1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VỊ THẾ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƠN THÂN TRONG XÃ HỘI HÀN QUỐC HIỆN NAY VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM

28 156 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 177,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VỊ THẾ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƠN THÂN TRONG XÃ HỘI HÀN QUỐC HIỆN NAY VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM Người mẹ đơn thân gần đây đã trở thành đối tượng được nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm nghiên cứu. Tiếp cận dưới góc độ chủ thể hành vi, kết hợp giữa phương pháp điền dã dân tộc học và điều tra khảo sát bảng hỏi xã hội học, luận án đã nhận diện và phân tích vị thế của người mẹđơn thân Hàn Quốc từ chiều cạnh quan hệ xã hội, chính sách và mạng lưới hỗ trợ đồng thời liên hệ với thực tiễn Việt Nam nhằm đưa ra một số gợi mở về chính sách hỗ trợ người mẹ đơn thân tại Việt Nam.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THU VÂN

VỊ THẾ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƠN THÂN TRONG XÃ HỘI HÀN QUỐC HIỆN NAY VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2015

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

I Bài viết Tạp chí chuyên ngành

1 Nguyễn Thị Thu Vân (2012), “Cuộc sống của Mihon-mo trong xã hội Hàn Quốc, những khó khăn và định kiến xã hội”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, Số 01 (Tr.65-75).

2 Nguyễn Thị Thu Vân (2012), “Chính sách hỗ trợ phụ nữ đơn thân của Chính phủ Hàn Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, Số 08 (Tr 35-45).

3 Nguyễn Thị Thu Vân (2015), “Hiện tượng người mẹ đơn thân ở Hàn Quốc và liên

hệ với Việt Nam từ góc nhìn chính sách xã hội”, Tạp chí Nghiên cứu con người, Viện Nghiên cứu con người, số 03 (Tr.45-51).

4 Nguyễn Thị Thu Vân (2015), “Vị thế của người phụ nữ trong xã hội Nho giáo Chosun và mối liên hệ với vấn đề người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 07 (Tr.48-57)

5 Nguyễn Thị Thu Vân (2015), “Vấn đề người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, Số 05 (Tr.78-88).

II Bài báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế

6 응응응응응 (2011), “응응응응응응 응응응응응응 응응응응응 응응응 응응응 응응응 응응 응응”, 응응응, 응응응 응응 응! 응 4 응 응응응 응응 응응응 응응응응, 응응응응응응응응 응응 (Nguyễn Thị Thu Vân (2011), Nghiên cứu về cuộc sống của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc và đề án

hỗ trợ cộng đồng họ, Báo cáo khoa học tại hội thảo quốc tế: Hội thảo Hàn Quốc học Quốc tế thường niên lần thứ 4: “Hàn Quốc học, gặp gỡ thời đại”, Viện Hàn lâm Nghiên cứu Hàn Quốc học Trung Ương, Hàn Quốc, Seoul, Hàn Quốc) (Tr.214-235).

7 응응응응응 (2012), “응응 응응응응응응 응응응 응응 응응 응응” (Nguyễn Thị Thu Vân (2012), Đề

án chính sách hỗ trợ người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay, Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế: Hội thảo Nghiên cứu, Giảng dạy tiếng Hàn và Hàn Quốc học tại Việt Nam kỉ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Hàn Việt

2012, kỉ niệm 18 năm giảng dạy ngành tiếng Hàn, Trường Đ HNN-ĐHQGHN) (Tr.222-244).

Trang 4

8 응응응응응 (2013), “응응응응 응응응 응응응 응응: 응응 응응 응응응응 응응응(응응응) 응응” 응응응 응응응응: 응응

응 응응, 2013 응응응응응응응응응응 응응응응응응(Nguyễn Thị Thu Vân (2013), Việc ghi nhận những phụ nữ bị cách ly và vấn đề chính trị: Cuộc vận động của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay, Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế: Chính trị Hàn Quốc và Thế giới: Ảnh hưởng và Cống hiến, Hội thảo học thuật quốc tế về chính trị Hàn Quốc, Hiệp hội Chính trị Hàn Quốc, Seoul, Hàn Quốc) (Tr.315-336).

9 응응응응응 (2015), “응응응응 응응응 응응응 응응응 응응”, 응응응응응응 응응응응응응 응응응 응응응응응 - 응응

응 응 (Nguyễn Thị Thu Vân (2015), Sự thay đổi của chế độ gia đình Hàn Quốc và vấn đề người mẹ đơn thân, Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế: Đổi mới việc dạy - học và nghiên cứu Hàn Quốc học tại Việt Nam, Trường ĐHNN-ĐHQGHN) (Tr.97-104).

