1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật hình sự đối với tội hiếp dâm từ thực tiễn tỉnh ninh thuận

74 111 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 451 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài - Tham khảo, nghiên cứu một số công trình về tội hiếp dâm ở nhiều góc độ khác nhau: Ở cấp độ luận văn thạc sĩ tại Học viện Khoa học Xã hội đãđược công bố, có

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THÁI HÙNG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM

TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THÁI HÙNG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM

TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH THUẬN

Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS TRẦN ĐÌNH NHÃ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả được nêu trong Luận văn là trung thực, chưa từng được công bốtrong bất kỳ công trình nào tác giả Luận văn Phạm Thái Hùng./

Ninh Thuận, ngày 26 tháng 02 năm 2019

Người cam đoan

Phạm Thái Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI HIẾP DÂM VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM 5

1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm, phân biệt tội hiếp dâm với các tội xâm hại tình dục khác 5

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về các tội hiếp dâm 19

1.3 Định tội danh đối với tội hiếp dâm 24

1.4 Áp dụng hình phạt đối với tội hiếp dâm 28

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM TẠI TỈNH NINH THUẬN 31

2.1 Khái quát thực trạng tội hiếp dâm trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 31

2.2 Thực tiễn định tội danh đối với tội hiếp dâm 32

2.3 Những hạn chế trong định tội danh 41

2.4 Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với tội hiếp dâm 44

2.5 Những hạn chế trong quyết định phạt 49

2.6 Nguyên nhân những hạn chế trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt 50

Chương 3: GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HOẠT ĐỘNG ĐỊNH TỘI DANH VÀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐÚNG ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM TẠI TỈNH NINH THUẬN 54

3.1 Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự 54

3.2 Kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội hiếp dâm 55

3.3 Tăng cường nhân lực; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành Tòa án 56

Trang 5

3.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và tổng kết thực tiễn 58

3.5 Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa 59

3.6 Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện-kỹ thuật 59

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Tình hình giải quyết vụ án hình sự về tội hiếp dâm của Tòa án hai

cấp tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2013-2017 44

Bảng 2.2: Hình phạt được Tòa án hai cấp tỉnh Ninh Thuận áp dụng đối với bị

cáo phạm tội hiếp dâm 45

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay, chúng ta đãđạt được nhiều thành tựu to lớn và quan trọng trên mọi lĩnh vực: kinh tế pháttriển, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao, tình hình anninh-chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Tuy nhiên, bên cạnhnhững kết quả đạt được, vẫn còn nhiều vấn đề của xã hội phát sinh đáng longại như: tăng dân số, thiếu việc làm, các tệ nạn xã hội, tình hình tội phạm nóichung trong đó có tội hiếp dâm nói riêng ngày càng gia tăng, xâm phạm đếndanh dự, nhân phẩm, giá trị đạo đức thiêng liêng, cao quý nhất của con ngườiđược pháp luật bảo vệ

Không ai có quyền xâm phạm đến thân thể, danh dự, nhân phẩm, sứckhỏe hay tra tấn, bạo lực hay dùng nhục hình đối với thân thể người khác,quyền bất khả xâm phạm của mọi người đã được pháp luật bảo hộ tại (Điều

20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013) về thânthể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Cũng theo tư tưởng Hiến pháp, bảo vệthân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm của con người là nhiệm vụ của toàn

xã hội Thực tế cho thấy trong khi đa số người luôn ý thức, tôn trọng danh dự,nhân phẩm của mình và của người khác, thì vẫn không ít người vì mục đíchkhác nhau mà xem thường, thậm chí chà đạp lên danh dự, nhân phẩm củangười khác, cố ý thực hiện hành vi sai trái của mình nhằm thoả mãn dục vọng

Vì vậy, trong thời gian qua việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm nàyngày càng được xã hội quan tâm và ngay trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận thì cáccấp, các ngành trên địa bàn tỉnh cũng đã vào cuộc và đạt được những kết quảnhất định; Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh phức tạp này, vẫn không tránh khỏinhững hạn chế, thiếu sót trong quá trình điều tra, khởi tố, truy tố và xét xử tộiphạm nói chung và tội hiếp dâm nói riêng Nguyên nhân của những hạn

Trang 9

chế thiếu sót này có cả nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan,chúng xuất phát từ quy định của pháp luật và từ thực tiễn áp dụng pháp luậttrong xử lý tội phạm Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu các giải pháp nhằm đảmbảo trong quá trình điều tra, xét xử đối với tội hiếp dâm theo quy định củapháp luật.

- Với lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật hình sự đốivới tội hiếp dâm từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận” làm luận văn tốt nghiệp vớimong muốn được góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật cũngnhư nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, đấu tranh phòng, chống làm giảmloại tội phạm này trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

- Tham khảo, nghiên cứu một số công trình về tội hiếp dâm ở nhiều góc

độ khác nhau: Ở cấp độ luận văn thạc sĩ tại Học viện Khoa học Xã hội đãđược công bố, có: Nguyễn Minh Nhật (2008): Đấu tranh phòng chống tội hiếpdâm trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; Lê Văn Hùng (2012): Tộihiếp dâm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ ChíMinh; Trần Thủy Quỳnh Trang (2012): Tội hiếp dâm trẻ em theo pháp luậthình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh; Lâm Thị Bé Ba(2013): Tội hiếp dâm trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnhTrà Vinh; Phạm Thị Ngoan (2013): Đấu tranh phòng, chống tội hiếp dâm trênđịa bàn tỉnh Sóc Trăng; Chung Văn Kết (2013): Tội hiếp dâm theo pháp luậthình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Cà Mau; Lê Thị Kiều Diễm (2014): Tộigiao cấu với trẻ em theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Cà Mau;Nguyễn Vi Dũng (2015): Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo pháp luậthình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh; Cao Xuân Cường(2016): Áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm tình dục trẻ em

từ thực tiễn Quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh ;

Trang 10

- Các luận văn này trực tiếp hoặc gián tiếp phân tích cấu thành tội phạmcủa tội hiếp dâm, công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm này ở các địa bànkhác nhau Tuy nhiên, dù có khá nhiều các công trình nghiên cứu khoa học vềtội hiếp dâm nhưng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về “Áp dụngpháp luật hình sự đối với tội hiếp dâm từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận” Chính vìvậy, xét từ khía cạnh thực tiễn thì đây là một đề tài mới, lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích của đề tài là làm rõ các vấn đề về lý luận và thực tiễn ápdụng pháp luật hình sự khi xét xử tội hiếp dâm; chỉ ra những bất cập, hạn chế,trong thực tiễn áp dụng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần nângcao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tộiphạm này

- Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

+ Thứ nhất, phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tội hiếpdâm

+ Thứ hai, phát hiện những hạn chế, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội hiếp dâm từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận

+ Thứ ba, đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả định tội danh và quyết định áp dụng hình phạt trong thực tiễn xét xử tội hiếp dâm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề về lý luận và quy định của

pháp luật về tội hiếp dâm; thực tiễn áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố,xét xử tội phạm này tại tỉnh Ninh Thuận

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu thực tiễn áp dụng

pháp luật về tội hiếp dâm trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn từ năm

Trang 11

2013 đến năm 2017 và Điều 141 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội hiếp dâm.

