bền vững tại Việt Nam [2]

1.2.Tổng quan về nhà ở xã hội nói chung và nhà ở công vụ Bộ quốc phòng nói riêng

1.2.1.Giới thiệu chung về nhà ở xã hội

Từ sau năm 1954, ở Việt Nam mới bắt đầu xuất hiện loại hình nhà ở chung cư ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Vũng Tàu Ở miền Bắc, ngay từ những năm 1960-1970, nhà nước đã có chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân, trong đó tập trung việc phát triển các nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho cán bộ công nhân viên chức thuê với mức giá rẻ Trong thời gian này nhà nước đã cho xây dựng khá nhiều khu tập thể tại Hà Nội như tiểu khu Kim Liên, khu tập thể Giảng Võ, Bách Khoa, Trung tự, Thành Công, Thanh Xuân Băc, với đặc điểm: nhà bê tông lắp ghép kiểu block, chiều cao tối đa 5 tầng, mặt bằng dạng tấm, kiểu hành lang giữa hoặc bên, các căn hộ độc lập tương đối khép kín, diện tích khoảng 20-40m2, chỉ tiêu diện tích 6m2/ người

Khái niệm NOXH đã lần đầu tiên chính thức xuất hiện trong văn bản pháp luật là Luật Nhà ở 2005 với định nghĩa NOXH là “Nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng để cho các đối tượng quy định tại Điều 53 và Điều 54 của Luật này Hiện nay, sau cơn bão chứng khoán, rồi bất động sản, rồi chung cư cao cấp, hơn lúc nào hết, NOXH đang là mối quan tâm hàng đầu Không chỉ có người nghèo và người thu nhập thấp, ngay cả những cán bộ công chức có thu nhập ổn định ở mức trung bình đều mong muốn sở hữu một không gian sống tối thiểu Đó là mong muốn chung của toàn xã hội

Trang 27

Các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội [25]:

- Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;

- Hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn;

- Hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu;

- Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị;

- Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp;

- Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân;

- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

- Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 81 của Luật này;

- Học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập;

- Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở

1.2.2.Khái niệm về nhà ở công vụ Bộ quốc phòng [25]

a.Khái niệm

Nhà ở công vụ Bộ quốc phòng là nhà ở kiểu căn hộ (căn nhà) khép kín, dùng để bố trí cho cán bộ, nhân viên đủ điều kiện được thuê ở trong thời gian đảm nhiệm công tác; là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước do Bộ Quốc phòng quản lý sử dụng Cơ quan quản lý nhà ở công vụ là cơ quan, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được

Trang 28

giao nhiệm vụ quản lý trực tiếp quỹ nhà ở công vụ thuộc Bộ Quốc phòng, đơn vị trực thuộc quản lý

Đối tượng được thuê nhà ở công vụ là các sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ được điều động, luân chuyển theo yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, người làm việc trong các tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý

b.Các loại hình nhà ở công vụ Bộ quốc phòng

* Đối với nhà biệt thự: Được thiết kế theo kiểu biệt thự đơn lập hoặc biệt thự song lập Chiều cao tối đa không quá 3 tầng Diện tích đất khuôn viên biệt thự không nhỏ hơn 350 m2 và không lớn hơn 500 m2; gồm 2 loại:

- Loại A: Diện tích đất 450 m2 đến 500 m2, diện tích sử dụng nhà từ 300 m2 đến 350m2;

- Loại B: Diện tích đất 350 m2 đến 400 m2, diện tích sử dụng nhà từ 250 m2 đến

- Căn hộ loại 1: Diện tích sử dụng từ 140 m2 đến 160 m2;

- Căn hộ loại 2: Diện tích sử dụng từ 100 m2 đến 115 m2;

Trang 29

- Căn hộ loại 3: Diện tích sử dụng từ 80 m2 đến 100 m2;

- Căn hộ loại 4: Diện tích sử dụng từ 60 m2 đến 70 m2;

