1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN đến KIẾN THỨC – THỰC HÀNH về QUẢN lý CHẤT THẢI y tế của điều DƯỠNG VIÊN tại BỆNH VIỆN đại học y hải PHÒNG năm 2019

78 378 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 417,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÀO THỊ THẮM THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC – THỰC HÀNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y... Thống kê của Tổ chức Y tế thế giới W

Trang 1

ĐÀO THỊ THẮM

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

ĐẾN KIẾN THỨC – THỰC HÀNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y

HẢI PHÒNG NĂM 2019

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG

KHÓA 2015 – 2019

HẢI PHÒNG – 2019

Trang 2

ĐÀO THỊ THẮM

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

ĐẾN KIẾN THỨC – THỰC HÀNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y

Trang 3

Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo và quản lý khoa học Trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Toàn thể cán bộ, giảng viên khoa Điều dưỡng – Trường Đại học YDược Hải Phòng đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoànthành luận văn

Ban Giám đốc Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng, Các khoa phòng

-Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện học tập, nghiên cứu vàgiúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

Thạc sỹ Bùi Thị Thanh Mai - Giảng viên Bộ môn Điều dưỡng cộng

đồng, Khoa Điều dưỡng, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, cô là người đãtrực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình họctập và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô, gia đình, bạn bè đã độngviên, giúp đỡ và ủng hộ tôi rất nhiều trong học tập và trong quá trình hoànthành luận văn

Hải Phòng, ngày 25 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Đào Thị Thắm LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Đào Thị Thắm

Trang 4

của điều dưỡng viên tại bệnh viện đại học y Hải Phòng năm 2019."

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các sốliệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác

Hải Phòng, ngày 25 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Đào Thị Thắm

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

CTRYTLN Chất thải rắn y tế lây nhiễm

(Virus viêm gan siêu vi B)

(Virus viêm gan siêu vi C)

(Virut gây suy giảm miễn dịch ở người)

TN&MT Tài nguyên và môi trường

(Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Khái niệm và định nghĩa 3

1.1.1.Định nghĩa CTYT 3

1.1.2 Khái niệm quản lý chất thải y tế 4

1.1.3 Thành phần chất thải rắn y tế 5

1.2 Phân loại chất thải y tế 6

1.2.1.Nguyên tắc phân lại chất thải y tế 6

1.2.2 Phân loại chất thải y tế 6

1.2.3 Quy đinh về màu sắc thùng đựng rác thải y tế 8

1.3 Ảnh hưởng của CTYT tới sức khỏe 9

1.3.1 Đối tượng chịu ảnh hưởng 9

1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế với sức khoẻ 10

1.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường và cộng đồng 12

1.4.1 Đối với môi trường đất 12

1.4.2 Đối với môi trường không khí 12

1.4.3 Đối với môi trường nước 13

1.4.4 Ảnh hưởng của CTYT với cộng đồng 13

1.5 Thực trạng công tác quản lý CTYT 14

1.5.1.Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới 14

1.6.2 Thực quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 15

1.6.3 Công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đại học y Hải Phòng 18

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu: 20

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

Trang 7

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 20

2.2.3 Nội dung nghiên cứu 21

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin 21

2.2.5 Xử lý số liệu 22

2.2.6 Tiêu chuẩn đánh giá 22

2.2.7 Các sai số và cách khắc phục 22

2.2.8 Đạo đức nghiên cứu 23

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

3.1 Kiến thức - thực hành về quản lý chất thải rắn y tế 24

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2 Kiến thức - thực hành về quản lý chất thải rắn y tế 27

3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức - thực hành của điều dưỡng viên tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng năm 2019 35

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 43

4.1 Kiến thức - thực hành về quản lý chất thải rắn y tế 43

4.1.1 Đặc diểm của đối tượng nghiên cứu 43

4.1.2 Thực trạng kiến thức thực hành về quản lý chất thải rắn y tế của điều dưỡng viên 44

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức thực hành về quản lý chất thải của điều dưỡng viên 50

4.2.1 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và kiến thức thực hành về quản lý chất thải của điều dưỡng viên 50

4.2.2 Mối liên quan giữa giới với kiến thức thực hành QLCTYT của điều dưỡng viên 51

Trang 8

4.2.5 Mối liên quan giữa thâm niên công tác và kiến thức thực hành của điều dưỡng viên 524.2.6 Mối liên quan giữa kiến thức và kiến thức thực hành của điều dưỡng viên 52KẾT LUẬN 53

1 Kiến thức thực hành về quản lý CTYT của điều dưỡng viên tại bệnh viện đại học y Hải Phòng 53

2 Các yếu tố liên quan đến kiến thức thực hành về quản lý chất thải của điều dưỡng viên 54KIẾN NGHỊ 55TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHIẾU KHẢO SÁT

Trang 9

Bảng 1.1 Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới [8] 14

Bảng 3.1 Phân bố điều dưỡng viên theo tuổi 24

Bảng 3.2 Phân bố điều dưỡng viên theo trình độ học vấn 25

Bảng 3.3 Phân công điều dưỡng viên theo khối công tác 27

Bảng 3.4 Kiến thức về phân loại CTYT, CTYT nguy hại, CTYT lây nhiễm 27

Bảng 3.5.Kiến thức về phân loại CTYT vào các loại thùng, túi 29

Bảng 3.6: Thời điểm, đối tượng và vị trí đặt túi, thùng để phân loại CTYT 30

Bảng 3.7.Kiến thức về thu gom CTYT 31

Bảng 3.8.Kiến thứcvề quản lý chất thải rắn của điều dưỡng viên 32

Bảng 3.9.Kiến thức thực hành về phân loại CTYT của điều dưỡng viên 32

Bảng 3.10 Kết quả về kiến thức thực hành về phân loại CTYT của điều dưỡng viên 34