10 Nguyen Thi Thu Van (2015) “A Study on the Social Policy for “Mihon-mo” (Unwed Mothers) in South Korea and Limitations”, Presentation Paper in the

International Conference: 9 th Korean Studies Association of Australasia (KSAA) Biennial Conference: Korean Studies beyond Australasia, University of South Australia, Adelaide (Nguyễn Thị Thu Vân (2015), “Nghiên cứu về chính sách xã hội đối với người mẹ đơn thân ở Hàn Quốc và điểm hạn chế”, Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế lần thứ 9 của Hiệp hội Nghiên cứu Hàn Quốc học Châu Úc (KSAA): Hàn Quốc học bên ngoài Châu Úc, Adelaide, Nam Úc)

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, vấn đề người mẹ đơn thân đã và đang nhận được nhiều sự quantâm chú ý của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách về giađình Ở các quốc gia Châu Á ngày nay, bên cạnh hình thái gia đình truyền thống,ngày càng xuất hiện nhiều hình thái gia đình mới như: gia đình đa văn hóa, giađình khuyết một thành viên Điều này đặt ra nhiều thách thức cho các nhà nghiêncứu, các nhà hoạch định chính sách về gia đình

Tại Hàn Quốc, từ lâu “Mihon-mo” (người mẹ đơn thân) được coi là một hiệntượng bất bình thường và là vấn đề xã hội, có ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội vàhình thái gia đình truyền thống vốn đã tồn tại từ lâu đời Trong bối cảnh đó, nhữngngười mẹ đơn thân thường gặp nhiều khó khăn, đối mặt với những định kiến xãhội Tuy nhiên, từ sau những năm 1990, cùng với sự biến đổi của loại hình giađình và hoạt động hỗ trợ của các tổ chức phúc lợi xã hội, những người mẹ đơnthân đã dần thoát ra khỏi những quy phạm của xã hội truyền thống, khẳng định và

vị thế của mình như một kiểu gia đình mới Vấn đề người mẹ đơn thân và con cáicủa họ cũng đã trở thành một chủ đề học thuật và được công chúng, dư luận quantâm

Ở Việt Nam, hình thái gia đình cũng đang có những thay đổi nhanh chóng,nhất là từ sau Đổi mới 1986 đến nay Vấn đề người mẹ đơn thân ở Việt Nam cũngkhông nằm ngoài những đặc điểm chung của hiện tượng này trên thế giới, đangngày càng trở nên phổ biến

Tuy vậy, các nghiên cứu về vấn đề người mẹ đơn thân trong thời gian vừaqua chủ yếu tiếp cận vấn đề này trong “cấu trúc xã hội” nên chưa phản ánh đượcmột cách sâu sắc những vấn đề về nội tâm, quan niệm và những khó khăn củangười mẹ đơn thân với tư cách là chủ thể hành vi Các nghiên cứu này chủ yếu sửdụng phương pháp điều tra thống kê học, y học nên còn hạn chế trong việc khámphá những mặt tâm lý xã hội, tâm thế ẩn chứa bên trong vấn đề người mẹ đơnthân, hoặc chưa sử dụng nhiều phương pháp văn hóa - so sánh, vốn rất cần thiết để

có cái nhìn rộng hơn về vấn đề này trong bối cảnh quốc tế

Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh đã quyết định lựa chọn đề tài “Vị thế

của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình Nghiên cứu đề tài được

mong đợi sẽ có những đóng góp cụ thể cả về khoa học lẫn thực tiễn

Trang 6

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Cung cấp nguồn tư liệu mới, cụ thể, khoa học và có hệ thống về vị thế củangười mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay và liên hệ với thực tiễn Việt Nam

- Phân tích và lý giải nguyên nhân, những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến

vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc và Việt Nam

- Gợi mở và đưa ra một số đề xuất nhằm xây dựng và cải thiện chính sách

hỗ trợ người mẹ đơn thân tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vị thế xã hội của người mẹ đơn thân HànQuốc hiện nay và liên hệ so sánh với người mẹ đơn thân tại Việt Nam Khách thểnghiên cứu là những người mẹ đơn là thành viên của Hiệp hội Gia đình người mẹđơn thân Hàn Quốc (KUMFA) và nhóm người mẹ đơn thân là thành viên của Hộinhững người mẹ đơn thân Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Tại Hàn Quốc: lấy mốc thời gian từ sau 1990 (khi hình thái gia đình HànQuốc có nhiều thay đổi và vấn đề người mẹ đơn thân bắt đầu nhận được dư luận

xã hội và các nhà nghiên cứu quan tâm)