- Căn hộ loại 5: Diện tích sử dụng từ 25 m2 đến 45 m2

* Căn nhà khu vực nông thôn được thiết kế căn nhà kiểu khép kín, diện tích sử dụng mỗi căn nhà không nhỏ hơn 25 m2 và không lớn hơn 90 m2, gồm 04 loại sau:

- Căn nhà loại 1: Diện tích sử dụng từ 80 m2 đến 90 m2;

- Căn nhà loại 2: Diện tích sử dụng từ 55 m2 đến 65 m2;

- Căn nhà loại 3: Diện tích sử dụng từ 40 m2 đến 45 m2;

- Căn nhà loại 4: Diện tích sử dụng từ 25 m2 đến 35 m2

c.Tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ

- Biệt thự loại A: Được bố trí cho ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương đảng

- Biệt thự loại B: Được bố trí cho cán bộ có quân hàm Đại tướng, trừ chức danh quy định tại Khoản 1 Điều này

- Nhà liền kề loại C hoặc căn hộ chung cư loại 1: Được bố trí cho cán bộ có quân hàm Thượng tướng, Đô đốc Hải quân

- Nhà liền kề loại D hoặc căn hộ chung cư loại 2: Được bố trí cho cán bộ có quân hàm Trung tướng, Thiếu tướng; Phó Đô đốc, Chuẩn Đô đốc Hải quân và tương đương

- Căn hộ chung cư loại 3 tại khu vực đô thị hoặc căn nhà loại 1 tại khu vực nông thôn: Được bố trí cho cán bộ có quân hàm Đại tá, Thượng tá, Trung tá và tương đương

- Căn hộ chung cư loại 4 tại khu vực đô thị hoặc căn nhà loại 2 tại khu vực nông thôn: Được bố trí cho cán bộ có quân hàm Thiếu tá, Đại úy và tương đương

- Căn hộ chung cư loại 5 tại khu vực đô thị hoặc căn nhà loại 3, 4 tại khu vực nông thôn được bố trí cho các đối tượng còn lại

Trang 30

1.2.3.Thực trạng kiến trúc nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng thể loại chung cư cao tầng tại Việt Nam

Do tính chất đặc thù của lực lượng vũ trang là thường xuyên phải điều động lực lượng phục vụ yêu cầu về quốc phòng, an ninh nên nhu cầu nhà ở công vụ Bộ Quốc phòng ngày càng lớn nên nhà ở công vụ chung cư cao tầng đã tỏ ra có nhiều ưu điểm và đang trở thành hướng ưu tiên phát triển nhà ở công vụ của Bộ Quốc phòng Các công trình nhà ở công vụ chung cư cao tầng được xây dựng trong thời gian gần đây có mặt bằng hình học và hình khối đơn giản Chủ yếu là mặt bằng được thiết kế theo hình học vuông vức, ghép khối vuông góc, song song hoặc đôi khi là hình đa giác Tường bao che chịu tác động trực tiếp của ánh nắng mặt trời Mặt bằng bố trí kín để đảm bảo hiệu quả kinh tế của chủ đầu tư Các loại nhà này dường như chưa phù hợp với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm ở Hà Nội Không gian bên trong

và bên ngoài liên hệ trực tiếp qua cửa sổ và cửa đi Không có không gian chuyển tiếp và các giải pháp che nắng tạo bóng râm trên mặt đứng

Xây dựng nhà ở công vụ chung cư cao tầng đã và đang nảy sinh hàng loạt các vấn đề; Môi trường đô thị có những diễn biến theo chiều hướng bất lợi, ảnh hưởng đến đời sống người dân…

Theo quan điểm Kiến trúc xanh qua phân tích một số nhà cao tầng đã được xây dựng mấy năm gần đây, có thể rút ra một số kết luận sau đây:

- Nhà quay đều về cả bốn hướng, ít được che nắng và tạo bóng trên mặt nhà nên sẽ

bị Mặt trời nung nóng rất mạnh;

- Mặt bằng bố trí chặt, đặc, nên thông gió tự nhiên đều rất kém hiệu quả, đặc biệt các căn hộ ở những hướng bất lợi;

- Vắng bóng cây xanh, lá phổi và bộ lọc của toà nhà;

