Những số liệu,kết quả được trình bày trong khóa luận tốt nghiệp “Thực trạng và một số yếutố liên quan đến nhiễm giun đường ruột ở học sinh tại hai trường tiểu họcthành phố Uông Bí, tỉnh
Trang 1TRẦN THỊ THU HÀ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM GIUN ĐƯỜNG RUỘT Ở HỌC SINH TẠI HAI TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH (2018 – 2019)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN KỸ THUẬT Y HỌC
KHÓA 2015-2019
HẢI PHÒNG, 2019
Trang 2TRẦN THỊ THU HÀ
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM GIUN ĐƯỜNG RUỘT Ở HỌC SINH TẠI HAI TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH (2018 – 2019)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KỸ THUẬT Y HỌC
KHÓA 2015 - 2019
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SĨ VŨ VĂN THÁI
HẢI PHÒNG, 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những số liệu,kết quả được trình bày trong khóa luận tốt nghiệp “Thực trạng và một số yếu
tố liên quan đến nhiễm giun đường ruột ở học sinh tại hai trường tiểu họcthành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (2018 – 2019)” hoàn toàn trung thực,khách quan, chưa được công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào trước đó
Hải phòng, ngày 25 tháng 05 năm 2019
Tác giả
Trần Thị Thu Hà
Trang 4TS BS Vũ Văn Thái - Phó Trưởng Khoa Kỹ thuật Y học, Phó trưởng
bộ môn Ký sinh trùng Đại học Y Dược Hải Phòng, người thầy trực tiếp hướngdẫn, giúp đỡ chỉ bảo cho em những lời khuyên hết sức bổ ích trong quá trìnhhọc tập cũng như hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung Ương và Trung tâmKiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Ninh Ban giám hiệu và tập thể các thầy côgiáo trường tiểu học Phương Nam A và trường tiểu học Yên Thanh, thànhphố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Đã tạo mọi điều kiện cho em trong quá trìnhthu thập số liệu để hoàn thành khóa luận
Cuối cùng, con xin cảm ơn bố mẹ - người đã sinh thành, dưỡng dục,luôn tin tưởng ủng hộ mọi quyết định và lựa chọn của con Con cảm ơn bố mẹ
đã luôn sát cánh bên con trong mọi vui buồn, khó khăn và hạnh phúc
Sinh viên
Trần Thị Thu Hà
Trang 5EPG Eggs per gram
Số trứng trung bình/ 1 gam phân
WHO World Health Organization
Tổ chức y tế Thế giới
Trang 6DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun đường ruột 2
1.2 Tình hình nhiễm giun đường ruột của trẻ em trên Thế giới và Việt Nam 3
1.2.1 Tình hình nhiễm giun đường ruột của trẻ em trên Thế giới 3
1.2.1 Tình hình nhiễm giun đường ruột của trẻ em Việt Nam 3
1.3 Đặc điểm sinh học và chu kỳ của giun đường ruột 5
1.3.1 Hình thể giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ 5
1.3.2 Chu kỳ của giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ 8
1.4 Tác hại của giun đường ruột 12
1.4.1 Tác hại của giun đũa 12
1.4.2 Tác hại của giun tóc 12
1.4.3 Tác hại của giun móc/mỏ 13
1.5 Nguyên tắc phòng chống bệnh giun đường ruột 13
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nhiễm giun đường ruột 14
1.6.1 Yếu tố tự nhiên 14
1.6.2 Yếu tố xã hội 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 15
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 15
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 15
Trang 72.2.3 Chọn
mẫu 15
2.2.4 Kỹ thuật thu thập thông tin 15
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu 16
2.2.6 Các chỉ số nghiên cứu 17
2.3 KỸ THUẬT KHỐNG CHẾ SAI SỐ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 19
2.3.1 Khống chế sai số 19
2.3.2 Phân tích số liệu 19
2.4 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1 Thực trạng nhiễm giun đường ruột ở học sinh tại hai trường tiểu học Phương Nam A và Yên Thanh thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh 20
3.1.1 Tỷ lệ nhiễm giun đường ruột 20
3.1.2 Cường độ nhiễm giun đường ruột 25
3.2 Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun đường ruột ở học sinh .28
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 31
4.1 Thực trạng nhiễm giun đường ruột ở học sinh tại hai trường tiểu học Phương Nam A và Yên Thanh thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2019 31
4.1.1 Tỷ lệ nhiễm giun đường ruột 31
4.1.2 Cường độ nhiễm giun đường ruột 36