5 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết họcMác-Lê Nin; các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tội phạm và hình phạt,các tri thức của khoa học luật hình sự, tội phạm học, tâm lý học và khoa họcđiều tra tội phạm Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả còn sử dụng phươngpháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, tổng kết kinh nghiệm…để giải quyết cácvấn đề đặt ra

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của áp dụng pháp luậthình sự đối với tội hiếp dâm, phân tích tình hình thực tiễn áp dụng pháp luậthình sự đối với tội hiếp dâm tại tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn năm 2013đến năm 2017

- Về thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiêncứu, học tập đối với sinh viên tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật và cóthể tham khảo để hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội hiếp dâm

7 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm có những nội dung:

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI HIẾP DÂM VÀ ÁP DỤNG PHÁP

LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM 1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm, phân biệt tội hiếp dâm với các tội xâm hại tình dục khác

1.1.1 Khái niệm tội hiếp dâm

- Hiếp dâm được hiểu theo Từ điển bách khoa Công an nhân Việt Nam

là hành vi dùng sức mạnh cưỡng bức người khác để thỏa mãn nhu cầu tìnhdục của mình Trong Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếpdâm của Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra khái niệm tội hiếp dâm như sau:

“Hiếp dâm là hành động bắt buộc người phụ nữ phải chịu sự giao cấu trái ýmuốn hoặc không có ý muốn của người đó bằng cách dùng bạo lực về thểchất, hay là uy hiếp về tinh thần, hay là lợi dụng hoặc gây ra tình trạng khôngthể tự vệ hoặc biểu lộ ý chí của người đó” Mặc dù, BLHS Việt Nam năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng chưa quy định cụ thể về khái niệm hiếpdâm nhưng đã bổ sung bên cạnh hành vi “giao cấu” là hành vi quan hệ tìnhdục khác, kế thừa các quan điểm nêu trên có thể khái quát khái niệm hiếp dâmnhư sau: Hiếp dâm là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụngtình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấuhoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của họ

- Về mặt pháp luật, khái niệm của tội hiếp dâm được quy định tại Điều

141 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như sau: “Người nào dùng

vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được củanạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tìnhdục khác trái với ý muốn của nạn nhân”

1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm

- Có thể khẳng định rằng, phụ nữ đóng góp rất lớn cho xã hội trênnhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, chính trị và là người có vài trò quan

Trang 13

trọng trong giai đình Tuy nhiên, cũng là người dễ bị xâm hại, tổn thương nhất

về thể chất lẫn tinh thần Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiềuchủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật ban hành nhằm bảo vệphụ nữ, trong đó có BLHS BLHS năm 1985, Nhà nước ta đã xác định phụ nữ

là một trong những khách thể quan trọng cần quan tâm đặc biệt để bảo vệtrong quyền tự do về tình dục, nhân phẩm…Vì vậy, mức hình phạt cao nhấtđối với tội hiếp dâm được quy định trong BLHS năm 1985 với khung hìnhphạt là tù chung thân hoặc tử hình nhằm răng đe, giáo dục Theo khoa họchình sự Việt Nam, tội phạm được hợp thành bởi bốn yếu tố, đó là: khách thể,mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan (về mặt cấu trúc) Nghiên cứu các yếu

tố này giúp xác định rõ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành viphạm tội, đồng thời giúp phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác cũngnhư làm sáng tỏ bản chất pháp lý của tội hiếp dâm Từ đó làm tiền đề cho việcđịnh tội danh, cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như cho việc ápdụng hình phạt

- Khách thể của tội phạm được hiểu là quan hệ xã hội được luật hình sựbảo vệ và bị tội phạm xâm hại, cũng giống như các hoạt động khác của conngười, hoạt động phạm tội cũng nhằm vào những khách thể cụ thể, tồn tạingoài ý thức, độc lập với ý thức của chủ thể Những khách thể như: Độc lập,chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợiích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự phápluật xã hội chủ nghĩa cần được bảo vệ được quy tại Khoản 1 Điều 8 BLHSnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Qua đó, cho thấy “quan hệ nhân thân

mà nội dung là quyền tự do tình dục của con người” đây là khách thể của tộiphạm hiếp dâm Hành vi phạm tội xâm hại đến quan hệ xã hội được bảo vệ là

Trang 14

quyền bất khả xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, thậmchí có thể xâm hại đến tính mạng của con người Một bộ phận của khách thểcủa tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọagây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ chính là đốitượng tác động của tội phạm Dù ở hình thức cụ thể nào, sự gây thiệt hại chokhách thể cũng luôn diễn ra trên cơ sở hành vi phạm tội làm biến đổi tìnhtrạng của các đối tượng tác động đến các bộ phận cấu thành của quan hệ xãhội Trong tội hiếp dâm thì đối tượng tác động của tội phạm chính là conngười (Điều 141 BLHS năm 2015) Trong nhận thức chung từ thực tiễn thì chỉngười có giới tính nữ giới mới là đối tượng bị xâm, mặc dù trong các quy địnhcủa Luật hình sự không quy định cụ thể về giới tính Về lý luận cũng như thựctiễn, trong một số trường hợp đặc biệt, nữ giới vẫn có thể thực hiện hành vigiao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của namgiới Trường hợp nữ giới lợi dụng đối tượng (nam giới) đang ở trong tìnhtrạng không có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn (như chịu tác động ở mức độcao của thuốc kích dục) và trong trường hợp nữ giới lợi dụng nam giới đểthực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trongtình trạng không có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn (chịu sự tác động củarượu, bia hoạc thuốc kích dục) Trong trường hợp này, nữ giới cũng có thể trởthành chủ thể của tội hiếp dâm Chính vì vậy, từ chỗ Điều 111 BLHS năm

1999, quy định chỉ có nam giới mới có thể là nạn nhân của tội hiếp dâm, đồngnghĩa với chỉ có nam giới mới là chủ thể của tội phạm hiếp dâm, đến Bộ luậthình sự năm 2015 (Điều 141) thì không chỉ là nam giới mà nữ giới cũng cóthể là chủ thể của tội phạm này Tuổi của nạn nhân có ý nghĩa quan trọngtrong việc định tội hiếp dâm (Khoản 4 Điều 141 BLHS) Định tội hiếp dâmtrẻ em trong mọi trường hợp nếu thực hiện hành vi giao cấu với trẻ em dưới

13 tuổi hoặc nếu nạn nhân nữ từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi Chỉ

Trang 15

định tội hiếp dâm đối với người phạm tội khi nạn nhân từ đủ 16 tuổi trở lên.