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tuổi với kiến thức về quản lý CTYT của điều dưỡng viên 35

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa giới với kiến thức quản lý CTYT của điều dưỡng viên 36

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa khối công tác với kiến thức về quản lý chất thải của điều dưỡng viên 36

Bảng 3.14.Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức về quản lý chất thải y tế của điều dưỡng viên 37

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thâm niên công tác với kiến thức về quản lý chất thải y tế của điều dưỡng viên 38

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa tuổi với kiến thức - thực hành về phân loại CTYT của điều dưỡng viên 39

Trang 10

loại CTYT của điều dưỡng viên 40Bảng 3.19 Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn với kiến thức - thực hành

về phân loại CTYT của điều dưỡng viên 41Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thâm liên công tác với kiến thức - thực hànhvề phân loại CTYT của điều dưỡng viên 42Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thứcvà kiến thức - thực hành của điều

dưỡng viên 42

Trang 11

Hình 1.1.Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính ly hoá 5

Hình 1.2 Hướng dẫn phân loại, thu gom chất thải y tế 9

Hình 3.1 Phân bố điều dưỡng theo giới 25

Hình 3.2 Phân bố điều dưỡng viên theo thâm niên công tác 26

Hình 3.3 Kiến thức về màu sắc bao bì, dụng cụ, thiết bị chứa CTYT 28

Hình 3.4 Kiến thức về tiêu chuẩn của dụng cụ lưu trữ CTYT lây nhiễm 31

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quản lý chất thải y tế bao gồm các công việc phân loại, thu gom, lưu trữ

và xử lý CTYT của nhân viên y tế làm việc trong các cơ sở y tế Hiệu quả củaquản lý CTYT sẽ phản ánh hiệu quả của hoạt động giám sát, kiểm tra, tráchnhiệm và trình độ chuyên môn của NVYT

Trong quá trình thực hiện các công việc điều trị và chăm sóc người bệnh,các cơ sở y tế đã tạo ra một khối lượng chất thải y tế đáng kể Các thành phầncủa chất thải rắn y tế chứa đựng một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh truyềnnhiễm có thể thâm nhập vào cơ thể qua da, niêm mạc, qua đường hô hấp ,tiêuhoá Đặc biệt chất thải sắc nhọn được coi là một loại rác thải rất nguy hiểm vì

nó gây những tổn thương kép: vừa gây tổn thương vừa có khả năng lan truyềnbệnh truyền nhiễm Theo mô hình ước tính của WHO, tỷ lệ NVYT phơi nhiễmvới các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường máu là 2,6% đối với HCV,5,9% đối với HBV và 0,5% đối với HIV [17] Bên cạnh đó, nhân viên y tế phânloại chất thải rắn y tế không đúng, để lẫn chất thải thông thường vào nhóm chấtthải y tế nguy hại sẽ làm tăng khối lượng chất thải y tế nguy hại và làm tăng chiphí cho hoạt động xử lý chất thải y tế Vì vậy chất thải y tế đang trở thành mốiquan tâm không chỉ trong ngành y tế mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội

Thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy, khoảng 80% chấtthải từ các cơ sở y tế là chất thải thông thường và 20% còn lại là chất thải y tếnguy hại (theo tại chí môi trường10/2017).Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Ytế) cho biết, theo thống kê từ các báo cáo quan trắc, chất thải y tế nguy hại củacác bệnh viện chiếm tỷ lệ khoảng 23% so với tổng lượng chất thải y tế phátsinh [17]

Trang 14

Theo số liệu của BYT Quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế trên cảnước: tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47-50 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại Ước tính năm 2020,

số lượng chất thải y tế là trên 800 tấn/ngày.Vì vậy, việc quản lý chất thải y tế là

là một vấn đề vô cùng quan trọng [6] Vì vậy, việc quản lý CTYT nói chung vàviệc phân loại CTYT nguy hại tại nơi và thời điểm phát sinh của điều dưỡng nóiriêng là rất quan trọng

Nhận thức được vai trò của điều dưỡng viên về phân loại chất thải y tế

trong hoạt động chuyên môn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức - thực hành về quản lý CTYT của điều dưỡng viên tại bệnh viện đại học y Hải Phòng năm 2019"

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm và định nghĩa 1.1.1.Định nghĩa CTYT

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới ( WHO ): “ Chất thải y tế baogồm toàn bộ chất thải từ các cơ sở y tế, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, cácphòng thí nghiệm và các hoạt động y tế tại nhà [6], [37]

Trong Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế định nghĩa [7]:

- Chất thải y tế là tất cả vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ các cơ

sở y tế, bao gồm chất thải thông thường và chất thải y tế nguy hại

-Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏecon người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ

nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này khôngđược tiêu hủy an toàn

-Chất thải y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố: lây nhiễm,hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: Chất thải sinh hoạt phát sinh

từ các buồng bệnh (trừ buồng bệnh cách ly), từ các hoạt động chuyên môn y tếnhư chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh,… mà không dính máu, dịch sinh học,…

