1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bức tranh thiên nhiên và phong tục tập quán trong Miền Tây của Tô Hoài

47 512 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 252,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bức tranh thiên nhiên và của Tô Hoài phong tục tập quán Miền Tây 1. Tô Hoài là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX. Trước và sau cách mạng Tô Hoài đều có những đóng góp rất đáng kể. Trong sự nghiệp của mình, đề tài miền núi tuy là một mảng đề tài mới, tác giả chỉ gắn bó với nó từ sau cách mạng nhưng lại đưa đến cho nhà văn nhiều thành công. Cùng với Nam Cao, Tô Hoài được xem là nhà văn có công khai phá đề tài miền núi trong văn học cách mạng Việt Nam, chung thủy và thành công đỉnh cao với nó. Ở đề tài miền núi, Tô Hoài thành công trên tất cả thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết và ký. Những tác phẩm viết về đề tài miền núi đã đưa vị trí của Tô Hoài lên tầm cao trong văn học Việt Nam hiện đại. 2. Có thể nói xuyên suốt giai đoạn sáng tác Tô Hoài đã tạo cho mình một phong cách riêng, có những nét đặc trưng riêng biệt, độc đáo. Nhưng ở tác phẩm Miền Tây, phong cách nghệ thuật được ông nâng cao hơn, đưa đến nhiều thành công xuất sắc – đặc biệt thành công ở nghệ thuật miêu tả. Tô Hoài giỏi miêu tả thiên nhiên, khi miêu tả nhà văn nắm được cái thần của cảnh vật nên chỉ bằng vài nét chấm phá cũng gợi dựng được một bức tranh bốn mùa sinh động. Dưới ngòi bút của Tô Hoài, thiên nhiên miền núi hiện lên vừa thơ mộng, vừa dữ dội, một thiên nhiên gắn bó trực tiếp với con người, là môi trường quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Khi miêu tả thiên nhiên cũng là lúc chất thơ, chất trữ tình trong văn Tô Hoài phát lộ. 3. Tô Hoài trong các sáng tác của mình đã giành nhiều trang miêu tả phong tục, sinh hoạt của người dân miền núi rất đặc sắc, với màu sắc dân tộc đậm đà, với những chi tiết độc dáo, sinh động của một cây bút có các quan sát thông minh, sắc sảo. Tất cả những phong tục tập quán được Tô Hoài miêu tả đều làm nền cho nội dung tác phẩm, soi sáng số phận của mỗi dân tộc. Tác giả tái hiện cuộc sống, tôn trọng tính chân thực, tôn trọng bản sắc dân tộc của con người nơi đây. Sắc thái Tây Bắc hiện lên rõ trong từng trang viết của ông. 4. Trải qua nhiều chặng đường sáng tác khác nhau nhưng Tô Hoài luôn tạo cho mình một phong cách riêng, độc đáo. Viết về thiên nhiên và phong tục tập quán đã đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng nội dung, chủ đề tác phẩm và nó cũng là một phong cách sáng tác của Tô Hoài. Để khẳng định phong cách này, tác giả đã không ngừng học hỏi, chiếm lĩnh cái mới, sáng tạo cái độc đáo. Bức tranh thiên nhiên và phong tục tập quán trong đề tài viết về miền núi của Tô Hoài là một đóng góp tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam hiện đại.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

2.1.Tổng quan các công trình nghiên cứu về Tô Hoài 2

2.2.Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Cấu trúc niên luận 5

Chương 1 Tổng quan về đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài 6

1 Khái niệm đề tài 6

1.2.Đề tài miền núi trong văn học 7

1.2.1.Thời kì trước cách mạng 7

1.2.2.Thời kỳ sau cách mạng 8

1.3.Vị trí của văn xuôi về đề tài miền núi của Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam hiện đại 9

Chương 2 Thiên nhiên và phong tục, tập quán trong Miền Tây 13

2.1.Thiên nhiên trong Miền Tây 13

2.1.1.Khái niệm miêu tả 13

2.1.2.Về nghệ thuật miêu tả trong tác phẩm của Tô Hoài 14

2.1.3.Thiên nhiên vừa thơ mộng, trữ tình vừa khắc nghiệt, dữ dội 15

2.1.4.Thiên nhiên trong quan hệ với cuộc sống con người 20

2.2.Phong tục, tập quán trong Miền Tây 23

2.2.1.Khái niệm phong tục, tập quán 23

2.2.2.Phong tục, tập quán mang bản sắc dân tộc 25

2.2.3 Ý nghĩa của việc thể hiện phong tục, tập quán trong thể loại tiểu thuyết 25

2.2.4.Bức tranh sinh động về phong tục, tập quán 26

Trang 2

Chương 3 Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và phong tục, tập quán trong Miền

Tây 30

3.1.Phương tiện và các biện pháp tu từ 30

3.1.1.Từ láy 30

3.1.2.So sánh 32

3.1.3.Ẩn dụ bổ sung 34

3.1.4.Nhân hóa 36

3.2 Ngôn ngữ 37

KẾT LUẬN 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 3

1 Lí do chọn đề tài

Tô Hoài là một trong những cây bút văn xuôi sắc sảo, đa dạng, là nhàvăn có vị trí đặc biệt trong nền văn học Việt Nam hiện đại Nói đến Tô Hoàingười ta thường nhắc đến một nhà văn có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, đãnêu cao tấm gương lao động cần mẫn, bền bỉ và giàu sức sáng tạo để làm nênnhững tác phẩm có giá trị lâu bền trong lòng người đọc Có thể thấy, mọihành trình của Tô Hoài sau năm 1945 đều in dấu lên những trang viết, đều trởthành chất liệu sáng tác của ông

Tô Hoài viết thành công và có những đóng góp đặc sắc trong bốn mảng

đề tài lớn: vùng quê ngoại thành Hà Nội, miền núi Việt Bắc – Tây Bắc trongkháng chiến và xây dựng xã hội chủ nghĩa, sáng tác cho thiếu nhi, chân dung

và hồi ức Điều đáng chú ý là ở bất kì mảng đề tài nào, Tô Hoài đều có nhữngtác phẩm đặc sắc, được dư luận và các nhà nghiên cứu – phê bình đón nhận vàđánh giá cao

Có thể nói, Tô Hoài có một “nhãn quan phong tục” đặc biệt nhạy cảm

và sắc sảo Trước cách mạng tháng Tám, viết về nông thôn,ông đã giúp độcgiả hiểu thế nào là tục tảo hôn, thế nào là tục ma chay, giỗ Tết, nạn nặc nô đòi

nợ, cách chữa bệnh theo mê tín dị đoan… của người dân một vùng ngoại ô HàNội Sau cách mạng tháng Tám, Tô Hoài lại đem đến cho người đọc nhữnghiểu biết về những phong tục lạ của đồng bào các dân tộc ít người vùng TâyBắc Gần đây, người ta thấy Tô Hoài trở lại với những phong tục của Hà Nộixưa để tiếp tục phát huy sở trường của mình

Tô Hoài là một trong những nhà văn viết về miền núi với một phongcách sáng tạo độc đáo, đặc biệt là nghệ thuật tả cảnh, phong tục tập quán,nghệ thuật miêu tả nhân vật, nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật trần thuật.Trong những trang viết miêu tả về thiên nhiên, phong tục tập quán của miềnnúi Tây Bắc là những trang viết thành công nhất của tác giả Có được điềunày là nhờ sự am hiểu sâu sắc, gần gũi với đời sống nhân dân đồng bào dântộc và đặc biệt là nhãn quan sắc sảo, nhạy bén của ông về thiên nhiên và

Trang 4

phong tục con người nơi đây Với cái nhìn chân thực, ông đã hướng ngòi bútcủa mình vào tái hiện những đặc điểm của thiên nhiên và hiện thực cuộc sống.