4.2 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun đường ruột của học sinh 37
KẾT LUẬN 40
KIẾN NGHỊ 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm giun theo giới của học sinh 22
Bảng 3.4 Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm giun của học sinh 23
Bảng 3.5 Cường độ nhiễm giun đường ruột của học sinh tại hai trường 25
Bảng 3.6 Cường độ nhiễm giun đũa của học sinh theo giới 25
Bảng 3.7 Cường độ nhiễm giun tóc của học sinh theo giới 26
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh với sử dụng hố xí hợp vệ sinh 28
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh với thói quen cắt móng tay 29
Bảng 3.10 Tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh với thói quen rửa tay trước khi ăn, sau khi đi đại tiện 29
Bảng 3.11 Tỷ lệ nhiễm giun ở học sinh với thói quen ăn rau sống 30
Trang 9Hình 1.2 Trứng giun đũa 6
Hình 1.3 Giun tóc đực 6
Hình 1.4 Giun tóc cái 6
Hình 1.5 Trứng giun tóc 7
Hình 1.6 Miệng giun móc 8
Hình 1.7 Miệng giun mỏ 8
Hình 1.8 Trứng giun móc/mỏ 8
Hình 1.9 Chu kỳ giun đũa 9
Hình 1.10 Chu kỳ giun tóc 10
Hình 1.11 Chu kỳ giun móc/mỏ 11
Hình 3.1 Phân bố tỷ lệ nhiễm giun của học sinh tại hai điểm nghiên cứu 21
Hình 3.2 Phân bố tỷ lệ nhiễm giun theo giới của học sinh 23
Hình 3.3 Phân bố tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm giun của học sinh 24
Hình 3.4 Phân bố cường độ nhiễm giun đũa của học sinh theo giới 26
Hình 3.5 Phân bố cường độ nhiễm giun tóc của học sinh theo giới 27
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bệnh giun đường ruột phổ biến trên thế giới và ảnh hưởng lớn đến cácquốc gia kém phát triển và đang phát triển Bệnh lây truyền từ trứng giun cótrong phân người thải ra ngoài làm đất bị nhiễm và tác nhân gây bệnh chủ yếuhiện nay là giun đũa (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura) và
giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator amreicanus) [25], [28], [31].
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 2016 trên toàn thế giới có khoảnggần 2 tỉ người chiếm khoảng 24% dân số thế giới bị nhiễm giun đường ruột.Khu vực nhiễm giun tập trung vào các quốc gia có điều kiện cận nhiệt đới vànhiệt đới tại Châu Phi, Mỹ La Tinh, Trung Quốc và Đông Á, trong đó trẻ em
dễ bị phơi nhiễm bệnh do tình trạng thể chất, dinh dưỡng và nhận thức kém[5], [35]
Việt Nam có khoảng 45 triệu người nhiễm giun, phổ biến khắp các tỉnhthành trên cả nước, 95% người Việt Nam mang mầm bệnh nhiễm giun, trong
đó có 1 người có thể nhiễm 1-3 loài giun [8]
Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở khu vực Đông Bắc của tổ quốc với nhiềukiểu địa hình xen kẽ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa với tập quán sinh hoạt, vệsinh, ăn uống và canh tác còn lạc hậu Chính vì vậy mà tỷ lệ nhiễm giun củangười dân rất cao Xuất phát từ thực tế trên đây, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài:“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun đường
ruột ở học sinh tại hai trường tiểu học thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (2018 – 2019)”.
Mục tiêu của đề tài:
1 Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đường ruột ở học sinh tại hai trường tiểu học Phương Nam A và Yên Thanh thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2018 - 2019.
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm giun đường ruột ở học sinh tại điểm nghiên cứu
Trang 121.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh giun đường ruột
Giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ là những ký sinh trùng có lịch sử xuấthiện từ rất sớm ngay từ khi sơ khai hình thành trái đất và các sinh vật trên tráiđất Bệnh do chúng gây ra đã được nhắc đến trong các tài liệu y học cổ
Giun đũa được EdWard Tyson (Anh Quốc) lần đầu tiên chính thức mô
tả vào năm 1683, với hình dạng giống như giun ở đất và được đặt tên là
“Lumbricus teres” Sau đó các nhà khoa học đã đặt với nhiều tên khác nhau
như Ascaris lumbricoides (Linnaeus, 1758), Lumbricoides vulgaris (Merat,
1821) đến năm 1915 Ủy ban Quốc tế gồm 66 thành viên của các nước đã
chính thức xác nhận tên giun đũa trên danh mục động vật học là Ascaris
lumbricoides [17], [19].