Để phân biệt tội hiếp dâm với tội danh khác cũng như xác định khung hìnhphạt và quyết định hình phạt thi ta phải xem xét đến đối tượng tác động lànhững dấu hiệu gì được quy định tại Điều 141 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2017)

- Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tộiphạm bao gồm các dấu hiệu sau đây: Hành vi, việc giao cấu hoặc thực hiệnquan hệ tình dục khác, hậu quả và các dấu hiệu khách quan khác

- Hành vi khách quan: Người phạm tội có thể dùng vũ lực, đe dọa dùng

vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân, dùng thủ đoạnkhác giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạnnhân Để làm rõ mặt khách quan của tội phạm này ta cần nghiên cứu từnghành vi cụ thể như sau:

+ Hành vi dùng vũ lực giao cấu trái ý muốn của nạn nhân: Trong tộihiếp dâm cũng tương tự với hành vi dùng vũ lực ở một số tội phạm khác màngười phạm tội có dùng vũ lực, nhưng ở tội hiếp dâm, hành vi dùng vũ lực lànhằm giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác với người bị tấn công.Trường hợp này, là dùng sức mạnh làm nạn nhân không đủ sức chống cự như:đánh đấm, giữ chân tay, bịp mồm, bóp cổ, để thực hiện được việc giao cấuhoặc thực hiện quan hệ tình dục khác Người phạm tội còn phải bị truy cứutrách nhiệm hình sự về tội giết người, ngoài tội hiếp dâm trong trường hợpnếu sau khi người phạm tội đã thỏa mãn dục vọng, người bị hiếp đã chết

+ Một người sử dụng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần củangười khác, làm cho người bị đe dọa sợ hãi như dọa giết, đánh, bắn nênkhông dám chống cự buộc phải để người phạm tội giao cấu hoặc thực hiệnquan hệ tình dục khác trái với ý muốn của mình Trong trường hợp này đượcgọi hành vi đe dọa dùng vũ lực giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác

Trang 16

trái với ý muốn của nạn nhân Điều luật không có quy định đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoạc thông thường, người phạm tội có thể khống chế được

ý chí của người bị tấn công bằng lời đe dọa

+ Hành vi lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: làtrường hợp nạn nhân rơi vào tình trạng không thể tự vệ do những lý do kháchquan để thực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác tráivới ý muốn của nạn nhân Tình trạng này có thể do chính người phạm tội tạo

ra cho nạn nhân, ví dụ cho nạn nhân uống rượu say hoặc dùng thuốc mê làmcho nạn nhân rơi vào tình trạng không thể tự vệ được hoặc lợi dụng tình trạngnạn nhân đang lâm bệnh nặng, hôn mê để thực hiện việc giao cấu hoặc thựchiện quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân

+ Hành vi dùng thủ đoạn khác ngoài những hành vi đã được quy địnhtrong cấu thành Ví dụ trường hợp lợi dụng sự thiếu hiểu biết của nữ giới làngười dân tộc thiểu số, người bệnh tâm thần… để thực hiện hành vi giao cấuhoặc thực hiện quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân Tuy

nhiên, khi xác định hành vi dùng thủ đoạn khác để giao cấu trái ý muốn củanạn nhân cần chú ý một số vấn đề sau: Những thủ đoạn mà người phạm tộithực hiện hoặc lợi dụng phải là những thủ đoạn nhằm đưa người bị hại lâmvào tình trạng không còn khả năng làm chủ bản thân để người phạm tội giaocấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của họ như: nạnnhân bị mê man bất tỉnh (do bị tật động kinh, bị say thuốc lào, bị gây mê, tiêmthuốc bị dị ứng ) ngủ mê tưởng nhầm can phạm là chồng nên không kháng

cự hoặc một số trường hợp ngủ mê khác như bị say rượu nặng; bị ốm đau liệtnhược; bị lên cơn điên dại; ở trong tình trạng cô đơn yếu đuối ở nơi hẻo lánhhoặc trong mọi tình trạng không thể chống cự khác để mặc người phạm tộithực hiện hành vi giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác trái với ýmuốn của nạn nhân

Trang 17

Ví dụ: Khoảng 20h ngày 5/10/2013, đối tượng Chamaléa B (27 tuổi, trútại xã Phước T, huyện B, tỉnh Ninh Thuận), nhìn thấy chị Katơ A (24 tuổi) ởcùng xã (Chamaléa B và Katơ A là bạn) đang đi bộ trên đường liên xã nên Bmời A lên xe cho B chở đi, A đồng ý Trên đường đi, đối tượng B nói chuyện,

rủ A đi ăn tại Phước T Ban đầu A chỉ định ăn xong rồi về, nhưng sau đó Btiếp tục mời A đi hát Karaoke, trong quá trình hát, B mời A uống bia, sau đó A

bị say và đòi về Trên đường đưa A về nhà khi đi ngang qua khu vực vắng vẻbên đường (rừng) B nổi cơn thú tính giở trò đồi bại đối với A, mặc dù nạnnhân A muốn kháng cự nhưng vì thể trạng yếu (say) nên đành bất lực Khiđang chuẩn bị thực hiện hành vi của mình, may mắn cho A là vào thời điểm

đó, anh C đi ngang qua nghe thấy tiếng kêu cứu nên chạy vào xem thử Thấyanh C, B tìm cách bỏ chạy nhưng đã bị anh C bắt giữ và giao cho Công an xãPhước T, Công an huyện Ngày 13/10/2013, Đội điều tra về trật tự phòngchống tệ nạn xã hội, Công an huyện B đã khởi tố bị can và bắt tạm giamCham ma léa B (27 tuổi) để điều tra làm rõ hành vi về tội hiếp dâm

- Qua ví dụ trên ta thấy rằng hành vi khách quan của Chamaléa B làdùng thủ đoạn khác, cụ thể là chuốc cho A say không còn khả năng chống cựrồi thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân Để làm rõ hành vinày, cần tìm hiểu nội dung sau:

+ Thứ nhất, có nhiều tội danh quy định giao cấu là hành vi khách quannhư: Tội hiếp dâm (Điều 141); Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 142), Tội cưỡngdâm trẻ em (Điều 143); Tội giao cấu hoặc thực hiện quan hệ tình dục khác(Điều 145) BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Về nội hàm củakhái niệm giao cấu có thể xác định chung cho những tội này; Bản tổng kết củaTòa án nhân dân tối cao số 329/HS2 ngày 11/5/1967 đề cập như sau: “Giaocấu: chỉ cần có sự cọ sát trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của ngườiphụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức ấn vào trong vì khi đó danh

Trang 18

dự, nhân phẩm của người phụ nữ đã bị chà đạp mà không kể sự xâm nhập củadương vật là sâu hay cạn, có xuất tinh hay không vì khi đó tội hiếp dâm đượccoi là hoàn thành Vì vậy, khái niệm “giao cấu” nêu trên không còn phù hợpthực tiễn Mặc khác, hành vi tình dục của con người rất đa dạng, không chỉnhằm mục đích sinh sản mà còn đem lại khoái cảm, nó không chỉ diễn ra ở bộphận sinh dục mà còn có thể ở những bộ phận khác trên cơ thể, và như vậy,khái niệm “giao cấu” sẽ không còn bao hàm hết các hành vi tình dục này Từphân tích nêu trên, khái niệm “giao cấu” cần được mở rộng theo hướng “làviệc đưa bộ phận sinh dục của người này chủ động tác động vào bất cứ bộphận nào trên cơ thể người kia, không phân biệt đồng giới hay khác giới”.Bên cạnh khái niệm “giao cấu” mang tính truyền thống thì các nhà làm luật đã

bổ sung khái niệm “hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác” là hoàntoàn chính xác (Khoản 1 Điều 141 BLHS năm 2015)

+ Thứ hai, yếu tố trái với ý muốn của nạn nhân: hành vi giao cấu hoặcthực hiện quan hệ tình dục khác chỉ bị coi là phạm tội hiếp dâm khi nó đượcthực hiện trái với ý muốn của nạn nhân, khi nạn nhân không chấp nhận sựgiao cấu hoặc hành vi thực hiện quan hệ tình dục khác kể cả khi họ đang trongtình trạng không thể biểu lộ được ý chí Trên thực tế, biểu hiện của thái độ trái

