LuangPrabang cũng là nơi bảo tồn di sản về nghệ thuật kiến trúc với hơn 30 cung điện tráng lệ, đa số được xây dựng từ thế kỷ XIV, khoảng 40 ngôi chùa chiền cổ được xây dựng từ những triề
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KIẾN TRÚC
HÀ NỘI - 2019 -
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KIẾN TRÚC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PSG TS KTS NGUYỄN MINH SƠN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
HÀ NỘI – 2019 -
Trang 3nhận được sự quan tâm hướng dẫn giúp đỡ về các chuyên môn, vật chất và tinh thần trong quá trình thực hiện luận văn của nhiều tập thể, cá nhân trong
và ngoài trường
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm dạy bảo của các thầy cô giáo trường Đại học kiến trúc Hà Nội, xin chân thành cảm ơn đến văn phòng khoa Sau đại học, trường Đại học kiến trúc Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi quá trình học tập
Đặc biệt xin được gửi lời cảm ơn tới PGS.TS KTS NGUYỄN MINH SƠN đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong quá trình thực tập
để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Cuối cùng, xin gửi lời biết ơn tới các anh chị, bạn bè và những người trong gia đình đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi hoàn thành khóa luận văn này Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 10 Tháng 05 năm 2019 TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Luangphasy SENGONKEO
Trang 4
số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Luangphasy SENGONKEO
Trang 5Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình vẽ, kiến trúc
MỞ ĐẦU
* Lý do chọn đề tài……….1
* Mục đích nghiêncứu………3
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 3
* Phương pháp nghiên cứu……… 3
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn……… 3
* Cấu trúc luận văn……… 4
NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN KIẾN TRÚC MÁI DỐC CỦA THÀNH PHỐ LUANGPRABANG, KHẢO SÁT KIẾN TRÚC MÁI DỐC MỘT SỐ CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU……… 6
1.1 Bối cảnh tự nhiên, kinh tế-xã hội của thành phố Luang Prabang…6 1.1.1 Điều kiện tự nhiên……… 6
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội……… 10
1.2 Quá trình tình hành và phát triển kiến trúc mái dốc tại Lào…… 19
1.2.1 Giới thiệu các loại công trình kiến trúc mái dốc qua các thời kỳ……… 19
1.2.2 Kỹ thuật xây dựng và tính nghệ thuật cũng như hợp lý trong sử dụng của kiến trúc mái dốc ……… 30
Trang 61.3.2 Kiến trúc 33
1.4 Khảo sát kiến trúc mái dốc một số công trình tiêu biểu 35
1.4.1 Công trình tôn giáo……… ……… 35
1.4.2 Công trình công cộng……… 41
1.4.3 Công trình nhà ở……….46
1.4.4 Các công trình loại khác……… 48
1.5 Sơ bộ đánh giá……… 49
Chương 2: CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC MÁI DỐC TRUYỀN THỐNG TẠI THÀNH PHỐ LUANG PRA BANG 51
2.1 Cơ sở pháp lý và quy định về xây dựng của CHDCND Lào…… 51
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến trúc mái dốc truyền thống Lào…52 2.3 Phân loại kiến trúc mái dốc truyền thống Lào tại thành phố Luang Prabang……… 55
2.3.1 Kiến trúc tôn giáo……… 55
2.3.2 Kiến trúc công cộng……… 65
2.3.3 Kiến trúc nhà ở……… 67
2.3.4 Các kiến trúc loại khác……… 71
2.4 So sánh kiến trúc mái dốc truyền thống Lào và các nước có điều kiện tương đồng……… 71
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC MÁI DỐC TRUYỀN THỐNG LÀO VÀ ĐỊNH HƯỚNG GÌN GIỮ VÀ THÍCH NGHI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN 73
3.1 Đặc điểm về không gian cảnh quan 73
3.1.1 Đặc điểm về quy hoạch, bố cục không gian cảnh quan 73
Trang 73.2 Đặc điểm của kiến trúc mái dốc truyền thống Lào tại thành phố
Luang Prabang……… 79
3.3.1 Hình thức kiến trúc……… 79
3.3.2 Cấu tạo không gian và cấu tạo chi tiết……… 87
3.3.3 Vật liệu và kết cấu……… 88
3.3 Những giá trị độc đáo của kiến trúc mái dốc truyền thống thành phố LuangPrabang góp phần tạo nến bản sắc riêng của kiến trúc Lào 90
3.3.1 Giá trị về văn hóa lịch sử 90
3.3.2 Giá trị về cảnh quan môi trường 91
3.3.3 Giá trị về thẫm mỹ 92
3.3.4 Giá trị về thích nghi 93
3.4 Định hướng gìn giữ và phát huy (gìn giữ - phát triển và hài hòa).93 3.4.1 Gìn giữ nét bản sắc 93
3.4.2 Phát huy tình bản sắc 94
3.4.3 Phát triển hài hòa thích nghi với cuộc sống đương đại 97
KIẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kiết luận 99
Kiến nghị 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Bảng 1.1 Các lễ hội tổ chức 12 ngày hội trong một năm 16 Bảng 1.2 Sơ bộ đánh giá quá trình phát triển kiến trúc mái