- Nhóm người mẹ đơn thân Hàn Quốc: Nghiên cứu thực hiện tại Seoul, trong

đó tập trung ở Hiệp hội gia đình người mẹ đơn thân Hàn Quốc (KUMFA)

Tại Việt Nam: Bối cảnh kinh tế xã hội được chọn là từ sau Đổi mới (1986) thời kỳ có nhiều biến đổi về kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng, tác động không nhỏtới loại hình, cấu trúc gia đình tại Việt Nam

Nhóm người mẹ đơn thân Việt Nam: Nghiên cứu thực hiện tại Hà Nội, trong

đó tập trung ở nhóm người mẹ đơn thân thuộc Hội những người mẹ đơn thân ViệtNam

4 Nguồn tư liệu của luận án

- Nguồn tư liệu chủ yếu của luận án là kết quả điều tra qua nhiều đợt điền

dã dân tộc học trong quá trình nghiên cứu thực tế tại Seoul, Hàn Quốc và Hà Nội,Việt Nam Đáng kể nhất là các đợt nghiên cứu dài ngày vào các năm 2010,2011(để thực hiện luận văn Thạc sĩ tại Hàn Quốc), trong năm2013 tại Hàn Quốc

và năm 2014, nửa đầu năm 2015 tại Hà Nội

- Kế thừa kết quả của các nghiên cứu đi trước và nguồn tài liệu thống kêcủa các tổ chức, cơ quan hữu quan

5 Đóng góp của luận án

Trang 7

- Trình bày một cách có hệ thống, chuyên sâu đồng thời nhận diện đượcthực trạng vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc, các chính sách xãhội hỗ trợ họ, hoạt động của các tổ chức đoàn thể bảo vệ quyền lợi cho họ

- Liên hệ với thực tiễn của hiện tượng người mẹ đơn thân tại Việt Nam,cho thấy những khó khăn mà họ trải qua trong suốt quá trình mang thai - sinh con

- tham gia xã hội dưới con mắt của người trong cuộc

- Kết quả nghiên cứu của luận án là luận cứ khoa học giúp cho việc xâydựng chính sách hỗ trợ cho người mẹ đơn thân tại Việt Nam

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về người mẹ đơn thân tại phương Tây

Cho đến nay, có không ít các công trình nghiên cứu về người mẹ đơn thân trênthế giới đã được công bố rộng rãi Đặc biệt ở các quốc gia mà chính sách phúc lợi

đi đầu như Anh, Đức, Na-uy, Pháp thì các nghiên cứu về người mẹ đơn thân rất đadạng Qua các công trình đó, có thể thấy một bức tranh toàn cảnh về thực trạng,khó khăn mà người mẹ đơn thân nuôi con gặp phải cũng như các luận điểm, các

đề xuất về phương án hỗ trợ họ Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:

Going it alone? Lone motherhood in late modernity (Làm mẹ một mình? Tình mẹ trong thời kỳ hậu hiện đại) của tác giả Klett-Davies Martina xuất bản năm 2001; Diminished rights, Danish lone mother families in international contexts (Quyền lợi bị giảm bớt, Các gia đình người mẹ đơn thân Đan Mạch trong bối cảnh quốc tế) của các tác giả Polakow Valerie, Halskov Therese và Jorrgense Per Schultz,

xuất bản năm 2001 v.v… Các nghiên cứu nàyđề cập đến nhiều khía cạnh đa dạngnhư: vấn đề nhân quyền, trong đó nhấn mạnh quyền làm mẹ, vấn đề phúc lợi xãhội v.v… Các nghiên cứu thường tập trung phân tích nội tâm của người mẹ đơnthân thông qua nội dung phỏng vấn sâu, so sánh chế độ phúc lợi xã hội đối vớingười mẹ đơn thân ở các xã hội khác nhau, qua đó cho cái nhìn tổng quát về vấn

đề người mẹ đơn thân tại phương Tây

1.1.2 Nghiên cứu về người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc

Các công trình nghiên cứu về nguyên nhân phát sinh của hiện tượng người mẹ

đơn thân tại Hàn Quốc, có thể kể đến“Nghiên cứu về nguyên nhân phát sinh và

chính sách phúc lợi đối với người mẹ đơn thân và con cái, Lấy trọng tâm là người

Trang 8

mẹ đơn thân làm việc ở khu vực Masan, Ulsan” củaLee Seok-jae năm 1985;