- Không có không gian chuyển tiếp và giao tiếp, thư giãn, khó có thể tạo được một

ấn tượng tốt về tâm và sinh lý cho người ở;

- Phần lớn các căn hộ muốn tạo được điều kiện vi khí hậu dễ chịu đều phải nhờ đến điều hoà nhiệt độ, do đó sẽ tiêu thụ nhiều năng lượng, trực tiếp và gián tiếp gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của hệ sinh thái

Trang 31

- Ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân trong nhà vì không phải mọi gia đình đều

có thể sử dụng điều hoà nhiệt độ, và người dân sống ở Xung quanh do sự biến đổi của môi trường đô thị

Những tồn tại chính trong kiến trúc

Về tổ chức không gian ,tuy đã có cải tiến trong công tác thiết kế, song chưa thực sự

là cuộc cách mạng, thiết kế vẫn đi theo lối mòn trước đây, chưa phù hợp với điều kiện khí hậu Hà Nội Đa số các mẫu thiết kế khoảng 80% chưa phù hợp với khí hậu nhiệt đới Căn hộ được thiết kế theo dạng "căn hộ đóng" Mặt bằng nhiều căn hộ bỏ mất tiền phòng, bỏ yêu cầu thông gió xuyên phòng, tạo ra những hành lang dài và tối, đôi khi giống "phố" giữa nhà Nhiều nhà ở công vụ loại chung cư cao tầng sử dụng cửa đi panô gỗ kín đặc còn cửa số bằng nhôm kính đẩy, phía trên không có ô văng che chắn nên khi mưa phải đóng cửa cho khỏi hắt, không khí ngột ngạt Hầu hết cửa sổ không được thiết kế hệ thống che nắng, chống nóng, chống mưa hắt Hình thức kiến trúc còn đơn điệu, nghèo nàn, chưa theo kịp với xu thế phát triển của khu vực Phần lớn thiết kế theo dạng căn hộ "đóng" nên có các nhược điểm

- Nhiều căn hộ không đảm bảo yêu cầu độc lập khép kín, một giải pháp chúng ta đã giải quyết được ngay từ thập niên 80 của thế kỷ trước

- Nhiều nhà quá dày, hoặc nhiều cơ cấu do yêu cầu thông gió đã bố trí giếng trời giữa nhà, gây ồn và ảnh hưởng đến vệ sinh chung, không đảm bảo tiêu chuẩn PCCC Nhiều nhà có quá nhiều căn hộ trong một đơn nguyên lớn hơn 8 hoặc có

Trang 32

hành lang giữa quá dài, tạo ra "phố" giữa nhà, gây ồn, ảnh hưởng tới yêu cầu độc lập của căn hộ

- Hành lang giữa và nút giao thông thường bị tối, thiếu ánh sáng tự nhiên, hệ thống

đổ rác thường được bố trí giữa lõi, gây mất vệ sinh chung

Các vấn đề sau đây hầu như không được xem xét đến

- Tiện nghi vi khí hậu trong nhà Yêu cầu giảm nhiệt độ cho công trình hoặc tăng bóng rợp

Khai thác năng lượng có hiệu quả, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

- Vấn đề điều tra xã hội học về nhu cầu sử dụng và các ưu nhược điểm của nhà ở công vụ loại chung cư cao tầng Bộ quốc phòng tại Hà Nội đã xây dựng

- Các không gian phụ như: kho, tiền phòng, nơi phơi phóng, nơi thờ cúng chưa được nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu sử dụng

Đây thực sự là giai đoan "khởi động" để đi tìm các khuynh hướng thiết kế cho phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu thực tế của cán bộ nhân viên, đảm bảo an toàn quốc phòng, an ninh và điều kiện tự nhiên của Hà Nội Trong thời gian tới, khi mà đời sống xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu con người ngày càng tăng lên, thì nhu cầu về một căn nhà thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng, thông thoáng, vệ sinh, đảm bảo sức khoẻ và đời sống tiện nghi cho con người đã trở thành thực tế trước mắt Nhà ở công vụ loại chung cư cao tầng Bộ Quốc phòng theo kiến trúc xanh đảm bảo sinh khí hậu là một hướng đi tốt có thể giải quyết được vấn