Bảng 2.1 So sánh kiến trúc mái dốc truyền thống Lào và các
Trang 10Hình 1.1 Bản đồ nước CHDNCD Lào và vị trí
Hình 1.3 Phong tục cưới xin, phong tục cầu yên (xù-khoẳn)
Hình 1.8 Sơ đồ hình thành phát tiển kiến trúc mái dốc
Hình 1.9 Các thành phần trong khuôn viên
Hình 1.13 Sơ đồ mặt bằng tổng thể khuôn viên
Trang 11Hình 1.22 Kiến trúc mái nhà ở nông thôn 27
Hình 1.24 Kiến trúc mái công trình bệnh viện và trường học 29
Hình 1.30 Kiến trúc Phật điện (Sỉm) của chùa Xiêng Thong 37
Hình 1.35 Mặt bằng tổng thể khuôn viên trường tiểu học LPB 42
Hình 1.37 Mặt cắt và chi tiết mái công trình trường học LPB 43
Trang 12Hình 2.4 Kiến trúc mái Phật điện (Sỉm) chùa Xiêng Thong 57
Hình 2.6 Kiến trúc mái Phật điện (Sỉm) chùa Siphouthabath 57
Trang 13Hình 3.1 Toàn cảnh đường phố LuangPrabang 74
Trang 14MỞ ĐẦU
*Lý do chọn đề tài
Hiện nay, trên khắp nước Công Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào còn rất nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được công nhận từ địa phương, quốc gia và thế giới Chúng ta còn nhìn thấy được trên khắp đất nước Lào vô vàn bởi những đền đài, chùa chiền, ngọn tháp, các nhà ở truyền thống của các dân tộc v.v Được tạo nên bởi bàn tay khéo léo và khối óc tài hoa của các nghệ nhân Lào qua nhiều thế hệ Trong đó có kiến trúc thành phố Luang Prabang
Thành phố LuangPrabang là kinh đô của Vương quốc Lan Xang (Triệu voi), vương quốc đầu tiên của nước Lào, nằm ở phía Bắc miền Bắc của Lào, nơi hợp lưu của nhiều con sông suối với sông Mê Kông hùng vĩ, bao quanh bởi những đồi cây Vào thế kỷ XVI, thủ đô đã được chuyển xuống đến Viêng Chăn cho đến hôm nay Nhưng LuangPrabang vẫn bảo tồn được vị thế của nó như là nền văn hóa đa dạng của Lào nói chung và thành phố LuangPrabang nói riêng LuangPrabang có vị trí, vai trò và mang đặc điểm riêng của nó, tạo nên dáng vẻ và những giá trị lịch sử - văn hóa độc đáo của Lào nói chung và LuangPrabang nói riêng LuangPrabang cũng là nơi bảo tồn di sản về nghệ thuật kiến trúc với hơn 30 cung điện tráng lệ, đa số được xây dựng từ thế kỷ XIV, khoảng 40 ngôi chùa chiền cổ được xây dựng từ những triều đại khác nhau mà mỗi ngôi chùa là một công trình kiến trúc có giá trị về lịch sử - văn hóa, nghệ thuật kiến trúc cao, phần còn lại là hàng trăm ngôi nhà ở kiểu sàn
gỗ được thiết kế theo phong cách riêng rất độc đáo xen kẽ với các tòa nhà công cộng được xây dựng từ thời kỳ Pháp thuộc Các ngôi nhà được sắp xếp trật tự dọc theo dãy phố nhỏ dài xung quanh núi Phu Si tạo nên vẻ độc đáo rất riêng của thành phố này
Trang 15Mái dốc truyền thống Lào là một trong những bộ phận quan trọng của cấu tạo kiến trúc với chức năng là để che chở nắng và mưa cho công trình Ngoài ra mái dốc là bộ phần nổi bật nhất trong hình thức công trình thì có thể thể hiện tính đặc trưng của phong cách kiến trúc, đối với hình thức mái dốc của công trình kiến trúc Lào tại thành phố LuangPrabang chủ yếu có mái dốc đặc trưng và nét độc đáo đó là mái dốc nhà công trình kiến trúc tôn giáo, tin ngưỡng, công cộng, nhà ở truyền thống Lào nói chung và nói riêng thành phố LuangPrabang
Kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng có vai trò quan trọng đối với đời sống văn hóa của nhân dân Lào nói chung và nhân dân LuangPrabang nói riêng Trong thành phố có rất nhiều công trình chùa, ngọn tháp thờ Phật là những di tích quan trọng đã góp phần tạo nên sự giầu có về mặt văn hóa nhân dân Luang Prabang Kiến trúc công cộng chủ yếu là các công trình hành chính, có hình thức bên ngoài có nét đặc trưng riêng của mình và ngoài kiến trúc này đại diện của kiến trúc thuộc địa, một số tòa nhà phong cách thuộc địa còn đã ghi chép các tòa nhà tôn giáo của Lào
Kiến trúc nhà ở truyền thống Lào là một phần di sản quí giá thể hiện các đặc trưng của LuangPrabang ở nhiều mặt như kiến trúc, mỹ thuật trang trí và lối sống của người dân Trong quá trình đô thị hóa, khác với các dạng công trình kiến trúc tôn giáo, công cộng; nhà ở truyền thống là dạng công trình bị tác động một cách mạnh mẽ nhất Thành phố LuangPrabang với đa số là các công trình nhà ở đang xuống cấp do thời gian và sử dụng quá tải Trong thời gian gần đây nhiều công trình bị biến đổi chức năng, phá hỏng cấu trúc của ngôi nhà
Vì vậy cần phải tìm hiểu, khảo sát nghiên cứu, “ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC MÁI DỐC TRUYỀN THỐNG LÀO TẠI THÀNH PHỐ LUANGPRABANG”, sự ảnh hưởng của các điều kiện đến tới kiến trúc