“Phân tích nguyên nhân phát sinh hiện tượng người mẹ đơn thân” của Bae

Mee-young năm 2000;“Sự ủng hộ của xã hội đối với người mẹ đơn thân và hy vọng

của họ” của Jeong Maria và cộng sự năm 2000;“Nghiên cứu về điều tra thực trạng gia đình ông bố bà mẹ đơn thân tỉnh Gyeonggi-do và phương án hỗ trợ”của

Ahn Tae-yun và cộng sự năm 2010;“Nguyên nhân phát sinh hiện tượng người mẹ

đơn thân và đề án dự phòng nhìn từ góc độ phúc lợi gia đình” của Son

Hong-sook năm 1995 hay “Nghiên cứu về chính sách tổng hợp cho gia đình phụ nữ đơnthân” của Huh Nam-soon và cộng sự năm 2005 Các nghiên cứu này tiếp cận vấn

đề ở hai hướng: vi mô và vĩ mô từ đó kết luận rằng nguyên nhân dẫn đến hiệntượng người mẹ đơn thân là nguyên nhân phức hợp, không chỉ đơn giản, mộtchiều, mà cần nhìn nhận từ nhiều chiều cạnh khác nhau, bao gồm nhiều yếu tốnhư: bối cảnh xã hội, hoàn cảnh gia đình của mỗi cá nhân

Về thực trạng của hiện tượng người mẹ đơn thân, có thể kể đến “Nghiên cứu

thực trạng đảm bảo quyền nuôi con của người mẹ đơn thân độ tuổi thanh thiếu niên”của Hong Soon-hye và cộng sự năm 2008;“Thực trạng sinh hoạt của gia đình người mẹ đơn thân tỉnh Gyeonggi-do” của Lee Mi-jeong năm 2011; “Thực trạng và những tranh cãi liên quan đến người mẹ đơn thân” của Kong Il-sook

năm 2005; “Cuộc vận động ủng hộ quyền lợi của người mẹ đơn thân trong xã hội

Hàn Quốc hiện nay” của Nguyễn Thị Thu Vân năm 2011 Các nghiên cứu này

chủ yếu đưa ra những con số thống kê về độ tuổi, học vấn, tỉ lệ lựa chọn cho connuôi hay nuôi con một mình, dựa vào kết quả điều tra ở một số người mẹ đơn thânnhất định, thường là những nhóm người mẹ đơn thân cư trú trong các khu nhà tạmtrú (shelter)

Về mạng lưới hỗ trợ người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc, các nghiên cứu trướcđây chủ yếu nghiên cứu các tổ chức của xã hội dân sự, các NGOs đang vận độngủng hộ quyền lợi của người mẹ đơn thân, xây dựng các khu nhà tạm trú cho họ

Một số công trình tiêu biểu như “Phương án cải thiện dịch vụ phúc lợi hỗ trợ

người mẹ đơn thân nuôi con” của Lee Mi-jeong năm 2011, “Luận bàn nhằm bảo

vệ quyền nuôi con của người mẹ đơn thân: Lấy trọng tâm bàn về vấn đề cho nhận con nuôi” của Kang Eun-hwa năm 2006 Các công trình này nhấn mạnh sự thiếu

hụt trong chính sách hỗ trợ người mẹ đơn thân của Chính phủ Hàn Quốc hiện nay

1.1.3 Nghiên cứu về người mẹ đơn thân tại Việt Nam

Nghiên cứu về người mẹ đơn thân hay gia đình đơn thân ở Việt Nam chưa

nhiều Có thể kể đến các nghiên cứu“Một mình mẹ đẻ con” của Lê Thị Nhâm

Trang 9

Tuyết năm 1992,“Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” của Lê Thi và cộng sự năm

1996, “Cuộc sống của phụ nữ đơn thân ở Việt Nam”của Lê Thi năm 2002, ‘Phụ

nữ đơn thân và quyền được hạnh phúc lứa đôi” của Lê Thi năm 2002, “Chính

sách nhà ở cho hộ phụ nữ nghèo, đơn thân và đang nuôi con nhỏ tại thành phố

Đà Nẵng” của Trần Thị Như Quỳnh và Ông Thị Thanh Vân năm 2014, “Công tác

xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã nghĩa thái huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An” của Vũ Thị Phương Hảo năm 2011 Các nghiên cứu này chủ yếu tìm

hiểu thực trạng người mẹ đơn thân lớn tuổi ở Việt Nam, tập trung ở một phạm vinhỏ (xã, huyện) thông qua nội dung điều tra phỏng vấn Ngoài ra, còn có một sốnghiên cứu có đề cập ít nhiều đến người mẹ đơn thân và sự biến đổi của hôn nhân,