Tô Hoài đã thật sự tìm được cho mình một lối viết riêng

Khi nghiên cứu và tìm hiểu đề tài “ Bức tranh thiên nhiên và phong tục

tập quán trong Miền Tây của Tô Hoài” sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về phong cách

của nhà văn, đồng thời bổ sung một cái nhìn toàn diện hơn về cách nhìn của nhàvăn Mặt khác, ki đi sâu tìm hiểu về đề tài này, nó giúp ích rất nhiều cho chúng

ta trong việc giảng dạy tác phẩm của Tô Hoài nói riêng và các sáng tác về đề tàimiền núi nói chung của các tác giả khác trong nhà trường phổ thông

2 Lịch sử nghiên cứu

Là nhà văn lớn có những đóng góp quan trọng trong nền văn học nướcnhà nên Tô Hoài đã được nhiều nhà phê bình quan tâm, nghiên cứu Theothống kê của chúng tôi thì cho đến hiện nay đã có khoảng 100 bài viết, côngtrình nghiên cứu về Tô Hoài trên mọi phương diện sáng tác Trong đó có trên

35 công trình nghiên cứu sáng tác của Tô Hoài về đề tài miền núi

2.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về Tô Hoài

Có thể kể đến các bài viết nghiên cứu chung về Tô Hoài và sáng tác về

đề tài miền núi của ông của những nhà nghiên cứu như: Phan Cự Đệ, HàMinh Đức, Vân Thanh, Phong Lê, Trần Hữu Tá

Giáo sư Phan Cự Đệ trong sách Nhà văn Việt Nam 1945 – 1975 (NXB

Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1979) trong chương viết vềsáng tác của Tô Hoài cả trước và sau cách mạng Trong đó phần viết về sángtác của Tô Hoài về đề tài miền núi khá công phu Về nghệ thuật, giáo sư chú ýđến “phong cách kể chuyện đậm đà màu sắc dân tộc”, đặc biệt thành tựu của

Tô Hoài trong việc trau dồi ngôn ngữ nghệ thuật: “Anh đã trải qua một quátrình lao động ngôn ngữ khá công phu, nhất là về mặt trau dồi cú pháp và hìnhtượng ngôn ngữ” [15, 99]

Giáo sư Hà Minh Đức trong lời giới thiệu Tuyển tập Tô Hoài (tập 1,

NXB Văn học, Hà Nội, 1987) có nhận định sắc sảo về nghệ thuật biểu hiện

Trang 5

của Tô Hoài: “Với tác phẩm Truyện Tây Bắc và Miền Tây, Tô Hoài đã ghi lại

sinh động bằng hình thức nghệ thuật những chặng đường phát triển của cácdân tộc vùng cao từ cách mạng dân tộc dân chủ đến cách mạng xã hội chủnghĩa”.[15,124] Ngoài ra, giáo sư còn đánh giá về tính dân tộc, về tính miêu

tả, về ngôn ngữ của Tô Hoài

Phó giáo sư Vân Thanh trong bài viết Sáng tác của Tô Hoài (in trong sách Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội,

1976) dành nhiều trang viết về đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài.Phó giáo sư chú ý đến những đặc điểm trong nghệ thuật biểu hiện của TôHoài như: “tài dựng khung cảnh, gắn bó với con người”, “bút pháp Tô Hoàilinh hoạt” và “ngôn ngữ Tô Hoài thường ngắn gọn và rất gần với khẩu ngữcủa nhân dân lao động với những ưu điểm và nhược điểm của khẩu ngữ” [15,76-77]

Trong sách Văn học Việt Nam 1945 – 1975 (tập 2, NXB Giáo dục, Hà

Nội, 1990) khi viết về Tô Hoài, Phó giáo sư Trần Hữu Tá chú ý đến phongcách nghệ thuật của Tô Hoài Ông nhấn mạnh: “Hình tượng nghệ thuật chủyếu trong tác phẩm của Tô Hoài là người nông dân”, “nghệ thuật miêu tả linhđộng” và “điều cốt lõi trong nghệ thuật miêu tả của Tô Hoài là công phu dùngchữ” [10, 188- 190]

Giáo sư Phong Lê trong bài nghiên cứu toàn diện, sâu sắc và công phu

về Tô Hoài: Tô Hoài, sáu mươi năm viết từng nhận ra một Tô Hoài sau 1945:

“mới không phải chỉ là đề tài, mà còn trong cả bút pháp, giọng điệu, sự chia

sẻ, sự đồng cảm, những xúc động và những niềm vui tin đã làm ấm lên nhiều

câu văn Tô Hoài [15, 33] Giáo sư nhận ra : “Ở Núi cứu quốc bên cạnh cái tinh hóm, đùa nghịch lại có thêm sự chuộng lạ và khoe chữ” Khi đọc Miền Tây, Giáo sư thấy: “Tô Hoài đã đề ra quá nhiều yêu cầu, nhiều “luận đề” để

nhe nhắm và chứng minh Thành ra cái phần khắc họa và tạo dựng đầy hứahẹn và ấn tượng ở phần đầu bỗng loãng nhạt và mất dần đi sự sống được triểnkhai theo tư duy tiểu thuyết ở phần sau”

Trang 6

2.2. Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài

Tiểu thuyết Miền Tây được xuất bản năm 1967 và liên tiếp sau đó được giới nghiên cứu và phê bình quan tâm Nguyễn Công Hoan trong bài “Trau dồi tiếng Việt” chú ý đến ngôn ngữ của Tô Hoài Ông viết: “Theo dư luận mà tôi lượm nhặt được ở phần lớn độc giả cuốn Miền Tây của Tô Hoài thì trong

ngành truyện nhỏ và truyện dài của ta mấy chục năm nay chưa có một tácphẩm nào viết bằng văn xuôi mà gọt giũa tỉ mỉ từng chữ, từng câu làm chonhiều trang phảng phất một chất thơ mà nhiều bài thơ còn thua xa” [15, 520]

Giáo sư Hà Minh Đức trong bài viết “Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài”, chú ý đến nghệ thuật dựng người, dựng cảnh Giáo sư chỉ ra: “Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài có một ưu điểm lớn về phần miêu tả thiên

nhiên” [15, 353] và “Tô Hoài đã thành công qua những trang miêu tả khôngkhí lao động hồ hởi và không khí sinh hoạt vui tươi của người dân Châu Yên”[15, 348] Về hạn chế của tiểu thuyết, GS.Hà Minh Đức nhận xét: “Trong khixây dựng các nhân vật, Tô Hoài chưa kết hợp được chặt chẽ giữa các tuyến sựkiện và tuyến nhân vật, giữa sự miêu tả những đổi thay bên ngoài của đờisống và sự thay đổi tự bên trong của tư tưởng, tình cảm nhân vật” [15, 350]

