LỜI MỞ ĐẦU Mục tiêu của quản trị chiến lược là tạo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp. Việc giảm rào cản pháp lý và toàn cầu hóa đã làm gia tăng cường độ cạnh tranh. Cùng với đó là sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ làm rút ngắn vòng đời sản phẩm trên thị trường và sự thay đổi thị trường một cách năng động, nguy cơ phạm phải các sai lầm chiến lược đã gia tăng đáng kể. Doanh nghiệp nào ít chú trọng đến công tác quản trị chiến lược có thể sẽ rơi vào tình trạng bế tắc. Chính vì vậy có thể nói quản trị chiến lược đã và đang trở nên hết sức quan trọng cho sự sống còn của mỗi doanh nghiệp khi mà môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp. Nghiên cứu môi trường là một nội dung quan trọng không thể thiếu được trong quản trị chiến lược, đặc biệt trong những năm gần đây thì người ta rất chú trọng phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp trong quản trị chiến lược. Mục đích nghiên cứu môi trường bên ngoài là nhằm nhận định những đe dọa cũng như những cơ hội có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy nghiên cứu môi trường bên ngoài không đặt ra với toàn bộ các yếu tố mà chỉ giới hạn trong các yếu tố có ảnh hưởng thực sự đối với doanh nghiệp. Những yếu tố này có tác động đến với doanh nghiệp tùy thuộc vào đặc điểm của ngành, mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp. Nội dung nghiên cứu bao gồm: Chương 1: Phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích môi trường bên ngoài của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam – Vinamil
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ ĐÀO TẠO MIỀN TRUNG
oOo
-TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
DOANH NGHIỆP GVHD: Nguyễn Trọng Minh Thái
7 Huỳnh Thị Đào Tiên
Quảng ngãi, Ngày 24 tháng 01 năm 2015
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Mục tiêu của quản trị chiến lược là tạo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp Việcgiảm rào cản pháp lý và toàn cầu hóa đã làm gia tăng cường độ cạnh tranh Cùng với đó
là sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ làm rút ngắn vòng đời sản phẩm trên thị trường
và sự thay đổi thị trường một cách năng động, nguy cơ phạm phải các sai lầm chiến lược
đã gia tăng đáng kể Doanh nghiệp nào ít chú trọng đến công tác quản trị chiến lược cóthể sẽ rơi vào tình trạng bế tắc Chính vì vậy có thể nói quản trị chiến lược đã và đang trởnên hết sức quan trọng cho sự sống còn của mỗi doanh nghiệp khi mà môi trường kinhdoanh ngày càng phức tạp Nghiên cứu môi trường là một nội dung quan trọng không thểthiếu được trong quản trị chiến lược, đặc biệt trong những năm gần đây thì người ta rấtchú trọng phân tích môi trường bên ngoài doanh nghiệp trong quản trị chiến lược Mụcđích nghiên cứu môi trường bên ngoài là nhằm nhận định những đe dọa cũng như những
cơ hội có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy nghiên cứu môi trường bênngoài không đặt ra với toàn bộ các yếu tố mà chỉ giới hạn trong các yếu tố có ảnh hưởngthực sự đối với doanh nghiệp Những yếu tố này có tác động đến với doanh nghiệp tùythuộc vào đặc điểm của ngành, mục tiêu và chiến lược của doanh nghiệp
Nội dung nghiên cứu bao gồm:
Chương 1: Phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích môi trường bên ngoài của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam –
Vinamil
Trang 3NỘI DUNGCHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI CỦA DOANH NGHIỆP.
I MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN, Ý
NGHĨA VÀ MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI.