gia đình Việt Nam như: “Thái độ của thanh thiếu niên Việt Nam về hôn nhân và

gia đình” của Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Hồng năm 2011, Xã hội học gia đình” của Mai Huy Bích năm 2011, “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam”

của Lê Ngọc Văn năm 2011, “Gia đình nông thôn Việt Nam trong thời kỳ chuyển

đổi” của Trịnh Duy Luân và cộng sự năm 2008, “Gia đình nông thôn Việt Nam

trong thời kỳ Đổi mới”của Trịnh Duy Luân và cộng sự năm 2011, “Nghiên cứu về gia đình và giới trong thời kỳ Đổi mới” của Nguyễn Hữu Minh năm 2010, v.v

1.2 Một số khái niệm

Luận án đã làm rõ một số khái niệm cơ bản như: người mẹ đơn thân, vị thế,

vị thế xã hội, hôn nhân, gia đình, chính sách xã hội Về khái niệm “người mẹ đơnthân”, luận án sử dụng khái niệm “người mẹ đơn thân” sát nghĩa với từ “mihon-mo” trong tiếng Hàn Quốc hay “single mom” trong tiếng Anh Điều này tạo thuậnlợi khi so sánh với thực trạng “mihon-mo” trong xã hội Hàn Quốc, hoặc khi gắnvới các lý thuyết về “single mom” ở các nước phương Tây

1.3 Cơ sở lý thuyết

1.3.1 Lý thuyết dán nhãn (phản ứng xã hội)

Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi tìm hiểu nội dung của nhữngquy phạm, quan điểm, giá trị mang tính truyền thống về hôn nhân và gia đìnhtrong xã hội Hàn Quốc và Việt Nam và sự tác động đến cuộc sống của người

mẹ đơn thân như thế nào, khiến họ trở thành một nhóm đối tượng bị “dánnhãn”, tách biệt với cộng đồng và gặp nhiều khó khăn

1.3.2 Lý thuyết đàm luận xã hội về người mẹ đơn thân

“Lý thuyết đàm luận xã hội” cho rằng trong một xã hội, cách nhìn nhận

người mẹ đơn thân không phải là điều vốn tồn tại sẵn có mà được hình thành từ

chính những “đàm luận xã hội”(social discourses) xoay quanh người mẹ đơn

Trang 10

thân Đây chính là cách mà mọi người trong xã hội nhìn nhận, đánh giá, tiếp nhậnngười mẹ đơn thân Vận dụng khung lý thuyết này, luận án tìm hiểu và phân tíchnhững đàm luận về người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc có ảnh hưởng nhưthế nào đến vị thế của họ và họ đã tìm ra những cách thức nào để đối phó và thíchứng, từ đó bảo vệ và nâng cao vị thế cho chính họ trong xã hội

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là điều tra thực địa nhân học,kết hợp với phương pháp điều tra khảo sát bảng hỏi xã hội học Nhóm đối tượngkhách thể được lựa chọn phỏng vấn sâu là 20 người mẹ đơn thân ở Seoul, 20người mẹ đơn thân ở Hà Nội Phiếu điều tra xã hội học được thực hiện online vớihai nhóm đối tượng từ 20-40 tuổi và từ 41-60 tuổi Ngoài ra, tác giả luận án sửdụng phương pháp quan sát cùng tham gia và phương pháp tọa đàm lấy ý kiếnchuyên gia

1.5 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Về địa bàn nghiên cứu, đối với nhóm đối tượng nghiên cứu ở Hàn Quốc,chúng tôi nghiên cứu theo mốc thời gian từ sau những năm 1990, tập trung ởnhóm người mẹ đơn thân đang mang thai, nuôi con và có mối liên hệ mật thiết với

tổ chức Hiệp hội gia đình người mẹ đơn thân Hàn Quốc (KUMFA) tại khu vựcSeoul, Hàn Quốc Điểm nghiên cứu thứ nhất được chọn - Seoul - là thủ đô và cũng

là trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục v.v… lớn nhất của Hàn Quốc.Đối với nhóm đối tượng nghiên cứu ở Việt Nam, bối cảnh kinh tế xã hội đượcchọn là từ sau Đổi mới (1986) - thời kỳ có nhiều biến đổi về kinh tế - xã hội và cóảnh hưởng, tác động không nhỏ tới loại hình, cấu trúc gia đình tại Việt Nam.Nghiên cứu thực hiện tại Hà Nội, trong đó tập trung ở nhóm người mẹ đơn thânthuộc Hội những người mẹ đơn thân Việt Nam