ý muốn là nạn nhân được thể hiện ra bên ngoài, có thể nhìn thấy được nhưchống cự, khóc lóc, van xin,…Tùy theo tình huống cụ thể mà diễn biến tâm lýcủa nạn nhân lúc thì trái ý muốn, lúc thì không tái ý muốn Cho nên cơ quantiến hành tố tụng cần phải thận trọng trong công tác đánh giá, tránh tình trạnglàm oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm

- Hậu quả của hành vi hiếp dâm gây ra không chỉ thiệt hại về thể chất,ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ xã hội đồng thời còn gây hạn đến quyềnnhân thân của nạn nhân được pháp luật hình sự bảo vệ

Trang 19

- Dùng thủ đoạn, thời gian, phương tiện, công cụ, hoàn cảnh phạmtội, là dấu hiệu khách quan tiếp theo Tuy những dấu hiệu này không phải làdấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, nhưng việc xác định những dấuhiệu này cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình điều tra, truy tố, xét

xử và thi hành án, vì góp phần xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xãhội của hành vi hiếp dâm, đồng thời cũng thông qua đó xác định nhữngnguyên nhân và điều kiện phạm tội để từ đó tìm ra các giải pháp hữu hiệu chocông tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này

- Theo quy định của luật hình sự Việt Nam thì người có năng lực tráchnhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thểđược gọi là chủ thể của tội phạm Chỉ có thể là con người cụ thể đang sống,bởi chỉ khi đó, họ mới có thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới làchủ thể của tội hiếp dâm Đương nhiên, một người cụ thể đang sống, không kểnam hay nữ, người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt đến một độ tuổi theoluật định cũng không phải là chủ thể của tội hiếp dâm nếu họ không thực hiệnhành vi được mô tả trong Điều 141 BLHS năm 2015

- BLHS năm 2015, quy định: Người từ đủ 16 tuổi trở lên theo quy địnhcủa BLHS năm 2015 thì phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừnhững tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡngdâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằmchiếm đoạt tài sản khi người đó từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổitheo quy định BLHS năm 2015 (Điều 12)

- BLHS năm 2015 quy định về một số tội phạm rất nghiêm trọng, tộiphạm đặc biệt nghiêm trọng tại Điều 143, 150, 151, 170, 171, 173, 178, 248,

249, 250, 251, 252, 265, 266, 285, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và Điều 304,

Trang 20

cụ thể như sau: Tội cưỡng dâm; Tội mua bán người; Tội mua bán người dưới

16 tuổi; Tội cưỡng đoạt tài sản; Tội cướp giật tài sản; Tội trộm cắp tài sản; Tộihủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; Tội sản xuất trái phép chất ma túy;Tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Tội vận chuyển trái phép chất ma túy; Tộimua bán trái phép chất ma túy; Tội chiếm đoạt chất ma túy; Tội tổ chức đua

xe trái phép; Tội đua xe trái phép; Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặngcho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật; Tộiphát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạngviễn thông, phương tiện điện tử; Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động củamạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; Tội xâm nhập trái phépvào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của ngườikhác; Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thựchiện hành vi chiếm đoạt tài sản; Tội khủng bố; Tội phá hủy công trình, cơ sở,phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia và Tội chế tạo, tàng trữ, vậnchuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng,phương tiện kỹ thuật quân sự

Như vậy, tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều 141 BLHS quy địnhngười từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệmhình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm khi nguời từ đủ 16tuổi trở lên Những dấu hiệu pháp lý bắt buộc chính là năng lực trách nhiệmhình sự và độ tuổi của chủ thể của tội hiếp dâm Thực tế cho thấy, người hiểu

rõ hành vi của mình là đúng hay sai, chỉ những người có năng lực trách nhiệmhình sự đầy đủ khi đó họ mới điều khiển được, tự chủ được hành vi của mình.Còn những người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vicủa mình thì không thể là chủ thể của tội phạm hiếp dâm Tuy nhiên, ngườitrong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi củamình do dùng chất kích thích, bia, rượu mà phạm tội hiếp dâm thì vẫn

Trang 21

phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 13 BLHS) Điều này có nghĩa là nhữngngười này có thể không tự chủ được hành vi của mình, song do dùng chấtkích thích trước đó nên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự Tóm lại, chủ thểcủa tội hiếp dâm là bất kì ai đủ năng lực trách nhiệm hình sự (bao gồm cảnhững người quy định tại Điều 13) và là người đạt độ tuổi chịu trách nhiệmhình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS.

- Mặt chủ quan của tội phạm: Hoạt động của con người là hoạt động có

ý thức, do vậy có sự thống nhất giữa ý thức bên trong và biểu hiện hành độngbên ngoài Hai mặt này luôn luôn thống nhất với nhau Ta không thể thấyđược nếu như nó không thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi nguy hiểm cho xãhội, bằng hậu quả tác hại, bằng thời gian, địa điểm, phương pháp, phươngtiện, công cụ thực hiện tội phạm Nếu những biểu hiện bên ngoài của tội phạmđược gọi là mặt khách quan thì các hoạt động tâm lý bên trong của tội phạmbao lỗi, mục đích và động cơ phạm tội gọi là mặt chủ quan của tội phạm

- Thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hộicủa mình và hậu quả do hành vi đó gây ra được gọi là Lỗi Lỗi được biểu hiệndưới hình thức là lỗi vô ý hoặc biểu hiện dưới hình thức là lỗi cố ý Khi thựchiện một hành vi mà người đó nhận thức và điều khiển được hành vi của mìnhthì hành vi đó được coi là lỗi, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếpcủa người phạm tội

+ Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xãhội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra gọi làlỗi cố ý trực tiếp (Khoản 1 Điều 10 BLHS năm 2015);

+ Người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành

vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thểxảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ragọi là lỗi cố ý gián tiếp (Khoản 2 Điều 10 BLHS năm 2015)

Trang 22

- Mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm, là kếtquả trong nhận thức mà người phạm tội muốn đạt được mục đích giao cấuhoặc thực hiện hành vi tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

- Động cơ phạm tội được hiểu là động lực thúc đẩy người phạm tộithực hiện hành vi phạm tội cố ý nhằm thỏa mãn nhục dục, mà còn chứng tỏquyền lực, quyền điều khiển người khác…

1.1.3 Phân biệt tội hiếp dâm với các tội xâm phạm tình dục khác

Tội phạm xâm hại tình dục được chia thành các tội danh khác nhau cóthể liên hệ bảng so sánh đưới đây để thấy rõ các dấu hiệu cấu thành tội phạmhiếp dâm với một số tội phạm khác

* Phân biệt tội hiếp dâm với tội cưỡng dâm

- Giống nhau:

+ Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp

+ Độ tuổi người phạm tội, người bị hại

- Khác nhau:

Trong các tội danh được áp dụng cho loại tội phạm này, tội hiếp dâm vàcưỡng dâm rất khó để phân biệt Tội hiếp dâm được quy định tại Điều 141BLHS, tội cưỡng dâm được quy định tại Điều 143 BLHS

+ Về khái niệm tội hiếp dâm: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũlực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủđoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ýmuốn của nạn nhân (Điều 141) Đối với khái nhiệm về tội cưỡng dâm làNgười nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ởtrong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác gọi là tội cưỡng dâm (Điều 143)

+ Hành vi của tội hiếp dâm là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằmmục đích áp đảo ý trí làm cho nạn nhân không thể chống cự hay lợi dụng tình