đề này

Trang 33

CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ ĐÁNH GIÁ KIẾN TRÚC NHÀ Ở CÔNG VỤ BỘ QUỐC PHÒNG THỂ LOẠI CHUNG CƯ CAO TẦNG

2.1.Cơ sở pháp lý

2.1.1 Các văn bản pháp lý liên quan đến Kiến trúc xanh

a Một số tiêu chuẩn trên thế giới:

- Tiêu chuẩn ASHRAE 62.1 - 2007, 2010 và 2013

- Tiêu chuẩn Úc, AS 1668.2

- Tiêu chuẩn Úc, AS 1428 và AS 1735

- CIBSE Hướng dẫn B - Sưởi, Thông gió, Điều hòa Không khí và Chất làm lạnh

- Bộ tiêu chuẩn ASHRAE 55-2004

- Tiêu chuẩn ADA cho thiết kế tiếp cận sử dụng

b Một số tiêu chuẩn quy chuẩn tại Việt nam:

- Luật Nhà ở ngày 25 tháng 11 năm 2014;

- Nghị định số 209/2004/ND-CP - VềQuản lý chất lượng công trình Xây dựng

- QCVN 09:2013/BXD - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình xây dựng

sử dụng năng lượng hiệu quả (VBEEC)

- Nghị định 175/1994/NĐ-CP ngày 18-10-1994 của Chính phủ về Hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường - Nghị định 143/2004/NĐ-CP có sửa đổi bổ sung điều 14

- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP Về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường: bao gồm các Điều 4, 5, 11, 17, khoản 1 Điều 6, khoản 3 Điều 22 và bổ sung Điều 6a, khoản 1 Điều 13, Điều 17a, 17b, 17c, 17d, 21a, 23a

- TCVN 5687:2010 Thông gió - Điều hòa không khí - Tiêu chuẩn thiết kế

Trang 34

- TCXDVN 306:2004 - Nhà ở và công trình công cộng - Thông số vi khí hậu trong phòng

- TCXDVN 277-2002 - Cách âm cho các kết cấu phân cách bên trong nhà dân dụng

- TCXDVN 175-2005 - Mức ồn tối đa cho phép trong công trình công cộng – Tiêuchuẩn thiết kế

2.1.2 Các văn bản pháp lý về việc đánh giá công trình cao tầng theo tiêu chí Kiến trúc xanh

Hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có văn bản pháp lý cụ thể về việc đánh giá loại hình công trình cao tầng theo tiêu chuẩn Kiến trúc xanh chính thức trên phạm vị Quốc gia Việc đánh giá công trình đạt Kiến trúc xanh nói chung và công trình cao tầng đạt được là Kiến trúc xanh nói riêng mới chỉ dựa trên các bộ công cụ và tiêu chí đánh giá của 2 tổ chức:

- Hội đồng công trình xanh Việt Nam (VGBC) với bộ công cụ gồm 10 tiêu chí đánh giá công trình xanh LOTUS

- Hội Kiến trúc sư Việt Nam với 5 tiêu chí đánh giá công trình xanh

2.2.Cở sở lý thuyết

2.2.1 Lý thuyết về phát triển bền vững và kiến trúc bền vững

Phát triển bền vững và mối liên hệ với kiến trúc :

Nhìn nhận các yêu cầu yêu cầu đối với kiến trúc đương đại từ góc độ phát triển bền vững : Trong bối cảnh phát triển của các nước hiện nay yêu cầu phát triển bền vững

đã trở thành một yêu cầu tất yếu, không còn là một trong những lựa chọn mang tính

có thể mà là điều kiện bắt buộc, trực tiếp liên quan đến sự sống còn của loài người trên trái đất này Vấn đề đã trở nên không chỉ của riêng một quốc gia mà mang tính toàn cầu [5] Do vậy, lĩnh vực kiến trúc xây dựng với vai trò là một trong những thành phần cơ bản của nền kinh tế tiêu thụ một tỷ trọng lớn tài nguyên như năng