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã đưa ra tổng quan các công trình nghiên cứu về người mẹ đơnthân tại phương Tây, Hàn Quốc và Việt Nam, đồng thời đưa ra cơ sở lý luận, cáckhái niệm cũng như phương pháp, địa bàn nghiên cứucủa luận án Khi tiến hànhnghiên cứu về vị thế xã hội của người mẹ đơn thân, luận án xem xét các vấn đềdựa trên cơ sở lý luận là: lý thuyết về phản ứng xã hội hay còn gọi là lý thuyết dánnhãn cùng với khung lý thuyết về đàm luận xã hội về người mẹ đơn thân Vậndụng hai lý thuyết này, luận án đã tìm hiểu nội dung của những quy phạm, quanđiểm, giá trị mang tính truyền thống về hôn nhân và gia đình trong xã hội Hàn

Trang 11

Quốc và Việt Nam đã tác động đến cuộc sống của người mẹ đơn thân như thế nào,khiến họ trở thành một nhóm đối tượng bị “dán nhãn”, tách biệt với cộng đồng vàgặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, luận án cũng tìm hiểu các đàm luận xã hộivềngười mẹ đơn thân có ảnh hưởng như thế nào đến vị thế của họ trong xã hội HànQuốc và liên hệ với thực tiễn Việt Nam

Trong nghiên cứu này, phương pháp điền dã dân tộc học, phương pháp sosánh, phương pháp điều tra khảo sát bảng hỏiđã được sử dụng để xem xét và đánhgiá những vấn đề của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc và Việt Nam.Luận án sử dụng khái niệm “người mẹ đơn thân”, tuy nhiên chỉ tập trung vàonhóm những người mẹ trẻ, chưa kết hôn, có con và nuôi con một mình trong khingười cha của đứa trẻ thường chối bỏ trách nhiệm, hoặc có trợ cấp nhưng không

có ý định kết hôn hay chung sống, và tìm hiểu, nhận diện vị thế của người mẹ đơnthân trong xã hội Hàn Quốc cũng như Việt Nam

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỊ THẾ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƠN THÂN Ở HÀN QUỐC

TỪ CHIỀU CẠNH QUAN HỆ XÃ HỘI

2.1.Bối cảnh văn hóa xã hội có liên quan đến vị thế của người mẹ đơn thân

2.1.1 Hệ tư tưởng Nho giáo và gia đình gia trưởng thời kỳ Chosun

Tại Hàn Quốc, sự bám rễ và chiếm giữ vị trí độc tôn của Nho giáo đã khiếncho đến ngày nay, những gia đình trong đó khuyết đi vai trò của nam giới như giađình người mẹ đơn thân thường khó được công nhận, gặp phải nhiều khó khăn vàđịnh kiến trong cuộc sống

2.1.2 Sự ra đời của chế độ chủ hộ thời kỳ Thực dân

Quan điểm Nho giáo của thời kỳ Chosun như trên khi bước vào thời kỳ Thựcdân (khi Hàn Quốc bị Nhật chiếm đóng), đã được chính thức hóa về mặt luật phápthông qua việc thiết lập chế độ chủ hộ (Hojuje) Chế độ chủ hộ đã thể chế hóa kiểumẫu gia đình trong đó người chồng - nam giới đóng vai trò chủ hộ, người vợ vàcon cái sẽ nhập tịch vào gia đình có chồng hay cha làm chủ hộ Điều này khiếnngười mẹ đơn thân và con cái của họ không được công nhận về mặt luật pháp nhưmột gia đình

2.1.3 Đô thị hóa - Hiện đại hóa, hội nhập và sự biến đổi của hình thái gia đình Hàn Quốc

Trang 12

Vào đầu thập niên 1960, Hàn Quốc bắt đầu bước vào quá trình đô thị hóa,hiện đại hóa Quá trình nàycũng đi kèm với sự du nhập văn hóa phương Tây và đãmang lại những chuyển biến sâu sắc trong cấu trúc xã hội Hàn Quốc Những quyphạm mang tính đạo đức, gia đình, xã hội truyền thống trở nên yếu dần, trong đóđặc trưng của gia đình theo chế độ gia trưởng, trong đó nam giới là chủ gia đình,cũng giảm đi trong bối cảnh hội nhập với văn hóa phương Tây Tỉ lệ sống thử vàquan hệ trước hôn nhân tăng cao, và kết quả là xuất hiện ngày càng nhiều nhữngngười mẹ trẻ mang thai, nuôi con một mình, và nổi lên thành vấn đề mang tính xãhội Gần đây, số lượng người mẹ đơn thân có trình độ học vấn cao ngày mộtnhiều Họ cùng với các nhà hoạt động xã hội đã và đang lên tiếng đòi quyền lợi,đòi công nhận như một hình thái gia đình mới Họ đã và đang nỗ lực để cải thiện

vị thế của mình so với trước đây Điều này mang đến một diện mạo mới cho bứctranh toàn cảnh về cuộc sống của người mẹ đơn thân cùng con cái của họ