Giáo sư Phan Cự Đệ trong bài “Tô Hoài với Miền Tây” cho rằng: Miền Tây phần nào thể hiện được đặc điểm phong cách Tô Hoài: “bao giờ

cũng cố gắng gắn liền chất liệu hiện thực với màu sắc lãng mạn, trữ tìnhthơ mộng trong tác phẩm của mình”, về ngôn ngữ: “Tô Hoài đã cố gắng tạo

ra cho các nhân vật của mình có một ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ phản ánh

tính cách” và “trong tiểu thuyết Miền Tây ta bắt gặp một thứ ngôn ngữ

trong sáng, giàu hình tượng của quần chúng được nâng lên ở một trình độnghệ thuật mới” [15, 334]

Khái Vinh đọc Miền Tây nhận thấy: “Đọc Miền Tây, dường như người

ta bị thiên nhiên thu hút hơn con người và khi tiếp xúc với đời sống nhân vậtthì những phong tục tập quán lại được biểu hiện sinh động hơn là tâm trạng”.[15, 360]

Trang 7

Như vậy, các ý kiến trên đều đề cập đến văn xuôi Tô Hoài viết về miềnnúi sau cách mạng, thống nhất trong cách đánh giá về những ưu, nhược điểmcủa Tô Hoài trong sáng tác Nhưng nhìn chung các bài phê bình nghiên cứumới chỉ dừng lại nhiều ở nội dung, còn về hình thức nghệ thuật thì mới chỉdừng lại ở những nhận xét khái quát.

Trong sáng tác về đề tài miền núi của Tô Hoài, nổi trội lên là các bứctranh về thiên nhiên và phong tục, tập quán sinh động, đa sắc màu Tuy rằng

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu phê bình đề cập đến nhưng mới chỉdừng lại ở những nhận xét bước đầu mà chưa đi vào nghiên cứu một cách có

hệ thống thành một đề tài độc lập Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Bức

tranh thiên nhiên và phong tục trong Miền Tây” để đi sâu nghiên cứu một

cách cụ thể, hệ thống hơn về vấn đề trên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Sáng tác về đề tài miền núi của Tô Hoài bao gồm rất nhiều tác phẩmthuộc nhiều thể loại khác nhau Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của bài viết

này chủ yếu là tiểu thuyết Miền Tây (1967) của Tô Hoài Nói cách khác là tìm

hiểu về bức tranh thiên nhiên và phong tục, tập quán trong tác phẩm trên

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chủ yếu mà chúng tôi tiến hành khi làm bài tập này là:

- Phương pháp khảo sát tác phẩm

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp lịch sử so sánh

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

5 Cấu trúc niên luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung niên luận được triển khaitrong 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài Chương 2: Thiên nhiên và phong tục, tập quán trong Miền Tây

Chương 3: Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên và phong tục, tập quán trong Miền Tây

Trang 8

Chương 1 Tổng quan về đề tài miền núi trong sáng tác của Tô Hoài

1 Khái niệm đề tài

Đề tài là một trong những khái niệm cơ bản của khoa nghiên cứu vănhọc nói chung và của lý luận văn học nói riêng Vậy nên, trong rất nhiều sách

lý luận văn học và các cuốn từ điển thuật ngữ văn học, khái niệm đề tài luônđược đề cập tới và luận giải khá kĩ lưỡng

Trong Lý luận văn học, tập 2 (H.1978), Giáo sư Trần Đình Sử viết: “Đề

tài và chủ đề là những khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện khách quancủa nội dung tác phẩm [11, 34]

Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (H.1992) thì: “Đề tài là phương

diên khách quan của nội dung tác phẩm”

Nói về cách xác định đề tài văn học, hai cuốn Từ điển thuật ngữ văn học và Lý luận văn học (tập 2) đều cho rằng: Có hai cách xác định đề tài văn

học là xác định đề tài văn học theo giới hạn bề ngoài của phạm vi hiện thựcđược phản ánh trong tác phẩm và xác định đề tài văn học theo giới hạn bêntrong của phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm

Trong sách Lý luận văn học, tập 2 (H.1978), Giáo sư Trần Đình Sử nóirõ: “Con đường nhận thức đề tài tác phẩm là đi từ nội dung trực tiếp của tácphẩm, xác định những nét lịch sử xã hội của nó”

Tuy nhiên, các tài liệu trên cũng khẳng định rằng sự xác định giới hạn

bề ngoài và giới hạn bên trong như trên chỉ có ý nghĩa tương đối Khi nói đến

đề tài tác phẩm, người ta không chỉ nói tới một đề tài mà thực chất là một hệthống đề tài có liên quan, bổ sung cho nhau tạo thành đề tài của tác phẩm Cónghĩa là trong một tác phẩm, xoay quanh đề tài lớn còn có thể có cả một hệthống đề tài có liên quan

Đề tài tác phẩm văn học không chỉ gắn liền với hiện thực khách quan

mà còn do lập trường tư tưởng và vốn sống nhà văn quy định Chẳng hạn

Trang 9

trong thời kì 1930-1945 đứng trước cùng một hiện thực khách quan nhưngvới thế giới quan vô sản, các nhà văn cách mạng đã lựa chọn và thể hiện đềtài đấu tranh cứu nước, giải phóng dân tộc; với thế giới quan tiểu tư sản, cácnhà văn hiện thực phê phán lại lựa chọn đề tài hiện thực xã hội lầm than, bấtcông còn các nhà văn lãng mạn lại đi sau vào khai thác những đề tài có xuhướng thoát li hiện thực như cái tôi, quá khứ, tình yêu, tôn giáo,…

Tóm lại, đề tài là khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu

tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là phương tiện khách quancủa nội dung tác phẩm Xác định đề tài của tác phẩm chính là để trả lời cho câuhỏi: tác phẩm viết về cái gì, về phạm vi hiện thực nào trong cuộc sống Đề tài

rõ ràng không phải là cái nằm ngoài tác phẩm mà là một phương tiện trong nộidung của nó, là đối tượng đã được nhận thức, lựa chọn gắn liền với dụng ý, thếgiới quan, lập trường tư tưởng, quan điểm thẩm mĩ của nhà văn

1.2 Đề tài miền núi trong văn học

1.2.1 Thời kì trước cách mạng

Trước cách mạng tháng Tám xuất hiện một số tác phẩm văn xuôi vềmiền núi của các nhà văn lãng mạn như: Lan Khai, Thế Lữ Sáng tác của cáctác giả trên còn thể hiện cái nhìn bàng quang, chưa thật đúng với thiên nhiên,cuộc sống, con người và cuộc sống miền núi Trong văn của họ cảnh vậtthường âm u, rùng rợn, con người còn nhiều nét thô kệch Lan Khai viết