Trang 35

lượng, nước, nguyên vật liệu…và đóng góp một phần không nhỏ trong các lượng chất thải, khí thải, gây ra sự biến đổi môi trường sinh thái và khí hậu trong phạm vi lân cận cũng như trong phạm vi vùng…không thể không đề cập đến tính bền vững trong kiến trúc Điều này càng đặc biệt có ý nghĩa hơn đối với các nước đang phát triển, nơi đang diễn ra quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa với tốc

độ cao Châu Á đang chuyển mình và đang đua tranh với các nước phương Tây trong “khả năng tiêu tốn tài nguyên và năng lượng“ với những công trình cao tầng cao nhất thế giới như tháp đôi Petronas của Malaysia, Taipei 101 của Đài Bắc hay tòa nhà Bionic Tower của Thượng Hải Vì vậy, sự nghiên cứu về KTBV trong điều biện bối cảnh đặc thù hiện nay là rất bức thiết Hội nghị lần thứ II của Liên hiệp

quốc về Định cư con người ở Istanbul 1996 khẳng định :” PTBV là điều thiết yếu

cho việc phát triển định cư con người, cung cấp mọi sự quan tâm đến nhu cầu và

sự cần thiết để đạt được tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Định cư bền vững cho con người đảm bảo việc phát triển kinh tế, cơ hội công ăn việc làm và tiến bộ xã hội hòa nhập với môi trường“ Kết quả nghiên cứu

tổng quan về KTBV cho thấy, vấn đề này mới được đề cập trong vòng hơn một thập kỷ trở lại đây Xét về nguồn gốc, KTBV bắt nguồn từ xa xưa trong những kinh nghiệm xây cất của của định cư con người, “mặc dù trong đầu các cụ chưa hề lởn vởn khái niệm tân kỳ này” Tuy nhiên, các khái niệm và quan điểm được đưa ra trên thế giới về KTBV chủ yếu xuất phát từ các nước phương Tây Vì vậy một điều không tránh khỏi là các quan niệm đó được đưa ra chủ yếu nhằm soi rọi cho các hướng giải quyết hệ thống vấn đề đặc thù trong phát triển của các nước phương Tây, nổi bật là các vấn đề về môi trường sinh thái, tiêu thụ năng lượngvà chất lượng môi trường sống và làm việc về mặt lý hóa học của con người Đồng thời các quan điểm đó cũng mang nét đặc trưngtrong cách tư duy “duy lý” phương Tây, thể hiện qua việc xác định các nguyên nhân và mục đích cụ thể để tìm hướng giải quyết

[5] Do vậy, quan điểm phổ biến trong các tài liệu về KTBV trên thế giới cho rằng KTBV là kiến trúc sinh thái hay kiến trúc xanh Cũng vì vậy, các hệ thống tiêu chí

đánh giá hiện hành chủ yếu chỉ đề cập hiệu quả của các biện pháp giải quyết các

Trang 36

vấn đề cơ bản nói trên Mặc dù các nước có những vấn đề khác nhau về mặt chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa nhưng cùng chia sẻ mối quan tâm về sự phát triển và hậu quả môi trường sinh thái, cho nên quan niệm kiến trúc xanh đồng nghĩa với KTBV đã nhanh chóng được thừa nhận như một hướng giải quyết thích hợp và vô hình trung đáp ứng yêu cầu PTBV