2.2 Thực trạng vị thế của người mẹ đơn thân Hàn Quốc hiện nay

2.2.1 Quy mô và xu hướng biến đổi của nhóm người mẹ đơn thân trong

xã hội Hàn Quốc hiện nay

Trong thời gian qua, tại Hàn Quốc, các thống kê mang tính hệ thống về người

mẹ đơn thân chưa thật đầy đủ Các nghiên cứu đã có chủ yếu chỉ hạn chế ở nhómngười mẹ đơn thân sống trong các khu nhà tạm trú (shelter), còn các nghiên cứu

về người mẹ đơn thân sống ở các địa phương thì rất ít

Về độ tuổi, theo nghiên cứu có thể thấy sự đa dạng về nhóm tuổi và xu thếbiến đổi của từng nhóm tuổi của người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc từ năm 2005-

2009 Về học vấn của người mẹ đơn thân,theo tài liệu điều tra thống kê từ thậpniên 1980 đến những năm 2000, học vấn của người mẹ đơn thân đang trong xu thếtăng lên Mặt khác, có xu hướng tăng lên về số lượng của nhóm người mẹ đơnthân lựa chọn nuôi con, thay vì cho con nuôi (trong nước hoặc nước ngoài)

Về điều kiện sống, người mẹ đơn thân có mức thu nhập rất thấp so với thunhập bình quân đầu người

2.2.2 Định kiến xã hội và những khó khăn đối với người mẹ đơn thân

Kết quả khảo sát cho thấy, ở chiều cạnh quan hệ xã hội, người mẹ đơn thântại Hàn Quốc bị ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ từ các mối quan hệ chồng chéo

Họ luôn bị “dán nhãn” là một nhóm bất bình thường, đi ngược lại các chuẩn mực

và quy phạm truyền thống Mặt khác, họ cũng là nhóm người chịu nhiều định kiến

xã hội đến từ các luồng đàm luận xã hội đối với họ Ở Hàn Quốc hiện nay có hailuồng đàm luận xã hội phổ biến về người mẹ đơn thân: đàm luận vấn đề xã hội,

Trang 13

cho rằng người mẹ đơn thân đã trở thành vấn đề của xã hội, cần sự giúp đỡ; trongkhi đàm luận thách thức xã hội cho rằng người mẹ đơn thân là yếu tố thách thức

sự ổn định của xã hội, đến hình thái gia đình truyền thống Hàn Quốc xưa nay.Những định kiến xã hội như vậy đã khiến họ phải trải qua những khó khăn và áplực lớn trong quá trình mang thai và sinh con và tham gia xã hội Họ cũng thườngphải đối diện với sự phản đối, chê trách hay cái nhìn thờ ơ, ruồng bỏ từ cha đứa

bé, gia đình bố mẹ đẻ, gia đình bạn trai và xã hội

Gần đây, tỷ lệ người mẹ đơn thân có trình độ học vấn cao đang tăng dần, và họ

đã lên tiếng đòi quyền lợi cho bản thân mình Tuy vậy các định kiến xã hội nàyvẫn còn và gây ra nhiều khó khăn trong cuộc sống cho người mẹ đơn thân, làmgiảm vị thế của họ trong xã hội so với các nhóm người khác

Tiểu kết chương 2

Tại Hàn Quốc, dưới sức ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo,người mẹ đơnthân và con cái của họ khó có thể được chấp nhận như một loại hình gia đình bìnhthường, gặp phải nhiều định kiến, hạn chế về vị thế kinh tế, xã hội so với cácnhóm phụ nữ khác Bước sang thời kỳ Thực dân, chế độ chủ hộ được hình thành

và có thể coi chính là sự thể chế hóa kiểu mẫu gia đình gia trưởng thời kỳ Chosuntrong đó người chồng - nam giới đóng vai trò chủ hộ, người vợ và con cái sẽ nhậptịch vào gia đình có chồng hay cha làm chủ hộ Điều này khiến người mẹ đơn thân

