- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữacông ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hộiđồng quản trị, giám đốc, tổng giám
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
I LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 2
II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 4
PHẦN NỘI DUNG 4
I NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 5
1 Một số khái niệm cơ bản 5
2 Quy định của pháp luật kinh doanh thương mại về doanh nghiệp 7
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy định của pháp luật kinh doanh thương mại liên quan đến thi hành án dân sự 14
II THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 15
1 Thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức 15
2 Xác minh điều kiện thi hành án 16
3 Các biện pháp bảo đảm thi hành án 18
4 Biện pháp cưỡng chế thi hành án 20
III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT KINH DOANH THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 31
KẾT LUẬN 36
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
Thi hành án dân sự là hoạt động thực thi các Bản án, Quyết định có hiệu lựccủa Tòa án ra thi hành trong thực tế, đảm bảo pháp luật được thi hành nghiêmchỉnh, nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể, của các tổ chức xãhội và mọi công dân Bản án, Quyết định của Tòa án nhân dân Nhà nước khi đượcchấp hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối vớipháp luật cho nên hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trongviệc giữ gìn kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủnghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế
Mặc dù công tác thi hành án trong nhiều năm qua đạt được kết quả đángkhích lệ, công tác thi hành án dân sự có tăng lên tuy nhiên số lượng án dân sự còntồn đọng còn rất lớn, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ và sự quan tâm mongmỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân Hoạt động thi hành án chưa thực sự đảmbảo được tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật Thực trạng án dân sự tồnđọng này, một trong số nguyên nhân chủ yếu là tồn đọng về án kinh doanh thươngmại bởi lẽ án kinh doanh thương mại thường rất phức tạp, có số lượng tiền phải thihành rất lớn, liên quan đến nhiều mặt vấn đề trong cuộc sống Bản án, quyết địnhkinh doanh thương mại liên quan đến chủ thể đặc biệt trong quan hệ dân sự đó làdoanh nghiệp Sự phát triển của doanh nghiệp là một trong những vấn đề then chốtthúc đẩy sự phát triển của đất nước Bên cạnh sự phát triển của các loại hình doanhnghiệp cũng tồn tại việc tranh chấp liên quan đến các vấn đề tài sản có liên quanđến hoạt động kinh doanh thương mại của doanh nghiệp Hiện nay, hàng năm cómột lượng án lớn về các tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh và một lượng
án tồn đọng từ nhiều năm trước do việc thi hành án kinh doanh thương mại còn
gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Việc lựa chọn đề tài “Phân tích những quy định của pháp luật kinh doanh thương mại liên quan đến hoạt động thi hành án và đưa
ra hướng hoàn thiện” nhằm tiến hành làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
thực hiện việc áp dụng các quy định pháp luật thi hành án dân sự về kinh doanh
Trang 3thương mại, phân tích những khó khăn, vướng mắc, từ đó đưa ra các giải phápnhằm hoàn thiện pháp luật về kinh doanh thương mại nói riêng và pháp luật về thihành án dân sự nói chung.
II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Mục tiêu tổng quát: Nêu được những quy định của pháp luật về kinh
doanh thương mại và phân tích những quy định của pháp luật có liên quan đến thihành án dân sự.
1.2 Mục tiêu cụ thể: Từ những phân tích cụ thể về quy định của pháp luật cóliên quan đến lĩnh vực thi hành án dân sự để đưa ra những kiến nghị và giải pháp
để hoàn thiện các quy định của pháp luật kinh doanh thương mại liên quan đến thihành án dân sự
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ.
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Khái niệm về kinh doanh thương mại.