1 Môi trường bên ngoài và các khái niệm liên quan
Môi trường bên ngoài ( external environment) gồm những yếu tố, những lực lượng,những thể chế,…xảy ra ở bên ngoài doanh nghiệp, doanh nghiệp không kiểm soát được,nhưng có ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Môi trườngbên ngoài bao gồm:
Môi trường vĩ mô (macro environment) hay còn gọi là môi trường tổng
quát
Môi trường vi mô (micro environment) hay còn gọi là môi trường ngành
hay môi trường cạnh tranh ( competitive environment)
Môi trường vĩ mô (macro environment) là môi trường bao trùm lên hoạt động của tất cảcấc doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động của tất cả cácdoanh nghiệp Môi trường này được xác lập bởi các yếu tố vĩ mô, như: các điều kiện kinh
tế, chính trị-pháp luật, văn hóa-xã hội, tự nhiên, nhân khẩu học, kỹ thuật-công nghệ.Môi trường vi mô (micro environment) là môi trường gắn trực tiếp với từng doanh nghiệpbao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh của một doanh nghiệp, nóquyết định tính chất và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành sản xuất kinhdoanh đó Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố cơ bản sau: Đối thủ cạnh tranh hiện tại,đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, khách hàng, nhà cung cấp và sản phẩm thay thế
Môi trường bên ngoài thường xuyên thay đổi, kéo theo những tác động đến doanh nghiệpcũng thay đổi, sự biến động của các yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát của doanhnghiệp, chúng tác động xen kẽ lẫn nhau và ảnh hưởng đến quản trị chiến lược của doanhnghiệp Vì vậy khi phân tích các yếu tố của môi trường, các doanh nghiệp cần xem xéttính chất tác động của từng yếu tố, mối tương tác giữa các yếu tố, … Để dự báo cụ thểmức độ, bản chất và thời điểm ảnh hưởng nhằm xử lí các tình huống một cách linh hoạt,đồng thời có giải pháp hữu hiệu để tận dụng tối đa các cơ hội nhằm nâng cao hiệu quả vàgiảm tổn thất trong quá trình quản trị chiến lược
2 Ý nghĩa và mục đích của việc nghiên cứu môi trường bên ngoài
Trang 4Hoạch định chiến lược mà không gắn với môi trường bên ngoài cũng không khác nàongười mù vẽ đường đi.
Hoạch định chiến lược cần phải tiến hành phân tích môi trường bên ngoài và bên trong,
để xác định được các cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh và điểm yếu, trên cơ sở kết hợp cácyếu tố đó mới có thể đưa ra và lựa chọn chiến lược phù hợp
Thực tế cho thấy những yếu tố của môi trường bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến tất cảcác sản phẩm, dịch vụ, thị trường và cả tổ chức trên thế giới Sự thay đổi của những yếu
tố môi trường bên ngoài, sẽ kéo theo sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng đối vớinhững sản phẩm, dịch vụ… Để đáp ứng yêu cầu đó các doanh nghiệp phải thay đổi chiếnlược kinh doanh và chiến lược cấp chức năng, chiến lược định vị sản phẩm, phân khúc thịtrường và việc lựa chọn các nhà cung cấp, khách hàng để mua hoặc bán Nhận diện vàđánh giá được các nguy cơ từ bên ngoài cho phép các doanh nghiệp xác định được chínhxác, rõ ràng sứ mạng/nhiệm vụ của mình, xây dựng chiến lược để đạt được mục tiêu dàihạn
Nội dung cốt lõi của quản trị chiến lược là các doanh nghiệp cần xây dựng được nhữngchiến lược tận dụng hết mọi cơ hội và giảm bớt tác hại từ bên ngoài Vì vậy, việc xácđịnh, kiểm soát và đánh giá các cơ hội và nguy cơ từ bên ngoài là một trong những điềukiện tiên quyết đảm bảo sự thành công cho doanh nghiệp
Mục đích của việc nghiên cứu môi trường bên ngoài là phát hiện một danh mục có giớihạn các cơ hội mà môi trường bên ngoài có thể mang lại cho doanh nghiệp và các nguy
cơ từ môi trường này mà doanh nghiệp nên tránh
