Nhằm hiểu rõ hơn về thực trạng nghiên cứu khoa học của sinh viên củatrường ĐHYDHP, những khó khăn gì mà các bạn gặp phải, từ đó đề xuất ýkiến đến Khoa, Trường giúp sinh viên có hứng thú
Trang 1PHẠM VĂN QUÂN
THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN CHÍNH QUY 3 NĂM CUỐI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG NĂM HỌC 2018-2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y HỌC DỰ PHÒNG
HẢI PHÒNG 2018 - 2019
Trang 2PHẠM VĂN QUÂN
THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN CHÍNH QUY 3 NĂM CUỐI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG NĂM HỌC 2018-2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 3hướng dẫn của ThS Nguyễn Quang Đức và ThS Nguyễn Thanh Hải
Tôi xin đảm bảo các kết quả, số liệu trong khóa luận này đều có thực,kết quả thu được từ quá trình nghiên cứu của chúng tôi chưa được công bốtrên bất kì tạp chí, bài báo nào
Hải Phòng, ngày 9 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
PHẠM VĂN QUÂN
Trang 4thành tới:
Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Đại học, khoa Y tế công cộng trườngĐại học Y Dược Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trongquá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn ThS Nguyễn Quang Đức và ThS.Nguyễn Thanh Hải, người đã trực tiếp hướng dẫn, dạy bảo, giúp đỡ, tạo mọiđiều kiện cho em thực hiện khóa luận này
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới bố mẹ, anh chị em, cùngbạn bè đã luôn ở bên, động viên, khuyến khích, giúp đỡ em rất nhiều trongsuốt sáu năm học, cũng như trong thời gian em làm khóa luận
Hải Phòng, ngày 9 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
PHẠM VĂN QUÂN
Trang 5
BSDP Bác sĩ dự phòng
Trang 6Hình 3.1: Cơ cấu sinh viên theo khóa 36
Hình 3.5: Tự đánh giá mức độ hiểu biết về phương pháp nghiên cứu 39
Hình 3.7: Đánh giá tầm quan trọng của hoạt động NCKH của sinh
viên
40
Hình 3.9: Dự định nghiên cứu khoa học của sinh viên 42
Hình 3.17: Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng NCKH 50Hình 3.18: Yếu tố quan trọng nhất tác động đến việc NCKH của sinh
viên
51
Hình 3.19: Khó khăn trong quá trình khi nghiên cứu 52
Bảng 3.1: Mức độ quan tâm đến hoạt động nghiên cứu khoa học 42
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Các khái niệm về nghiên cứu, khoa học, nghiên cứu khoa học 3
1.2 Vai trò và tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học 10
1.3 Thực trạng nghiên cứu khoa học 13
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3 Các biến số nghiên cứu 32
2.4 Phương pháp và công cụ thu thập thông tin 33
2.5 Xử lý số liệu 34
2.6 Sai số và biện pháp khắc phục 35
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Mô tả mẫu khảo sát 36
3.2 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Y Dược Hải Phòng 2018 – 2019 37
3.3 Một số yếu tố liên quan tới hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Y Dược Hải Phòng 48
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 54
4.2 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Y Dược Hải Phòng 54
4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Y Dược Hải Phòng 62
KẾT LUẬN 67
KHUYẾN NGHỊ 69 PHỤ LỤC
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong xu thếhội nhập toàn cầu hiện nay thì GD&ĐT đóng một vai trò đặc biệt, được Đảng
và Nhà nước ta quan tâm Nghị quyết TW II Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng
định “Đầu tư cho giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách
hàng đầu”.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa việc học tập ở bậc phổ thông và bậc đạihọc là học tập của sinh viên (SV) luôn gắn liền với việc nghiên cứu Học tập –nghiên cứu khoa học (NCKH) là một quá trình không thể tách rời Nghiêncứu không chỉ cung cấp thêm kiến thức, hiểu biết mà còn giúp SV rèn luyện
và phát triển tư duy sáng tạo Nghiên cứu còn củng cố các kỹ năng so sánh,phân tích, tổng hợp, từ đó giúp cho SV có cách nhìn đa chiều và biện chứngđối với thế giới xung quanh Chính vì những lợi ích đó nên các trường đại họcđều quan tâm đến hoạt động NCKH của SV
Bên cạnh đó trong các trường đại học yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởngđến chất lượng giáo dục đại học chính là lòng say mê học hỏi, năng lực sángtạo, năng lực tự nghiên cứu của SV – những người chủ tương lai của đấtnước Mục đích giáo dục đại học là đào tạo ra những SV có tri thức, biết sửdụng và làm chủ được những thành tựu của KHCN hiện đại đáp ứng nhu cầuphát triển của xã hội Chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc rất nhiều vàoviệc tổ chức nghiên cứu khoa học của sinh viên Nghiên cứu không chỉ là mộtchức năng thứ yếu của giáo dục đại học mà còn là điều kiện không thể thiếuđược làm cho nhà trường phù hợp với xã hội và đảm bảo chất lượng Vì vậynghiên cứu khoa học của SV trong các trường đại học nói chung và Đại học YDược Hải Phòng (ĐHYDHP) nói riêng là việc làm cần thiết
Với tầm quan trọng đó, nghiên cứu khoa học đã được đưa vào giảngdạy trong hầu hết các trường đại học trên thế giới, SV không còn xa lạ với
Trang 11vấn đề nghiên cứu thậm chí còn say mê nghiên cứu, xem đó như một hoạtđộng không thể thiếu trong cuộc sống của SV.