Giun tóc được mô tả lần đầu tiên bởi Linnaeus vào năm 1771, tiếp theochu kỳ của giun tóc được Grassi xác định năm 1887 và được Fulleborn hoànchỉnh vào năm 1923 Tình hình nhiễm giun tóc trên thế giới được Corn tổnghợp năm 1938 và được đánh giá là loại giun phổ biến Giun tóc có nhiều tên
gọi khác nhau như Ascaris trichiura (Linnaeus, 1771), Trichocephalu
hominis (Zeder, 1803), Trichocephalus suis (Schrank, 1788), Trichiuris trichiura (Stiles, 1901) trong đó Trichiuris trichiura được các chuyên gia
Châu Mỹ thống nhất là tên gọi chính thức vào năm 1941 [2], [20], [33]
Bệnh giun móc đã được mô tả từ lâu trong các tài liệu cổ và đến thế kỷ
17 được nhiều tác giả mô tả đầy đủ hơn như Jakok de Bondt (1629), Pison vàMagraff (1648) Năm 1843, Dubini đã phát hiện thấy giun móc ở tử thi một
bệnh nhân ở Milan đặt tên là Ancylostoma duodenale Tiếp sau đó, một số tác
Trang 13giả khác như Prunez (1847), Bilharz (1852), Criesinger (1854) cũng phát hiện
tương tự và mô tả thêm Tuy nhiên, tên gọi Ancylostoma duodenale được các
nhà khoa học thống nhất trong danh mục động vật học vào năm 1915 [19], [20].Tại Việt Nam năm 1936, Đặng Văn Ngữ đã có công trình nghiên cứu cácloài giun sán ký sinh trùng và xác định tình hình nhiễm giun sán ở người [2]
Từ đó đến nay đã có hàng ngàn công trình nghiên cứu về giun sán nói chungcũng như các loại giun đường ruột nói riêng
1.2 Tình hình nhiễm giun đường ruột của trẻ em trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình nhiễm giun đường ruột của trẻ em trên Thế giới
Nhiễm giun là bệnh thường gặp ở người, hay gặp ở các nước nhiệt đới,phần lớn các nước đang phát triển là vùng nhiễm ký sinh trùng Theo thống kêcủa WHO 2004, có đến 230 triệu trẻ em từ 0-4 tuổi bị nhiễm giun, vùng bịnhiễm nhiều nhất là vùng châu Á, Trung Quốc, Ấn Độ và sa mạc Sahara [34] Theo nghiên cứu của Pullan RL, trên toàn cầu trong năm 2010, khoảng5,3 tỷ người, trong đó có 1,0 tỷ trẻ em ở độ tuổi đi học sống ở các khu vực lưuhành bệnh nhiễm ít nhất một loài giun đường ruột với 69% sống ở Châu Á.Hơn 143 triệu người, trong đó có 31,1 triệu trẻ em ở độ tuổi đi học sống ở cáckhu vực có nguy cơ nhiễm giun [32]
Bệnh giun đũa rất phổ biến trên thế giới, có mặt hầu hết ở các châu lục:Châu Á có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất khoảng 70%, Châu Phi là 32,32%,các nước Châu Mỹ có tỷ lệ khoảng 8% Tình trạng nhiễm giun đũa ở trẻ emtại một số nước Đông Nam Á: Thủ đô Kuala Lumpur có tỷ lệ nhiễm giun15,5%, ở Sulawesi có tỷ lệ nhiễm 59,8%, Sukaraja có tỷ lệ nhiễm 44%,Philippin có tỷ lệ nhiễm 70,6% [35]
Do tính chất sinh thái giống nhau giữa giun đũa và giun tóc nên cácvùng có bệnh giun đũa đều có bệnh giun tóc Bệnh giun tóc phổ biến ở các
Trang 14Bệnh giun móc cũng gặp ở hầu hết các nước trên thế giới, nhưng chủyếu ở các nước nhiệt đới như Nam Mỹ, Châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á vàmột số nước Châu Âu Các nước khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ nhiễm phụthuộc vào từng nước, từng khu vực: Thái Lan là 40,56%, Indonesia là 52% -80%, Malaysia 43% - 51%, Singapore tỷ lệ nhiễm thấp 0,3% - 6,1%, Lào 2%-31%, Campuchia 35% - 56% [13], [34].