Trang 16mái dốc truyền thống Lào, đưa ra một số giải pháp quy hoạch và kiến trúc mới áp dụng vào cuộc sống của đồng bào dân tộc cả nước nói chung và người dân LuangPrabang nói riêng, để giữ được bản sắc dân tộc, nét độc đáo riêng của mình với kiến trúc mái dốc truyền thống Lào là hết sức cần thiết
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Một số thể loại công trình kiến trúc mái dốc tiêu biểu có giá trị văn hóa (sử dụng) và nghệ thuật kiến trúc
- Phạm vi nghiên cứu: Khu vực (ZPP-UA: Conservation Zone Urban central Area) tại thành phố LuangPrabang
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát hiện trạng, thu thập số liệu, tài liệu
- Phướng pháp phân tích, thống kê, xử lý tài liệu
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Phương pháp kế thừa, vận dụng, đúc rút kinh nghiệm
- Phương pháp đánh giá
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn chỉ ra đặc điểm và giá trị kiến trúc mái dốc truyền thống Lào
từ đó làm tự liệu giúp các nhà tự vấn thiết kế, duy trì nhằm phát huy những giá trị của kiến trúc mái dốc truyền thống Lào tại thành phố Luang Prabang nói riêng cả nước nói chung
Trang 17- Trở thành nguồn tài liệu giảng dạy và tham khảo quan trọng với các học sinh, sinh viên, kiến trúc sư, kỹ sư, các nhân nghiên cứu và quản lý ngành xây dựng
- Thành tài liệu hướng dẫn cho người dân thận thức được về việc phát triển đi cừng với bảo tồn và giúp cho người dân thiểu biết sâu sắc về tính chất kiến trúc mái dốc truyền thống Lào
- Làm rõ hơn những đặc điểm, đặc trưng của kiến trúc mái dốc truyền thống Lào tại thành phố LuangPrabang
- Góp phần hoàn thiện hệ thống các giải pháp cho công tác lí luận và thực tiễn trong công tác trùng tu, bảo tồn di sản kiến trúc cũng như quản lý bảo tồn và phát huy giá trị kiến trúc mái dốc truyền thống Lào tại thành phố LuangPrabang
Giá trị kiến trúc mái dốc truyền thống Lào tại thành phố LuangPrabang Điều này đóng góp rất nhiều cho người dân đây nói riêng và xã hội nói chung, cũng như bổ sung thêm tư liệu cho hệ thống quản lý và đào tạo của khu vực thành phố LuangPrabang
* Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của Luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Tổng quan kiến trúc mái dốc của thành phố LuangPrabang, khảo sát kiến trúc mái dốc một số công trình tiêu biểu
- Chương 2: Cơ sở đánh giá đặc điểm và giá trị kiến trúc mái dốc truyền thống tại thành phố LuangPrabang
- Chương 3: Đặc điểm và giá trị kiến trúc mái dốc truyền thống Lào và định hướng gìn giữ và thích nghi với sự phát triển
Trang 18SƠ ĐỒ CẤU TRÚC LUẬN VĂN
KẾT LUẬN VÀ KIẾN
NGHỊ
Kết luận Kiến nghị
Cơ sở pháp lý và quy định về xây dựng của CHDCND Lào
So sánh kiến trúc mái dốc truyền thống Lào và các nước
có điều kiện tương đồng
Phân loại kiến trúc mái dốc truyền thống Lào tại thành phố LuangPrabang
Đặc điểm về không gian cảnh quan Đặc điểm của kiến trúc mái dốc truyền thống Lào tại thành phố LPB
Khảo sát kiến trúc mái dốc một số công trình tiêu biểu
Quà trình tình hành và phát triển kiến trúc mái dốc tại Lào
Hiện trạng kiến trúc mái dốc truyền thống tại thành phố LPB
Sơ bộ đánh giá
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài Mục đích nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn cùa đề tài Cấu trúc luận văn
Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến trúc mái dốc truyền thống Lào
Trang 19NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN KIẾN TRÚC MÁI DỐC CỦA THÀNH PHỐ
LUANGPRABANG, KHẢO SÁT KIẾN TRÚC MÁI DỐC MỘT SỐ
CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU 1.1 Bối cảnh tự nhiên, kinh tế – xã hội của thành phố LuangPrabang 1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thành phố LuangPrabang (LPB) nằm ở miền Bắc Lào, ở tọa độ 19° 53′ đến 12°44″ vĩ Bắc, 102° 7′ đến 22°91″ kinh đông LPB vốn là kinh đô của vương quốc Lan Xang, vương quốc đầu tiên của đất nước Lào; là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch của 6 tỉnh miền Bắc của Lào Có đường biên giới như: phía Bắc giáp tỉnh Phông Xa Ly và tỉnh Điện Biên và Sơn La nước Việt Nam, phía Nam giáp tỉnh Viêng Chăn, phía Đông giáp tỉnh Hua Phăn và tỉnh Xiêng Khoảng, còn phía Tây giáp tỉnh U Đôm Xay và Xay Nha
Trang 20
- Khí hậu: [12], [19], [23]
Khí hậu ở Lào có những đặc điểm chung của khu vực nhiệt đới gió mùa
và sự luân chuyển của hai luồng gió ngược chiều nhau trong một năm: gió mùa Đông Bắc lạnh và khô, gió mùa Tây Nam nóng và ẩm Dãy núi Trường sơn (Phu Luông) chắn ngang biên giới phía Đông của nước Lào có tác dụng ngăn cản cũng như điều hòa ảnh hưởng của các trận cuồng phong từ Thái Bình Dương đỗ vào nên khác với Việt Nam, tính chất tương phản giữa mùa mưa và mùa khô rất rõ rệt