Khác với những đề tài nghiên cứu của thạc sĩ, tiến sĩ đề tài nghiên cứucủa SV còn hạn chế về vấn đề nghiên cứu và quy mô nghiên cứu Lý do chính
ở đây là kiến thức và kinh nghiệm về NCKH của SV còn hạn chế Bên cạnh
đó ngoài việc nghiên cứu SV còn phải đối mặt với áp lực học tập, thi cử liêntục và lịch trực đêm khá vất vả Do vậy vấn đề thời gian eo hẹp cũng là nhữngtrở ngại lớn đối với việc tham gia NCKH, rồi khó khăn trong việc trang trảicác chi phí: đi lại thu thập số liệu, in ấn, và các chi phí khác liên quan đếnkhảo sát Cũng vì những lý do đó mà số lượng đề tài nghiên cứu của sinh viêntrường ĐHYDHP còn hạn chế
Nhằm hiểu rõ hơn về thực trạng nghiên cứu khoa học của sinh viên củatrường ĐHYDHP, những khó khăn gì mà các bạn gặp phải, từ đó đề xuất ýkiến đến Khoa, Trường giúp sinh viên có hứng thú hơn trong nghiên cứu Đó
là lý do mà tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng nghiên cứu khoa học
và một số yếu tố liên quan ớ sinh viên chính quy 3 năm cuối trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm học 2018-2019” với hai mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng nghiên cứu khoa học của sinh viên chính quy 3năm cuối (sinh viên chính quy đào tạo 6 năm) của trường ĐHYDHP
2 Xác định một số yêu tố liên quan đến vấn đề nghiên cứu khoahọc của sinh viên chính quy 3 năm cuối trường ĐHYDHP
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm về nghiên cứu, khoa học, nghiên cứu khoa học
1.1.1 Nghiên cứu
+ Theo Martyn Shuttleworth cho rằng: "Theo nghĩa rộng nhất, định
nghĩa của nghiên cứu bao hàm bất cứ sự thu thập dữ liệu, thông tin, và dữ kiện nào nhằm thúc đẩy tri thức" [25].
+ Theo OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế), nghiên cứu bao
gồm "hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống nhằm làm
giàu tri thức , bao gồm tri thức về con người, văn hóa và xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới” [26].
+ Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản tổng hợp thành phố
Hồ Chí Minh, 2005 thì “Nghiên cứu là đi sâu vào một vấn đề để tìm hiểu bản
chất vấn đề đó hoặc để tìm cách giải quyết những điều mà vấn đề đó đề ra”
[6]
+Theo Creswell định nghĩa: "Nghiên cứu là một quá trình có các bước
thu thập và phân tích thông tin nhằm gia tăng sự hiểu biết của chúng ta về một chủ đề hay một vấn đề." Nó bao gồm ba bước: Đặt câu hỏi, thu thập dữ
liệu để trả lời cho câu hỏi, và trình bày câu trả lời cho câu hỏi đó [23]
+ Như vậy, ta có thể đi đến một cách hiểu chung nhất về nghiên cứu là:
“Nghiên cứu là một quá trình, một hoạt động có khoa học, có hệ thống nhằm
tìm ra đặc điểm, bản chất của sự vật, sự việc, hiện tượng trong đời sống xã hội, đặc biệt dùng nhiều trong hoạt động nghiên cứu khoa học”.