Và chất thải phát sinh từ các công việc hành chính, chất thải từ các khu vựcngoại cảnh như lá cây,…

Theo thống kê của WHO cho thấy khoảng 80% chất thải từ các cơ sở y tế

là chất thải thông thường và 20% còn lại là chất thải y tế nguy hại [17]

Như vậy theo định nghĩa của WHO về CTYT rộng hơn về nguồn phátsinh.Ta thấy các chất thải thải ra từ các hoạt động phục vụ cho việc khám chữa

Trang 16

bệnh không kể ở các cơ sở khám chữa bệnh mà ngay cả tại nhà cũng được coi làCTYT

Ngoài ra chất thải y tế còn có một số tên gọi khác mà tất cả đều có cùngmột định nghĩa cơ bản Tất cả các tên gọi dưới đây đề cập đến chất thải được tạo

ra trong quá trình chăm sóc sức khoẻ hoặc bị nhiễm hoặc có khả năng bị nhiễmbởi các vật liệu truyền nhiễm

 Chất thải y tế

 Chất thải sinh học

 Chất thải lâm sàng

 Chất thải nguy hiểm sinh học

 Chất thải y tế có kiểm soát

 Chất thải y tế truyền nhiễm

 Chất thải từ việc chăm sóc sức khỏe

1.1.2 Khái niệm quản lý chất thải y tế

- Quản lý chất thải y tế: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý banđầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêuhuỷ chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện [7]

- Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh

và vận chuyển về khu vực lưu giữ và xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở

y tế Tần suất thu gom chất thải y tế lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu vực lưugiữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế là ít nhất 1 lần/ngày Đối với cơ sở y tế

có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 5kg/ngày thì tần suất thu gom tôithiểu 1lần/tháng [10]

- Vận chuyển chất thải: là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phátsinh, tới nơi xử lý ban đầu, từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu

Trang 17

giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế trong cụm cơ sở y tế hoặc cơ sở

xử lý chất thải nguy hại tập trung

- Xử lý ban đầu: là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải

có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơilưu giữ hoặc tiêu huỷ

- Xử lý và tiêu huỷ chất thải: là quá trình sử dụng các công nghệ nhằmlàm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khoẻ của con người vàmôi trường [7]

1.1.3 Thành phần chất thải rắn y tế

Hầu hết các CTR y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặcthù so với các loại CTR khác Các loại chất thải này nếu không được phân loạicẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra nhữngnguy hại đáng kể

Trang 18

10 9

21 3 52

1 3

Giấy các loại Rác hữu cơKim loại, vỏ hộp Thuỷ tinh , ống kim

tiêm, lọ thuốc

Hình 1.1.Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính ly hoá( Nguồn: Báo cáo môi

trường quốc gia, 2011) [3]

Dựa vào đặc tính lý hoá thì thành phần CTYT chủ yếu là rác thải hữu cơ(chiếm 52%) sau đó là đất đá và các loại vật chất khác (chiếm 21%), ít nhất làbệnh phẩm 1% và kim loại vỏ hộp là 1% Có thể thấy trong thành phần chất thảirắn y tế có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài racòn có thành phần nhựa chiếm khoảng 10% vì vậy khi chọn phương pháp thiêuđốt triệt để và không phát sinh khí độc hại

1.2 Phân loại chất thải y tế

Việc thực hành phân loại rác thải y tế đúng đóng vai trò hết sức quan trọngtrong công tác quản lý chất thải y tế, góp phần giảm thiểu nguy cơ phát tán cáctác nhân gây bệnh, các yếu tố độc hại, nguy hiểm Phân loại đúng còn góp phầngiảm thiểu số lượng rác y tế nguy hại phải tiêu hủy, xử lý Vì vậy thông tư mớinhất về chất thải rắn y tế- thông tư 58/2015 TTLT-BYT-BTNMT quy định [10]:

Trang 19

1.2.1.Nguyên tắc phân lại chất thải y tế

a) Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải phân loại để quản

lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh;

b) Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bịlưu chứa chất thải theo quy định Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không

có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử

lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa;c) Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợpchất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm

1.2.2 Phân loại chất thải y tế gồm 3 nhóm:

- Chất thải y tế lây nhiễm

- Chất thải y tế nguy hại không lây nhiễm

- Chất thải y tế thông thường

1.2.2.1 Chất thải lây nhiễm bao gồm

a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắthoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dâytruyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫuthuật và các vật sắc nhọn khác;

b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máuhoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly;c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng,dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xétnghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định

số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết

Trang 20

thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tạiphòng xét nghiệm;

d) Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác độngvật thí nghiệm

1.2.2.2 Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:

a) Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;

b) Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từnhà sản xuất;

c) Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kimloại nặng;

d) Chất hàn răng amalgam thải bỏ;

đ) Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT- BTNMTngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản

lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT)

1.2.2.3 Chất thải y tế thông thường bao gồm:

a) Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người

và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;

b) Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chấtthải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại quy định tại Điểm

a Khoản 4 Điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại;c) Sản phẩm thải lỏng không nguy hại

1.2.3 Quy đinh về màu sắc thùng đựng rác thải y tế

Thùng, túi đựng CTYT gồm 4 màu:

- Màu Vàng hoặc tông màu vàng: Chất thải lây nhiễm

Trang 21

- Màu Đen: Chất thải hóa học nguy hại gây độc tế bào hoặc chất thảiphóng xạ.