Mùa mưa nóng và ẩm diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 Dương lịch, với lượng mưa tối đa và tháng 7 và tháng 8 Cường độ mưa tháng lớn nhất có khi đạt tới 50% lượng mưa cả năm; lượng mưa trung bình hàng năm ở ven sông
Mê Kông từ 1.500 đến 2.000 mm, ở miền núi từ 2.000 đến 2.500 mm
Tỉnh Xay Nha Bu Ly
Trang 21Mùa khô hầu hết như rất ít mưa, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 Dương lịch Với hai tiết rõ rệt: nửa đầu của mùa khô thì khô rét, độ ẩm thấp, nửa sau thì khô nóng, oi ả
Những tháng 11,12 và tháng 1 nhiệt độ tương đối dễ chịu Vào tháng 12
có ngày nhiệt độ xuống đến 15oc, nhiệt độ trung bình trong 3 tháng này khoảng 25oc Từ tháng 2 đến tháng 5 nhiệt độ trung bình tăng dần tới 35oc, có ngày nóng tới 40oc
Thành phố LPB ở miến Bắc Lào, nằm trong khu vực có núi đồi cao, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ thấp nhất là 14 độ C, cao nhất là 40 độ C Số lượng nước mưa hàng năm đo được 1200 mm/năm, ánh sáng chiếu một ngày 8 tiếng đồng hồ
- Địa hình: [4], [7], [12], [19]
Địa hình của thành phố LBP là một vùng đồi núi có sông Mê Kông chạy qua giữa thành phố, là nơi gặp nhau của hai con sông Nam Khan và sông Mê Kông, hai dòng sông như một bức tường thành nước để bảo vệ thành phố cổ này Thành phố LPB có những ngọn đồi có rừng che phủ và những rặng núi nhấp nhô bám xung quanh như: núi Thạo (Phu Thạo), núi Nang (Phu Nang), núi Xạng (Phu Nang), núi Xoang (Phu Nang) và còn có những đồng bằng ven sông, như thung lũng bằng phẳng có thể cấy cày Chúng có vai trò quan trọng trong việc sản xuất lương thực cho thành phố này
Địa hình thành phố LPB nổi bật với vùng núi hùng vĩ ở phía Bắc, với núi Phu Si ở trung tâm LPB đặt trên đỉnh núi là tháp Chom Sỉ, đã trở thành biểu tượng đạo Phật của nhân dân LPB nói riêng và nhân dân Lào nói chung Thành phố LPB nằm ven bờ của hai con sông lớn như sông Mê Kông và sông Nam Khan trong thung lũng đồng bằng không rộng lắm, bám xung quanh nhấp nhô với những đồi núi nhỏ to có chiều cao bình quân 1.300 m so
Trang 22với nước biển Thành phố này nằm ở miền Bắc của Lào trên tọa độ 19°53′ đến 12°44″ vĩ Bắc, 102°7′ đến 22°91″ kinh đông mà đó là khu vực cửa sông Nam Khan ở bên phải của sông Mê Kông Thành phố có chiều cao bình quân chừng 300 m so với nước biển, điểm thấp nhất của thành phố là ở cửa sông Nam Khan có chiều cao bình quân 247 m so với nước biển
Trung tâm của thành phố nằm ở nơi hợp lưu của con sông Mê Kông và sông Nam Khan, tại điểm đó hai con sông được tạo ra một bán đảo có chiều dài khoảng 1.000 m và chiều rộng 250 m, hướng đường nét lõi của bán đảo đặt theo hướng Đông Bắc song song với sông Mê Kông ở bên trái và sông Nam Khan ở bên phải Ngoài đó, còn có sông Đông là một dòng sông quan trọng chạy xuống giao tiếp với sông Mê Kông cách từ đầu bán đảo về hướng Nam khoảng 4 km Do vị trí đặt ở miền Bắc của Lào không có biển cùng với phối cảnh đồi núi và dòng sông suối bám xung quanh, điều đó đã tạo ra một trở ngại về việc giao lưu với bên ngoài; nhưng mà trong mặt khác nó là điều kiện quan trọng về việc bảo vệ sự xâm nhập từ bên ngoài, nó là yếu tố quan trọng với việc bảo vệ môi trường xã hội và văn hóa cho tồn tại bền vững Ngoài ra hai con sông lớn, thành phố LuangPrabang có mạng lưới sông ngòi bao quanh như sông Nam U, sông Nam Xeng, sông Nam Xương Hệ thống sông ngòi này mang đến những giá trị nhiều mặt cho thành phố LuangPrabang về quân sự cũng như kinh tế, văn hóa, du lịch Về mặt quân sự thì đây là hệ thống phòng thủ chắc chắn cho thành phố; về mặt kinh tế, đây là nơi cung cấp cá, vừa bồi đắp phù sa và dự trữ nước cho phát triển nông nghiệp đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu buôn bán với các vùng xung quanh, nhất là Thái Lan Sông ngòi còn là những con đường du lịch bằng thuyền cho du khách trong và ngoài nước đến thăm quan thành phố LuangPrabang và giao lưu văn hóa
Trang 231.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
+ Văn hóa truyền thống: [15], [19]
CHDNCD Lào là nước có nền văn hóa đặc sắc và phong tục tập quán được hình thành từ lâu đời nói chung và nói riêng thành phố LPB, trong đó có nhiều phong tục và văn hóa truyền thống ở thành phố LPB