Truyện Đường rừng với những chuyện bí mật rùng rợn nơi rừng thẳm, những

phong tục kì lạ, ma quái, những mối tình lãng mạn, thơ mộng giữa những ông

ký ga vùng sơn cước với những cô gái Thái xinh đẹp ven bờ suối những đêmtrăng Thế Lữ cũng viết những chuyện tình lãng mạn, những truyện trinh thámnơi miền sơn cước thâm nghiêm Người miền núi hiện lên dưới ngòi bút Thế

Lữ đầy kì dị, lạ lẫm Thiên nhiên miền núi tuy đẹp, thơ mộng nhưng cũng đầy

bí ẩn: “Một giải suối róc rách ở gần tiếng sóng như thủy tinh reo vào trongthứ giọng rù rì, tối tăm của những côn trùng dưới cỏ Sau lều thì khu rừng câyyên lặng như ngủ kỹ, nhưng ở đây đưa những tiếng bí mật, khiến cho mình

Trang 10

cảm thấy dược cái sinh hoạt của nó trong lúc đêm khuya Thế Lữ hiểu vềmiền núi còn đơn giản nhưng cũng không phải là điều khó lý giải Thực ra đó

là cái nhìn của một nhà văn lãng mạn, một tâm hồn thơ mộng muốn thoát lykhỏi cuộc sống thành thị ồn ào, mơ mộng để mơ được cuộc sống nơi thôn dãhay nơi rừng núi cách biệt

Truyện của Lan Khai, Thế Lữ thổi vào văn học một luồng hơi lạ làmxao xuyến trái tim thành thị khao khát nhưng không bền lâu

1.2.2 Thời kỳ sau cách mạng

Trong văn học Việt Nam sau cách mạng, đề tài miền núi tuy là một đềtài mời mẻ nhưng đã thu hút được nhiều sự quan tâm, sáng tạo của các nhàvăn, nhà thơ Cách mạng tháng Tám thành công đã làm xuất hiện những đề tàimới trong văn học như đề tài công dân, đề tài bộ đội, đề tài người cán bộchiến sĩ cách mạng và quần chúng cách mạng, đề tài xã hội chủ nghĩa, trong

đó có cả đề tài miền núi

Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước ta lên nắm chínhquyền đã nhanh chóng có những chủ trương đúng đắn về dân tộc và miền núi.Điều này không những góp phần làm thay đổi diện mạo của miền núi mà còn

có sự tác động lớn đến sự hình thành và phát triển đề tài miền núi trong vănhọc Việt Nam sau cách mạng

Ngay từ những ngày đầu lên nắm chính quyền, Hồ Chủ tịch đã phátbiểu: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Êđê, Xrăng hayBana, và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu của Việt Nam, đều là anh

em ruột thịt Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta, giang sơn

và chính phủ của chúng ta Vậy nên các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặtchẽ để giữ gìn non nước ta” [21, 158]

Những năm miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã

có chủ trương kịp thời đối với miền núi: “Làm cho miền núi tiến kịp miềnxuôi, vùng cao, vùng biên giới tiến kịp vùng nội đại, các dân tộc thiểu số tiếnkịp dân tộc kinh, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng

to lớn của mình để tiến lên chủ nghĩa xã hội [10, 184]

Trang 11

Cùng với chủ trương xây dựng văn hóa mới, Đảng cũng đã sớm có địnhhướng cho văn học miền núi Đường lối văn nghệ của Đảng yêu cần nền vănhọc cách mạng phát triển sức sáng tạo và tinh hoa của văn nghệ của các dântộc anh em Sáng tác của các nhà văn miền xuôi viết về miền núi được ủng hộ

và khích lệ

Mặt khác, do đòi hỏi của cuộc sống, khi miền núi trở thành căn cứ địacách mạng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và sau này là xây dựngchủ nghĩa xã hội thì viết về miền núi trở thành yêu cầu cấp bách của thực thựctiễn Do vậy, viết về miền núi không chỉ có những ý nghĩa văn học mà còn có

ý nghĩa chính trị to lớn trong một giai đoạn lịch sử của dân tộc

Từ những yêu cầu của cuộc sống và thực tiễn như trên đã góp phầnhình thành và phát triển một đề tài mới trong văn học, đó là đề tài miền núi.Mặc dù, văn học các dân tộc thiểu số ở miền núi từng có lịch sử phát triểnriêng của mình, nhưng những đóng góp của nhà văn miền xuôi viết về miềnnúi với tất cả lòng nhiệt thành say mê và trách nhiệm của mình

Đề tài miền núi trong văn học Việt Nam đã tạo nên được những thànhquả nhất định góp phần làm phong phú, sâu sắc cho diện mạo văn học ViệtNam hiện đại

1.3 Vị trí của văn xuôi về đề tài miền núi của Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Lịch sử văn học các dân tộc thiểu số có từ lâu đời trước cách mạngtháng Tám 1945 nhìn chung các dân tộc thiểu số đều có lịch sử phát triển vànhững sáng tác chủ yếu là sáng tác dân gian, truyền miệng như: tục ngữ, cadao, truyện thơ, truyện cổ tích, sử thi anh hùng Đội ngũ các nhà văn có mộtvài tên tuổi nổi lên những phần lớn là tồn tại ở dạng khuyết danh và các tácphẩm văn học của họ chỉ tồn tại ở dạng kể

Cũng trong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945, cũng đã cómột vài nhà văn lãng mạn như Lan Khai, Thế Lữ viết về đề tài miền núi nhưnghầu như các nhà văn nhìn về đề tài này một cách mờ nhạt, chưa sát với thực tế

Trang 12

Trong những năm đầu sau cách mạng, văn học của các dân tộc thiểu sốphát triển chậm hơn so với văn học hiện đại của dân tộc Kinh Trong giaiđoạn này, trước những nhiệm vụ đề ra của hoàn cảnh lịch sử thì nhiệm vụ viết

về đề tài miền núi lại đặt lên vai một số cây bút như: Nam Cao, Tô Hoài,Nguyễn Huy Tưởng và từ sau 1954 có thêm một số nhà văn khác như:Nguyên Ngọc, Mạc Phi, Hoàng Thao, Ma Văn Kháng

Nam Cao cho xuất bản Nhật ký ở rừng (1948) và bút ký Chuyện biên giới (1951) Giáo sư Phong Lê đã từng viết: “Có thể nói Nam Cao là người

sớm đưa vào văn xuôi mảng hiện thực miền núi với những nét đặc sắc và cảmđộng [17]

Cùng với Nhật ký ở rừng của Nam Cao thì Núi cứu quốc của Tô Hoài

được xem là những tác phẩm văn xuôi đầu tiên của văn học cách mạng viết vềmiền núi đưa Nam Cao và Tô Hoài lên vị trí là những nhà văn khai phá mảng

đề tài này Sau sự ra đời của Núi cứu quốc là tập Truyện Tây Bắc (1953), tập truyện gồm 3 truyện Cứu đất cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ.