- Màu Xanh hoặc tông màu xanh: Chất thải thông thường

- Màu Trắng hoặc tông màu trắng: Chất thải có khả năng tái chế

Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT quy định hướng dẫnphân loại và quy định về mã màu sắc, biểu tượng đối với các loại chất thải y tếnhư sau:

Hình 1.2 Hướng dẫn phân loại, thu gom chất thải y tế

1.3 Ảnh hưởng của CTYT tới sức khỏe

Trang 22

Quản lý chất thải y tế không tốt không những ảnh hưởng xấu tới sức khoẻcon người, môi trường mà còn mà còn làm tăng chi phí cho hoạt động xử lý chấtthải y tế.

1.3.1 Đối tượng chịu ảnh hưởng

Tất cả các cá nhân tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với chất thải y tế nguyhại ở bên trong hay bên ngoài khuôn viên bệnh viện, tại tất cả các công đoạn từphát sinh, thu gom, vận chuyển và xử lý đều chịu tác động xấu đến sức khoẻ, nếuchất thải y tế không được quản lý đúng cách và các vấn đề về an toàn khôngđược quan tâm đúng mức Các đối tượng chịu ảnh hưởng chính [4]:

- Cán bộ, nhân viên y tế: bác sĩ, y sĩ, y tá, kỹ thuật viên, hộ lý, sinh viênthực tập công nhân vận hành các công trình xử lý chất thải,…

- Nhân viên của các đơn vị hoạt động trong cơ sở y tế: nhân viên công ty

vệ sinh công nghiệp; nhân viên giặt là, nhân viên làm việc ở khu vực nhà tang lễ,trung tâm khám nghiệm tử thi,…

Các đối tượng khác:

- Người tham gia vận chuyển, xử lý CTYT ngoài khuôn viên BV; ngườiliên quan đến bãi chôn lấp rác và người nhặt rác;

- Bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú;

- Người nhà bệnh nhân và khách thăm;

- Học sinh, học viên học tập/thực tập tại các CSYT;

- Cộng đồng và môi trường xung quanh cơ sở y tế;

- Cộng đồng sống ở vùng hạ lưu các con sông tiếp nhận các nguồn chấtthải của các cơ sở y tế chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu

1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế với sức khoẻ

Trang 23

Theo Cục Quản lí môi trường y tế - Bộ Y Tế [25], ảnh hưởng của từng loạichất thải rắn y tế tới sức khỏe như sau:

- Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm

Trong thành phần của chất thải lây nhiễm có thể chứa đựng một lượng rấtlớn các tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như tụ cầu, HIV, viêm gan B,

… Các tác nhân truyền nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua cáchình thức:

+ Qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da)

+ Qua các niêm mạc (màng nhầy)

+ Qua đường hô hấp (do xông, hít phải)

+ Qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải)

Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải rất nguy hiểm, gây tổn thươngkép tới sức khỏe con người: vừa gây chấn thương: vết cắt, vết đâm, , vừa gâybệnh truyền nhiễm như viêm gan B, C,HIV,

- Ảnh hưởng của chất thải hóa học nguy hại:

Mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây

ra các nhiễm độc cấp, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại vàdược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thểqua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầyđường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,… Các chất khử trùng,thuốc tẩy như clo, các hợp chất natri hypoclorua có tính ăn mòn cao Thủy ngânkhi xâm nhập vào cơ thể có thể liên kết với những phân tử như nucleic acid,protein,… làm biến đổi cấu trúc và ức chế hoạt tính sinh học của tế bào Nhiễmđộc thủy ngân có thể gây thương tổn thần kinh với triệu chứng run rẩy, khó diễnđạt, giảm sút trí nhớ,… và nặng hơn nữa có thể gây liệt, nghễnh ngãng, với liều

Trang 24

lượng cao có thể gây tử vong Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thểcon người bằng các con đường: tiếp xúc trực tiếp, hít phải bụi và các sol khí, qua

da, qua đường tiêu hóa, tiếp xúc trực tiếp với chất thải dính thuốc gây độc tế bào,tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu.Tuy nhiên mức độ nguy hiểm còn phụ thuộc nhiều vào hình thức phơi nhiễm.Một số chất gây độc tế bào gây tác hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc đặc biệt là da vàmắt với các triệu chứng thường gặp như chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm

da Đây là loại chất thải y tế cần được xử lý đặc biệt để tránh ảnh hưởng xấu củachúng tới môi trường và con người

- Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ

Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ

và thời gian tiếp xúc Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt,buồn nôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ungthư và các vấn đề về di truyền Các chất thải phóng xạ cần được quản lý đúngqui trình, tuân thủ đúng thời gian lưu giữ để tránh ảnh hưởng nghiêm trọng đếnnhóm có nguy cơ cao là nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ vậnchuyển và thu gom rác phải tiếp xúc với chất thải phóng xạ trong điều kiện thụđộng

- Ảnh hưởng của bình chứa áp suất

Đặc điểm chung của các bình chứa áp suất là tính trơ, không có khả nănggây nguy hiểm, nhưng dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt hay bị thủng

1.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường và cộng đồng

1.4.1 Đối với môi trường đất

Trang 25

Quản lý CTYT không đúng quy trình, chôn lấp CTYT không tuân thủ cácquy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại,… gây

ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn

1.4.2 Đối với môi trường không khí

CTYT từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tácđộng xấu tới môi trường không khí Trong các khâu phân loại -thu gom - vậnchuyển, CTYT có thể phát tán vào không khí bụi rác, bào tử vi sinh vật gâybệnh, hơi dung môi, hóa chất, Trong khâu xử lý, CTYT có thể phát sinh ra cácchất khí độc hại như dioxin, furan,… từ lò đốt và CH4 , NH3 , H2 S,… từ bãichôn lấp

Trang 26

1.4.3 Đối với môi trường nước

CTYT chứa nhiều chất độc hại và các tác nhân gây bệnh có khả năng lâynhiễm cao như: chất hữu cơ, hóa chất độc hại, kim loại nặng và các vi khuẩnSalmonella, Coliform, Tụ cầu, Liên cầu, Trực khuẩn Gram âm đa kháng,… Nếukhông được xử lý trước khi xả thải sẽ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả,thương hàn, viêm gan A,

1.4.4 Ảnh hưởng của CTYT với cộng đồng

Theo nguyên tắc phân lại chất thải y tế :" Khi chất thải lây nhiễm để lẫnvới chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ

và xử lý như chất thải lây nhiễm." Vì vậy, việc phân loại không đúng của cácNVYT cũng làm tăng lượng rác thải nguy hại đồng thời làm tăng chi phí chohoạt động xử lý rác thải y tế

Để giải quyết những vướng mắc, khó khăn đặc thù của từng địa phương,Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT (Điều 23) và Thông tư liên tịch số58/2015/TTLT-BYT-BTNMT (Điều 22) đã giao Sở TN&MT chủ trì, phối hợpvới Sở Y tế lập, trình UBND cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch thu gom, vận chuyển

và xử lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn, bảo đảm phù hợp với điều kiện củađịa phương và quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Đến nay đã có14/63 tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải

y tế nguy hại, góp phần giải quyết những vướng mắc, bất cập trong việc quản lýchất thải y tế nguy hại tại mỗi địa phương [13]

Theo đó tại Hải Phòng, UBND thành phố Hải Phòng cũng đưa ra quyếtđịnh về định giá mức thu gom và xử lý rác thải y tế nguy hại là 20.000

đồng/kg (Hai mươi nghìn đồng cho một kilôgam)(Mức giá đã bao gồm chi phí khấu hao phương tiện vận chuyển rác và chưa bao gồm thuế GTGT) [22].

Trang 27

1.5 Thực trạng công tác quản lý CTYT

1.5.1.Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới

Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới,đặc biệt là các nước phát triển như: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada các côngtrình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý chất thải y tế (biệnpháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng, các phương pháp xử lý chấtthải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hại của chất thải

y tế đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của chất thải y tế và phòngchống tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng [31], [32]

Hiện tại, khối lượng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa

và phụ thuộc các yếu tố khách quan khác như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy

mô bệnh viện, lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế, xã hội củakhu vực, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị,chăm sóc, số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân Lượng chất thải thayđổi theo từng loại bệnh viện Với sự dao động từ 0,5 –8,7 kg/ngày đối với tổnglượng chất thải y tế và 0,1 – 1,6 kg/ngày đối với chất thải nguy hại (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới [8]

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải y

tế(kg/giường/ngày)

Chất thải y tế nguy hại(kg/giường/ngày)

Gần đây, nghiên cứu về chất thải y tế được quan tâm ở nhiều khía cạnh: Theo kết quả nghiên cứu sự hiểu biết của nhân viên y tế về CTYT tại GazaGovemorates do Massrouje [33] cho thấy: Kiến thức biết rác thải sinh hoạt52,4%, rác thải nguy hại 83,1%

Trang 28

Một nghiên cứu xử lý CTYT của công nhân viên vệ sinh trong thành phốKarachi do Sultana Habibullah, Salahuddin Afsar [35] cho thấy: có kiến thức đạt

là 0,0%, thực hành tốt là 1,5%

Theo kết quả nghiên cứu Quản lý chất thải tại Viện chăm sóc sức khoẻJohannesburg: Kiến thức và thực hành của các bác sỹ, y tá do Basu Debashi,Ramokate Tuductso [38] cho thấy: Kiến thức đạt là 98,5%, thực hành tốt 90%

Trong lao động, các cán bộ y tế phải tiếp xúc với rất nhiều yếu tố có nguy cơcho sức khoẻ, song do bản chất công việc là không có bất kỳ biện pháp dự phòng vàcải thiện nào có thể loại trừ được nguồn tác hại trong công việc của NVYT Do đó,trang bị cho họ về kiến thức thực hành là rất quan trọng và cần thiết

1.6.2 Thực quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

Tính đến năm 2008, Việt Nam có 13.506 cơ sởy tế, với hơn 200 nghìngiường bệnh gồm: 774 bệnh viện (BV) đa khoa, 136 BV chuyên khoa, 5 BVngành, 83 bệnh BV tư nhân và các hình thức khác Việc tăng các cơ sở y tế dẫnđến khối lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh, trong đó có thành phần nguy hạingày càng gia tăng Những năm qua, đã có hàng loạt các văn bản pháp luật vềbảo vệ môi trường, quản lý chất thải y tế được ban hành, tạo căn cứ pháp lý chocác cấp cơ sở quản lý chất thải y tế tại địa phương như: quyết định số43/2007QĐ-BYT của bộ trưởng bộ y tế về quy chế quản lý chất thải y tế; Quyếtđịnh 2038/QĐ-TTG ngày 15/11/2011 của thủ tướng chính phủ phê duyệt đề ántổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011-2015 và định hướng tới năm 2020;Quyết định 3671/QĐ-BYT của bộ trưởng bộ y tế về việc phê duyệt các hướngdẫn kiềm soát nhiễm khuẩn; Ngay sau khi Luật BVMT năm 2014 được Quốc hộithông qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015

về quản lý chất thải và phế liệu, trong đó chất thải y tế được quy định là chất thải