Trang 131.1.2 Khoa học
+ Theo từ điển Larousse của Pháp, 2003, định nghĩa: “Khoa học là một
tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật
và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định” [24].
+ Từ điển Triết học của Liên Xô (bản tiếng Việt), 2010, định nghĩa:
“Khoa học là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức
mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này” [27].
+ “Khoa học là hệ thống tri thức về mọi qui luật của vật chất và sự vận
động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy” (Pierre
Auger, 1961) [29]
+ Từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện, Nhà xuất bản Thế giới,
2004, định nghĩa: “Khoa học là một thiết chế xã hội” [20].
+ Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh, 2005 thì: “Khoa học là hệ thống các tri thức của người ta
về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, tích lũy trong quá trình lịch sử, khiến người
ta khám phá được những quy luật khách quan của các hiện tượng và giải thích được các hiện tượng đó” [6].
+ Tóm lại: Qua các từ điển đươc tra cứu, chúng ta thấy, về cơ bản có 4cách hiểu về khoa học dựa trên 4 cách tiếp cận
Khoa học là một hệ thống tri thức
Khoa học là một hoạt động sản xuất
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội
Khoa học là một thiết chế xã hội
Trang 14+ Hiện nay, khái niệm khoa học được sử dụng nhiều nhất và được
UNESSCO sử dụng trong các văn kiện chính thức đó là: “Khoa học là hệ
thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy” [31].
Phân loại khoa học
Theo tác giả Vũ Cao Đàm (1999), khoa học có thể được phân loại nhưsau [3]:
- Khoa học tự nhiên
- Khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Khoa học nông nghiệp
- Khoa học sức khoẻ
- Khoa học xã hội và nhân văn
- Triết học
1.1.3 Nghiên cứu khoa học
- Trong các tài liệu hiện nay có khá nhiều định nghĩa về NCKH sauđây xin điểm tới những ví dụ tiêu biểu nhất:
- Theo tác giả Vũ Cao Đàm trong giáo trình Phương pháp luận NCKH
, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam , 2010, có viết: “ NCKH là hoạt động hướng xã hội vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết hoặc chưa phát hiện ra bản chất sự việc, phát triển nhận thức khoa học về thế giới quan
và cách vận dụng chúng vào việc cải tạo thế giới” [22]
- Theo tác giả Hà Thế Ngữ, “NCKH là một quá trình nghiên cứu hiện
thực khách quan, phát hiện ra những hiểu biết mới có tính quy luật, có tính chân lý hoặc tìm ra được những quy luật mới, chân lý mới trong hiện thực đó” [10]
Trang 15- Theo Dương Thiệu Tống trong sách Phương pháp nghiên cứu khoa
học và tâm lý, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2002, có đề cập: “ Hoạt động nghiên cứu khoa học là một nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét thật kỹ, phân tích xếp đặt các dữ kiện lại với nhau rồi đánh giá thông tin ấy” [16].
- Tác giả Phạm Viết Vượng đã viết: “ NCKH là hoạt động có mục
đích, có kế hoạch, được tổ chức chặt chẽ của các nhà khoa học nhằm khám phá ra bản chất quy luật của thế giới khách quan và vận dụng chúng vào việc cải tạo thế giới” [21]
- Tác giả Lưu Xuân Mới trình bày quan điểm của mình như sau: “
NCKH là quá trình nhận thức chân lý khoa học, một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến” [8].
- Theo Lê Tử Thành “ NCKH là nhằm tìm ra lời giải cho một tình
huống có vấn đề, lời giải đó có thể là một thông tin, một phương pháp mà trước đó chưa có” [13].
- Theo luật Khoa học và công nghệ, 2000: “ NCKH là một hoạt động
phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn” [7].