1.2.1 Tình hình nhiễm giun đường ruột của trẻ em Việt Nam
Việt Nam là một nước nhiệt đới, nóng, ẩm nằm ở vùng Đông Nam Á.Nhìn chung đây là một nước có điều kiện thuận lợi cho trứng GĐR phát triển.Mặt khác, Việt Nam là một nước nông nghiệp có nền kinh tế đang phát triển,
có nhiều phong tục, tập quán lạc hậu như ăn rau sống, dùng phân tươi trongcanh tác… Tất cả yếu tố trên đã tạo điều kiện cho mầm bệnh giun sán tồn tại
và phát triển Vì vậy, tình trạng nhiễm các loại GĐR là phổ biến và có tỷ lệnhiễm phối hợp cao [24], [26]
Ở Việt Nam, nhiễm giun là vấn đề sức khỏe cộng đồng Trên toàn quốcước tính số người nhiễm giun đũa khoảng 60 triệu, giun tóc 40 triệu và giunmóc/mỏ 40 triệu, tỷ lệ nhiễm nói chung từ 50-60% [4] Đặc biệt, tỷ lệ đanhiễm hai, ba loại giun rất cao đạt 60-70% Riêng trẻ em, tỷ lệ nhiễm giun từ36,1-99,8%; trong đó, nhiễm giun đũa 30,4-93,9%, giun móc 6,4-70,2%, giuntóc 0,7-86,6% Cường độ nhiễm giun khá cao, 1 gam phân có 8,199 trứnggiun đũa, 264 giun tóc [9] Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới năm 2013,Việt Nam có tới 4 triệu trẻ mầm non và mẫu giáo; 6 triệu trẻ học tiểu học và
19 triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có nguy cơ nhiễm giun cao [35]
Trang 15Kết quả điều tra trên toàn quốc từ năm 2006 đến năm 2010 của Viện Sốtrét - ký sinh trùng và côn trùng trung ương cho thấy trẻ em có tỷ lệ nhiễmchung là 34% Trẻ em ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Điện Biên, Lạng Sơn
có tỷ lệ nhiễm giun đường ruột lần lượt là 77,9%; 76,4%; 54% và 63%, caohơn so với các tỉnh thành khác [30]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Châu Thành và cộng sự tại trường tiểuhọc xã Ea Phe và xã Ea kuang huyện Krông Pách tỉnh Đắk Lắc năm 2011 chothấy, tỷ lệ nhiễm giun đường ruột của học sinh là 19,51% Trong đó, tỷ lệnhiễm giun đũa và giun móc lần lượt là 19,25% và 0,65% [23]
Năm 2015, Đinh Thị Thanh Mai và cộng sự tiến hành điều tra tình trạngnhiễm giun đường ruột của người dân xã Tú Sơn, Kiến Thụy, Hải Phòng Kếtquả cho thấy, tỷ lệ nhiễm giun đường ruột ở đây chiếm tới 42,6% Trong đó,
tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc và giun móc lần lượt là 21,6%; 16,9%; 6,5%.Trẻ em 6-10 tuổi có tỷ lệ nhiễm giun đũa là 37,0% và giun tóc là 27,4%, caohơn so với các lứa tuổi khác [14]
1.3 Đặc điểm sinh học và chu kỳ của giun đường ruột
1.3.1 Hình thể giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ
1.3.1.1 Hình thể giun đũa
* Giun đũa trưởng thành:
Giun đũa (Ascaris lumbricoides) có màu trắng hồng như sữa, con cái dài
20 - 25cm, con đực dài 15 - 17cm, hai đầu nhọn, con đực có đuôi cong vềphía bụng
* Trứng giun đũa:
Trứng giun đũa hình bầu dục dài 40 - 45μm Ngoài cùng là lớp vỏ xù xì,m Ngoài cùng là lớp vỏ xù xì,phần vỏ này thường bắt màu vàng
Trang 16Hình 1.1 Giun đũa trưởng thành Hình 1.2 Trứng giun đũa
Trang 17Hình 1.5 Trứng giun tóc (http://www.cdc.gov)
1.3.1.3 Hình thể giun móc/mỏ
* Giun móc/mỏ trưởng thành:
Giun móc con trưởng thành có màu trắng sữa hoặc hơi hồng Con đựcdài 8 - l1mm, con cái dài 10 - 13mm Trong bao miệng có hai đôi răng hìnhmóc ở bờ trên của miệng, bố trí cân đối, bờ dưới của miệng là các bao cứnggiúp giun móc ngoạm chặt vào niêm mặc ruột để hút máu
Giun mỏ nhìn đại thể khó phân biệt với giun móc Tuy nhiên ta có thể thấy cácđiểm sau: Giun mỏ nhỏ hơn, ngắn hơn giun móc Miệng hơi tròn và nhỏ hơn giunmóc, không có 2 đôi móc mà thay vào đó là 2 đôi răng hình bán nguyệt sắc bén
Trang 18Hình 1.6 Miệng giun móc