Việc phân tích môi trường bên ngoài phải được thực hiện một cách khách quan, liên tục,trên cơ sở các thông tin đầy đủ và chính xác, phải nhanh nhạy, sáng tạo, nhằm xác địnhkịp thời những cơ hội doanh nghiệp càn tận dụng, những nguy cơ cần né tránh, thậm chítìm cách biến nguy cơ thành cơ hội
II PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI DOANH
NGHIỆP
1 Môi trường vĩ mô
1.1 Môi trường kinh tế
Đây là một yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà quản trị Sự tácđộng của các yếu tố của môi trường này có tính chất trực tiếp và năng động hơn so vớimột số các yếu tố khác của môi trường tổng quát Có nhiều yếu tố của môi trường vĩ mô
Trang 5nhưng có thể nói các yếu tố sau có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao sẽ
tạo nhiều cơ hội cho đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,ngược lại khi nền kinh tế sa sút sẽ dẫn đến giảm chi phí tiêu dùng đồng thời làm tăng lựclượng cạnh tranh Thông thường sẽ gây nên chiến tranh giá cả trong ngành
Lãi suất và xu hướng của lãi xuất trong nền kinh tế Lãi suất và xu hướng của lãi xuất
trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư và do vậyảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp Lãi xuất tăng sẽ hạn chế nhu cầu vay vốn
để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng tới mức lời của các doanhnghiệp Đồng thời khi lãi xuất tăng cũng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngânhàng nhiều hơn và do vậy làm cho nhu cầu tiêu dùng giảm xuống
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái cũng có thể tạo
vận hội tốt cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể là nguy cơ cho sự phát triển của doanhnghiệp đặc biệt nó tác động điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu Thông thường chính phủ
sử dụng công cụ này để điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu theo hướng có lợi cho nềnkinh tế
Lạm phát Lạm phát cũng là 1 nhân tố quan trọng cần phải xem xét và phân tích Lạm
phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế Khi lạm phát quá cao
sẽ không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra những rủi ro lớn cho sự đầu tư của các doanhnghiệp, sức mua của xã hội cũng bị giảm sút và làm cho nền kinh tế bị đình trệ Trái lạithiểu phát cũng làm cho nền kinh tế bị trì trệ Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải cótác dụng khuyến khích đầu tư và nền kinh tế, kích thích thị trường tăng trưởng
Hệ thống thuế và mức thuế Các ưu tiên hay hạn chế của chính phủ với các ngành được
cụ thể hoá thông qua luật thuế Sự thay đổi của hệ thống thuế hoặc mức thuế có thể tạo ranhững cơ hội hoặc nguy cơ đối với các doanh nghiệp vì nó làm cho mức chi phí hoặc thunhập của doanh nghiệp thay đổi
1.2 Môi trường chính trị và hệ thống pháp luật
Chính trị là yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tư, nhà quản trị các doanh nghiệp quan tâm
phân tích để dự báo mức độ an toàn trong các hoạt động tại các quốc gia, các khu vực nơi
mà doanh nghiệp đang có mối quan hệ mua bán hay đầu tư Các yếu tố như thể chế chínhtrị, sự ổn định hay biến động về chính trị tại quốc gia hay một khu vực là những tín hiệuban đầu giúp các nhà quản trị nhận diện đâu là cơ hội hoặc đâu là nguy cơ của doanh
Trang 6nghiệp để đề ra các quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh trên các khu vực thị trườngthuộc phạm vi quốc gia hay quốc tế Yếu tố chính trị là yếu tố rất phức tạp, tuỳ theo điềukiện cụ thể yếu tố này sẽ tác động đến sự phát triển kinh tế trong phạm vi quốc gia hayquốc tế Các nhà quản trị chiến lược muốn phát triển thị trường cần phải nhạy cảm vớitình hình chính trị ở mỗi khu vực địa lý, dự báo diễn biến chính trị trên phạm vi quốc gia,khu vực, thế giới để có các quyết định chiến lược thích hợp và kịp thời.