Tóm lại, NCKH là một hoạt động, một quá trình phát hiện, tìmhiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạocác biện pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn và phục vụ mục đích của conngười Đây là khái niệm tác giả sử dụng trong đề tài này
1.1.4 Đặc trưng cơ bản của hoạt động nghiên cứu
Đặc điểm chung nhất của hoạt động NCKH là sự tìm tòi những sựvật, hiện tượng mà khoa học chưa hề biết đến Đặc điểm này dẫn tới hàng loạtđặc điểm khác của nghiên cứu khoa học như:
Trang 16+Tính mới: Tính mới mẻ thể hiện ở quan điểm tiếp cận, cách đặt vấn
đề, phương pháp triển khai, phương pháp thực nghiệm đến quá trình nhậnthức để cải tạo thế giới Kết quả trong nghiên cứu còn là quá trình phát triển
tư duy khoa học một cách mới mẻ, sản phẩm khoa học còn chứa đựng yếu tốmới
+Tính tin cậy: do NCKH là hoạt động được kiểm chứng nhiều lầntrong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau vớinhững kết quả thu được hoàn toàn giống nhau nên hoạt động NCKH là có tínhtin cậy
+Tính thông tin: Đó là những thông tin về quy luật vận động của sựvật, thông tin về một quá trình xã hội hóa hoặc quy trình công nghệ Nhữngthông tin này đòi hỏi phải có tính chất khái quát cao, thông tin mới, có giá trịphục vụ cho nghiên cứu và có độ tin cậy cao
+Tính khách quan: là một đặc điểm của NCKH và cũng là tiêu chuẩn
về phẩm chất của người nghiên cứu Các thông tin trong NCKH phải đảm bảotính chân thực, khách quan với cái nhìn toàn diện và theo mọi góc nhìn
+Tính rủi ro: quá trình tìm hiểu bản chất của sự vật hiện tượng là mộtquá trình phức tạp, gian nan nên có thể gặp thất bại Đó chính là tính rủi rocủa hoạt động NCKH Thất bại của hoạt động NCKH có thể do các nguyênnhân sau: thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy, trình độ kỹ thuật, thiết
bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp, năng lực xử lý thông tin của người nghiêncứu còn hạn chế… tuy nhiên, trong khoa học thất bại cũng được coi là mộtkết quả vì nó định hướng cho những nghiên cứu sau
+Tính kế thừa: hầu hết các công trình nghiên cứu hiện nay, không cómột công trình nào bắt đầu chỗ trống không về kiến thức Mỗi công trình
Trang 17nghiên cứu đều có sự kế thừa những kiến thức nhất định từ các công trìnhnghiên cứu khác.
+ Tính “phi kinh tế” trong nghiên cứu Đặc điểm này cho thấy thực tếtrong NCKH không thể tính lời hay lãi, giá trị kinh tế không thể đưa lên bàncân để đong đếm, khó hạch toán về giá trị kinh tế, chúng ta chi tiết xem xétkết quả hay sản phẩm nghiên cứu đóng góp cho sự nghiệp khoa học
+ Tính độc đáo của cá nhân kết hợp với vai trò của tập thể: khoa họctrong xu thế hội nhập hiện nay sự hợp tác trong NCKH là rất quan trọng Nếukhông có đặc trưng này trong NCKH thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, không tạođược các kết quả nghiên cứu, đặc biệt là sự thiếu hợp tác gắn kết giữa các nhàkhoa học, các chuyên ngành nghiên cứu với nhau là sự lãng phí rất lớn tronghoạt động NCKH, thể hiện sự thiếu đồng nhất chưa tìm được tiếng nói chungtrong NCKH
Ngoài ra, trong một số tài liệu còn đề cập đến một đặc điểm nữacủa hoạt động NCKH là tính “ trễ” trong áp dụng Tính “ trễ” trong áp dụng
đó là các công trình nghiên cứu thường không thể áp dụng được ngay vào sảnxuất và đời sống mà thường mất một khoảng thời gian mới có thể áp dụngđược Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ này và cũng tùy thuộc vàomỗi nghiên cứu khác nhau mà có thời gian ứng dụng nhanh chậm khác nhau
1.1.5 Phân loại nghiên cứu khoa học
Theo TS Lê Văn Hảo trong giáo trình Các phương pháp nghiên cứu
khoa học thì nghiên cứu khoa học được phân loại như sau:[4]
Phân loại theo chức năng nghiên cứu:
o Nghiên cứu mô tả: nhằm đưa ra một hệ thống tri thức giúp conngười phân biệt các sự vật, hiện tượng xung quanh; bao gồm mô
tả định tính và mô tả định lượng
Trang 18o Nghiên cứu giải thích: nhằm làm rõ các qui luật chi phối các hiệntượng, các quá trình vận động của sự vật.