Từ xưa người dân Lào sinh sống đơn gian, phong cách sinh sống hoàn toàn dựa vào sức lao động của con người và thiên nhiên làm nông nghiệp nuôi sống hàng ngày là chính hoặc dựa vào nhau bằng việc đồi lương thực với nhau Phương thức sản xuất truyền thống hoàn toàn sử dụng nặng lực của thú như trâu, bò,…v.v Người Lào sinh sống bằng nghề nông, làm ruộng nước, cấy lúa nếp, một số vùng kết hợp làm nương rẫy nhưng ruộng vẫn là chủ yếu Việc cái tạo đất, sử phân bón, nông dân Lào chưa quan tâm, có thể là do đất đai vẫn màu mỡ nhờ phù sa bồi đắp hàng năm cùng với những gốc rạ mục nát
từ vụ trước để lại Ngoài ruộng nước, ruộng rẫy, mỗi hộ nông dân Lào còn có mảnh vườn rộng lớn chuyên trồng các loại rau, cây ăn quả như dừa, chuối, xoài, nhãn, cam…Nghề thủ công trong vùng người Lào cũng khá phát triển Phổ biến nhất là dệt vải, đan lát, gốm, nấu đường, muối, rèn, khai thác lâm thổ sản, chăn nuôi gia súc gia cầm Nghề đánh bắt cá phát đạt và trở thành nguồn thu nhập lớn Trồng bông, trồng dâu nuôi tằm dệt vải đối với người Lào không những để tự túc mà còn là sảm phẩm để tro đổi với các nhóm tộc khác chưa dệt được vải Những nghề thủ công trên tuy có phát triển trong nhóm người Lào nhưng vẫn còn phân tán, tự cung tự cấp, chưa tách khỏi nông nghiệp
LPB đã từng là kinh đô của Lào nên người dân LPB sống gắn bó với nền văn hóa rất mạnh mẽ, dân cư đã chứng minh được sự trường tồn qua thời gian, làm thành gia tài quý giá cho hôm nay Nghề nghiệp chính của cư dân là làm nghề nông; nghề nông chiếm số lượng 70% của Tp (làm ruộng nước là
Trang 24chính), còn nghề đánh bắt cá và chế biến cá cũng là một ngành nghề gắn liền với người dân LPB từ xa xưa vì người dân ở đây gắn bó với sông suối, họ bắt
cá để trao đổi hàng hóa, chế biến cá thành các món ăn như: mắm cá (Pa Đek),
cá muối chua (Pa Sôm), cá khô (Pa Heng) cho gia đình và buôn bán
Sau bước vào thời kỳ đương đại, phương thức sản xuất đã thay đổi hoàn toàn, từ sử dụng nặng lực thú chuyển sáng sử dụng máy móc công nghệ hiện đại như mát cày, máy bơm…v.v Hiện nay nhân dân Lào ở khu vức đó 100% hoàn toàn sử dụng máy móc công nghệ hiện đại với công việc sản xuất và sinh sống hàng ngày
+ Phong tục tập quán: [4], [5], [13], [15]
Phong tục tập quán đối với nhà ở: Theo tập quán người Lào thường dựng nhà theo dòng chảy của con sông suối và nếu khi xây dựng ngôi nhà xa các con sông suối phải tôn trọng về hướng tự nhiên để chủ đạo như song song với hướng mặt trời (Đông-Tây) Nhà sàn của người Lào thường quay về hướng Bắc, lưng tựa hướng Nam Nhà có ba gian, tám cột Khi đào và chôn cột phải đào hố, chôn cột phía Nam (xảu hẹc) trước, sau đó là phía Đông (xảu khoẳn) Ngôi nhà thường được chia làm hai phần chính Phía ngoài là nơi ăn uống, bếp núc Phía trong là một dãy buồng riêng dùng để thờ cúng và nghỉ ngơi (Hình 1.2)
Dòng chảy theo song song con sông
Hình 1.2 Phong tục xây dựng nhà ở của người Lào [13]
Song song với hướng mặt trời
Vị trí xây dựng nhà ở theo nguồn nước
Trang 25Phong tục ma chay và cưới xin: Trong gia đình, khi có người trong gia
đình chết, họ thường giữ thi thể của người chết làm lễ trong nhà, thời gian giữ
lại từng theo điều kiện và tục lệ truyền thống, sau đó mới chuyển vào chùa
(Hình 1.3) Còn hình thức cưới xin ở Lào khá phong phú và phản ánh khá rõ
nét một hình thức sinh hoạt tinh thần và trong đó tích tụ nhiều tập quán cổ của
mỗi nhóm dân tộc, thường tổ chức trong nhà cô dâu vào sang hoặc chiều và
mời khách ăn tiệc, cầu phúc cho nhà đình mới (Hình 1.3)
Phong tục cầu yên (xù - khoẳn): Xù - khoẳn là một nghi lễ đơn giản
nhưng thiêng liêng, trang trọng, phổ biến trong nhân dân các bản mường Cho
nên mỗi năm mọi gia đình điều có tổ chức lễ cầu yên, nhất là trong những
ngày Tết truyền thống (Hình 1.3)
Hình 1.3 Phong tục cưới xin, phong tục cầu yên (xù-khoẳn)
và phong tục ma chay của người Lào [32], [33]
Phong tục cưới của người Lào
Phong tục cầu yên (xù - khoẳn)
Phong tục ma chay
Trang 26Ẩm thực: Đối với dụng cụ nấu nướng phần lấn sử dụng bếp than, dốt củi
để nấu nướng…Bếp thường đặt riêng ở buồng phía sau nhà, buồng ăn hay dùng cùng với không gian tiếp khách Hiện nay buồng ăn thường được nối với khu vực bếp cho nó tiện hơn (Hình 1.4)
Thời trang: Người dân Lào đã rất yêu thích sử dụng các loại trang phục truyền thống Ngày xưa vải được tự chế biến, nhuộm, dệt may tại các ngôi nhà, không gian làm việc chính là khu vực trên mặt đất phía dưới sàn nhà (Hình 1.5)
Hình 1.4 Không gian bếp, dụng cụ bếp và không gian ăn
Trang 27
- Tổ chức cộng đồng: [5], [13], [15], [21]
Quan hệ huyết thống là quan hệ chính thống cùa người Lào: Nhân dân các bộ tộc Lào trong sứ thái huyết thống Các bản mường thường có một
số dòng họ Các gia đình gắn bó với nhau về truyền thống, tình cảm và kinh