Trang 29

đặc thù với những quy định riêng, phù hợp với điều kiện thực tế Tiếp đó, Bộ Tàinguyên và Môi trường (TN&MT) đã ban hành Thông tư số 36/2015/TT-BTNMTngày 30/6/2015 về quản lý chất thải nguy hại (CTNH), đồng thời Bộ TN&MTcũng phối hợp với Bộ Y tế ban hành Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 quy định về quản lý chất thải y tế, trong đó quy định

cụ thể việc phân loại, thu gom, phương tiện vận chuyển chất thải y tế nguy hại vàcác vấn đề pháp lý cho cơ sở y tế thực hiện việc xử lý, tự xử lý chất thải y tếnguy hại, sử dụng chứng từ CTNH (hoặc Sổ giao nhận), quản lý hồ sơ môitrường của cơ sở y tế,

Theo số liệu của Bộ Y tế, lượng CTR y tế phát sinh tại các bệnh viện, cơ

sở y tế khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có khoảng 47 - 50 tấn/ngày là chất thải y

tế nguy hại [6] Hiện trên cả nước, lượng CTR trung bình thải ra mỗi ngày là0,86kg/giường bệnh, trong đó, CTR y tế là 0,14kg/giường bệnh Tổng lượngCTR ở các BV trên toàn quốc lên tới 100 tấn và 16 tấn CTR y tế cần được xử lý

Tỷ lệ này khác nhau giữa các BV, tùy thuộc số giường bệnh, BV chuyên khoahay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại BV, số lượng vật tưtiêu hao được sử dụng

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng:

Hầu hết các bệnh viện (90,9%) chất thải rắn được thu gom hàng ngày, một

số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối điriêng của chất thải Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải, trong

đó có 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tracủa các tỉnh, nhận xét của đoàn kiểm tra liên bộ, còn có hiện tượng phân loạinhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tênguy hại gây tốn kém trong việc xử lý [9]

Trang 30

Nghiên cứu của Trần Thị Minh Tâm năm 2007 tại 11 bệnh viện huyệnthuộc tỉnh Hải Dương cho kết quả 100% bênh viện phân loại ngay tại nguồn phátsinh, 4/11 bệnh viện để chung chất thải lâm sàng với chất thải sinh hoạt, 8/11bệnh viện dụng cụ đựng chất thải có màu sắc không đúng quy định Nghiên cứucũng cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về quản lý chất thải y tế cònthấp: 50,5% hiểu đúng về màu sắc dụng cụ đựng CTRYT; 49,9% biết được đầy

đủ các loại CTRYT[34]

Theo nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng của ĐinhTấn Hùng, năm 2013 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hoà 100% các khoa có túi,thùng thu gom chất thải rắn y tế riêng biệt theo đúng tiêu chuẩn và được đặt đúngnơi quy định; 96% các khoa đều có thùng đựng vật sắc nhọn Tuy nhiên các dụng

cụ thu gom chưa tuân thủ màu sắc theo quy định của Bộ Y tế [15]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Chuyên và cộng sự về kiến thức, thái độthực hành trên các đối tượng là hộ lý, y tá, bác sỹ, y sỹ và dược sỹ tại các khoalâm sàng và cận lâm sàng của 10 bệnh viện khu vực phía bắc cho thấy kiến thức,thực hành quản lý, xử lý chất thải bênh viện của NVYT tại 10 bệnh viện nghiêncứu còn hạn chế, việc phân loại chưa được thực hiện triệt để, tình trạng thu gomsai, thu gom nhầm vẫn còn xảy ra , tỷ lệ NVYT có kiến thức đạt chiếm 79,4%,trong đó tại các bệnh viện hạng II chưa đạt 71,1%, thực hành cũng chỉ chiếm tỷ

lệ 71,9% [14] Nghiên cứu này cũng chỉ ra được một số yếu tố liên quan đếnkiến thức và thực hành quản lý chất thải y tế là trình độ học vấn, thâm niên côngtác, tập huấn về quản lý chất thải y tế

Một đánh giá về tình hình quản lý chất thải y tế trên địa bàn huyện LongThành năm 2010 cho thấy chỉ 54,4% nhân viên y tế có kiến thức chung đúng,46% nhân viên y tế có hành vi đúng [18]

Trang 31

Các nghiên cứu trên cho thấy, nhìn chung tại các bệnh viện các tuyến đềucòn những tồn tại, hạn chế phương tiện, trang thiết bị quản lý chất thải y tế, kiếnthức, thực hành quản lý chất thải y tế nói chung chưa cao và không đồng đều.