o Nghiên cứu dự báo: nhằm chỉ ra xu hướng vận động của các hiệntượng, sự vật trong tương lai
o Nghiên cứu sáng tạo: nhằm tạo ra các qui luật, sự vật mới hoàntoàn
Phân loại theo tính chất của sản phẩm nghiên cứu:
o Nghiên cứu cơ bản (Fundamental research): các nghiên cứunhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc bên trong của các sự vật,hiện tượng
o Nghiên cứu ứng dụng (Applied research): vận dụng thành tựucủa các nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, hiện tượng; tạo racác giải pháp, qui trình công nghệ, sản phẩm để áp dụng vào đờisống và sản xuất
o Nghiên cứu triển khai (Developmental research): vận dụng cácnghiên cứu cơ bản và ứng dụng để tổ chức triển khai, thực hiện
Phân loại theo lĩnh vực nghiên cứu (theo mẫu đề tài NCKH cấp bộ của
Trang 19+ Tham gia câu lạc bộ khoa học
+ Viết báo cáo kinh nghiệm
+ Khóa luận tốt nghiệp
+ Làm đề tài thông qua bài tập lớn của các môn học
+ Tham gia đề tài cùng giảng viên
+ Làm đề tài NCKH dưới sự hướng dẫn của GV…
1.2 Vai trò và tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học
1.2.1 Đối với đất nước
+ Đối với mỗi đất nước, NCKH có vai trò rất quan trọng trong đờisống chính trị, kinh tế, xã hội, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội,trong phát triển toàn diện con người và trong bảo vệ tổ quốc
+ NCKH tạo ra những kiến thức nền tảng giúp phát triển kinh tế củamỗi đất nước NCKH đi sâu tìm kiếm những kiến thức về tất cả các lĩnh vựctrong đời sống và những kiến thức khoa học cơ bản như toán học, vật lý, sinhhọc… từ đó phát triên những lý thuyết, tiến hành trong thực nghiệm và ứngdụng vào phát triển các mô hình kinh tế khác nhau Ví dụ như trong lĩnh vựcsinh học việc cấy ghép các loại cây trồng mới có năng suất cao là điều kiện đểthúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp, đồng thời tạo nền tảng pháttriển kinh tế đất nước
+ NCKH, đặc biệt trong lĩnh vực sử học, cung cấp những kiến thức lịch
sử của đất nước, góp phần củng cố và giữ vững chủ quyền lãnh thổ nước ta.NCKH không chỉ đi tìm kiếm các thông tin mới mà con người chưa phát hiện
ra mà còn đi sâu tìm kiếm kiến thức lịch sử thời xa xưa để thấy được lịch sửhình thành và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia Từ đó đưa ra bằngchứng bảo vệ lãnh thổ của mỗi đất nước, khẳng định chủ quyền bất khả xâmphạm đối với các thể lực bên ngoài
Trang 20+ Trong thời đại hiện nay, NCKH trong lĩnh vực đời sống xã hội ngàycàng được trú trọng hơn Việc nghiên cứu tìm ra những quy luật xã hội có tínhchất quyết định đối với sự phát triển xã hội và phát triển con người Chẳnghạn, việc nghiên cứu cách suy nghĩ, lối tư duy, lối sống của con người hiệnnay để phát hiện ra các vấn đề nổi bật như vấn đề vô cảm trong xã hội.