tế Trong một gia đình thường tập chung đông đúc con cháu, con trai lấy vợ trước hết cũng phải về nhà người vợ sống cùng với gia đình họ trước khi chuyển đi nơi khác, nên nhà nào khi con cái có gia đình họ thường chia them không gian phòng ngủ, còn không gian khác vẫn để nguyên Ngáy xưa vì dân
ít, họ hang xây dựng nhà ở cận cạnh nhau và sử dụng cùng một khuôn viên, cách phân chia khu đất mỗi ngôi nhà là sử dụng dãy cây hoa quả hoặc vườn rau, để thuận tiện khi phải tổ chức ngày lễ ngoài nhà (Hình 1.6)
Khu chứa củi
Khu thêu thủ công
Hình 1.5 Không gian thêu dệt thủ công và nghỉ ngơi
Không gian nghỉ ngơi
Trang 28Phân công lao động: Trong gia đình, người chồng thường làm những công việc nặng nhọc, trong đó gồm cả việc xây dựng ngôi nhà, ngày xưa họ thường nói con trai phải biết tự xây nhà, sửa chữa, con gái phải biết may vá, dệt vải…
Tu hành: Là một bước ngoặt quan trọng đối với mỗi người thanh thiếu niên Lào (con trai) Gia đình và người đi tu phải làm lễ koong – buột (nhập tu) và sau đó là lễ Pa – khên – nác (dâng rồng), thời gia làm lễ có thể tổ chức
từ 2 - 3 ngày hoặc có thể kéo dài đến tuần, thường sử dụng không gian cả trong nhà và ngoài nhà
+ Các lễ hội truyền thống Lào: [15], [31]
Nước Lào là quê hương của những ngày hội Người Lào thường tự hào
về tục lệ “Hịt – xíp – xong” của mình, đó là tục tổ chức 12 ngày hội trong một năm như sau:
Hình 1.6 Sơ đồ xây dựng nhà cùng một khuôn viên
Nhà chính bố mẹ
Nhà con
Trang 29Bảng 1.1 Các lễ hội tổ chức 12 ngày hội trong một năm
2 Bun khun khẩu nay lan
(hội vun thóc trên sân)
tháng hai Phật lịch (tháng 1 Dương lịch)
Chùa
3 Bun khậu chì (Hội lúa mới) và
Bun Ma Khạ-bu-xa ( ngày chấm dứt cuộc đời của
Phật)
Đến ngày rằm tháng
mới hay lễ té nước)
Giữa tháng 5 Phật lịch
Chùa, nhà và đường
6 Bun Bẳng Phay
(Hội đốt pháo thăng thiên)
Vào tuần thứ hai
8 Bun khao Phắn Xá
9 Bun Khậu pạ đắp đin
10 Bun Khậu sạ lạc
chay) hay Bun Xuang Hưa
(Hội đua thuyền)
Chùa và tháp Luang
- Các lễ hội tiêu biểu: [4], [15], [34]
Lễ hội Bun Pi May: Bun Pi May ngày tết cổ truyền và là một ngày hội lớn nhất ở Lào Vào dịp này mọi người chúc mừng nhau bằng những âu nước thơm để lên người, còn gọi là Bun Hốt Nặm (Hội té nước) sau những lời chúc
Trang 30mừng năm mới với ước mong những giọt nước sẽ đem lại sự tươi mát cho vạn vật, sự ấm no và hạnh phúc cho con người Bun Pi May được diễn ra vào ngày 13, 14, 15 hoặc 14, 15, 16 tháng 5 theo lịch Lào (khoảng giữa tháng 4 dương lịch) Theo lịch thời tiết của Lào, lễ hội năm mới chính là một lễ nông nghiệp nhằm đưa tiễn mùa khô và cầu mưa xuống Lễ hội mang tính chất thần
bí và linh thiêng, mọi hình thức hoạt động trong ngày hội đều nói lên sự cầu mong “mưa thuận gió hòa” để lao động, sản xuất, cầu mong những giọt nước đem lại tươi mát cho vạn vật, ấm no và hạnh phúc cho con người (Hình 1.7) Bun Pi May là một hội vui chơi lớn nhất của nhân dân các bộ tộc Lào nói chung và LPB nói riêng LPB được tổ chức lễ hội té nước rất tiêu biểu và đặc sắc độc đáo nhất LPB còn giữ lại được đậm nét bản sắc văn hóa truyền thống của Bun Pi May như: Đám rước Nàng Săng Khản (Hoa Khôi), đám rước Pù Nhơ Nhà Nhơ (người Lập bản thành mường)…Những đám rước này đã tiến hành rước đến chùa Xiêng Thong và làm lễ tại chùa (Hình 1.7)
Lễ hội đua thuyền (Bun Xuồng Hưa): Ở LPB hội đua thuyền thường diễn ra vào ngày 15 âm tháng 10 âm lịch Lào khoảng giữa tháng 9 dương lịch Nhân dân Lào nói chung và nhân dân LPB nói riêng thượng gọi “Bun Đưởn Cạo” là hội tháng 9 vì hội đua thuyền LPB diễn ra đúng với ngày “Bun Hò Khạo Pạ Đắp Đỉn” là hội cúng các oan hồn mà buổi sáng sớm có lễ Tắc bạt (dâng lễ) ở chùa còn buổi trưa thì tổ chức hội đua thuyền trên sông Nặm Khan
là đặc trưng riêng biệt của cố đô LPB Đặc biệt ở LPB đã tổ chức hội đua thuyền sớm hơn hội đua thuyền ở thủ đô Viêng Chăn và các vùng miền Nam
mà tổ chức vào ngày 15 tháng 11 theo âm lịch Lào khoảng giữa tháng 10 dương lịch và đúng ngày “Bun Ọc Phăn Sả” là hội mãn chay và được tổ chức ven sông Mê Kông (Hình 1.7)
Ngoài ra, còn có hội thả thuyền lửa trôi được coi là một lễ hội truyền thống cổ truyền gắn liền với cuộc sống cộng đồng nhân dân các bộ tộc Lào
Trang 31Theo đạo Phật Bun Láy Hưa Phay được diễn ra vào một đêm trăng rằm 15 tháng 11 âm lịch Lào là ngày hội mãn chay “Bun Ọc Phăn Sả” khoảng giữa tháng 10 dương lịch Là một đêm hoa đăng đẹp đẽ rực rỡ bóng đèn trôi trên sông Mê Kông, đấy là ngày lễ hội tuyệt vời (Hình 1.7)
Hình 1.7 Các lễ hội tiêu biểu tại thành phố LPB [14],[34],[35]