Trang 23

trạng không thể tự vệ được của nạn nhân, dùng thủ đoạn khác khiến người lệthuộc vào mình như sử dụng lệ thuộc vật chất (nuôi dưỡng, chăm sóc, ) vềquan hệ công tác (cấp trên cấp dưới, nhân viên với lãnh đạo, ), về quan hệ xãhội (giáo viên với học sinh, bác sĩ với bệnh nhân, ) Người trong tình trạngquẫn bách (đang gặp khó khăn về tài chính, sức khỏe, bệnh tật, ) để ép buộc

sự đồng ý miễn cưỡng của nạn nhân, từ đó ép buộc nạn nhân đồng ý thực hiệnhành vi giao cấu hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễncưỡng giao cấu giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác để giaocấu trái ý muốn của nạn nhân Đối với hành vi của tội cưỡng dâm là khôngdùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm mục đích áp đảo ý trí làm cho nạnnhân không thể chống cự mà dùng mọi thủ đoạn khiến nạn nhân miễn cưỡnggiao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ýmuốn của nạn nhân

+ Mặt chủ quan thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Thực hiện với lỗi cố ýtrực tiếp Mức hình phạt đối với tội hiếp dâm thấp nhất là hai năm tù, mứchình phạt tù chung thân đối với người phạm tội thuộc một trong các trườnghợp như: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ

lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên hoặc làm nạn nhânchết hoặc tự sát (Điều 141) và mức hình phạt tử hình đối với người phạm tộihiếp dâm người dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp như: phạm tội có

tổ chức; nhiều người hiếp một người; phạm tội đối với người dưới 10 tuổi;gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổnthương cơ thể 61% trở lên; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân46% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội hoặc làm nạn nhânchết hoặc tự sát (Điều 142) Mức hình phạt thấp nhất đối với tội cưỡng dâm làmột năm tù Mức hình phạt cao nhất là tù chung thân đối với người phạm tội

Trang 24

thuộc một trong các trường hợp như: Nhiều người cưỡng dâm một người; gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương

cơ thể 61% trở lên; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trởlên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội hoặc làm nạn nhân chết hoặc tựsát

+ Như vậy, so với tội cưỡng dâm, hành vi khách quan của tội hiếp dâmnguy hiểm hơn so với hành vi khách quan của tội cưỡng dâm Hành vi hiếpdâm ngoài việc xâm phạm về tình dục còn xâm phạm cả đến tính mạng, sứckhỏe của nạn nhân Tuy cả hai đều là lỗi cố ý trực tiếp nhưng hành vi của tộihiếp dâm mãnh liệt hơn so với tội cưỡng dâm Do đó, mức hình phạt khởiđiểm của khung hình phạt thấp nhất của tội hiếp dâm là hai năm tù, cao hơn

so với tội cưỡng dâm là một năm tù Mức hình phạt cao nhất của tội hiếp dâm

là tử hình còn của tội cưỡng dâm là tù chung thân Điều đó thể hiện chínhsách pháp luật hình sự của Đảng và Nhà nước ta đã đánh giá chính xác về tínhchất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội hiếp dâm, từ đó nghiêm khắc trừngtrị đối với loại tội phạm này

* Phân biệt tội hiếp dâm với tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi

Trang 25

+ Về khái niệm tội dâm ô đối với trẻ em được hiểu là hành vi của người

đã thành niên dùng mọi thủ đoạn có tính chất dâm dục đối với người dưới 16tuổi nhằm thoả mãn dục vọng của mình nhưng không có ý định giao cấu vớinạn nhân (Điều 146)

+ Khách thể của tội dâm ô người dưới 16 tuổi là các mối quan hệ nhânthân, quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của trẻ em Không ai cóquyền xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ,danh dự, nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về tình dục; sức khỏe củangười phụ nữ, trật tự an toàn xã hội; sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhânphẩm và quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em

+ Chủ thể của tội dâm ô người dưới 16 tuổi có thể là nam hoặc nữ,nhưng chủ yếu là nam và nhất thiết phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên, và cónăng lực trách nhiệm hình sự còn đối với chủ thể của tội hiếp dâm là bất kỳngười nào có năng lực trách nhiệm hình sự (có thể là nam nhưng cũng có thể

là nữ) Thông thường, người phạm tội là nam, tuy nhiên phụ nữ cũng có thể làđồng phạm hiếp dâm với vai trò tổ chức, giúp sức hoặc xúi giục

+ Mặt khách quan của tội dâm ô người dưới 16 tuổi là có hành vi kíchdục đối với trẻ em như sờ, bóp, hoặc dùng các bộ phận nhạy cảm về tình dục(như dương vật) cọ sát vào cơ thể hoặc bộ phận sinh dục của trẻ em; Có hành

vi buộc trẻ em sờ, bóp, cọ xát…vào những bộ phận kích thích tình dục hoặc

bộ phận sinh dục của người phạm tội hoặc của người khác

+ Mặt chủ quan thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Thực hiện với lỗi cố ýtrực tiếp Mức hình phạt thấp nhất đối với tội dâm ô người dưới 16 tuổi là sáutháng tù Mức hình phạt cao nhất là mười hai năm tù đối với người phạm tộithuộc một trong các trường hợp như: Gây rối loạn tâm thần và hành vi củanạn nhân 46% trở lên hoặc làm nạn nhân tự sát

Trang 26

+ Như vậy, so với tội cưỡng dâm, hành vi khách quan của tội hiếp dâmnguy hiểm hơn so với hành vi khách quan của tội dâm ô người dưới 16 tuổi.Tuy cả hai đều là lỗi cố ý trực tiếp nhưng hành vi của tội hiếp dâm mãnh liệthơn so với tội dâm ô người dưới 16 tuổi Do đó, mức hình phạt khởi điểm củakhung hình phạt thấp nhất của tội hiếp dâm là hai năm tù, cao hơn so với tộidâm ô người dưới 16 tuổi là sáu tháng tù Mức hình phạt cao nhất của tội hiếpdâm là tử hình còn của tội dâm ô người dưới 16 tuổi là mười hai năm tù Đểtrừng trị nghiêm khắc đối với tội hiếp dâm, Đảng và Nhà nước ta đã đánh giáchính xác về mức độ cũng như về tính chất của loại tội phạm này gây nguyhiểm cho xã hội điều đó đã được thể hiện trong chính sách pháp luật hình sựnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về các tội hiếp dâm

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước 1985

- Trong những ngày đầu giành được chính quyền Nhà nước Việt Namdân chủ công hòa còn gặp nhiều khó khăn: nền kinh tế-xã hội lạc hậu bị chiếntranh tàn phá nặng nề, tài chính cạn kiệt, thù trong giặc ngoài nên nhà nước

ta chưa có đủ điều kiện để ban hành ngay các văn bản quy phạm pháp luật vàxây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Sắc lệnh số 47/SL được Chủtịch Hồ Chí Minh ký ngày 10 tháng 10 năm 1945 quy định giữ tạm thời cácluật lệ ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duynhất cho toàn quốc, chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của đấtnước còn những điều khoản trong luật lệ cũ được tạm giữ lại Vì vậy, các Tòa

án vẫn xử theo luật hình sự cũ Sau khi giành độc lập, để phù hợp với tìnhhình mới miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tiếp tụccuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ Từ năm 1955, toàn bộ các luật cũ khôngcòn được áp dụng, án lệ được các Tòa án lựu chọn, theo đường lối chính sáchcủa Đảng và Nhà nước Do chưa ban hành văn bản pháp luật hình sự quy định