+ NCKH giúp phát triển con người một cách toàn diện, đáp ứng nhucầu phát triển của đất nước Hoạt động NCKH đi sâu tìm hiểu tất cả các khíacạnh về con người như tâm lý, sinh lý… các kiến thức toàn diện về con người
từ đó đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm phát triển con người Chẳng hạn, việcnghiên cứu tâm lý con người, tâm lý các lứa tuổi để lý giải những hành độngcủa con người theo từng lứa tuổi từ đó giúp giải quyết các vấn đề về tội phạm
và các biện pháp giáo dục, hạn chế hậu quả, giúp con người hoàn thiện bảnthân hơn đồng thời nâng cao nhận thức về việc phát triển đất nước
+ Bên cạnh đó, nếu lĩnh vực khoa học ở nước ta đạt nhiều thành tựu tolớn thì đó sẽ là một lợi thế lớn để khẳng định uy tín, vị thế trên trường quốctế
1.2.2 Đối với nhà trường
+ NCKH là một động lực thúc đẩy xã hội loài người và là một hoạtđộng không thể thiếu trong thời đại hiện nay Đặc biệt trong môi trường giáodục đào tạo, NCKH trở thành một hoạt động vô cùng quan trọng Giảng dạy,học tập và NCKH là 3 yếu tố trụ cột của quá trình đào tạo của một nhàtrường Nâng cao chất lượng dạy và học cần gắn liền với NCKH là một trongnhững hoạt động góp phần tích cực để nâng cao chất lượng đào tạo ở bậc đạihọc, cao đẳng, là chiếc cầu nối gắn kết giữa nghiên cứu, đào tạo và thực tiễn.Thông qua hoạt động NCKH các vấn đề lý luận được cụ thể hóa và đưa vàothực tiễn
Trang 21+ NCKH là một tiêu chuẩn quan trọng trong 10 tiêu chuẩn để kiểmđịnh chất lượng của các trường cao đẳng, đại học[1] Nếu thực hiện tốt hoạtđộng này sẽ góp phần quan trọng để khẳng định uy tín của nhà trường Bởimỗi công trình nghiên cứu ở các cấp Tỉnh, Bộ, mỗi bài viết đăng trên tạp chíchuyên ngành là danh tiếng của nhà trường được thể hiện Uy tín của trườngtăng cao sẽ là yếu tố quan trọng thu hút được sinh viên theo học tại trường vàthu hút nguồn đầu tư của các đơn vị, tổ chức trên địa bàn khu vực, cả trong vàngoài nước.
+ Vì thế, NCKH được xem là nhiệm vụ trung tâm then chốt của toàn bộchiến lược phát triển của các trường đại học, cao đẳng hiện nay
1.2.3.Đối với giảng viên
+ Đối với GV, NCKH là động lực thúc đẩy sự gia tăng tri thức ĐểNCKH, cán bộ, GV phải tìm tòi, nghiên cứu rất nhiều tài liệu, từ đó họ có thểlàm chủ được tri thức trên cơ sở độc lập suy nghĩ, sáng tạo, vận dụng hợp lý
và hiệu quả vào bài giảng cũng như thực tiễn cuộc sống GV càng có quátrình tích lũy về lượng thông tin thì trí thức ngày càng được mở rộng vàchuyên sâu Do đó, NCKH trở thành một nhiệm vụ quan trọng trong hoạtđộng giảng dạy của GV
+ NCKH giúp GV tìm hiểu sâu và rộng về kiến thức chuyên môn đểgiảng dạy tốt hơn Người giảng viên muốn có bài giảng hấp dẫn, khúc chiết,
rõ ràng, mạch lạc, phong phú thì trước hết phải có kiến thức chuyên môn thậtvững, phông kiến thức nền thật rộng Những kiến thức được đào tạo ở trườngđại học hoặc qua cao học mới chỉ là một phần rất nhỏ trong bể kiến thức vôcùng rộng lớn Do đó, để giảng dạy tốt, GV phải tự bồi dưỡng kiến thức chomình thông qua hoạt động NCKH Với hoạt động này, buộc GV phải đọc,phải suy ngẫm, phải tìm tòi cái mới, phân tích, chứng minh vấn đề đặt ra
Trang 22Những hoạt động tư duy đó làm cho trình độ nhận thức của GV ngày càngđược nâng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người học.