Tắm Phật
Té nước
Té nước Rước Nangsangkhane Té nước
Hội thả thuyền lửa trôi
Lễ hội đua thuyền Hội thả thuyền lửa trôi
SÔNG MEKONG
Trang 321.2 Quá trình tình hành và phát triển kiến trúc mái dốc tại Lào
1.2.1 Giới thệu các thể loại công trình kiến trúc mái dốc qua các thời
kỳ
Kiến trúc mái dốc có một lịch sử từ lâu đời, đặc điểm của kiến trúc mái dốc dựa trên Phật giáo Các ngôi chùa Phật giáo trên khắp nước Lào có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mô hình kiến trúc mái dốc, hội họa, điêu khắc, nghệ thuật và lối sống của người Lào
Kiến trúc mái dốc có thể chia thành các giai đoạn lịch sử như: giai đoạn thứ nhất là kiến trúc mái dốc trong thời kỳ phong kiến, giai đoạn thứ hai là kiến trúc mái dốc trong thời kỳ phong kiến và thời kỳ thuộc địa và giai đoạn thứ ba là kiến trúc mái dốc trong thời kỳ độc lập đến nay.[17], [22](Hình 1.8)
Hình 1.8 Sơ đồ hình thành phát tiển kiến trúc mái dốc tại Lào
+ Thời kỳ phong kiến (Trước năm 1893):
- Kiến trúc tôn giáo: Phật giáo là quốc giáo, trong quá trình phát triển lịch sử, đạo Phật ở Lào vẫn là một tôn giáo có ảnh hưởng rất lớn trong nhân dân Lào Đạo Phật ngày càng phát trển mạnh trong lòng xã hội dần đã trở thành gần như một phong tục tập quán của người nhân Lào Ngôi chùa trở thành trung tâm văn hóa của bản làng và giữ những chức năng quan trọng trong lòng xã hội Lào [8]
Chùa Xiêng Thong: Chùa được xây dựng ở trung tâm làng, điều có kiến trúc chính như: Có kiến trúc trung tâm là Phật điện (Sỉm), có một hoặc vài
Kiến trúc mái dốc
truyền thống Lào Ảnh hưởng kiến
trúc Pháp thuộc Ảnh hưởng kiến trúc XHCN, Mỹ, Trung Quốc và
Việt Nam
Mỹ Pháp thuộc
Thời kỳ phong kiến Thời kỳ phong kiến và
thuộc địa Thời kỳ độc lập đến nay
Trang 33ngôi tháp Ngoài ra còn những kiến trúc phụ là: nhà cậu nguyện (Hỏ Váy),
U Mông, nhà đánh trống (Hỏ Cong), nhà ở của sư sãi (Cụ Tị), nhà để xe tang (Hỏ Lạt Sa Lốt), nhà để thuyền và nhà vệ sinh (Hình 1.9)
Hình 1.9 Các thành phần trong khuôn viên chùa Xiêng Thong
Chùa Xiêng Thong được xây từ năm 1559-1560 dương lịch giữa thời kỳ XVI, bởi vị vua Xay Sệt Thả Thị Lát, là người xây chùa này trước khi ông sẽ dời Xiêng Đông Khan về Viêng Chăn Chùa này có lịch sử lâu đời, có kiến trúc đẹp mang nét đặc trưng riêng của nghệ thuật và kiến trúc LPB và là chùa đẹp nhất trong những chùa ở LPB Đây là sự sáng tạo tuyệt vời của các nghệ nhân LPB thời kỳ đó Chùa được thiết kế về sơ đồ, cấu trúc mái kể cả phong cách trang trí đều có sự hòa hợp với nhau, đặc biệt là có lỗ thoát không khí thông thoáng và ánh sáng Đặc biệt là việc sử dụng vật liệu xây dựng như: đất, gỗ, màu tự nhiên và những phong cách truyền thốn g Lào [7] (Hình 1.10)
Nhà để thuyền U Mông Phật điện (Sỉm) Nhà đánh trống
Nhà ở của sư sãi
Nhà cậu nguyện
Nhà cậu nguyện Nhà cậu nguyện Nhà ở của sư sãi Nhà ở của sư sãi
Nhà để xe tang Tháp
Trang 34Hình 1.10 Kiến trúc mái Phật điện (Sỉm) chùa Xiêng Thong [14], [30] Chùa Mai: Chùa được xây dựng ở trung tâm làng, điều có kiến trúc chính như: Có kiến trúc trung tâm là Phật điện (Sỉm), có một tháp ở phía trước Sỉm Ngoài ra còn những kiến trúc phụ là: Thư viện (Hỏ Tay), U Mông, nhà đánh trống (Hỏ Cong), nhà ở của sư sãi (Cụ Tị), giếng nước, Hỏ Chẹc và nhà vệ sịnh (Hình 1.11)
Hình 1.11 Các thành phần trong khuôn viên chùa Mai
Giếng nước
Nhà ở của sư sãi Nhà vệ sinh Hỏ Chẹc Nhà ở của sư sãi
Nhà ở của sư sãi
Thự viện (Hỏ Táy)
U Mông Nhà đánh trống
Trang 35Theo lịch sử Lào, chùa Mai được xây dựng từ năm 1796, bởi vua Man Tha Thụ Lát của Vương quốc LuangPrabang Chùa này, được thiết kế về sơ
đồ, cấu trúc mái rất lớn và rộng, bộ mái có 5 tầng chồng lên nhau, mỗi tầng rất hòa hợp và cân đối nhau Tườngchùa được xây gạch và họ dùng vữa vôi
để làm kết dính và cấu trúc gỗ được ghép lỗ mộng v.v Đây là phong cách truyền thống Lào [26], [27] (Hình 1.12)
Hình 1.12 Kiến trúc mái Phật điện (Sỉm) chùa Mai [14], [30]
- Kiến trúc công cộng: Trong thời kỳ nay, chứa có công trình công cộng
mà sinh hoạt công cộng tại chùa
- Kiến trúc nhà ở truyền thống: Các thành phần khuôn viên khu đất nhà ở truyền thống có chức năng khác nhau nhưng xây dựng bằng tre, nứa và
gỗ, vật liệu thảo mộc, ngôi nhà chính là nhà sàn được xây dựng một tầng đơn giản mà có những công năng gồm có lối vào, nhà chính và nhà bếp, kho gạo, khu vật nuôi và khu vườn rau [13] (Hình 1.13)
Hình 1.13 Sơ đồ mặt bằng tổng thể khuôn viên nhà ở truyền thống
Trang 36Nhà ở truyền thống Lào đã được xây dựng dùng vật liệu địa phương như