1.6.3 Công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đại học y Hải Phòng 1.6.3.1 Một số đặc điểm cơ bản

Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng tiền thân là một phòng khám đa khoa trựcthuộc trường Phòng khám hoạt động tốt đảm bảo nhu cầu khám, chữa bệnh củadân cư khu vực, tạo điều kiện thực hành tốt cho sinh viên và cải thiện đời sốngcủa cán bộ, công chức, viên chức

Ngày 04/4/2007, theo Quyết định số 1247/QĐ-BVYHP của Bộ trưởng Bộ

Y tế, Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng được thành lập trên cơ sở phòng khám đakhoa của trường Đại học Y Hải Phòng Bệnh viện hoạt động theo điều lệ tổ chứcban hành kèm theo quyết định số 2512/QĐ-BYT ngày 12/7/2007 của Bộ trưởng

Bộ Y tế.Bệnh viện thuộc BV hạng II trực thuốc Bộ Y tế gồm 200 giường, với 22khoa lâm sàng,cận lâm sàng và trung tâm, 6 phòng ban chức năng

1.6.3.2 Đặc điểm về chất thải rắn y tế

- Chất thải rắn nguy hại không lây nhiễm : 2,1 Kg/ngày

- Chất thải lây nhiễm 26 kg/ngày

1.6.3.3 Quản lý chất thải bệnh viện

Bệnh viện thực hiện quản lý chất thải theo thông tư mới nhất về quản lýchất thải là thông tư 58/2015 TTLT-BYT-BTNMT do khoa kiểm soát nhiễmkhuẩn trực tiếp chịu trách nhiệm

Về phân loại chất thải y tế, bệnh viện đã bố trí các thùng , túi đựng rác vàonhững nơi thường xuyên phát sinh chất thải.Tuy nhiên bệnh viện còn sử dụngnhiều túi và dụng cụ tự chế từ hộp inbox không đủ tiêu chuẩn.Tần suất thu gom

Trang 32

rác thải của bệnh viện 2 lần/ngày và khi cần thiết theo quy định.Về việc xử lýchất thải y tế, bệnh viện ký kết với công ty xử lý chất thải của thành phố để xử lýchất thải Chi phí phải trả cho việc xử lý chất thải lây nhiễm là 22.000 đồng/kg

và đối với chất thải nguy hại không lây nhiễm là 22 triệu/năm

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu:

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các điều dưỡng và nữ hộ sinh (gọi chung là điều dưỡng viên) đanglàm việc tại các khoa lâm sàng của bệnh viện Đại học Y Hải Phòng

* Tiêu chuẩn lựa chọn:Tất cả các điều dưỡng viên đang làm việc tại các khoalâm sàng

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Các điều dưỡng viên không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Các điều dưỡng viên đang nghỉ chế độ thai sản, học việc hoặc đang đihọc

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Tất cả các khoa lâm sàng - Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từtháng 3/2019 đến hết tháng 5/2019

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

Chọn mẫu: Theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ

Cỡ mẫu: Toàn bộ điều dưỡng viên đủ tiêu chuẩn lựa chọn trong thời giannghiên cứu

Trang 34

2.2.3 Nội dung nghiên cứu

2.2.3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

- Đặc điểm về tuổi, giới, khối công tác

- Đặc điểm về trình độ chuyên môn: trung cấp , cao đẳng và đại học

- Đặc điểm về thâm niên công tác: dưới 5 năm, từ 5 năm đến 10 năm vàtrên 10 năm

2.2.3.2 Kiến thức – thực hành về quản lý rác thải rắn y tế

- Phân loại rác thải y tế, rác thải y tế nguy hại , chất thải lây nhiễm

- Phân loại túi đựng rác thải

- Thời điểm phân loại, đối tượng phân loại rác thải y tế, mã vạch túi đựng

- Tần suất thu gom

- Yêu cầu về dụng cụ lưu trữ chất thải

- Kiến thức - thực hành về việc phân loại các loại rác thải y tế thường gặptrong bệnh viện

2.2.3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về quản lý chất thải y tế của đối tượng nghiên cứu

- Tuổi

- Giới

- Khối công tác

- Trình độ chuyên môn

- Thâm niên công tác

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin

- Xin giấy giới thiệu để nộp lên phòng kế hoạch tổng hợp của bệnh viện yHải Phòng sau đó xin phép lãnh đạo và điều dưỡng viên của các khoa để đượcvào phỏng vấn

Trang 35

- Thời gian lấy số liệu là sau khi các điều dưỡng viên trong khoa thực hiệnthủ thuật tiêm truyền, phát thuốc và một số thủ thuật khác trong khoa xong.

- Sử dụng bộ câu hỏi in sẵn, nội dung đồng nhất Nội đung bộ câu hỏi gồm

3 phần:

+ Phần 1: Thông tin cá nhân

+ Phần 2: 11 câu hỏi kiến thức chung về quản lý chất thải y tế

+ Phần 3: 22 câu hỏi kiến thức – thực hành về phân loại chất thải y tế

- Điều dưỡng viên tham gia phỏng vấn tự làm vào phiếu điều tra

2.2.5 Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 20.0

2.2.6 Tiêu chuẩn đánh giá

- Bộ câu hỏi gồm 11 câu hỏi kiến thứcvề quản lý chất thải rắn y tế và 22câu hỏikiến thức - thực hành về phân loại chất thải rắn y tế với tổng điểm là 38điểm

+ Mỗi câu trả lời đúng : được 1 điểm

+ Mỗi câu trả lời sai : được 0 điểm

- Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần kiến thức – thực hành chung vềquản lý chất thải được chia làm 2 mức độ tốt (>=12 điểm) và chưa tốt (< 12điểm), phần kiến thức- thực hànhvề phân loại chất thải rắn y tế được chia làm 2mức độ tốt (≥17 điểm) và chưa tốt(< 17 điểm)

2.2.7 Các sai số và cách khắc phục

- Dựa trên tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đối tượng

- Phiếu khảo sát, bộ câu hỏi được thiết kế chặt chẽ, đầy đủ , rõ dàng vàchính xác

Trang 36

- Trong quá trình phỏng vấn không áp đặt câu trả lời cho đối tượng đượcphỏng vấn, có giám sát viên.