Không phụ thuộc vào nhận thức của con người, cuộc sống vẫn diễn ra với muôn vàn các mối liện hệ qua lại giữa các thành phần bao gồm cả yếu tố vật chất và phi vật chất Là một thành phần của thực thể luôn vận động đó, kiến trúc phải đáp ứng muôn vàn các mối quan hệ đa dạng mang tính vật chất và phi vật chất một cách đồng thời Các quá trình trao – nhận, tương tác – phản hồi liên tục diễn ra theo các chu trình phi tuyến tính Bởi vậy, nếu quan niệm kiến trúc vẫn tiếp tục theo hướng nguyên nhân – giải pháp sẽ không tránh khỏi lặp lại những hạn chế của kiến trúc hiện đại các giai đoạn trước ví dụ như để phá bỏ truyền thống trang trí đưa ra kiến trúc công năng duy lý, phá bỏ tính quốc tế hóa đưa ra chủ nghĩa vùng phá bỏ sự quy củ trật tự đưa ra kiến trúc phi kiến tạo…Không thể phủ nhận thành quả đã khám phá được của các giai đoạn phát triển của kiến trúc trước đây cũng như khía cạnh rất đa dạng cần quan tâm mà các xu hướng kiến trúc như kiến trúc sinh khí hậu nhấn mạnh vấn đề khí hậu, kiến trúc tiết kiệm năng lượng nhấn mạnh vấn đề tiết kiệm năng lượng…đã tạo ra tiền đề để hình thành KTBV Tuy nhiên để đạt tới

sự PTBV thực sự theo đúng tiêu chí PTBV về cả ba mặt kinh tế môi trường và xã hội, cần thiết có một cách tiếp cận tổng hợp đa chiều trong kiến trúc

Bên cạnh đó các nước Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng có được lợi thế của tiến trình hiện đại hóa diễn ra muộn hơn so với các nước phát triển Đến một giới hạn nhất định, truyền thống ứng xử văn hóa với tự nhiên và xã hội có những điểm khác biệt cơ bản đối với các nước phương Tây Hệ thống di sản của chúng ta may mắn vẫn còn có cơ hội tồn tại đến hôm nay, mặc dù đang trong tình trạng nguy kịch

và có nguy cơ biến mất Chúng ta có được lợi thế của người đi sau để rút kinh nghiệm từ những hậu quả quả đã có thể nhận thức được của những sự phát triển đi trước trên thế giới và một số nước trong khu vực Do đó, có thể nói, tọa độ bền

Trang 37

vững của chúng ta có sựkhác biệt so với các nước phương Tây khi cùng tham gia hội nghị thượng đỉnh tại Rio De Janeiro năm 1992 Trong bối cảnh ấy, cần có sự kế thừa những thành quả kinh nghiệm của các nước phát triển nhưng đồng thời cần có những quan điểm riêng phù hợp với những lợi thế so sánh mà chúng ta hiện đang

có Mặt khác, sự áp dụng không có chọn lọc các quan điểm phương Tây còn có nguy cơ làm biến mất các lợi thế so sánh của chúng ta và tự biến bản thân chúng ta trở thành tụt hậu Do vậy, cần xây dựng một quan niệm tổng hợp đa cực về KTBV phù hợp với đặc thù riêng của chúng ta Quan niệm ấy phải đảm bảo được tính tổng thể nhằm giải quyết toàn diện vấn đề của KTBV, tránh những hậu quả và hạn chế của hướng quan niệm của chuyên biệt đơn cực Đồng thời quan niệm được đưa ra phải chuyển hóa được tinh thần của KTBV vào đặc thù của lĩnh vực kiến trúc Hay nói cách khác, tinh thần của PTBV phải xuyên suốt trong KTBV

Đến đây, cần thiết nhấn mạnh lại định nghĩa PTBV đã được nêu trong Báo cáo Brundland :”PTBV là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các nhu cầu của họ” Ba trụ cột cơ bản của PTBV đó là tính bền vững về môi trường, xã hội và kinh

tế Do đó, cần thiết xem xét mối quan hệ giữa các yêu cầu của PTBV đối với kiến trúc và sự ảnh hưởng của kiến trúc đối với PTBV để có thể đi đến KTBV [7]

Quan hệ hai chiều phát triển bền vững và kiến trúc bền vững về mặt văn hóa :

Văn hóa quy định những lựa chọn trong kiến trúc Kiến trúc là một phần của văn hóa Nghiên cứu cụ thể với đối tượng nhà ở dân gian các vùng miền, Ammos Rapoport trong Hình thức ngôi nhà văn hóa, 1969 đã chỉ ra ba vấn đề cơ bản trong mối quan hệ văn hóa với kiến trúc