Trang 27

về các tội phạm về tội hiếp dâm, cho nên dẫn đến tình trạng xét xử một cáchtùy nghi Ngày 15 tháng 6 năm 1960, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Chỉthị số 1024 hướng dẫn xử lý tội phạm hiếp dâm nhằm khắc phục khuynhhướng coi nhẹ tính chất nghiêm trọng của tội này nhất là khuynh hướng coinhẹ tội hiếp dâm mà nạn nhân là trẻ em…Ngày 11 tháng 5 năm 1967,TANDTC đã thông qua Bản tổng kết số 329/HS2 và hướng dẫn đường lối xét

xử tội hiếp dâm và các tội phạm khác về tình dục, đề cập một cách toàn diện,

để các quy định của pháp luật được đầy đủ hơn với 4 hình thức phạm tội:Hiếp dâm (bao gồm cả hiếp dâm trẻ em), Cưỡng dâm, Giao cấu với ngườidưới 16 tuổi, Dâm ô (trái với ý muốn và không có giao cấu) và đã có sự phânhóa, đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành vi hiếp dâm nói chung và hiếpdâm trẻ em nói riêng Khi chưa có văn bản mới quy định đầy đủ, toàn diệnhơn thì Bản tổng kết này là cơ sở pháp lý quan trọng để hướng dẫn công tácxét xử đối với hành vi xâm phạm tình dục trẻ em theo chủ trương cần phải xửnặng đối với hành vi hiếp dâm nhiều người, người dưới 18 tuổi, hiếp dâmngười thân về trực hệ, hiếp dâm vì động cơ đê hèn, và xử nhẹ hơn đối với bịcáo còn ít tuổi, phạm tội chưa đạt, có tình tiết về nhân thân bị can như có cốnghiến, thái độ hối cải, tác hại còn hạn chế, một số loại tội phạm về mặt tìnhdục được tốt hơn, góp phần đấu tranh ngăn ngừa tội phạm hiếp dâm đồng thời

sơ bộ dùng làm cơ sở cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật Tuynhiên, việc áp dụng không thống nhất, gặp nhiều vướng mắc trong việc xét xử

vì đây chỉ là văn bản dưới luật nên giá trị pháp lý của văn bản chưa cao, đồngthời các quy định còn chưa cụ thể, rõ ràng nên dẫn đến Trước thực trạng đó,cần phải có một văn bản quy định về hành vi hiếp dâm thống nhất BLHS năm

1985 là văn bản pháp điển hóa các hành vi phạm tội trong đó có tội phạm hiếpdâm

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước năm 1999

Trang 28

- BLHS năm 1985 quy định về tội hiếp dâm tương đối rõ ràng, đầy đủtrong pháp luật hình sự cụ thể như sau:

+ Phạt tù từ một năm đến năm năm đối với người nào dùng vũ lực hoặcthủ đoạn khác giao cấu với người khác trái ý muốn của họ (Khoản 1 Điều112);

+ Phạt tù từ hai năm đến bảy năm đối với phạm tội hiếp dâm ngườichưa thành niên từ 13 tuổi trở lên hoặc người mà người phạm tội có tráchnhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh (Khoản 1 Điều 112);

+ Phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm đối với phạm tội thuộc mộttrong các trường hợp sau đây: Hiếp dâm có tổ chức hoặc nhiều người hiếpmột người; hiếp nhiều người hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của nạnnhân; tái phạm nguy hiểm (Khoản 2 Điều 112);

+ Phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tửhình phạm tội làm nạn nhân chết, tự sát hoặc trong trường hợp đặc biệt

nghiêm trọng khác (Khoản 3 Điều 112);

+ Phạm tội hiếp dâm và người phạm tội bị phạt theo các Khoản 2,Khoản 3 điều này nếu giao cấu với trẻ dưới 13 tuổi trong mọi trường hợp đều

- Về lý luận, nếu thỏa mãn các tình tiết định khung nêu trên thì sẽ truycứu trách nhiệm hình sự theo các khoản này Đây là một hạn chế đã đượcnhiều nhà nghiên cứu chỉ ra, cần được khắc phục để bảo vệ tối đa quyền lợicủa người bị hại, đặc biệt là thực tiễn cho thấy những trường hợp xâm hại tìnhdục người chưa thành niên có xu hướng gia tăng Xuất phát từ những vấn đềbất cập nêu trên, Luật sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1985 lần thứ 2 đã thể hiệnđường lối trừng trị nghiêm khắc hơn đối với tội hiếp dâm vào ngày 12 tháng 8năm 1992, phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm đối với người nào giao cấuvới trẻ em dưới 13 tuổi trong mọi trường hợp đều là phạm tội hiếp dâm Phạt

tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” nếu phạm tội theo quy

Trang 29

định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này Chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt củapháp luật hình sự Việt Nam đối với trẻ em thông qua việc trừng trị nghiêmkhắc tội phạm hiếp dâm, đặc biệt là tội hiếp dâm trẻ em, đồng thời đáp ứngđược yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, Luật sửa đổi, bổsung BLHS ngày 10/5/1997, đã bổ sung một điều riêng quy định về ội hiếpdâm trẻ em” đó là Điều 112a với mức hình phạt cao nhất là tử hình, cụ thểnhư sau:

+ Hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ bảy năm năm đến mười lăm năm (Khoản 1 Điều 112a)

+ Phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm nêu người phạm tội mộttrong các trường hợp sau đây: Có tính chất loạn luận; làm nạn nhân có thai;gây tổn hại nặng cho sức khỏe của nạn nhân; đối với người mà người phạmtội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; tái phạm nguy hiểm(Khoản 2 Điều 112a);

+ Phạt tù chung thân hoặc tử hình nếu người phạm tội một trong cáctrường hợp sau đây: Có tổ chức; nhiều người hiêp một người; phạm tội nhiềulần; gây tổn hại rất nặng cho sức khỏe của nạn nhân; làm nạn nhân chết hoặc

tự sát (Khoản 3 Điều 112a);

+ Người phạm tội hiếp dâm trong trường hợp giao cấu với trẻ em chưa

đủ 13 tuổi thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình (Khoản 4Điều 112a)”

- Có thể nói lần đầu tiên kể từ khi tuyên ngôn độc lập, thành lập Nhànước Việt Nam mới, nước ta mới có một văn bản pháp luật hình sự thốngnhất, đó chính là BLHS năm 1985 Các quy định về Tội hiếp dâm trongBLHS ngày càng được quan tâm, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện theo hướngngày càng cụ thể, rõ ràng và dễ áp dụng hơn Đặc biệt, để pháp luật bảo vệ trẻ

em được tốt hơn, hành vi phạm tội hiếp dâm đối với trẻ em theo hướng ngày

Trang 30

càng được quy định nghiêm khắc hơn Về hình thức so với trước đó, tội hiếpdâm đã được tách ra thành hai tội: Tội hiếp dâm và Tội hiếp dâm trẻ em, đã cụthể hóa hơn cách phân loại tội phạm và cũng đã được thể hiện rõ ràng hơn vềnội dung, dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội xâm hại đến tình dục mà đốitượng bị xâm hại là trẻ em.