Hình 1.7 Miệng giun mỏ (http://www.cdc.gov)
(http://www.cdc.gov)
Hình 1.8 Trứng giun móc/mỏ(http://www.cdc.gov)
1.3.2 Chu kỳ của giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ
Chu kỳ của giun là quá trình từ khi nhiễm phải trứng hay ấu trùng tới khiphát triển thành thể trưởng thành và có khả năng đẻ ra trứng trong phân Chu
kỳ của 3 loại giun này đều chung một kiểu chu kỳ đơn giản:
Người Ngoại cảnh
Nghĩa là người đào thải mầm bệnh ra ngoại cảnh và mầm bệnh lại từngoại cảnh vào người
Trang 191.3.2.1 Chu kỳ của giun đũa
Hình 1.9 Chu kỳ của giun đũa
(http://www.cdc.gov)Giun đũa sống ở ruột non của người, ăn các dưỡng chất mới được tiêu hóa.Sau khi giao hợp, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoại cảnh Sau mộtthời gian phát triển ở ngoại cảnh, trứng phát triển thành trứng có ấu trùng,trứng có ấu trùng này lại nhiễm vào người qua đường tiêu hóa Khi vào đến
dạ dày, nhờ sức co bóp cơ học và dịch vị làm cho ấu trùng thoát ra khỏi vỏ,chui qua các mao mạch ở ruột vào tĩnh mạch mạc treo để đi về gan Sau đó ấutrùng lại đi theo tĩnh mạch trên gan để vào tĩnh mạch chủ và vào tim phải Từtim phải ấu trùng theo động mạch phổi để tới phổi, chui qua thành mạch vàophế nang, phát triển nhanh tại phế nang, ấu trùng theo các phế quản lên khíquản, lên hầu rồi được nuốt vào theo thực quản xuống ruột non, cư trú ở đólột xác 4 lần, phát triển thành giun trưởng thành
Thời gian hoàn thành chu kỳ khoảng 60 - 75 ngày
Giun đũa sống trong cơ thể người khoảng 12 - 18 tháng [17], [26]
Trang 20Hình 1.10 Chu kỳ của giun tóc(http://www.cdc.gov)Giun tóc ký sinh ở đại tràng, chủ yếu ký sinh ở vùng manh tràng nhưng cũng
có khi ký sinh thấp ở trực tràng Tại nơi ký sinh, giun tóc cắm phần đầu vàoniêm mạc của đại tràng để hút máu Sau khi giao hợp giun cái đẻ trứng, trứngtheo phân ra ngoại cảnh Khi ra ngoại cảnh gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ,
độ ẩm thích hợp và có oxy), trứng phát triển thành trứng có ấu trùng Người
ăn phải trứng có ấu trùng vào ruột, ấu trùng sẽ thoát vỏ xuống đại tràng và kýsinh ở đó phát triển thành giun trưởng thành
Thời gian hoàn thành chu kỳ của giun tóc khoảng 30 ngày
Đời sống của giun tóc trung bình từ 5 - 6 năm [17], [26]
1.3.2.3 Chu kỳ của giun móc/mỏ
Trang 21Chu kỳ giun móc và giun mỏ giống nhau Giun móc/mỏ ký sinh chủ yếu
ở tá tràng Giun móc/mỏ cái trưởng thành đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoạicảnh gặp điều kiện thuận lợi phát triển thành ấu trùng các giai đoạn I, II, III,
ấu trùng giai đoạn III mới có khả năng xâm nhập vào vật chủ qua đường da vàniêm mạc Sau khi xâm nhập qua da, ấu trùng theo đường tĩnh mạch về timphải, rồi theo động mạch phổi vào phổi, lên hầu họng, theo thực quản xuốngruột trở thành giun móc/mỏ trưởng thành
Thời gian hoàn thành chu kỳ là 45 - 50 ngày
Giun móc có đời sống từ 5 - 10 năm
Hình 1.11 Chu kỳ của giun móc/mỏ(http://www.cdc.gov)
Chu kỳ của giun móc/mỏ nhiễm qua đường tiêu hoá có nhiều điểm khácbiệt quan trọng so với chu kỳ giun móc/mỏ nhiễm qua đường da, ấu trùnggiun móc/mỏ theo thực phẩm tươi sống, rau quả nhiễm qua đường ăn uống.Khi nhiễm qua đường này, ấu trùng không có giai đoạn chu du trong cơ thể
Ấu trùng xuống thẳng ruột non chui vào niêm mạc ruột, phát triển ở đó rồichui vào lòng ruột, phát triển thành giun trưởng thành [17], [26]
1.4 Tác hại của giun đường ruột
Trang 221.4.1 Tác hại của giun đũa
1.4.1.1 Tác hại do ấu trùng:
Trong giai đoạn chu du, ấu trùng giun đũa gây tổn thương những cơquan, tổ chức mà ấu trùng đi qua, biểu hiện rõ ở phổi, gây hội chứng Loeffler.Tại phổi, ấu trùng gây tổn thương phế nang làm chảy máu, đồng thời gâyviêm, dị ứng… biểu hiện lâm sàng là ho khan, đau ngực, xét nghiệm máu thấybạch cầu ái toan tăng Nếu nhiễm ấu trùng giun đũa, hội chứng nhất định sẽxảy ra từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 10 Mức độ hội chứng phụ thuộc vào cơ địabệnh nhân, những người có cơ địa dị ứng thì triệu chứng rầm rộ hơn
1.4.1.2 Tác hại gây ra do giun trưởng thành:
Giun đũa trưởng thành trực tiếp chiếm chất dinh dưỡng, gây rối loạnchuyển hoá và tác động cơ học gây nên những biến chứng ngoại khoa nguyhiểm Nghiên cứu trên trẻ em nhiễm giun đũa, với số lượng trung bình 26giun/em với chế độ ăn hàng ngày từ 35-50g protein, kết quả cho thấy: các em
bị mất đi 4g protein/ngày Trong những trường hợp nhiễm nhiều giun còn gâyrối loạn chuyển hoá protein Trẻ em ở nhóm nhiễm giun gây suy dinh dưỡng
là 49%, ở nhóm trẻ không bị nhiễm giun là 32%
1.4.2 Tác hại của giun tóc
Nếu số lượng nhiễm ít, sẽ không có biểu hiện lâm sàng Trường hợpnhiễm nhiều, niêm mạc ruột sẽ bị tổn thương nặng và luôn bị kích thích gâynên các triệu chứng buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy hay hội chứng giống lỵ (đingoài nhiều lần, phân có lẫn nhầy máu mũi) Chỗ trực tràng bị viêm và trựctràng bị sa thường phủ đầy giun
Trang 23Nhiễm giun tóc nhiều sẽ dẫn đến hội chứng thiếu máu Ở trẻ nhỏ sẽ gâychậm lớn, chậm phát triển trí tuệ Giun tóc ký sinh trong ruột thừa, hoặc chínhchúng là tác nhân dẫn vi trùng vào gây nên tình trạng viêm ruột thừa.
1.4.3 Tác hại của giun móc/mỏ
1.4.3.1 Tác hại do ấu trùng giun móc/mỏ gây ra
Khi ấu trùng xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua da (thường thấy nhất ở
mu bàn chân, kẽ ngón chân, ngón tay), ấu trùng gây mẩn đỏ, ngứa ngáy khóchịu, biểu hiện là viêm da, còn gọi là bệnh “đất ăn chân” Bệnh diễn biến 3 - 5ngày rồi hết, nhưng cũng có thể kéo dài hàng tuần [26] Giai đoạn ấu trùngqua phổi gây nên hội chứng Loeffler, thường nhẹ hơn ấu trùng giun đũa, gâyviêm phế quản phổi không điển hình: ho, đờm có máu, sốt thất thường Hộichứng này chỉ tồn tại một thời gian ngắn rồi khỏi
1.4.3.2 Tác hại do giun móc/mỏ trưởng thành
Giun móc/mỏ trưởng thành dùng răng ngoạm vào niêm mạc ruột để hútmáu, đồng thời gây chảy máu tại nơi giun bám vào, gây mất một khối lượngmáu đáng kể Như vậy hậu quả nghiêm trọng nhất của giun móc/mỏ là thiếumáu Thiếu máu do giun móc/mỏ, không những làm giảm hemoglobin, giảmsắt, mà còn giảm protein, giảm vitamin A, B1, B2, C
1.5 Nguyên tắc phòng chống bệnh giun đường ruột
Cả ba loại giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ là những giun nhiễm từ đấtnên phòng chống các loại giun này đều dựa trên ba nguyên tắc sau:
- Tiến hành trên quy mô rộng lớn: Các bệnh giun trên là bệnh phổ biến,mang tính chất xã hội nên công tác phòng chống không thể tiến hành một cáchđơn lẻ mà là công việc của cả cộng đồng
- Phải tiến hành thường xuyên và lâu dài: Con người liên tục bị tái nhiễmbởi mầm bệnh giun ở ngoại cảnh do chính con người thải ra Mặt khác, miễndịch tạo được do các bệnh giun chưa cao và không có tác dụng bảo vệ Vì vậycông tác phòng chống phải thường xuyên, liên tục và trong một thời gian dàimới đạt được hiệu quả
Trang 24đủ oxy, ấm, ẩm ướt, độ ẩm cao, nhiệt độ từ 200C - 300C, râm mát, lượng mưacần phải đạt 100mm đối với bất kỳ tháng nào, tức là 9 - 10 ngày mưa/tháng,