và con cái của họ không được công nhận về mặt luật pháp như một gia đình.Chuyển sang thời kỳ đô thị hóa, hiện đại hóa, đi kèm với sự du nhập văn hóaphương Tây, xã hội Hàn Quốc đã đứng trước những chuyển biến sâu sắc trong cấutrúc xã hội, trong đó dễ thấy nhất là sự suy yếu của mối quan hệ uy quyền mangtính gia trưởng cùng các quy phạm, giá trị của gia đình truyền thống Hàn Quốc.Mặt khác, tỉ lệ sống thử và quan hệ trước hôn nhân tăng cao, và kết quả là xuấthiện ngày càng nhiều những người mẹ trẻ mang thai, nuôi con một mình, và nổilên thành vấn đề mang tính xã hội

Chương 2 đã đi sâu tìm hiểu và nhận diện thực trạng vị thế của người mẹ đơnthân trong xã hội Hàn Quốc ở chiều cạnh quan hệ xã hội Thực tế nghiên cứu đãcho thấy, đàm luận xã hội, cùng với việc “dán nhãn”đối với người mẹ đơn thân đãtác động trực tiếp đến cuộc sống của người mẹ đơn thân Họ cùng con cái củamình khó có thể được công nhận như một hình thái gia đình bình thường Trongquá trình mang thai, sinh con và tham gia xã hội, thay vào việc nhận được sự ủng

hộ, động viên về tinh thần cũng như hỗ trợ về vật chất từ cha của đứa trẻ, gia đình

Trang 14

như những phụ nữ khác, cái họ nhận được thường là cái nhìn xa lánh, ghẻ lạnh từgia đình, những người thân ruột thịt cũng như gia đình bạn trai Họ thường rơi vàotrạng thái tâm lý bất ổn, lo lắng, căng thẳng Thêm vào đó, sự xa lánh và phân biệtđối xử của những người xung quanh cũng khiến họ gặp nhiều hạn chế trong côngviệc, gây ảnh hưởng đến thu nhập và ổn định về kinh tế Những đứa con của họcũng gặp phải nhiều khó khăn và kì thị từ bạn bè, môi trường xung quanh

CHƯƠNG 3

VỊ THẾ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƠN THÂN TỪ CHIỀU CẠNH CHÍNH SÁCH

VÀ MẠNG LƯỚI HỖ TRỢ 3.1 Vị thế của người mẹ đơn thân và hệ thống phúc lợi đối với họ

3.1.1 Chính sách xã hội của chính phủ Hàn Quốc đối với người mẹ đơn thân

Chính sách xã hội đối với người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc được thực hiện căn

cứ theo Luật hỗ trợ gia đình khuyết một thành viên nói chung, trong đó có gia đình

người mẹ đơn thân và con cái của họ Cụ thể hóa Luật này, chính sách xã hội củaHàn Quốc đối với người mẹ đơn thân có hai nội dung chính sau: 1) Đầu tư và hỗ trợnơi ở tạm thời (thành lập, vận hành các khu nhà tạm trú) cho các gia đình khuyếtmột thành viên, trong đó có gia đình người mẹ đơn thân và con cái của họ, với mụcđích giúp họ giải quyết những khó khăn về cư trú, tạo điều kiện để tự lập; 2) Hỗ trợ

cụ thể về vật chất như chi phí nuôi con, miễn giảm học phí cho con cái các gia đìnhđối tượng thụ hưởng chính sách

3.1.2 Đánh giá về chính sách xã hội đối với người mẹ đơn thân

Các chính sách xã hội đối với người mẹ đơn thân ở Hàn Quốc đã phát huyđược tính hiệu quả của nó, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định

Về hiệu quả, chính sách xã hội trước hết đã góp phần hỗ trợ người mẹ đơnthân cả về vật chất lẫn tinh thần ở một mức độ nhất định Các khu nhà tạm trú đềuđược đánh giá là có nhiều chương trình phong phú, đa dạng, trong đó đặc biệt làchương trình chăm sóc sức khỏe, chương trình hỗ trợ người mẹ đơn thân họcnghề, chuẩn bị cho quá trình tự lập

Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả đạt được, các chính sách này vẫn bộc lộnhững hạn chế nhất định Trước hết, về chi phí hỗ trợ vật chất, đa số những người

mẹ đơn thân được phỏng vấn đều cho rằng chi phí hỗ trợ trên vẫn còn quá ít ỏitrong việc nuôi con một mình

Ngày đăng: 20/07/2019, 00:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w