Pháp luật đưa ra những quy định cho phép, không cho phép hoặc những đòi hỏi buộc các
doanh nghiệp phải tuân thủ Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong hệ thống luật pháp nhưthuế, đầu tư sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụnhư Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông ra đời cho phép mọi thành phần kinh tế được thamgia cung cấp các dịch vụ chuyển phát thư đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp xâm nhậpvào lĩnh vực cung cấp các dịch vụ Bưu chính nhưng lại tạo nguy cơ cho VNPT khi phảiđối mặt với ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh, môi trường cạnh tranh ngày càng khốcliệt
Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải hiểu rõ tinh thần của luật pháp và chấphành tốt những quy định của pháp luật, nghiên cứu để tận dụng được các cơ hội từ cácđiều khoản của pháp lý mang lại và có những đối sách kịp thời trước những nguy cơ cóthể đến từ những quy định pháp luật tránh được các thiệt hại do sự thiếu hiểu biết về pháp
lý trong kinh doanh
Chính phủ có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chínhsách kinh tế, tài chính, tiền tệ và các chương trình chi tiêu của mình Trong mối quan hệvới các doanh nghiệp chính phủ vừa đóng vai trò là người kiểm soát, khuyến khích, tàitrợ, quy định, ngăn cấm, hạn chế vừa đóng vai trò khách hàng quan trọng đối với doanhnghiệp (trong chương trình chi tiêu của chính phủ) và sau cùng chính phủ đóng vai trò lànhà cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp như cung cấp thông tin vĩ mô, các dịch vụcông cộng khác
1.3 Môi trường văn hóa – xã hội
Bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà những chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận
và tôn trọng, bởi một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể Sự thay đổi của các yếu tố vănhoá xã hội một phần là hệ quả của sự tác động lâu đài của các yếu tố vĩ mô khác, do vậy
nó thường xảy ra chậm hơn so với các yếu tố khác Một số những đặc điểm mà các nhàquản trị cần chú ý là sự tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường có tính dài hạn vàtinh tế hơn so với các yếu tố khác, thậm chí nhiều lúc khó mà nhận biết được Mặt khác,phạm vi tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường rất rộng: "nó xác định cách thức
Trang 7người ta sống làm việc, sản xuất, và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ" Như vậy nhữnghiểu biết về mặt văn hoá - xã hội sẽ là những cơ sở rất quan trọng cho các nhà quản trịtrong quá trình quản trị chiến lược ở các doanh nghiệp Các khía cạnh hình thành môitrường văn hoá xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động kinh doanh như: (l)Những quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, về lối sống, về nghề nghiệp; (2) Những phongtục, tập quán, truyền thống (3) Những quan tâm và ưu tiên của xã hội; Trình độ nhậnthức, học vấn chung của xã hội
1.4 Môi trường dân số
Dân số cũng là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến các yếu tố khác của môi trường
vĩ mô, đặc biệt là yếu tố xã hội và yếu tố kinh tế Những thay đổi trong môi trường dân số
sẽ tác động trực tiếp đến sự thay đổi của môi trường kinh tế và xã hội và ảnh hưởng đếnchiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Những thông tin của môi trường dân số cung cấp những dữ liệu quan trọng cho các nhàquản trị trong việc hoạch định chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường, chiến lược tiếpthị, phân phối và quảng cáo Những khía cạnh cần quan tâm của môi trường dân số baogồm: (l) Tổng số dân của xã hội, tỷ lệ tăng của dân số, (2) Kết cấu và xu hướng thay đổicủa dân số về tuổi tác, giới tính, dân tộc nghề nghiệp, và phân phối thu nhập; (3) Tuổi thọ
và tỷ lệ sinh tự nhiên; (4) Cácxu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng
1.5 Môi trường tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên; đất đai,sôngbiển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng biển, sự trongsạch của môitrường, nước và không khí, Có thể nói các điều kiện tự nhiên luôn luôn làmột yếu tố quan trọngtrong cuộc sống của con người (đặc biệt là các yếu tố của môitrường sinh thái), mặt khác nó cũnglà một yếu tố đầu vào hết sức quan trọng của nhiềungành kinh tế như: nông nghiệp, công nghiệpkhai khoáng, du lịch, vận tải Trong rấtnhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành một yếu tố rất quan trọng đểhình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịchvụ
Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, nhân loại đang chứng kiến sự xuống cấpnghiêm trọng của các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là: Sự ô nhiễm môi trường tự nhiênngày càng tăng; Sự cạn kiệt và khan hiếm của các nguồn tài nguyên và năng lượng; Sựmất cân bằng về môi trường sinh thái Những cái giá mà con người phải trả do sự xuốngcấp của môi trường tự nhiên là vô cùng to lớn, khó mà tính hết được Trước dư luận củacộng đồng cũng như sự lên tiếng của các tổ chức quốc tế về bảo vệ môi trường đang đòihỏi luật pháp của các nước phải khắt khe hơn, nhằm tái tạo và duy trì các điều kiện của
Trang 8môi trường tự nhiên Trong bối cảnh như vậy, chiến lược kinh doanh của các doanhnghiệp phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Một là, ưu tiên phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ nhằm khaithác tốt các điều kiện và lợi thế của môi trường tự nhiên trên cơ sở bảo đảm sự duy trì, táitạo, đặc biệt nếu có thể góp phần tăng cường hơn nữa các điều kiện tự nhiên
Hai là, phải có ý thức tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiênnhiên, đặc biệt cần phải làm cho các nhà quản trị có ý thức trong việc chuyển dần từ việc
sử dụng các nguồn tài nguyên không thể tái sinh trong tự nhiên sang sử dụng các vật liệunhân tạo
Ba là, đẩy mạnh việc nghiên cứu phát triển công nghệ, sản phẩm góp phần bảo vệmôi trường môi sinh, giảm thiểu tối đa những tác động gây ô nhiễm môi trường do hoạtđộng của doanh nghiệp gây ra
1.6 Môi trường công nghệ
Đây là một trong những yếu tố rất năng động chứa đựng nhiều cơ hội và đe doạ đối vớicác doanh nghiệp, những áp lực và đe doạ từ môi trường công nghệ có thể là: Sự ra đờicủa công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thaythế, đe doạ các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu Sự bùng nổ của công nghệmới làm cho công nghệ hiện hữu bị lỗi thời và tạo ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệpphải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh Sự ra đời của công nghệ mớicàng tạo điều kiện thuận lợi cho những người xâm nhập mới và làm tăng thêm áp lực đedọa các doanh nghiệp hiện hữu trong ngành Sự bùng nổ của công nghệ mới càng làmcho vòng đời công nghệ có xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lựcphải rút ngắn thời gian khấu hao so với trước
Bên cạnh những đe doạ này thì những cơ hội có thể đến từ môi trường công nghệ đối vớicác doanh nghiệp có thể là: Công nghệ mới có thể tạo điều kiện để sản xuất sản phẩm rẻhơn với chất lượng cao hơn, làm cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt hơn Thườngthì các doanh nghiệp đến sau có nhiều ưu thế để tận dụng được cơ hội này hơn là cácdoanh nghiệp hiện hữu trong ngành Sự ra đời của công nghệ mới có thể làm cho sảnphẩm có nhiều tính năng hơn và qua đó có thể tạo ra những thị trường mới hơn cho cácsản phẩm và dịch vụ của công ty
Ngoài những khía cạnh trên đây, một số điểm mà các nhà quản trị cần lưu ý thêm khi đềcập đến môi trường công nghệ là: Áp lực tác động của sự phát triển công nghệ và mứcchi tiêu cho sự phát triển công nghệ khác nhau theo ngành Các ngành truyền thông, điện
Trang 9tử, hàng không và dược phẩm luôn có tốc độ đổi mới công nghệ cao, do đó mức chi tiêucho sự phát triển công nghệ thường cao hơn so với ngành dệt, lâm nghiệp và công nghiệpkim loại Đối với những nhà quản trị trong những ngành bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi kỹthuật nhanh thì quá trình đánh giá những cơ hội và đe dọa mang tính công nghệ trở thànhmột vấn đề đặc biệt quan trọng của việc kiểm soát các yếu tố bên ngoài.