Theo quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 thì “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Như vậy, có thể hiểu kinh doanh thương mại là quá trình đầu tư tiền của,công sức từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm của một cá nhân hay tổ chức kinh tếvào lĩnh vực mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích tìm kiếm lợinhuận Lợi nhuận là vấn đề hướng tới của các doanh nghiệp khi tham gia hoạtđộng kinh doanh thương mại Khi lợi nhuận bị ảnh hưởng sẽ phát sinh các tranhchấp liên quan đến việc đòi quyền lợi, từ đó nảy sinh ra các tranh chấp liên quanđến hoạt động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp
1.2 Khái niệm về doanh nghiệp, thương nhân.
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đượcđăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (khoản 7Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014)
Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhânhoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh(khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005)
1.3 Khái niệm về chứng khoán.
Trang 5Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoản 2006: Chứng khoán làbằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sảnhoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thứcchứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợpđồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán”
Các đặc điểm của chứng khoán:
- Tính sinh lợi: Là khả năng tạo ra thu nhập của người sở hữu trong những
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữacông ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hộiđồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viêncủa công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức củacông ty
Trang 6- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩmquyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
1.5 Yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầukinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm:
- Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hộiđồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp
- Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyếttranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại
- Yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật về hàngkhông dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay,tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhậnbản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc khôngcông nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoàikhông có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh,thương mại của Trọng tài nước ngoài
- Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩmquyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
2 Quy định của pháp luật kinh doanh thương mại về doanh nghiệp.
Trong các đơn vị kinh doanh của nền kinh tế thì nhóm chủ thể kinh doanhquan trọng nhất và là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của pháp luật kinh doanhthương mại là doanh nghiệp Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 thì hiệnnay tại Việt Nam tồn tại các loại hình doanh nghiệp sau: Công ty Trách nhiệm hữuhạn, Doanh nghiệp nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và doanh nghiệp
tư nhân
Trang 72.1 Công ty Trách nhiệm hữu hạn
2.1.1 Công ty TNHH Hai thành viên trở lên
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là công ty có số lượng thành viêntrong công ty từ 02 thành viên trở lên, số lượng thành viên không vượt quá 50.Thành viên trong ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức (Khoản 1 Điều 47 Luật Doanhnghiệp năm 2014)
- Đặc điểm pháp lý:
+ Là doanh nghiệp có số lượng thành viên tối thiểu là 2 và có không quá 50thành viên trong suốt quá trình hoạt động
+ Có tư cách pháp nhân
+ Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công
ty bằng tài sản của mình (trách nhiệm hữu hạn) Thành viên công ty chịu tráchnhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi sốvốn đã cam kết góp vào công ty Trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên có sựtách bạch về tài sản của công ty với tài sản của các thành viên
+ Không được quyền phát hành cổ phiếu
+ Phần vốn góp của các thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy địnhcủa pháp luật
Đây là một trong những loại hình doanh nghiệp phát sinh phổ biển nhấttrong các tranh chấp thương mại Loại hình doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn cóhai thành viên trở lên có ưu điểm hạn chế rủi ro cho thành viên công ty khi hoạtđộng vì trách nhiệm của thành viên công ty chỉ bị hạn chế trong phạm vi phần vốn
đã góp vào công ty Đồng thời, các thành viên công ty cũng có thể chuyển nhượngvốn, bán lại phần vốn góp cho các cá nhân, tổ chức khác nên là loại hình có khảnăng huy động vốn cao mặc dù quy định việc chuyển nhượng phần vốn góp khánghiêm ngặt Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư
dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập củangười lạ vào công ty Tuy nhiên trên thực tế các loại hình Công ty trách nhiệm hữuhạn hai thành viên trở lên đều được thành lập từ mối quan hệ quen biết hoặc làthành viên gia đình nên thường tin cậy nhau, việc quản lý, điều hành công ty không
Trang 8quá phức tạp do đó ít xảy ra tranh chấp giữa các thành viên trong công ty mà chủyếu phát sinh tranh chấp đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh khác Bên cạnh
đó cũng vì nguyên nhân các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm trên phần vốn
đã góp vào công ty nên loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trởlên cũng có nhược điểm là được ít sự tin tưởng từ các đối tác vì nguyên nhân nàyđôi khi là rào cản để các đối tác tiến hành thu hồi khoản nợ nếu công ty tráchnhiệm hữu hạn có hành vi gian dối trong kinh doanh gây thiệt hại Ngoài ra công tytrách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên cũng không được phát hành cổ phiếu đểhuy động vốn
2.1.2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chứchoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữucông ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công tytrong phạm vi số vốn điều lệ của công ty (Khoản 1 Điều 73 Luật Doanh nghiệpnăm 2014)
- Đặc điểm pháp lý:
+ Do 1 thành viên là tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu
+ Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn
+ Việc chuyển nhượng phần vốn góp của chủ sở hữu được thực hiện theoquy định của pháp luật
+ Có tư cách pháp nhân
+ Không được quyền phát hành cổ phiếu
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên chỉ có duy nhất một chủ sởhữu, nên chủ sở hữu công ty có quyền quyết định toàn bộ trong quản lý và điềuhành công ty, cơ cấu tổ chức đơn giản Chủ sở hữu công ty chỉ chịu trách nhiệmtrong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty nên trách nhiệm khi xảy ra tráchchấp cũng giảm thiểu tối đa thiệt hại cho chủ sở hữu công ty Đây cũng là nguyênnhân dẫn đến thiếu sự tin tưởng giữa các đối tác khi tiến hành hợp tác Công tytrách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu haygiao dịch trên sàn chứng khoán Tuy nhiên, cũng như Công ty Trách nhiệm hữu
Trang 9hạn hai thành viên trở lên thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũnghuy động được vốn bằng cách chuyển nhượng phần vốn góp cho cá nhân hoặc tổchức khác nhưng khi huy động vốn bằng hình thức này thi Công ty trách nhiệmhữu hạn một thành viên phải chuyển đổi hình thức sáng Công ty trách nhiệm hữuhạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần.
2.2 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiềuphần bằng nhau gọi là cổ phần; Số lượng cổ đông tối thiểu là 03, không hạn chế sốlượng tối đa, cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân; Các cổ đông chỉ phải chịutrách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trongphạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, có quyền tự do chuyển nhượng phần vốngóp của minh (Khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp năm 2014)
- Đặc điểm pháp lý:
+ Số lượng thành viên tối thiểu là 03, không hạn chế số lượng tối đa
+ Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổphần
+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản kháccủa doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp
+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho ngườikhác
Do cổ đông công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp nênhạn chế rủi ro cho các cổ đông, đặc điểm này vừa là thuận lợi nhưng cũng là hạnchế đối với công ty cổ phần khi tìm cơ hội hợp tác vì trách nhiệm chỉ là hữu hạn.Tuy nhiên các cổ đông của công ty cổ phần được tự do chuyển nhượng cổ phầncho người khác và công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốnnên đối tượng tham gia công ty cổ phần là rất rộng dẫn đến khó quản lý, các cổđông trong công ty cổ phần thường không quen biết nên dễ tạo thành các nhóm lợiích khác nhau
2.3 Doanh nghiệp tư nhân
Trang 10Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp(Khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014).
Đặc điểm pháp lý:
+ Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ sở hữu Trong doanh nghiệp tưnhân không xuất hiện sự góp vốn giống như ở các công ty nhiều chủ sở hữu, nguồnvốn của doanh nghiệp cũng chủ yếu xuất phát từ tài sản của một cá nhân duy nhất
+ Về quan hệ sở hữu vốn trong doanh nghiệp: Không có giới hạn nào giữaphần vốn và tài sản đưa vào kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân và phần tài sảncòn lại thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp
+ Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý: Doanh nghiệp tư nhân chỉ cómột chủ đầu tư duy nhất, vì vậy cá nhân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quanđến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp
+ Về phân phối lợi nhuận: Toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp sẽ thuộc về một mình chủ doanh nghiệp tư nhân, sau khi
đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước và bên thứ ba
+ Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân
+ Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợphát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp tư nhân
Do trách nhiệm pháp lý chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân chịu toàn bộ tráchnhiệm đối với hậu quả phát sinh từ các tranh chấp nên dẫn đến rúi ro rất cao chochủ sở hữu nên ngày càng ít chủ thể lựa chọn hình thức thành lập doanh nghiệp tưnhân Bên cạnh đó doanh nghiệp tư nhân cũng không được phát hành bất kỳ loạichứng khoán nào hoặc bán phần vốn góp cho cá nhân hoặc tổ chức khác nên việchuy động vốn gặp khó khăn Tuy nhiên cũng vì hình thức chịu trách nhiệm vô hạnbằng toàn bộ tài sản của mình nên doanh nghiệp tư nhân cũng được sự tin tưởngcủa đối tác khi giao kết hợp đồng
2.4 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữuchung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành
Trang 11viên hợp danh) Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viêngóp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm
về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (Khoản 1Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014)
Đặc điểm pháp lý:
+ Phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty cùng nhaukinh doanh dưới 1 tên chung (gọi là thành viên hợp danh); ngoài thành viên hợpdanh có thể có thành viên góp vốn
+ Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng tài sản củamình về các nghĩa vụ của công ty
+ Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công tytrong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
+ Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh
+ Trong quá trình hoạt động công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ
1 loại chứng khoán nào
Tất cả các thành viên hợp danh đều phải liên đới chịu trách nhiệm về mọinghĩa vụ tài sản của công ty hợp danh Trường hợp nếu công ty không đủ khả năngthanh toán các khoản nợ thì các thành viên hợp danh phải cùng nhau gánh vác cáckhoản nợ thay cho công ty Thành viên hợp danh phải mang tài sản dân sự củamình để thực hiện các nghĩa vụ tài chính cho công ty vai trò của các thành viênhợp danh thực chất là những người bảo lãnh liên đới cho mọi hoạt động của công
ty hợp danh Kể từ khi chính thức trở thành thành viên hợp danh của công ty hợpdanh, trách nhiệm và liên đới đã phát sinh hiệu lực đối với thành viên đó Ngay cảkhi thành viên hợp danh rời khỏi công ty thì về nguyên tắc, trách nhiệm của họ đốivới công ty vẫn chưa chấm dứt Ở Việt Nam, trong thời hạn 02 năm kể từ ngàychấm dứt tư cách thành viên hợp danh, các thành viên đó vẫn phải liên đới chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của công ty đãphát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên Ngoài ra, các thành viên hợp
Trang 12danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanhhằng ngày của công ty.
Thành viên góp vốn chỉ phải chịu nghĩa vụ về tài sản trong phạm vi số vốngóp của họ và được hưởng chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn về mặt tài sản Ngoài
ra, thành viên góp vốn có thể chuyển nhượng phần vốn góp của họ khá dễ dàngnhưng thành viên góp vốn chỉ được quyền tham gia vào các công việc quản lý nội
bộ có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ
2.5 Doanh nghiệp nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ (Khoàn 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014).
- Đặc điểm pháp lý:
+ Chủ đầu tư: là Nhà nước
+ Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân
+ Sở hữu vốn: Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%)
+ Hình thức tồn tại: doanh nghiệp nhà nước có nhiều hình thức tồn tại nhưcông ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhànước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước
+ Trách nhiệm tài sản: Doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm
vi tài sản của doanh nghiệp Nhà nước chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tàisản góp vốn vào doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước là một chế định hoàn toàn mới, là điểm mới so vớiLuật Doanh nghiệp 2005 Theo Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì
“Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” và được quy định cụ thể hơn tại Điều 1 Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” Tuy nhiên theo quy định mới tại Khoàn 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” Điều này làm
giảm đi đáng kể việc quy định các doanh nghiệp nhà nước có cổ phần Việc quy
Trang 13định Doanh nghiệp nhà nước tại Luật doanh nghiệp 2014 thể hiện sự bình đẳng củacác doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân đều nhận được sự điềuchỉnh ngang nhau về mặt pháp lý Hiện nay các doanh nghiệp nhà nước tham giavào mọi mặt của đời sống kinh doanh nên cũng là một chủ thể có thể xảy ra tranhchấp đối với các đối tượng kinh doanh khác nhau nên để đảm bảo quyền lợi chocác doanh nghiệp tư nhân thì cần quy định đảm bảo đối với các thành phần kinh tế.
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu quy định của pháp luật kinh doanh thương mại liên quan đến thi hành án dân sự.