- Nhập số liệu vào máy 2 lần để tránh sai sót và xử lý những sai sót nhanhchóng, chính xác Trong khi nhập số liệu có giám sát viên cùng hỗ trợ để tạothuận lợi cho nhập số liệu

2.2.8 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành với sự đồng thuận của trường đại học y dượcHải Phòng và Ban Giám đốc Bệnh viện Đại học y Hải Phòng

- Toàn bộ số liệu thu nhập được trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực

- Việc tiến hành nghiên cứu này không gây nguy hại cho đối tượng nghiêncứu và tất cả các đối tượng nghiên cứu đều tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Các đối tượng nghiên cứu đều được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu

và nội dung nghiên cứu, họ có quyền từ chối và ngừng tham gia nghiên cứu

- Toàn bộ thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu đều được giữ

bí mật

- Các số liệu và kết quả nghiên cứu chỉ được ử dụng cho mục đích nghiêncứu đã đề ra, không sử dụng nhằm mục đích khác

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kiến thức - thực hành về quản lý chất thải rắn y tế

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố điều dưỡng viên theo tuổi

Điều dưỡng viên trong nhóm tuổi từ 20 29 đông hơn nhóm tuổi từ 30

-39 chiếm tỷ lệ 52,6% , điều dưỡng viên trong nhóm tuổi 30 39 chiếm tỷ lệ43,6% Chiếm tỷ lệ thấp nhất là nhóm tuổi từ 40 là 3,8% Điều dưỡng viên trẻtuổinhất là 21 tuổi Điều dưỡng viên lớn tuổi nhất là 40 tuổi Độ tuổi trung bình

là 29,58

Trang 38

23.1; 23.10%

76.9; 76.90%

Nam

Hình 3.1 Phân bố điều dưỡng theo giới

Nhận xét: Trong số 78 điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu đa số điều

dưỡng viên có trình độ trung cấp chiếm 57,7%, điều dưỡng viên trình độ đại họcthấp nhất chiếm tỷ lệ 17,9%

Trang 39

< 5 năm 5 - 10 năm > 10 năm

Hình 3.2 Phân bố điều dưỡng viên theo thâm niên công tác

Nhận xét:

Có 40 điều dưỡng có thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm chiếm 51,28%, sốđiều dưỡng viên có thâm niên công tác trên 10 năm chiếm tỷ lệ nhỏ nhất 11,54% ( 9người) Còn lại 29 điều dưỡng viên có thâm niên công tác nhỏ hơn 5 năm Điềudưỡng viên có thâm niên lâu nhất là 15 năm và thấp nhất là dưới 1 năm

Ngày đăng: 19/07/2019, 20:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Thị Hồng Điệp (2013), Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố liên quan đến kiến thức thực hành của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa thanhg phố Vinh năm 2013, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế vàmột số yếu tố liên quan đến kiến thức thực hành của nhân viên y tế tại bệnhviện đa khoa thanhg phố Vinh năm 2013
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Điệp
Năm: 2013
15. Hoàng Giang (2011), Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2011, Luận án Thạc sỹ, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắny tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2011
Tác giả: Hoàng Giang
Năm: 2011
16. Nguyễn Thị Như Hà (2018), Thực trạng phòng và xử trí phản vệ cho người bệnh của điều dưỡng viên tại bệnh viện đại học y Hải Phòng năm 2018, Luận văn tốt nghiệp, Trường đại học y dược Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phòng và xử trí phản vệ cho ngườibệnh của điều dưỡng viên tại bệnh viện đại học y Hải Phòng năm 2018
Tác giả: Nguyễn Thị Như Hà
Năm: 2018
17. Nguyễn Thượng Hiền (2017), “Ðánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế nguy hại và đề xuất các giải pháp”, Cục Quản lý chất thải và Cải thiện môi trường, Tổng cục Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thượng Hiền (2017), “Ðánh giá hiện trạng công tác quản lý chấtthải y tế nguy hại và đề xuất các giải pháp”
Tác giả: Nguyễn Thượng Hiền
Năm: 2017
18. Đinh Tấn Hùng (2013), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hoà, năm 2013 , Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việcquản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hoà, năm 2013
Tác giả: Đinh Tấn Hùng
Năm: 2013
19. Nguyễn Thị Hương (2015),Thực trạng kiến thức và thực hành phân loại Chất thải rắn y tế của điều dưỡng tại khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2015, Luận văn tốt nghiệp, Trường Kỹ thuật Y tế Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức và thực hành phân loạiChất thải rắn y tế của điều dưỡng tại khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa XanhPôn năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2015
20. Nguyễn Thị Thu Hương (2014), Thực trạng và một số yếu tố liên quan giữa kiến thức thực hành của điều dưỡng về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện Việt Tiệp-Hải Phòng năm 2014, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan giữakiến thức thực hành của điều dưỡng về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện ViệtTiệp-Hải Phòng năm 2014
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w