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1999 đến trước 2015

- Sau khi BLHS năm 1985 ra đời cho đến nay thực tiễn đấu tranh

phòng, chống tội phạm đã có nhiều thay đổi và do đó BLHS cũng đã xuất hiệnnhiều bất cập cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình đấu tranh phòng,chống tội phạm Do đó, Quốc hội đã nhiều lần sửa đổi bổ sung BLHS vàonăm 1999, 2009, 2015 và năm 2017 Ở BLHS năm 1999, riêng đối với Tộihiếp dâm được tách riêng thành hai tội là tội hiếp dâm quy định tại Điều 111

và tội hiếp dâm trẻ em quy định tại Điều 112; quy định thêm các dấu hiệutrong cấu thành tội phạm, đó là “đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạngkhông thể tự vệ được của nạn nhân”; quy định thêm một số tình tiết địnhkhung mới, đó là “đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc,giáo dục, chữa bệnh; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội” (Khoản 3);quy định thêm các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm, đó là “đe dọa dùng vũlực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân”; làm nạnnhân có thai; gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ31% đến 60% (Khoản 2); gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệthương tật từ 61% trở lên và bỏ tình tiết “có nhiều tình tiết ”

- Về hình phạt thì mức thấp nhất có sự thay đổi: ở khoản 2 là tù mườihai năm, ở khoản 3 là tù hai mươi năm, ở khoản 4 là mười hai năm Đối vớilần sửa đổi năm 2009, tuy BLHS đã sửa đổi bổ sung 44 điều so với BLHSnăm 1999; trong đó, sửa đổi về nội dung có 43 điều, chỉnh sửa về kỹ thuật có

01 điều luật chỉ và bổ sung mới 13 điều Riêng đối với tội tội hiếp dâm trẻ em

Trang 31

được giữ nguyên không sửa đổi Về mặt quy định pháp luật hình sự so với cáctội khác thì các tội phạm hiếp dâm nói chung là ổn định, phù hợp với điềukiện, hoàn cảnh của đất nước từ năm 1985 đến khi BLHS năm 2015 có hiệulực pháp luật.

1.3 Định tội danh đối với tội hiếp dâm

1.3.1 Khái niệm định tội danh đối với tội hiếp dâm

- Định tội danh là một dạng của hoạt động thực tiễn quan trọng trong ápdụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tốtụng và một số cơ quan khác có thẩm quyền, được tiến hành trên cơ sở cácchứng cứ, các tài liệu được thu thập theo quy định của pháp luật và các tìnhtiết thực tế của vụ án để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vinguy hiểm cho xã hội và là tiền đề đảm bảo cho việc quyết định hình phạtđược đúng thì phải định tội danh đúng

- Trên thực tế chỉ khi thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm được quyđịnh trong BLHS, thì trên cơ sở đó mới xác định vấn đề TNHS của bị cáo vàcác cơ quan có thẩm quyền định tội danh xem xét, đánh giá một hành vi đãthực hiện trên cơ sở các quy định của BLHS Đây chính là quá trình xác địnhhành vi đó có phải là tội phạm hay không và tội đó là tội gì, theo quy định củađiều nào của BLHS? hay nói cách khác, định tội danh là hoạt động tư duy, cótính logic chặt chẽ, chính xác cao của người tiến hành định tội danh khi xemxét, đánh giá các tình tiết của vụ án Khi tiến hành định tội danh, người địnhtội phải dựa các dấu hiện của CTTP của một tội phạm cụ thể được quy địnhtrong BLHS nhằm tìm ra tên tội cho hành vi đó Sau khi định xong tội danh,người định tội danh phải xác định hành vi phạm tội thỏa mãn khung hình phạtnào về tội phạm cụ thể chứa đựng nhiều khung hình phạt, nghĩa là trongtrường hợp này, người định tội danh đã xác định phạm vi TNHS đối với ngườiphạm tội, Tòa án sẽ lựa chọn một hình phạt cụ thể cho bị cáo

Trang 32

- Tiếp thu những yếu tố phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệmđịnh tội danh như sau: Định tội danh là một dạng hoạt động thực tiễn áp dụngpháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng(Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩmquyền theo quy định của pháp luật để xác định một người (pháp nhân thươngmại) có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nàocủa BLHS, hay nói cách khác đây là quá trình xác định các dấu hiệu của hành

vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện trên thực tế

- Từ khái niệm định tội danh nêu trên, có thể hiểu định tội danh đối vớitội hiếp dâm là quá trình các cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và một

số cơ quan khác có thẩm quyền tố tụng đánh giá chứng cứ để xác định mộtngười có phạm tội hiếp dâm theo Điều 141 BLHS hiện hành hay không

1.3.2 Cơ sở pháp lý của định tội danh đối với tội hiếp dâm

- Định tội danh theo căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học được hiểu dưới hai khía cạnh rộng và khía cạnh hẹp

+ Xét ở khía cạnh rộng thì cơ sở pháp của định tội danh là tổng thể cácquy phạm pháp luật hình sự, là cơ sở gián tiếp cho toàn bộ quá trình xác địnhcác dấu hiện của hành vi nguy hiểm cho xã hội thỏa mãn CTTP, còn cơ sởpháp lý trực tiếp cũng như tổng thể các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự

+ Xét ở khía cạnh hẹp thì căn cứ pháp lý của định tội danh là BLHS mà

cụ thể hơn là điều luật quy định về tội phạm cụ thể, ở đây là Tội hiếp dâmđược quy định tại Điều 141 BLHS Để áp dụng BLHS trong thực tiễn đượcđúng đắn, chính xác, có hiệu quả thi cần có các văn bản pháp luật hình sựkhác, là văn bản dưới luật làm nhiệm vụ hướng dẫn, giải thích cho BLHS

- Suy cho cùng, hoạt động định tội danh là việc đối chiếu, so sánh cáctình tiết của hành vi nguy hiểm cho xã hội với các dấu hiện tương ứng củaCTTP cơ bản tại Điều 141 BLHS trong thực tế có phù hợp với nhau hay

Trang 33

không Để có thể tiến hành được việc định tội danh, nhà làm luật đã xây dựngnhững “mẫu đặc thù” hay còn gọi là các “mô hình” mang tính đặc thù riêngcho từng tội cụ thể mà dựa vào đó những người có thẩm quyền tiến hành việcđịnh tội danh phải xác định việc có hay không có sự phù hợp giữa các tình tiếtcủa hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được thực hiện trên thực tế với mộttrong những “mẫu đặc thù” được quy định trong BLHS, từ đó tìm ra tên tộidanh tương ứng với hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện Việc xác địnhtội danh chính là quy trình xác định xem hành vi đó có thỏa mãn các dấu hiệucủa tội hiếp dâm trong BLHS Khi các dấu hiệu của CTTP cụ thể phù hợp vớicác tình tiết của hành vi phạm tội được quy định trong BLHS thì hành vi đượcđịnh theo tội danh của CTTP đó Như vậy, CTTP là căn cứ của việc định tội,trên cơ sở căn cứ vào CTTP được quy định trong BLHS mới có thể định tội vàđịnh tội đúng Quá trình định đội danh được thực hiện các bước cụ thể nhưsau:

+ Bước 1: Nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét và đánh giá các tình tiếtcủa vụ án trong sự phù hợp với hiện thực khách quan trong các giai đoạn tốtụng

+ Bước 2: Tìm ra sự tương ứng giữa tội danh (tội hiếp dâm) và điều luật (Điều 141) với hành vi đã thực hiện trên thực tế

+ Bước 3: Kết luận một cách có căn cứ hành vi đã thực hiện có phạmtội hiếp dâm không, nếu phạm tội thì có theo Điều 141của BLHS từ đó ra vănbản áp dụng pháp luật (Bản án)

- Vấn đề quan trọng là các văn bản áp dụng pháp luật (Bản án) này phảithể hiện được một cách thuyết phục về tính có căn cứ cũng như tính hợp pháptrong việc xác định một hành vi là có phải là tội hiếp dâm hay không, có thỏamản theo quy định tại Điều 141 của BLHS hay không

1.3.3 Đặc điểm của định tội danh đối với tội hiếp dâm

Trang 34

- Chủ thể của tội hiếp dâm là con người cụ thể (Pháp nhân thương mại không là chủ thể của tội phạm này).