Thứ nhất, hình thức khác nhau của nhà ở là hiện tượng phức tạp không thể có một cách giải thích đơn giản nào có thể hoàn toàn giải quyết được vấn đề Tuy nhiên các hướng giải quyết có thể tựu trung lại đều xoay quoanh một chủ đề cơ bản là: nhữngcon người khác nhau với các thái độ và các lý tưởng khác nhau đã đáp ứng

Trang 38

hay có những ứng xử khác nhau đối với điều kiện môi trường khác nhau tạo nên sự khác biệt về hình thái và cấu trúc của nhà ở Những sự ứng xử này thay đổi từ nơi này đến nơi khác vì có sự thay đổi và sự khác biệt trong mối quan hệ tương tác qua lại tổng hợp của yếu tố văn hóa, xã hội, tập tục, tín ngưỡng kinh tế và các yếu tố vật chất khác Các yếu tố này và những ứng xử này cũng có thể thay đổi dần dần tại cùng một thời điểm theo sự biến đổi của thời gian Hình thức của nhà ở không chỉ đơn thuần là kết quả tác động của các yếu tố vật chất hoặc do một yếu tố duy nhất nào quyết định mà là kết quả của toàn bộ sự tác động tổng hợp của các yếu tố văn hóa xã hội hiểu theo nghĩa rộng nhất

Thứ hai, hình thức được điều tiết, điều chỉnh bởi điều kiện khí hậu – đó là môi trường vật chất làm cho có những yếu tố khía cạnh là có thể hoặc được khuyến khích cũng như có những yếu tố là không thể Thông qua vật liệu, phương pháp và công nghệ xây dựng là các công cụ để đạt được môi trường xây dựng mong muốn Yếu tố văn hóa xã hội là yếu tố đầu tiên quan trọng và các yếu tố sau là các yếu tố điều chỉnh thay đổi Đối với mỗi điều kiện khí hậu nhất định và trong điều kiện có thể cũng như các hạn chế của vật liệu, phương pháp và công nghệ xây dựng, những quyết định cuối cùng về nhà ở, sự xắp đặt, tạo dựng không gian và quan hệ giữa chúng là quan điểm nhìn nhận của con người, những mong muốn của con người đối với một cuộc sống lý tưởng

Thứ ba, ở đây đề cập đến yếu tố con người, và vì vậy có liên quan đến lựa chọn văn hóa liên quan đến các chuẩn mực Các chuẩn mực cũng như các yếu tố vật chất này không phải là các mức cố định mà nó tồn tại theo thang bậc và có khả năng thay đổi Với các thang bậc này cho phép người ta lựa chọn, khi phối hợp với nhau thành ma trận lựa chọn

“Chiến lược định cư” của HABITAT năm 1996 cũng đã nhấn mạnh vai trò của yếu

tố văn hóa trong PTBV và chất lượng định cư con người

Trang 39

Chất lượng cuộc sống của mỗi người phụ thuộc vào các nhân tố kinh tế xã hội, môi trường và văn hóa, phụ thuộc vào các điều kiện thực tế và các đặc trưng không gian của các làng xóm và các đô thị

Mục tiêu của sự cố gắng này bao gồm việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, cung cấp an ninh và an toàn, giáo dục và hợp nhất xã hội, khuyến khích công bằng và tôn trọng

đa dạng hóa cũng như bản sắc văn hóa, tăng cường hỗ trợ những người tàn tật : bảo tồn các công trình và khu vực có ý nghĩa lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng : tôn trọng cảnh quan và chăm lo, bảo vệ môi trường địa phương

Các định nghĩa về PTBV cũng đã đề cập đến bền vững văn hóa như một phần của bền vững xã hội Tuy nhiên, tính bền vững về mặt văn hóa vẫn là một thuật ngữ mới, thậm chí hiện nay được đề cao vai trò như một khía cạnh thứ tư bên cạnh các yếu tố bền vững về môi trường kinh tế và xã hội Jon Hawkes, đã đưa ra định nghĩa

cơ bản và được chấp nhận rộng rãi :”Bền vững văn hóa là sự phát triển, làm mới và duy trì văn hóa của con người, để tạo ra các mối quan hệ tích cực và lâu bền giữa con người với con người và con người với tự nhiên”