sử dụng cấu trúc tất cả bằng gỗ, mặt bằng hình chữ nhật, nâng lên sàn cao như nhà sàn truyền thống và có cấu thang ở bên ngoài nhà, mái làm bằng cỏ tranh,
cỏ hương lau hay mái gỗ Tầng ngầm sàn được sử dụng làm kho cất đồ đạc,
để buộc vật nuôi, và đồng thời để tránh lũ lụt hoặc nước mưa tràn vào Ngoài
ra còn dùng làm nơi giã gạo, dệt may thủ công và dụng cụ lao động Còn tầng hai là nơi sinh hoạt chung của gia đính [13] (Hình 1.14)
Hình 1.14 Kiến trúc mái nhà ở truyền thống [13]
+ Thời kỳ phong kiến và thuộc địa (từ năm 1893 đến năm 1975):
- Kiến trúc tôn giáo: Trong thời kỳ nay, sơ đồ các thành phần khuôn viên không thay đổi như (Hình 1.09, Hình 1.10) Chùa HoPraBang được xây dựng bởi vị vua Si Sạ Vàng Vát Thạ Na để đạt tượng Phật Prabang Kiến trúc chùa này, đã ghi ghép hình dáng kiến trúc theo kiến trúc chùa Xiêng thong như lối kiến trúc mái dốc 3 tầng uốn cong chồng lên nhau, lợp mái ngói, lấp lánh hàng cột, xà sơn son thiếp vàng mang lại nét đẹp hoàng gia cho các ngôi chùa này [28] (Hình 1.15)
Trang 37Hình 1.15 Kiến trúc mái Phật điện (Sỉm) chùa HoPraBang
- Kiến trúc công cộng: Hầu hết các tòa nhà hành chính và công trình công cộng đã được xây dựng từ năm 1910 đến năm 1925 Hình thức bên ngoài có nét đặc trưng riêng của mình, khía cạnh cụ thể của nó có một thư mục đô thị thích nghi với khí hậu, đặc biệt là phần mái, hành lang, hệ thống thông gió…v.v Ngoài kiến trúc này đại diện của kiến trúc thuộc địa, một số tòa nhà phong cách thuộc địa còn đã ghi chép các tòa nhà tôn giáo của Lào như: hình dáng mái, các bộ phận trang trí Vật liệu xây dựng sử dụng bê tổng cột thép, tường làm bằng gạch, cấu trúc mái sử dụng gỗ và lợp mái bằng ngói [14](Hình 1.16)
Hình 1.16 Kiến trúc mái công trình trường học LPB [14]
- Kiến trúc nhà ở: Trong thời kỳ nay, có thể chia thành được hai nhóm chính: kiến trúc nhà ở đô thị và nhà ở nông thôn như sau:
Nhà ở đô thị:
Nhà biệt thự: Việc phân chia từng khu đất xây nhà trong một khuôn viên
sẽ chia không gian phù hợp theo chức năng và có lợi ích nhất, các thành phần
Trang 38chia cũng biến đổi theo thời gian Khuôn viên khu đất nhà vườn gồm có các thành phần như Lối vào, nhà chính, nhà đỗ xe ô tô và khu vườn rau thể hiện trên (Hình 1.17)
Ghi chú:
1 Lối vào
2 Nhà chính
3 Nhà để đỗ xe
4 Khu vườn rau
Hình 1.17 Sơ đồ mặt bằng tổng thể khuôn viên nhà biệt thự
Những ngôi nhà kiểu thuộc địa đang bị chịu ảnh hưởng nhanh chóng đến chúng theo phong cách truyền thống Lào: ngôi nhà đơn, nhà có hiên, ngôi nhà phụ vuông góc nhà chính, nhà đôi Sự đóng góp lại các phong cách kiến trúc thuộc địa được biểu hiện đến cách xây dựng mới (kết cấu mái, tường gạch, gỗ
và gạch), việc sử dụng các vật liệu bền hơn (gạch, ngói, vữa, minh oan ) và quá trình phát triển của việc sử dụng trang trí (diềm, khung cửa sổ, lan can ) [14](Hình 1.18)
Hình 1.18 Kiến trúc mái nhà biệt thự [14]
Trang 39Nhà ở mặt phố: Việc phân chia từng khu đất xây nhà ở mặt phố, ngôi nhà xây giáp bề mặt đường phố không có vườn hoặc sân trước ngôi nhà và không có tường rào Khu đất gồm có ngôi nhà chính quay mặt ra con đường như được thể hiện trên (Hình 1.19)
Hình 1.19 Sơ đồ mặt bằng khuôn viên nhà mặt phố Kiến trúc nhà ở mặt phố này, được xây dựng bằng nhiều gian liên tục với nhau, bám theo mặt trúc đường giao thông của thành phố, kết hợp giữa hoạt động thương mại ở tầng trệt và sinh hoạt cư trú ở tầng trên Các công trình xây bằng bê tổng cột thép, gạch, gỗ và xi măng Nhà ở này, thường có mái che tạo điều kiện giao thông cho người đi bộ và buôn bán [14](Hình 1.20)
Hình 1.20 Kiến trúc mái nhà ở mặt phố [14]
Nhà ở nông thôn:
Các thành phần khuôn viên khu đất nhà ở nông thôn có chức năng khác nhau nhưng đặc điểm không có hàng ráo ngăn cách phần các khu đất, xây dựng chủ yếu là xây bằng tre, nứa và gỗ, vật liệu thảo mộc, ngôi nhà chính là nhà sàn được xây dựng một tầng đơn giản mà có những công năng thể hiện trên hình (Hình 1.21)
Đường phố
Trang 40Kiến trúc ngôi nhà ở nông thôn gồm có hai tầng như tầng trệt và tầng trên: tầng một là sử dụng để kho cất đồ đạc, dụng cụ dệt may thủ công Còn tầng hai là nơi sinh hoạt chung của gia đình Ngôi nhà nhà chính rất độc đáo
và đặc trưng, Còn vật liệu xây dựng ngôi nhà rất đơn giản cột nhà được đặt vào tảng đá (móng nhà), cột làm bằng gỗ, tường làm bằng ván gỗ, tre, v.v tất
cả sử dụng vật liệu từ địa phương [13], [14](Hình 1.22)
Hình 1.22 Kiến trúc mái nhà ở truyền thống
Hình 1.21 Sơ đồ mặt bằng tổng thể khuôn viên nhà ở nông thôn
Nhà chính và nhà bếp Kho gạo
Nhà vệ sinh Khu vật nuôi