Doanh nghiệp là chủ thể đặc biệt trong pháp luật về kinh doanh thương mại.Việc nghiên cứu những quy định của pháp luật kinh doanh thương mại, mà chủyếu là nghiên cứu về chủ thể doanh nghiệp của pháp luật kinh doanh thương mại sẽgiúp người thi hành giải quyết được các vấn đề có liên quan đến đối tượng nàytrong lĩnh vực thi hành án dân sự
Trước tiên, doanh nghiệp phải có tên riêng, tên doanh nghiệp là dấu hiệu đầutiên xác định tư cách chủ thể của doanh nghiệp trên thương trường và là cơ sở đểnhà nước thực hiện quản lý đối với doanh nghiệp
Thứ hai, mục đích của các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh thươngmại nhằm thu về lợi nhuận và tài sản cho nên điều kiện đặc trưng của doanhnghiệp là phải có tài sản Tài sản của doanh nghiệp được hình thành và tồn tại ởnhiều hình thức khác nhau và thường có giá trị lớn bao gồm tiền mặt, tài khoản,vàng, bạc, đá quý, kim khí khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp, đất đai, nhàxưởng, vật kiến trúc, máy móc, trang thiết bị, vật tư, phương tiện vận tải, phátminh sáng chế Nghiên cứu về pháp luật kinh doanh thương mại cho ta thấy cáinhìn tổng thể về tài sản của doanh nghiệp, từ đó có những biện pháp cụ thể tiếnhành xác minh và xử lý tài sản của doanh nghiệp
Thứ ba, việc xảy ra tranh chấp kinh doanh giữa các doanh nghiệp hoặc cácđối tượng kinh doanh thông thường sẽ phải liên quan đến vấn đề xử lý tài sản củadoanh nghiệp Việc nghiên cứu các quy định pháp luật về kinh doanh thương mạigiúp cơ quan thi hành xác định chủ thể tham gia tranh chấp qua đó xác định chủthể tham gia quan hệ tranh chấp, từ đó tiến hành xác định trách nhiệm của doanh
Trang 14nghiệp và xác minh điều kiện thi hành án của doanh nghiệp Việc nghiên cứu loạihình doanh nghiệp giúp xác định trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp là hữu hạnhay vô hạn, từ đó đưa ra hướng xử lý cụ thể.
Ngoài ra, khi tìm hiểu các quy định liên quan đến kinh doanh thương mạicần tìm hiểu về trụ sở kinh doanh của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luậtcủa doanh nghiệp, cơ cấu hoạt động của doanh nghiệp, thẩm quyền ra quyết địnhcủa doanh nghiệp để tìm ra nhiều hướng xử lý hiệu quả hơn
II THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT KINH DOANH THƯƠNG MẠI TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1 Thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
“Trường hợp người được thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được những người này
ký nhận Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn bản thông báo thì những người này ký nhận văn bản thông báo Ngày ký nhận là ngày được thông báo hợp lệ”
(Điều 41 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014)
Việc thực hiện thông báo trực tiếp cho doanh nghiệp tại các hình thức doanhnghiệp khác nhau thì cũng theo những cách khác nhau: Đối với doanh nghiệp tưnhân thì thông báo trực tiếp được giao cho chủ doanh nghiệp tư nhân, đối với công
ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, công ty nhà nước thi được giao chongười đại diện theo pháp luật của công ty đó, còn đối với công ty hợp danh thìđược giao cho thành viên hợp danh Ngoài ra còn có thể giao thông báo trực tiếpcho những người được giao trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức, tuynhiên việc giao thông qua những người chịu trách nhiệm giao nhận văn bản của cơquan, tổ chức không phải lúc nào cũng thực hiện được vì đối với một số loại hìnhdoanh nghiệp vừa và nhỏ thì số lượng nhân viên của công ty cũng không lớn nênnhân viên phải làm rất nhiều công việc có liên quan và không có sự phân công rõràng về việc người được giao thực hiện nhiệm vụ nhận văn bản nên đôi khi việcgiao thông báo cho những đối tượng này gặp nhiều khó khăn
Trang 15Ví dụ : Quyết định số 115/2017/QĐST-KDTM ngày 11/3/2017 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H tuyên: Doanh nghiệp tư nhân VNX có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH X số tiền 140.000.000 đồng Sau khi ban hành Quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, Chấp hành viên tiến hành thông báo trực tiếp cho người phải thi hành án tại địa chỉ trụ sở Doanh nghiệp tư nhân VNX và tại trụ sở của người được thi hành án là Công ty TNHH X Đối với Doanh nghiệp tư nhân VNX thì quyết định thi hành án được thông báo trực tiếp cho chủ Doanh nghiệp tư nhân VNX, đối với Công ty TNHH X thì quyết định thi hành án được thông báo trực tiếp cho đại diện theo pháp luật của Công ty Trường hợp chủ Doanh nghiệp tư nhân VNX và đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X không có mặt tại đại chỉ trụ sở tại thời điểm thông báo trực tiếp thì Chấp hành viên thực hiện thông báo cho người có thẩm quyền nhận thay và yêu cầu người nhận văn bản phải chứng minh được việc ủy quyền nhận văn bản Trường hợp không có người nhận quyết định hợp lệ theo quy định của pháp luật thì chấp hành viên lập biên bản không thực hiện được việc thông báo trực tiếp và tiến hành niêm yết, có chữ ký của người làm chứng.