- Các cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và một số cơ quan khác

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật chính là chủ thể của hoạt độngđịnh tội danh đối với tội hiếp dâm

- Định tội danh phải dựa vào CTTP cơ bản của tội hiếp dâm

- Định tội danh phải được tiến hành trước, trên cơ sở đó mới có thể tiếnhành được việc quyết định hình phạt

- Trong công tác xét xử vụ án hiếp dâm, định tội danh đúng có ý nghĩa

vô cùng quan trọng, thể hiện ở những điểm sau:

+ Việc định tội danh đúng sẽ là tiền đề cho việc xác định khung hìnhphạt (Điều 141 về tội hiếp dâm quy định các khung hình phạt khác nhau) vàquyết định hình phạt được chính xác, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúngtội, đúng pháp luật, không xử oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm

+ Để áp dụng chính xác các quy định pháp luật tố tụng hình sự về tạmgiam, thời hạn tạm giam, khởi tố vụ án hình sự… thì vấn đề quan trọng nhất

là phải định tội danh đúng ngay từ giai đoạn điều tra và việc làm này gópphần đắc lực vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

+ Định tội danh là một dạng của hoạt động thực tiễn được tiến hànhtrên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu được thu thập theo quy định của pháp luật

để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội,tức là xác định một hành vi đã thực hiện trên thực tế có phạm vào tội hiếpdâm không, có theo Điều 141 của BLHS hay không Trường hợp, định tộidanh đúng thì sẽ góp phần nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động của các cơquan tư pháp cũng như hỗ trợ cho việc củng cố và tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa Định tội danh đúng dẫn đến việc đảm bảo được tính có căn cứpháp lý của bản án; thuyết phục được quần chúng nhân dân về tính đúng đắn

Trang 35

và nghiêm minh của bản án, nâng cao hiệu quả giáo dục của bản án đối với quần chúng nhân dân.

+ Quyết định hình phạt sai nếu như ta định tội danh sai Từ đó, làm chohình phạt đã tuyên không tương xứng, có thể là quá nhẹ hoặc quá nặng, vớitính chất, mức độ của hành vi phạm tội gây nguy hiểm cho xã hội, làm chongười phạm tội không thấy được tính sai trái về hành vi thật sự của mình gây

ra, từ đó không tự giác tuân thủ theo pháp luật Định tội danh sai làm giảm uytín, hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật, làm giảm hiệu quả của cuộcđấu tranh phòng và chống tội phạm Một khi bản án không đảm bảo được tính

có căn cứ pháp lý (do định tội danh sai) sẽ không thuyết phục được quầnchúng nhân dân về tính đúng đắn và nghiêm minh của bản án, làm giảm hiệuquả giáo dục của bản án đối với quần chúng nhân dân

1.4 Áp dụng hình phạt đối với tội hiếp dâm

1.4.1 Khái niệm hình phạt đối với tội hiếp dâm

- Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về khái niệm hình phạt, tuy nhiêntựu trung lại thì các tác giả đều cho rằng hình phạt là biện pháp cưỡng chếnghiêm khắc của Nhà nước, được luật hình sự quy định, do Tòa án áp dụngđối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền,lợi ích của họ

- Từ góc độ lập pháp hình sự, thì Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về khái niệm hình phạt như sau: Hìnhphạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏhoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội

- BLHS hiện hành đã đưa ra khái niệm hình phạt như sau: Hình phạt làbiện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộluật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thươngmại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân

Trang 36

thương mại đó (Điều 30 Bộ luật hình sự năm 2015) Như vậy, BLHS hiệnhành vẫ giữ nguyên khái niệm hình phạt đã được quy định trước đây, chỉ bổsung thêm chủ thể có thể chịu hình phạt là pháp nhân thương mại.

- Đối với tội hiếp dâm thì có thể nói, hình phạt đối với tội hiếp dâm làbiện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được quy định tại Điều

141 của BLHS, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người phạm tội hiếpdâm nhằm trước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người đó

1.4.2 Đặc điểm áp dụng của hình phạt đối với tội hiếp dâm

- Áp dụng hình phạt đối với người phạm tội hiếp dâm là việc Tòa ánlựa chọn và quyết định khung hình phạt đối với người phạm tội nhằm trước

bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của người đó được quy định tại Khoản 1, Khoản 2,Khoản 3, Khoản 4 Điều 141 BLHS năm 2015 Theo Điều 141 BLHS thì hìnhphạt chính mà Toà án có thể áp dụng đối với người phạm tội hiếp dâm là hìnhphạt tù có thời hạn, tù chung thân Người phạm tội còn có thể bị áp dụng hìnhphạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làmcông việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt tiền

- Hình phạt đối với tội hiếp dâm luôn là các hình phạt nghiêm khắcnhất trong hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự TuyBLHS hiện hành không còn quy định hình phạt tử hình đối với tội hiếp dâm,nhưng vẫn giữ hình phạt tù chung thân và tù có thời hạn đến 20 năm (Khoản 3Điều 141) BLHS không quy định hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đốivới tội phạm này Hình phạt bổ sung mà Toà án có thể áp dụng chỉ có thể làCấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

- Hình phạt đối với tội hiếp dâm chỉ được áp dụng với người (không làpháp nhân thương mại) phạm tội

Trang 37

- Như vậy, khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội hiếp dâm,trước hết, Toà án phải căn cứ vào loại hình phạt nào có thể được áp dụng và

áp dụng với ai Về nội dung áp dụng hình phạt đối với ai, mức độ nào thìtheo quy định tại Điều 141 BLHS, Toà án còn phải căn cứ vào các yếu tố địnhkhung thuộc nhân thân người phạm tội như: Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫnphạm tội; phạm tội đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, giáodục, chữa bệnh; phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

Kết luận chương 1

Từ kết quả nghiên cứu, phân tích những quy định về tội hiếp dâm theoquy định của pháp luật hình sự Việt nam nêu trên, qua đó, tác giả đã làm rõcác dấu hiệu pháp lý, đặc trưng của tội hiếp dâm, phân tích, luận giải làm rõnhững dấu hiệu định tội cũng như định khung tăng nặng của tội hiếp dâm;phân biệt được tội hiếp dâm với các tội phạm tình dục khác; khái quát quátrình lập pháp hình sự quy định tội hiếp dâm từ năm 1954 đến nay và từ đó đãđưa ra được khái niệm khoa học về tội hiếp dâm Tác giả cũng đã khái quát vàđưa ra khái niệm về định tôi danh và quyết định hình phạt đối với tội hiếpdâm Nghiên cứu những vấn đề nêu trên có ý nghĩa quan trọng, là tiền đề lýluận để đánh giá hoạt động thực tiễn định tội danh, quyết định hình phạt và ápdụng pháp luật hình sự đối với tội hiếp dâm trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận

Ngày đăng: 20/07/2019, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w