Cùng với tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài là Đất nước đứng lên (1953)

của Nguyên Ngọc Nếu như Tô Hoài viết về cuộc sống của đồng bào miền núiphía Bắc trong cách mạng và kháng chiến thì Nguyên Ngọc lại viết về cuộckháng chiến chống thực dân Pháp của dân làng Kông-Hoa ở Tây Nguyênhùng vĩ

Ở buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội rồi kháng chiến chống Mĩ cứunước, đề tài miền núi vẫn được chú ý nhiều Nguyên Ngọc tiếp tục viết về đềtài cuộc kháng chiến chống Mĩ của đồng bào Tây Nguyên, tiêu biểu có tác

phẩm Rừng xà nu (1965) Tô Hoài tiếp tục mảng sáng tác của mình với tiểu thuyết Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971).

Vào những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, các nhà vănchủ yếu viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền xuôi Lúc này

Tô Hoài đã cho xuất bản những bút ký, phóng sự như Nhật ký vùng cao (1969), Lên Sùng Đô (1969).

Trang 13

Sau 1975, mảng đề tài về miền núi vẫn được tiếp tục với những tên tuổimới như: Mạc Phi, Ma Văn Kháng Trong không khí đó, Tô Hoài cho xuất

bản truyện Họ Giàng ở Phìn Sa (1984), năm 1988 Tô Hoài viết tiểu thuyết Nhớ Mai Châu.

Điểm lại chặng đường văn xuôi viết về đề tài miền núi ta thấy Tô Hoàivừa là một nhà văn có công khai phá đề tài miền núi vừa là một nhà văn viếtnhiều và viết rất thành công với mảng đề tài này

1.4 Văn xuôi về đề tài miền núi trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài

Trong tổng thể sáng tác của Tô Hoài thì mảng sáng tác về đề tài miềnnúi có một vị trí cự kì cực kỳ quan trọng Mặc dù là một đề tài mới (Tô Hoàiviết từ sau cách mạng tháng Tám) nhưng Tô Hoài đã gặt hái được rất nhiềuthành công ở mảng đề tài này Rất nhiều giải thưởng đã được trao cho nhà văn

cùng với những tác phẩm về đề tài này, cụ thể như: Truyện Tây Bắc Giải nhất truyện của Hội văn nghệ Việt Nam 1955 – 1956), Miền Tây (tiểu

(1953-thuyết – 1967 – Giải thưởng Hội nhà văn Á Phi năm 1970)

Viết về miền núi Tô Hoài thành công ở cả hai thể loại truyện (truyệnngắn, truyện vừa), tiểu thuyết và ký Ở thể loại truyện, ngoài những tác

phẩm Núi cứu quốc (1948), Truyện Tây Bắc (1953), Cứu đất cứu mường (1954), Tào Lương (1955) còn phải kể đến Vừ A Dính (1962), Kim Đồng (1973) Ở thể loại tiểu thuyết có Miền Tây (1967), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Nhớ Mai Châu (1988) Ở thể loại ký có Nhật ký vùng cao (1969), Lên Sùng Đô (1969).

Tô Hoài ghi nhận những thành công của mình trước hết là ở thể loạitruyện ngắn: “Cho đến bây giờ, tôi có thể nói là chưa viết một truyện nàoưng ý bằng những truyện ngắn khá nhất của mình” [12] Thế nhưng ở loạitiểu thuyết thì bút lực của nhà văn mới chứng tỏ sức mạnh của mình.Những tiểu thuyết của Tô Hoài góp mặt làm phong phú thêm cho diện mạovăn học Việt Nam, thành công từ tiểu thuyết của nhà văn đem lại cho vănhọc Việt Nam là rất lớn

Trang 14

Những tác phẩm ký của Tô Hoài cũng đạt được những thành tựu đáng

kể Nhà văn từng quan niệm: “Nhà văn là người thư ký của thời đại Tráchnhiệm và vinh dự câu định nghĩa cuộc sống đã dành cho những ngòi bút chânchính Tôi nghĩ: Danh dự cao quý ấy, mệnh lệnh chiến đấu ấy trước hết hãytrân trọng tặng cho những người viết ký, cũng như những người cầm cầy, cầmcuốc, họ đông nhất và bao giờ cũng đi hàng đầu, có mặt khắp nơi trên các trậntuyến và đời sống” [Tô Hoài (1977), Sổ tay viết văn, NXB Tác phẩm mới, HàNội] Những tác phẩm bút ký của Tô Hoài thực sự đã phản ánh kịp thời khôngkhí của miền núi, của đất nước trong những thời điểm lịch sử nhất định

Những sáng tác về mảng đề tài miền núi có một vị trí rất lớn trong sángtác của nhà văn Tô Hoài nói riêng và trong nền văn học Việt Nam nói chung,tuy còn một vài hạn chế nhất định, thế nhưng trong cách đánh giá của một sốnhà lý luận và độc giả cơ bản là thống nhất

Trang 15

Chương 2:

Thiên nhiên và phong tục, tập quán trong Miền Tây

2.1 Thiên nhiên trong Miền Tây

2.1.1 Khái niệm miêu tả

Có rất nhiều quan niệm về miêu tả, vì thế để đi đến một cách hiểuchung nhất về miêu tả không phải là một công việc dễ dàng

Theo tác giả Đào Duy Anh trong Từ điển Hán Việt thì miêu tả là “lấy

nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”.[1, 560]

Cụ thể hơn, khái niệm “miêu tả” hiểu theo nghĩa từ vựng trong Từ điển Tiếng Việt là: “Dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm

cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nộitâm con người” [13, 611]

Những khái niệm miêu tả được gi trong từ điển là những khái niệmchung cho các loại hình nghệ thuật được bộc lộ, thể hiện bằng thủ pháp miêu

tả Nếu hiểu một cách chung chung như vậy thì chúng ta chưa nắm bắt đượcthủ pháp miêu tả, chưa hiểu được sức mạnh của nghệ thuật miêu tả trong vănbản nghệ thuật Bởi miêu tả được dùng như một thủ pháp cơ bản có giá trị và

ý nghĩa riêng trong việc xây dựng và sáng tạo những tác phẩm văn học

Các nhà phê bình lý luận văn học định nghĩa: “Miêu tả bao gồm nhữngđoạn văn, đoạn thơ tái hiện sự việc, cảnh vật, con người và hành động củanhân vật dưới hình thức trực tiếp nhất thông qua một khối lượng chi tiếtphong phú Miêu tả là biện pháp nghệ thuật giúp nhà văn làm hiện lên mộtcách cụ thể, dựng lên trước mắt người đọc một cách sinh động sự việc, cảnhvật, con người trong một khung cảnh và thời điểm nhất định [8, 133].Địnhnghĩa này mới chỉ chú ý đến nội dung của miêu tả mà chưa chú ý tới ngônngữ được sử dụng trong miêu tả

Trong Nghệ thuật làm văn, các học giả người Pháp cho rằng: “Miêu tả

là biến thành cái mà giác quan có thể xúc cảm được, là hình dung bằng miệng

Trang 16

hay bằng viết một đối tượng vật chất; nói cách khác, là bộc lộ bằng từ cái màhọa sĩ phác ra bằng màu sắc” [20, 78]