Một số ngành nhất định có thể nhận được sự khuyến khích và tài trợ của chính phủ choviệc nghiên cứu phát triển khi có sự phù hợp với các phương hướng và ưu tiên của chínhphủ Nếu các doanh nghiệp biết tranh thủ những cơ hội từ sự trợ giúp này sẽ cặp đượcnhững thuận lợi trong quá trình hoạt động
1.7 Các yếu tố của hội nhập quốc tế
Khu vực hoá và toàn cầu hoá đã, đang và sẽ là một xu hướng tất yếu mà mọi doanhnghiệp, mọi ngành, mọi chính phủ phải tính đến
Môi trường quốc tế sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh hơn bởi các đối thủ đến từ mọi khu vực;Các rào cản thương mại sẽ dần dần được gỡ bỏ, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội kinhdoanh trên nhiều khu vực hơn Hội nhập sẽ làm giảm quan điểm từ những khác biệt về xãhội, văn hoá, cấu trúc thể chế, chính sách và kinh tế Việt Nam là thành viên củaASEAN; của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC-1998) chiếm40% dân số thế giới, 56% GDP và thực hiện 46% tổng giá trị thương mại thế giới; của Tổchức Thương mại thế giới (WTO-T11/2006)
2 Môi trường vi mô
Đối thủ tiềm tàng bao gồm các công ty hiện nay không ra mặt cạnh tranh nhưng vẫn
có khả năng cạnh tranh trong tương lai Sự xuất hiện của đối thủ tiềm ẩn cũng làm tăngcạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong ngành Khả năng cạnh tranh của đối thủ tiềmtàng được đánh giá qua ý niệm " rào cản" ngăn chặn của sự ra nhập vào ngành kinhdoanh Rào cản này bao hàm ý nghĩa 1 doanh nghiệp cần phải tốn kém rất nhiều để có thểtham gia vào một ngành nghề kinh doanh nào đó Phí tổn này càng cao thì rào cản càngcao và ngược lại
Trang 10Các rào cản chính ngăn chặn sự gia nhập: Sự khác biệt của sản phẩm khiến cho kháchhàng trung thành với nhãn hiệu sản phẩm của các công ty có vị thế uy tín vững vàng hoặc
đã đứng vững
2.2 Khách hàng
Công ty cần phải nghiên cứu kĩ khách hàng của mình Nhìn chung có năm dạng thịtrường khách hàng Tất cả những thị trường này bao gồm: Thị trường người tiêu dùng –những hộ dân mua hàng hóa và dịch vụ để sử dụng cho cá nhân Thị trường các nhà sảnxuất – các tổ chức mua hàng và dịch vụ để sử dụng chúng trong quá trình sản xuất Thịtrường nhà buôn bán trung gian - tổ chức mua hàng và dịch vụ để sau đó bán lại kiếm lời.Thị trường các cơ quan Nhà Nước – những tổ chức Nhà nước mua hàng và dịch vụ đểsau đó sử dụng trong lĩnh vực dịch vụ công cộng hoặc chuyển giao hàng hóa và dịch vụ
đó cho những người cần đến nó Thị trường quốc tế - những người mua hàng ở ngoàinước bao gồm những người tiêu dùng, sản xuất bán trung gian và các cơ quan Nhà nước
2.3 Nhà cung ứng
Những nhà cung ứng là những công ty kinh doanh và những cá thể cung cấp cho công ty
và các đối thủ cạnh tranh các nguồn vật tư cần thiết để sản xuất ra những mặt hàng cụ thểhay dịch vụ nhất định
Những sự kiện xảy ra trong môi trường cung ứng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đếnhoạt động của công ty Những người quản trị cần phải chú ý theo dõi giá và các mặt hàngcung ứng bởi vì việc tăng giá vật tư mua về có thể buộc phải nâng giá sản phẩm Thiếumột chủng loại vật tư nào đó, bãi công và những sự kiện khác có thể làm rối loạn về cungứng và lịch gửi sản phẩm cho các khách đặt hàng Trong kế hoạch ngắn hạn sẽ bỏ lỡ khảnăng tiêu thụ và trong kế hoạch dài hạn sẽ làm mất đi thiện cảm của khách hàng đối vớicông ty