pH đất trung tính, độ mùn của đất cao và các điều kiện kinh tế - xã hội khácphải phù hợp Mật độ dân số cao ở những thành phố, thị trấn, đồng bằng, tạođiều kiện thuận lợi lan truyền bệnh GĐR
Nếu một nơi nào đó, lượng mưa trung bình hằng năm đủ cho trứng và ấutrùng GĐR phát triển, nhưng mưa chỉ tập trung theo mùa và chỉ kéo dài vàitháng thì sự lây nhiễm ở đó rất nhẹ Nhiễm GĐR nặng có thể xảy ra ở vùngkhô cằn, nếu như việc tưới nước cho cây trồng ở đó đủ tạo ra độ ẩm thích hợp(Bắc Phi, Đông Địa Trung Hải, Tây Bắc Ấn Độ) Sự nhiễm giun móc/mỏcũng có thể xảy ra ở những vùng hầm mỏ, đường hầm
1.6.2 Yếu tố xã hội
Kinh tế nước ta chủ yếu là nền nông nghiệp, có tập quán dùng phân tươi
để bón ruộng và hoa màu không qua giai đoạn xử lý Mặt khác không sử dụngbảo hộ lao động, thói quen đi chân đất, ăn rau sống, uống nước chưa đun sôi,thói quen phóng uế bừa bãi, không rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh,việc sử dụng hố xí không hợp vệ sinh tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinhtrưởng, phát triển và lan truyền của bệnh GĐR
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Trang 25Nghiên cứu được tiến hành tại hai trường tiểu học Phương Nam A vàtrường tiểu học Yên Thanh, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Là học sinh tiểu học
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Học sinh đang học tại 2 trường tiểu học Phương Nam A và Yên Thanh
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bố mẹ trẻ không đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu
- Học sinh đã tẩy giun trong vòng một tuần tính đến ngày nghiên cứu
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11/2018 - 05/2019
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu
Chúng tôi áp dụng công thức tính cỡ mẫu nghiên cứu:
Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu cần phải điều tra
Z1 – α/2: hệ số tin cậy, với α = 0,05, độ tin cậy 95% thì Z1 – α/2 = 1,96
p: tỷ lệ nhiễm giun ước lượng là 0,3 (theo kết quả nghiên cứu của Bộmôn Ký sinh trùng trường Đại Học Y Dược Hải Phòng năm 2016)
Trang 26chúng tôi phát phiếu hỏi cho học sinh từ lớp 3 đến lớp 5 của trường tiểu họcPhương Nam A và trường tiểu học Yên Thanh gồm 338 học sinh.
2.2.3 Chọn mẫu:
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng
- Cách chọn mẫu: Mỗi trường có 5 khối lớp (lớp 1, 2, 3, 4, 5), chúngtôi chọn chủ đích 3 khối (lớp 3, 4, 5) Mỗi khối chúng tôi chọn 2 lớp vàonghiên cứu
2.2.4 Kỹ thuật thu thập thông tin
2.2.4.1 Kỹ thuật xét nghiệm phân
Xét nghiệm phân theo kỹ thuật Kato - Katz để xác định tỷ lệ và cường độnhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ của học sinh (theo quy trình củaWHO, 1996) [33]
Trang 27- Giấy thấm và găng tay.
* Hóa chất:
- Thành phần
Nước cất 100ml
Glycerin nguyên chất 100 ml
Dung dịch xanh Malachite (3%) 1ml
Trộn đều các hỗn hợp nói trên
- Các mảnh giấy cellophane được ngâm vào dung dịch này 24 giờ trướckhi sử dụng
- Dùng nút cao su ấn nhẹ cho phân dàn đều đến rìa của mảnh cellophane
- Để tiêu bản ở nhiệt độ phòng từ 15 đến 30 phút, sau đó đem soi dướikính hiển vi quang học với vật kính và thị kính 10
- Đếm toàn bộ trứng có trong tiêu bản và nhân với 24 sẽ được tổng sốtrứng trong 1 gam phân
2.2.4.2 Kỹ thuật điều tra KAP
- Phỏng vấn trực tiếp các em học sinh bằng bộ phiếu phỏng vấn (phụ lục1) gồm các câu hỏi dạng đóng, đơn giản, dễ hiểu
2.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Trang 28học sinh và hướng dẫn cho học sinh cách lấy phân, thời gian lấy phân là sángngày hôm sau, lấy phân xong đưa ngay đến địa điểm xét nghiệm.