Trong luận văn của mình tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đưa ra khái niệm

về miêu tả như sau: “Miêu tả là thủ pháp, là cách thức dùng phương tiện ngônngữ để ghi lại (bằng chữ hay bằng lời) những hình ảnh về những khách thểtrong hiện thực khách quan (là những cảnh, những vật, những hiện tượng, conngười…) Nghệ thuật miêu tả thể hiện ở việc tái tạo lại những khách thể ấykhông đơn thuần là những sự kiện khô khan mà phải giúp người đọc cảmnhận chúng bằng chính giác quan của mình để nhìn nhận hiện thực kháchquan y như chúng đang hoạt động, đang nảy nở, đang sinh sôi và phát triển.Tài nghệ của miêu tả là ở chỗ không phải làm cho người ta “có ý niệm về sựvật mà làm cho người ta có cảm giác về sự vật, cảm giác này sẽ đưa tới ýniệm kia” [4, 15]

Khái niệm miêu tả mà Nguyễn Thị Thu Hà đưa ra cụ thể, rõ ràng nhưng

có phần rườm rà và dài dòng Để tiện cho việc nghiên cứu và học tập, chúngtôi muốn thống nhất một cách hiểu chung, ngắn gọn về miêu tả trong văn bảnnghệ thuật như sau:

“Miêu tả là thủ pháp dùng những phương tiện ngôn ngữ để phản ánhnhững hình ảnh về những khách thể trong hiện thực khách quan (là sự việc,cảnh vật, con người…) một cách cụ thể, sinh động, gơi hình, gợi cảm, tạohiệu quả như thật đối với người đọc”

2.1.2 Về nghệ thuật miêu tả trong tác phẩm của Tô Hoài

Có rất nhiều nhà văn, lý luận phê bình văn học đề cập tới nghệ thuậtmiêu tả trong tác phẩm văn xuôi của Tô Hoài Ngay từ đầu năm 1942, nhànghiên cứu Vũ Ngọc Phan – người đầu tiên phê bình, giới thiệu về Tô Hoài

đã có những nhận xét về tác phẩm đầu tay của Tô Hoài: “Về đường nghệthuật thì đó là lối diễn tả tuyệt khéo”.[15, 58]

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cho rằng: “Trong miêu tả Tô Hoài nắmbắt rất nhạy bén, những nét cô đọng, những chi tiết điển hình Cho nên có khi

Trang 17

chỉ vài nét chấm phá mà dựng lên cả một bức tranh Cảnh của Tô Hoàithường có màu sắc tươi sáng Đặc biệt, tác giả hay dừng lại ở những chi tiếtngộ nghĩnh, đứng sau những chi tiết đó thấp thoáng một nụ cười hóm hỉnh,thông minh, nghịch ngợm”.[15, 342]

Giáo sư Hà Minh Đức trong lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài cũngkhẳng định Tô Hoài đặc biệt thành công khi miêu tả bởi vì: “Tô Hoài có khảnăng làm hiện hình rõ nét những bức tranh sinh động về cuộc sống, con người

và thiên nhiên” [15, 135]

Trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt”, các tác giả Đinh TrọngLạc và Nguyễn Thái Hòa cũng nhận xét: “Tô Hoài say mê miêu tả, những bứctranh ông dựng lên thật là đẹp, thật là trau chuốt” [3, 151]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu về Tô Hoài đều khẳng định: nghệthuật miêu tả là một mặt mạnh, nổi bật của Tô Hoài

2.1.3 Thiên nhiên vừa thơ mộng, trữ tình vừa khắc nghiệt, dữ dội

Ta biết, trong các sáng tác về miền núi, thiên nhiên có một tầm quantrọng đặc biệt so với thiên nhiên trong các đề tài khác Thiên nhiên ở đâychính là một trong những môi trường trực tiếp nhất ảnh hưởng đến cuộcsống của con người, đó cũng là yếu tố giúp nhà văn thể hiện một cách phongphú, sinh động bức tranh hiện thực trong tác phẩm Mỗi nhà văn cảm nhận

và miêu tả thiên nhiên theo cách riêng của mình Với riêng Tô Hoài, thiênnhiên là đối tượng thẩm mĩ cuốn hút lòng say mê, sự khám phá, sáng tạo củanhà văn Giáo sư Hà Minh Đức khẳng định: “Tô Hoài giỏi miêu tả thiênnhiên Thiên nhiên trong tác phẩm của ông gồm nhiều màu vẻ từ những cảnhthơ mộng đến một thiên nhiên khắc nghiệt, hung dữ Tô Hoài miêu tả thiênnhiên theo một cách nhìn ngắm tự nhiên, nhẹ nhàng Không có dấu vết ngăncách khung cảnh thiên nhiên và bức tranh xã hội Từ tả người đến tả cảnh, từ

xã hội đến thiên nhien, văn mạch của ông luôn vận động từ tự nhiên đếnbiện chứng” [15, 135-136]

Trang 18

Thiên nhiên miền núi được Tô Hoài miêu tả theo mùa Tô Hoài đưa đếncho bạn đọc bức tranh bốn mùa ở miền núi phía Bắc, mỗi mùa mang mộtdáng vẻ riêng.

Tô Hoài miêu tả bức tranh mùa hè miền núi cao đầy ấn tượng Đó là

cảnh mùa hạ mưa nắng chập chờn: “Trên các đầu núi lên Phìn Sa, suốt ngày mây nước ám vần vũ rồi cứ chập chờn ở đây từng cơn mưa rào thình lình tới Người và ngựa ướt lại khô Chợt có lúc lạnh tóe bóng nắng Người và ngựa hơi nước bốc như khói” [2, 267] Đoạn văn tuy ngắn nhưng nhờ từ láy tạo

hình như: “vần vũ, chập chờn, thình lình” liên tiếp nhấn mạnh sự bất ngờ.Phép điệp ngữ “ướt lại khô” và so sánh “nước bốc như khói dưới nắng lóe”vừa có tác dụng nhấn mạnh vừa cụ thể hóa cảnh mưa rào đột ngột trong ngày

cứ liên tiếp diễn ra khi mùa hè tới ở Miền Tây.

Khi mưa tạnh, trời sáng hửng, Tô Hoài vẽ lên bức tranh buổi sáng mùa

hè sau cơn lũ ở miền Tây hiền hòa, xúc động lòng người: “Trời dần dần rạng sáng Buổi sáng lạnh ráo hiếm có giữa mùa lũ Những mỏm núi lổm nhổm quanh nhà viền gọn ghẽ những nét sẫm xanh Sương mù trong khe len xuống trắng xóa đầu thung Cơn lũ ban đêm đã biến mát, cũng như những điều u ám canh khuya, trong lòng người đến rạng sáng thì tan đi, bây giờ trong suối chỉ còn tiếng nước xô vào đá, óc ách đều đều Một con khướu mun nhảy xuống mặt đá tảng, cất tiếng ríu rít nhẹ thanh thản Lòng người bỗng vui lây con chim hót sáng” [2, 359]