+ Bên cạnh đó, NCKH là một lĩnh vực rất tốt để GV tự khẳng định bảnthân mình Vì năng lực của GV được thể hiện chủ yếu thông qua giảng dạy vàNCKH Qua hoạt động này, giảng viên không những được khẳng định mà cònthấy được những hạn chế trong tri thức của bản thân để kịp thời bổ sung
1.2.4 Đối với sinh viên
NCKH có rất nhiều lợi ích đối với SV:
+ Tạo cơ hội cho SV tìm tòi phát hiện tri thức mới, bằng sức lực, trí tuệcủa cá nhân để làm giàu tri thức và từ đó tri thức trở nên vững chắc hơn, cónghĩa là học tập tốt hơn
+ Giúp SV nâng cao khả năng nghiên cứu, tổng hợp và trình bày mộtvấn đề nghiên cứu, tập vận dụng những phương pháp khoa học để giải quyếtnhững vấn đề thực tế, từ đó hình thành một hệ thống kỹ năng NCKH
+ Biết sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào quá trình tìm tòikhám phá trong học tập hiện tại và công tác sau này
+ Giúp tạo điều kiện cho SV trau rồi, học hỏi kiến thức, kĩ năng làmviệc nhóm, kĩ năng sống…từ thầy cô, bạn bè; mở rộng các mối quan hệ xãhội, bản lĩnh, tự tin hơn về lĩnh vực mà mình theo học
+ Qua tập dượt NCKH, ở SV sẽ hình thành những phẩm chất của nhàkhoa học như tính kiên trì, trung thực, khách quan, thận trọng, biết hợp táctrong cuộc sống và trong công tác
1.3 Thực trạng nghiên cứu khoa học
1.3.1 Thực trạng nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
Hoạt động khoa học thường được đánh giá dựa vào số lượng và chấtlượng Về số lượng, người ta dựa vào số bài báo khoa học được công bố trên
Trang 23các tạp chí khoa học quốc tế Về chất lượng, người ta dựa vào số lần đượctrích dẫn (citation index) của các bài báo khoa học Thậm chí, để việc đánhgiá được chính xác hơn, người ta còn tính đến số công bố quốc tế trên 1 triệudân, và số trích dẫn của các bài báo có tác giả chính là người của nước sở tại(Phạm Duy Hiển, 2010)[28] Đó là những “chỉ số khách quan phản ánh sựphát triển khoa học công nghệ cũng như hiệu suất khoa học của mỗi quốc gia”(Dương Bùi, 2013)[2]
Những phân tích trong nước và quốc tế cho thấy số lượng ấn phẩmkhoa học Việt Nam còn rất khiêm tốn, khiến cho những ai quan tâm đều cảmthấy lo lắng Thực trạng thấp kém không chỉ so với các nước tiên tiến trên thếgiới có nền tảng khoa học phát triển lâu năm mà ngay cả khi so với các nướctrong khu vực Đông Nam Á
Theo thống kê của Viện thông tin khoa học (ISI), trong 15 năm từ1996-2011, Việt Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tậpsan quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng một phần năm của Thái Lan (69.637),một phần sáu của Malaysia (75.530), và một phần mười của Singapore(126.881) Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần Singapore, ba lầnMalaysia và gần gấp rưỡi Thái Lan [19]
Việt Nam hiện nay có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, 24.000 tiến
sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ mà số ấn phẩm khoa học của cả nước trong vòng 15năm qua chưa bằng 1/5 số công bố của trường ĐH Tokyo (69,806 ấn phẩm)
và một nửa của trường ĐH quốc gia Singapore (28,070 ấn phẩm[18] Đồ thịdưới đây của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, Đại học New South Wales, Australia
mô tả số lượng và năng suất công bố khoa học của Việt Nam so với các nướctrong vùng cho thấy với tốc độ hiện tại, chúng ta cần đến hơn nửa thế kỷ nữa
để đuổi kịp năng suất hiện tại của Thái Lan, Malaysia chứ chưa nói gì đếnSingapore hay các nước tiên tiến khác trên thế giới.[19]
Trang 24Không chỉ khiêm tốn về số lượng, chỉ số ảnh hưởng của các công trìnhnghiên cứu khoa học của Việt Nam cũng thấp nhất so với những nước trongkhu vực vừa được đề cập Thứ hạng khiêm tốn này cũng nhất quán với sốbằng sáng chế được đăng ký ở Mỹ và chỉ số sáng tạo do Tổ chức sở hữu trítuệ thế giới WIPO xếp hạng.