2 Xác minh điều kiện thi hành án
Theo điểm b Khoản 6 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổsung năm 2014 quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quantrong việc xác minh điều kiện thi hành án:
“Bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; ký vào biên bản trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên, đối với thông tin
về tài khoản thì phải cung cấp ngay”.
Việc xác minh điều kiện thi hành án của doanh nghiệp là một trong nhữngtiền đề cho việc xử lý tài sản của doanh nghiệp để làm căn cứ cho việc thu hồi nợ
Trang 16có hiệu quả hay không Hiện nay việc đăng ký tài khoản của doanh nghiệp rất dễdàng và các tài khoản nằm rải rác ở rất nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng khácnhau nên việc xác minh tài khoản, tài sản của người thi hành án là doanh nghiệp rấtgian nan và phức tạp Đồng thời, nước ta chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia về tàikhoản, tiền gửi khách hàng trong các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại nênviệc thu thập tài khoản của người phải thi hành án là doanh nghiệp còn nhiều bấtcập Trường hợp đã xác minh được tài khoản của doanh nghiệp đang mở tại mộtngân hàng, tổ chức tín dụng xác định thì việc đi xác minh trực tiếp tài khoản tạingân hàng cũng không hề đơn giản và gặp những trở ngại dù luật có quy định cácngân hàng, tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp thông tin của người phải thihành án Mục đích của Ngân hàng, tổ chức tín dụng khi kinh doanh cũng như cácdoanh nghiệp khác là vấn đề lợi nhuận, việc các doanh nghiệp mở tài khoản vàgiao dịch tiền thông qua các tài khoản đem lại lợi ích lớn cho Ngân hàng nên vìđảm bảo lợi ích của mình và bảo đảm quyền lợi của khách hàng thì ngân hàng đôikhi còn có những hành động giấu diếm thông tin của người phải thi hành án, hoặc
có cung cấp thông tin nhưng vẫn tạo điều kiện cho người phải thi hành án thựchiện chuyển tiền gây khó khăn cho quá trình tiếp theo của cơ quan thi hành án dân
sự là phong tỏa tài khoản Đối với những ngân hàng cấp chi nhánh, phòng giaodịch khi thực hiện trái quy định còn có chủ thể ngân hàng hội sở làm áp lực để xử
lý nhưng đối với ngân hàng hội sở làm trái quy định thì hiện nay vẫn chưa có cơchế hiệu quả nào để làm áp lực thu hồi hoặc xử lý sai phạm
Ví dụ: Quyết định số 70/2015/QĐST-KDTM ngày 15/5/2014 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H tuyên: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Công ty TNHH ST có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH KNTT số tiền 2.000.000.000 đồng Ngày 01/10/2015, Công ty TNHH KNTT làm đơn yêu cầu thi hành án, Chi cục Thi hành án dân sự quận T đã ban hành Quyết định thi hành án
số 05/QĐ-CCTHADS ngày 02/10/2015 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự quận T Sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà Công ty TNHH ST vẫn không tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của Công ty TNHH ST có kết quả Công ty TNHH ST có mở tài khoản giao
Trang 17dịch tại Ngân hàng HDA – Hội sở Chấp hành viên tiến hành xác minh số tài khoản của Công ty TNHH ST mở tại Ngân hàng HDA – Hội sở và kết quả tài khoản có số dư là 500.000.000 đồng Chấp hành viên tiến hành phong tỏa số tiền 500.000.000 đồng trong tài khoản của Công ty TNHH ST tại Ngân hàng HDA – Hội sở Tuy nhiên khi Chấp hành viên ban hành quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án thì Ngân hàng HDA – Hội sở không thực hiện quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản với lý do Công ty TNHH ST đang có khoản vay tại ngân hàng dù chưa đến hạn trả nợ.