Những từ láy tượng hình như: “cuồn cuộn, lóng lánh” diễn tả chính xáccái thần của cỏ cây sau cơn mưa đón nhận ánh nắng sớm Những từ gợi cảm,gợi hình, gợi thanh như “dần dần, lổm nhổm núi, viền gọn ghẽ những nét sẫmxanh, trắng xóa, óc ách, đều đều, ríu rít, nhẹ thanh thản” vẽ lên được cảnhbuổi sáng mùa hè sau lũ lại dịu êm, tươi tắn tràn trề sức sống muôn thuở Tô

Hoài còn miêu tả cảnh đêm hè đầy trăng thanh bình và gần gũi: “Khi trăng ngang đỉnh đầu, ngỡ có thể với tay tới như trong cổ tích người già thường kể”

[2, 281] Có lẽ chỉ có cảnh ở miền núi cao mới thấy được trăng gần gũi vàhuyền diệu đến thế

Trang 19

Khi miêu tả cảnh thu, Tô Hoài cho thấy ở miền núi mùa thu không cónhững cơn mưa bất chợt, dữ dội như mùa hè, cũng không rét căm căm nhưmùa đông, nó dung hòa giữa hai mùa đối cực Có khi mùa thu được miêu tảdịu nhẹ, thơ mộng, trữ tình, vời vợi chất thơ.

Đây là cảnh Phìn Sa tháng 9 sau mùa mưa: “Trời Phìn Sa nhẹ thênh Núi như dài thêm ra, một dải biếc màu cỏ tranh Con suối đã kiệt dòng trở lại hiền lành, róc rách trong khe đá Tiếng nó bây giờ nỉ non như tiếng mẹ ru con Ứa…pưa mí nhùa a ơi ngủ đi con à con ơi chuông cổ bò loong coong Đàn bò đủng đỉnh ra nương Con đen con vàng chen giữa lúc dê trắng lon ton chạy lên chạy xuống” Khi miêu tả, tác giả sử dụng nhiều tính từ, động từ

như: “nhẹ thênh, hiền lành, nỉ non, đủng đỉnh, vàng, đen, trắng”, xen kẽ trongmột đoạn văn ngắn gọn trong lòng người đọc một cảnh êm đềm như thơnhưng không kém phần rực rỡ của sắc màu mùa thi ở miền núi Ở một đoạnkhác, bức tranh mùa thu miền núi xa được miêu tả bằng những sắc màu rấtđặc trưng của mùa thu đó là màu “xanh rờn” và “vàng rượi”: “Mỗi buổi chiềubóng núi bên này lại ngả xanh rờn vào núi bên kia, trên những nương ngôvàng rượi”

Bức tranh đẹp nhất, ấn tượng nhất của miền núi phía Bắc mà Tô Hoàiđem tới cho người đọc là mùa xuân Bức tranh thiên nhiên được tác giả miêu

Bên cạnh thiên nhiên thơ mộng, nhà văn còn miêu tả một thiên nhiênmiền núi phía Bắc Tổ quốc khắc nghiệt và hung dữ Đó cõ lẽ là diểm riêng

Trang 20

của thiên nhiên miền núi này Chính Nguyễn Tuân trong thiên tùy bút Người lái đò sông Đà khi miêu tả con sông ở miền Tây Bắc Tổ quốc cũng đã thừa

nhận : “Con sông Tây Bắc hung bạo mà trữ tình” Hai tính cách đó tưởngchừng đối lập nhưng lại thống nhất về một thực thể thiên nhiên

Trong văn Tô Hoài ngoài những cảnh thơ mộng như trên thì ta còn thấyđược những cảnh thiên nhiên khắc nghiệt và hung dữ Có thể nói, trong tiểu

thuyết Miền Tây, hai đoạn tả cảng đặc sắc nhất là đoạn tả thiên nhiên miền núi

cao dữ dội Đoạn mở đầu tác phẩm là cảnh gập ghềnh hoang vắng, là hình ảnhđoàn ngựa thồ của khách Sìn thồ hàng lên buôn làng Phìn Sa:

“Đàn ngựa thồ hàng đi kéo dài qua những vùng vàng rượi cỏ tranh, mỗi ngày đi mỗi cảm như người ngựa cứ xoay tròn trên lưng trời, cả ngày trông xuống vẫn chỉ thấy đỏ ối độc một vệt dốc lầy lội vượt hôm trước Không một tiếng người chỉ nghe vó ngựa và tiếng roi quất dứ qua quãng kẹt hai bên núi dựng, tiếng gió gào quẩn rồi thúc lên trên đầu sóng cỏ tranh, lấp hết cả người, cả đoàn ngựa.

Đôi khi, mặt trời buổi chiều tưởng đã chìm hẳn lại rầu rĩ nhô ra, làm cho các mỏm núi trên cao và đến cả các khe xuối xa bỗng nhiên nhuộm thêm chút nắng úa xuộm

Tiếng hát, tiếng hò hay tiếng kể lể than vãn của phu ngựa đột ngột cất lên, lê thê thướt qua Cái dốc núi càng rét khiếp, càng vắng, càng chơ vơ” [2,

17]

Đoàn ngựa thồ và những người phu ngựa đi trong khung cảng thiênnhiên thật hoang rợn Cảnh dốc đèo, núi đồi hiểm trở, hoang vắng như báohiệu những lo âu, bất trắc, hiểm họa sẽ xảy ra với con người Hình ảnh “mặttrời” được nhân hóa có tâm trạng như con người “rầu rĩ” như chính cái tâmtrạng rầu rĩ của những người phu ngựa Trong cái khung cảnh buồn bã, ghêrợn đó, bỗng nhiên có: “tiếng hát, tiếng hò hay tiếng kể lể than vãn của ngườiphu ngựa đột ngột cất lên, lê thê, lướt qua”, đây là âm thanh duy nhất của conngười trong bức tranh thiên nhiên này nhưng nó không có tác dụng gợi sự

Trang 21

sống động cho bức tranh mà ngược lại nó khiến cho “cái dốc núi càng rétkhiếp, càng vắng, càng chơ vơ” Thiên nhiên ở đây được mô tả phù hợp với cảnhngộ của những người phu ngựa khó nhọc, vất vả những năm trước cách mạng

Đối với các nhà văn, thiên nhiên được coi là “phương tiện nghệ thuật

để nắm bắt cuộc sống bên trong của con người” Thiên nhiên thường mangyếu tố tâm lý Nam Cao là nhà văn có biệt tài về mặt này, thiên nhiên củaNam Cao bao giờ cũng bị chi phối bởi tâm trạng nhân vật và góp phần đắc lựcvào biểu hiện tâm lý Tô Hoài sử dụng yếu tố thiên nhiên trong các tác phẩmviết về miền núi một cách “rộng rãi” hơn nhưng cũng với ý thức “tả cảnh ngụtình rõ rệt”

Tô Hoài là một nhà văn luôn say đắm với vẻ đẹp thiên nhiên, cùng vớivốn từ ngữ biểu hiện màu sắc, âm thanh phong phú, sự tìm tòi sáng tạo, TôHoài đã tạo nên được những trang miêu tả thiên nhiên đặc sắc, truyền cảm,

hấp dẫn Trong Miền Tây, có nhiều đoạn miêu tả cảnh thiên nhiên đứng tách

ra vẫn có giá trị độc lập tự thân của nó, được coi là mẫu mực của bút phápmiêu tả