- Sau khi thu thập, các mẫu phân sẽ được xét nghiệm ngay trong ngàybằng kỹ thuật Kato - Katz để xác định tỷ lệ nhiễm và mức độ nhiễm GĐR
- Các kết quả xét nghiệm phân được ghi vào phiếu xét nghiệm
- Phỏng vấn học sinh bằng bộ phiếu phỏng vấn
2.2.6 Các chỉ số nghiên cứu
2.2.6.1 Nhóm chỉ số mô tả tỷ lệ hiện nhiễm
Tổng số đối tượng XN dương tính
(hoặc 1 loại hoặc 2 loại hoặc 3 loại)
Tỷ lệ nhiễm chung = x 100
Tổng số đối tượng được xét nghiệm
Tổng số đối tượng nhiễm 1 loại giun
(hoặc GĐ hoặc GT hoặc GM/M)
Tỷ lệ đơn nhiễm = x 100
Tổng số đối tượng nhiễm giun
Tổng số đối tượng nhiễm 2 loại giun
(hoặc GĐ+GT hoặc GĐ+GM/M hoặc GT + GM/M)
Tỷ lệ nhiễm = x 100
2 loại Tổng số đối tượng nhiễm giun
Tổng số đối tượng nhiễm 3 loại giun
(giun đũa + giun tóc + giun móc/mỏ)
Tỷ lệ nhiễm 3 loại = x 100 Tổng số đối tượng nhiễm giun
2.2.6.2 Chỉ số mô tả cường độ nhiễm
Trang 29- Cường độ nhiễm giun là toàn bộ số trứng đếm được/1g phân (epg).
- Cường độ nhiễm trung bình là số trứng trung bình/1g phân được tínhnhư sau:
Tổng số trứng/1g phân của các cá thể
Số trứng TB/1g phân =
Tổng số đối tượng nhiễm giun
Bảng 2 Phân loại cường độ nhiễm các loại giun theo TCYTTG
Cường độ
Loại giun
Cường độnhiễm nhẹ
Cường độnhiễm trung bình
Cường độnhiễm nặngGiun đũa 1 - 4.999 epg 5.000 - 49.999 epg ≥ 50.000 epgGiun tóc 1 - 999 epg 1.000 - 9.999 epg ≥ 10.000 epgGiun móc/mỏ 1 - 1.999 epg 2.000 - 3.999 epg ≥ 4.000 epg
2.2.6.3 Nhóm chỉ số về yếu tố liên quan đến nhiễm giun đường ruột
+ Có và không sử dụng hố xí hợp vệ sinh*
+ Có và không ăn rau sống
+ Có và không rửa tay trước khi ăn, sau khi đại tiện
+ Có và không cắt móng tay
+ Có và không uống thuốc tẩy giun trong vòng 6 tháng
Hố xí hợp vệ sinh*: Hố xí hợp vệ sinh là các loại hố xí hai ngăn ủ phân
tại chỗ, hố xí chìm có ống thông hơi được làm cách xa nơi ở và sinh hoạt, hố
xí thấm dội nước, tự hoại được sử dụng và bảo quản theo tiêu chuẩn vệ sinhcác loại nhà tiêu Bộ Y Tế ban hành (Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT ngày11/03/2005)
Trang 30chúng tôi tập huấn thành thạo kỹ thuật điều tra cho các điều tra viên.
2.3.2 Phân tích số liệu
- Số liệu thu thập trong nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thống
kê y học và sử dụng phần mềm SPSS 20.0
- Kết quả nghiên cứu được trình bày theo tỷ lệ % của các biến số
2.4 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
- Phụ huynh và học sinh được thông báo trước và giải thích về mục đích,yêu cầu và lợi ích của cuộc điều tra Đồng ý tham gia một cách tự nguyện vàocuộc điều tra
- Số liệu, thông tin được đảm bảo tính bí mật, chỉ nhằm mục đích phục
vụ cho nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu, ý kiến đề xuất được sử dụng vàomục đích phục vụ sức khỏe của học sinh, ngoài ra không phục vụ mục đíchnào khác
- Được sự nhất trí và ủng hộ của Ban giám hiệu nhà trường, phụ huynhhọc sinh