Định nghĩa này xác định rõ ba vấn đề cơ bản mà phát triển văn hóa nói chung trong

đó có phát triển kiến trúc là làm “phát triển, làm mới và duy trì”văn hóa – các giá trị, chuẩn mực và các đặc trưng – để đi đến tiêu cao nhất là tạo dựng mối quan hệ tổng hòa bền vững giữa con người với con người cũng như với tự nhiên

Quan hệ hai chiều PTBV và KTBV về mặt môi trường:

Môi trường thông thường được đề cập chỉ các yếu tố và điều kiện tự nhiên của một địa điểm, một khu vực

Quan hệ giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo đã có sự chuyển biến quan trọng, đặc biệt là sau thế kỷ 20 Môi trường tự nhiên từ vai trò là “hệ thống bao chứa” đã trở thành “yếu tố bị bao bọc”

Trang 40

Theo chiều xuôi, nhìn nhận sự ảnh hưởng của môi trường ở quy mô đô thị, hiện nay trên thế giới đang có 4 mức độ quan tâm đến vấn đề môi trường khác nhau cùng với các biện pháp tương ứng về mặt quy hoạch và quản lý đô thị

Đối với công trình kiến trúc, bên cạnh sự tác động của các yếu tố phi vật thể, có ba yếu tố cơ bản của môi trường vật thể tạo dựng những lợi thế và tiềm năng chờ đợi

sự khai thác cũng như các khó khăn cần khắc phục Các yếu tố đó bao gồm:

- Khí hậu

- Địa điểm xây dựng

- Vật liệu và phương pháp công nghệ xây dựng

Không thể phủ nhận tầm quan trọng của sự ảnh hưởng của khí hậu tới kiến trúc Khí hậu là yếu tố điều tiết, điều chỉnh Mức độ ảnh hưởng của khí hậu phụ thuộc vào mức độ mạnh mẽ và sự khắc nghiệt của mỗi điều kiện khí hậu cụ thể, và tương đồng với điều đó là mức độ và khả năng tự do đối với người thiết kế

Địa điêm, cùng với sự khác biệt của cảnh quan, cấu trúc định cư và hình thức của môi trường xây dựng đã tạo nên một bối cảnh cùng với tinh thần của địa điểm Lựa chọn tiếp nối, kế thừa hay bứt phá,tương phản là quyết dịnh cần được đưa ra một cách thích hợptrong từng điều kiện cụ thể Tuy nhiên, địa điểm thường chỉ được hiểu đơn giản về khía cạnh không gian và vật thể ( vị trí và hình dáng ) Còn các hệ thốngsinh thái và sinh thực vật gắn liền với địa điểm đó lại thường ít được quan tâm đến

Vật liệu và phương pháp công nghệ xây dựng cũng là những yếu tố điều chỉnh là các công cụ để đạt được môi trường xây dựng mong muốn Đồng thời với sự phat triển của công nghệ và vật liệulà sự gia tăng các khả năng của con người trong việc đạt được môi trường mong muốn đó

Điểm quan trọng thứ nhất, các yếu tố vật thể đó tạo ra các cơ hội hay những điều có thể Sự lựa chọn giải pháp cuối cùng phụ thuộc vào người ra quyết định

Ngày đăng: 20/07/2019, 16:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17.Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam (2005), Luật bảo vệ môi trường Hà Nội Khác
18.Richard Roger & Phillip Gumuchdjian (1997), Cities for a small planet, Faber&Faber, Great Britain Khác
19.Green Building Council Australia. Technical manual Green Star office design & office as Built. Version 3.2008 Khác
21.Chính phủ Việt Nam: www.chinhphu.gov.vn Khác
22.Sở Xây dựng Hà Nội: www.soxaydung.hanoi.gov.vn 23.Sở Quy hoạch Kiến Trúc Hà nội: www.qhkt.hanoi.gov.vn 24.Kiến Việt : www.kienviet.net Khác
26.Architecture Space: www.arcspace.com Khác
27.Architecture and Plan: www.architectureplan.com Và một số Website khác Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w