Thiên nhiên vùng núi dưới con mắt của Tô Hoài vừa dữ dội lại vừa mơmộng Những hình ảnh đặc trưng của thiên nhiên miền núi hùng vĩ: núi,sương, gió, cơn lũ…được tác giả miêu tả rất nhiều Một trong những đoạn tả

cảnh thiên nhiên thành công nhất trong tiểu thuyết Miền Tây là đoạn tả cơn lũ

trong mùa mưa và đây cũng là cảnh thiên nhiên khắc nghiệt và dữ dội:

“Mưa núi, mưa thung, mưa rừng thúc con suối Nậm Na tỏa ra cuồn cuộn Cả khoảng rừng cây chò trắng bệch vặn mình hôm qua còn đứng trên

bờ hôm nay đã trơ ra giữa dòng suối đỏ ngầu Chiếc thuyền độc mộc ngoắt đuôi én buộc gốc chò bị một con nước xoáy đứt phựt, thuyền lật úp, trôi lềnh bềnh đi đâu.

Những con lũ gối lên nhau, gầm thét đuổi theo nhau Chân lũ này chưa dứt, đỉnh lũ khác đã tràn lên, mấp mé dọa lôi đi, xóa đi cả xóm, cả những cánh rừng âm u Từ những hang hốc thẳm cùng nào, từng đàn cá rái đuôi dài

Trang 22

đen xám như đàn cho nước rùng rùng lội ra, ngoác chiếc mõm hếch, bơi ngược lên hai bên mép lũ Những trận gào nổi kít kít, xá ngang tiếng lũ réo Rồi cả đàn lại vục xuống thốc vào mò cá giữa những cơn lũ gầm thét át cả tiếng rái cá kêu.

Những ngọn lũ cao đương dồn xuống, những ống nước trắng xóa quấn ngang lưng rừng chò Đường khảm qua Nậm Na vướng nước, không qua được”.[2, 200]

Tác giả đặc tả “những con lũ” bằng một loạt những từ ngữ chỉ cảm giácmạnh của con người: “gối”, “gầm thét đuổi theo nhau”, “tràn lên”, “dọa lôi đi,xóa đi”, “dồn xuống”, khiến cho người đọc cảm tháy như đang được chứngkiến cơn lũ khủng khiếp mà có lẽ không cách nào vượt qua được Chỉ có “đànrái cá mới ngang nhiên bơi ngược lên hai mép lũ”, tiếng “gào nổi kít kít, xéngang tiếng lũ réo” của chúng càng làm cho cơn lũ dữ dội hơn, nhưng âmthanh ghê rơn đó cũng không thể át được “những cơn lũ gầm thét” Thời tiếtmiền Tây quả là khắc nghiệt, trong tác phẩm, Tô Hoài nhiều lần miêu tảnhững cơn mưa, cơn lũ bởi đó là chuyện thường xuyên xảy ra khi vào mùa hè

và cũng là mùa mưa, mùa lũ tới Cuộc sống của đồng bào miền núi luôn phảichống chọi với thiên tai ác liệt như vậy Qua đó, chúng ta hiểu thêm đượcnghị lực sống của những con người nơi đây

Phải có một tình yêu thiên nhiên tha thiết, phải có cái nhìn tinh tế, từngtrải và giàu kinh nghiệm Tô Hoài mới miêu tả được bức tranh thiên nhiênmang đậm vẻ riêng của miền núi như thế Dù miêu tả thiên nhiên thơ mộnghay dữ dội, Tô Hoài không miêu tả dài dòng; nhà văn nắm bắt rất nhạy bénnhững nét cô đọng, những chi tiết điển hình nên chỉ chấm phá nhưng vẫn gợi

ra được cái hồn của cảnh vật

2.1.4 Thiên nhiên trong quan hệ với cuộc sống con người

Viết về miền núi, Tô Hoài còn cho thấy thiên nhiên có vai trò nhất địnhvới cuộc sống người dân các dân tộc thiểu số, không chỉ vì thiên nhiên nuôisống con người Thiên nhiên bao quanh họ, họ sống chan hòa với thiên nhiên,

Trang 23

thiên nhiên còn giúp họ lí giải những vấn đề trừu tượng, sâu kín trong tâm

hồn con người Một đoạn đặc tả trong Miền Tây mà khi đọc, người ta không

thể không nhớ, đó là đoạn kể lúc Thào Nhìa từ Lào trở về gia đình, với mẹ,trong lòng thig giằng xé giữa ở lại quê hương hay tiếp tục sang Lào Tô Hoài

viết: “Lúc ấy thằng biệt kích quỵ xuống, tối mặt Nỗi thương tâm trong lòng người con lại nổi lên giày vò, giằng xé, khác nào hai dòng suối đương chảy

ra trước mắt Thào Nhìa, một dòng bình yên – một con lũ hung hăng Dòng suối chảy thủy chung man mác, những ngọn nguồn gốc rễ cha mẹ, anh em họ hàng khi còn bé dại Không, dù chìm nổi bấy nhiêu năm, trong thẳm cùng tấm lòng, con người vẫn nhớ núi, nhớ người Mèo lẽo đẽo đeo cái cùi trên lưng, suốt đời đi tìm đất sống Không bao giờ quên được những thiết tha, những âu yếm, những đâu đớn nó đã trải từ thuở bé Nhưng một con lũ khác cuồng lên, mấp mé rình cuốn theo hết mọi niềm yêu thương , cuốn cả cái thân xác Thào Nhìa ngồi đấy, đương nhợt nhạt lịm đi”.

Để lí giải nỗi giằng xé trong lòng Thào Nhìa, tác giả đã ví tiếng lòngcủa Thào Nhìa như nước lũ Cách viết cụ thể giúp người đọc hiểu được haitâm trạng đối ngược trong một con người Nỗi lòng muốn ở lại quê hương nhàvăn ví là “một dòng bình yên, dòng suối chảy thủy chung man mác” Đốingược lại là muốn tiếp tục sang Lào, Tô Hoài viết “một con lũ hung hăng”đương “mấp mé rình cuốn theo hết mọi niềm yêu thương, cuốn cả cái thânxác Thào Nhìa ngồi đấy” Tô Hoài thật sắc sảo khi ví lòng người với “dòngsuối,con lũ” Người miền núi khi cần diễn đạt một vấn đề gì đó trừu tượng họthường lấy thiên nhiên để ví von, so sánh Học tập cách diễn đạt đó, tác giảviết được một đoạn văn đặc sắc giúp người đọc hiểu được cái sâu sắc của tâmhồn người, đồng thời qua đó Tô Hoài cũng giúp người đọc hiểu ở miền thiênnhiên gần gũi với con người biết nhường nào

Một cách miêu tả khác đó là miêu tả thiên nhiên gắn với tâm trạng của

con người Trong Miền Tây những đoạn miêu tả phong cảnh thiên nhiên

thường giàu màu sắc, tươi tắn và ròng ròng sự sống Bởi vì thiên nhiên miền

Ngày đăng: 19/07/2019, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w