Do doanh nghiệp phải hoạt động tại đại chỉ đăng ký kinh doanh nên việc xácminh địa chỉ nơi doanh nghiệp đóng trụ sở có phải tài sản của doanh nghiệp không
là một vấn đề rất quan trọng Tuy nhiên hiện nay doanh nghiệp cũng thường xuyênthay đổi vị trí đặt trụ sở nên việc xác minh tài sản đối với nhà đất cũng gặp rấtnhiều khó khăn và thách thức Thời điểm hiện tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minhcòn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai.Căn cứ tại Phụ lục 9 Quyết định số 52/2016/QĐ-UBND ngày 10/12/2016 của Ủyban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì Chấp hành viên thuộc đối tượng đượcmiễn phí xác minh thông tin nhà đất nhưng hiện nay Sở Tài nguyên và Môi trườngThành phố Hồ Chí Minh lại đặt ra quy định thu phí với mức thu từ vài trăm đến vàitriệu đồng dẫn đến việc xác minh xử lý thông tin đã khó khăn thì nay càng gặpthêm khó khăn
3 Các biện pháp bảo đảm thi hành án.
Theo quy định tại điều 66 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sungnăm 2014: Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản củađương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩután, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án Các biện pháp bảo đảm thi hành
án bao gồm:
a) Phong toả tài khoản;
b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;
c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản
Trang 18Sử dụng tài khoản để giao dịch là yêu cầu bắt buộc của doanh nghiệp tronghoạt động kinh doanh thương mại, việc xác minh tài khoản thi hành án của doanhnghiệp là một biện pháp có tính hiệu quả và nhanh chóng để thu hồi khoản nợ phảithi hành Biện pháp phong tỏa tài khoản áp dụng trong trường hợp người phải thihành án phải thi hành khoản nghĩa vụ trả tiền và các thông tin về điều kiện thi hành
án cho thấy người đó đang có tiền trong tài khoản tại ngân hàng hoặc tổ chức tíndụng, tài chính khác Việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản nhằm ngăn chặnngười phải thi hành án thực hiện việc rút toàn bộ tiền hay một khoản tiền trong tàikhoản làm cho số tiền của họ còn lại trong tài khoản nhỏ hơn nghĩa vụ mà họ phảithi hành án Đây là biện pháp rất tiến bộ, phù hợp với thực tiễn công tác thi hành
án dân sự do nó có thể hạn chế được việc người phải thi hành án tẩu tán số tiềnđang có trong tài khoản
Theo Khoản 1 Điều 20 Nghị định 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự: “Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa” Chấp hành viên cần phải tiến hành các hoạt động thu thập thông tin về tài
khoản của người phải thi hành án tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhànước trước khi ban hành quyết định phong tỏa tài khoản của doanh nghiệp
Tuy nhiên, trong thời gian qua, đã xảy ra trường hợp các cơ quan, tổ chứcquản lý tài sản của người phải thi hành án không hợp tác trong việc phong tỏa tàikhoản Điều này đã khiến cơ quan thi hành án gặp khó trong trường hợp tổ chức tíndụng không hợp tác, lấy lý do người phải thi hành án bị phong thỏa tài khoản đangkhiếu nại Hoặc ngân hàng, tổ chức tín dụng đang quản lý tài khoản của doanhnghiệp sau khi cơ quan thi hành án xác minh được số dư tài khoản của doanhnghiệp, tiến hành giao quyết định phong tỏa tài khoản cho ngân hàng, tổ chức tíndụng nhưng ngân hàng, tổ chức tín dụng và không thực hiện ngay việc phong tỏatài khoản ngay dẫn đến việc tài khoản bị tẩu tán Trường hợp khác nữa là ngânhàng nhận quyết định phong tỏa tài khoản nhưng vẫn cố tình phối hợp với doanhnghiệp tẩu tán tiền trong tài khoản đã phong tỏa để thi hành án