Thật ra, nước ta có nhiều công trình nghiên cứu xứng đáng chia sẻ vớicộng đồng khoa học thế giới, nhưng rất tiếc, cho đến nay các công trình đóvẫn loanh quanh trong các báo cáo nghiệm thu, đóng gói không chia sẻ, hoặccông bố trên những tạp chí trong nước chưa được quốc tế công nhận và hệquả là làm thiệt thòi cho khoa học nước nhà
Nhiều tác giả đã đưa ra một số nguyên nhân để giải thích cho tình trạngtrên như: phân phối ngân sách cho nghiên cứu chưa thỏa đáng, rào cản vềngôn ngữ tiếng Anh, nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của công bốquốc tế, thiếu kinh nghiệm và chưa có thói quen (văn hóa) công bố, thiếuchính sách đãi ngộ, khuyến khích nhà khoa học công bố quốc tế, rất ít nhữngtập san khoa học trong nước bằng tiếng Anh, chưa xác lập những chuẩn mực
Trang 25đánh giá hiệu quả khoa học phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế ở đó công bố quốc
tế được sử dụng làm thước đo khách quan
1.3.2 Nghiên cứu khoa học ở sinh viên Việt Nam
1.3.2.1 Thực trạng
Theo một số báo cáo nghiên cứu của một số trường đại học trên cảnước về vấn đề NCKH ở sinh viên nhìn chung chưa thực sự tích cực Nhậnxét một cách khách quan, số lượng sinh viên quan tâm đến NCKH còn quá ít;các đề tài nghiên cứu thường có chất lượng không cao, không áp dụng đượctrong thực tiễn Việc NCKH trong sinh viên đang được xem như là một hoạtđộng phong trào Chưa thực sự thu hút được các bạn sinh viên, chưa có nhiềusinh viên thực sự say mê với hoạt động NCKH – vốn được coi là một trongnhững hoạt động chủ chốt của đào tạo đại học
Theo ThS Cao Minh Toàn trong đề tài Thực trạng nghiên cứu khoa học
của sinh viên trường Đại học An Giang, 2010: chỉ có 34% sinh viên được
khảo sát đã từng tham gia nghiên cứu khoa học.Trong số 66% bạn sinh viênkhông tham gia nghiên cứu khoa học, có khoảng 50% sinh viên trả lời đã từngnghe nói tới nghiên cứu khoa học Nhưng cách nhìn, quan điểm của từng sinhviên về vấn đề này như thế nào vẫn còn mơ hồ Khi mới bắt đầu vào cổngtrường Đại học, hầu hết các bạn sinh viên không được biết đến hoạt động này.[15]
Trang 2666
Có NCKH Chưa NCKH
Hình 1.1 Tỉ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học
Hay tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình NCKH của SV từ năm 2008- 2012.[9]
Bảng 1.1: Tình hình nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường ĐH Kinh
Số đề tài đạt giải Eureka 7/70 4/99 3/21 2/21 3/20
Số đề tài đạt giải nhà kinh tế
trẻ
Ta có thể thấy số lượng đề tài mặc dù có tăng giữa các năm song con ít so với
số lượng sinh viên của trường
Bảng 1.2: Hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên Học viện Tài
chính từ năm 2011-2012[5]
Số đề tài cấp Học Số đề tài cấp Bộ Tổng cộng
Trang 27- Ngoài ra trong quá trình học, các bạn luôn được các thầy cô giáo phụtrách các môn học cũng như GVCN luôn động viên, khuyến khích các bạntham gia NCKH Thêm vào đó, còn có nhiều bạn sinh viên, ngay từ nhữngnăm đầu đã có ý thức học tập tốt, chủ động tìm hiểu về chuyên ngành mìnhđang theo học, sớm xác định hướng đi cho mình, cũng như tìm gặp các thầy
cô đang có các đề tài về lĩnh vực mình quan tâm để xin được tham gia, cộngtác
- Các bạn có điều kiện tiếp xúc với môi trường công việc của ngànhnghề mình đang theo học, được làm chủ nhiệm đề tài, trực tiếp, thu thập và xử
lý các số liệu, từ đó giúp các bạn nắm được những khung cơ bản khi tiến hành
Trang 28một công trình nghiên cứu khoa học, do vậy sẽ hiểu hơn về ngành nghề củamình và thêm yêu nghề hơn.
- Sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, trong quá trình cộng tác,dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy cô, các bạn sẽ thu được rất nhiềukinh nghiệm và sẽ có sự chuẩn bị tốt hơn khi làm đề tài tốt nghiệp do đã cókinh nghiệm trong việc tổ chức một NCKH cũng như trình bày kết quảNCKH của mình trước hội đồng
- Với việc tham gia NCKH cấp trường và đoạt giải, có thể nói đây làmột lợi thế của các bạn khi đi nộp đơn xin việc sau khi tốt nghiệp ra trường
1.3.2.3 Khó khăn
a) Lựa chọn đề tài
Lựa chọn đề tài là khâu cực kỳ quan trọng và đóng vai trò then chốttrong việc thực hiện công trình khoa học Bởi vì việc lựa chọn đúng đề tàinghiên cứu cũng giống như cầm được tấm bản đồ với đích đến chính xáctrong tay, nó sẽ giúp sinh viên có thể xác định đúng lĩnh vực mà mình quantâm và xác định được phạm vi, đối tượng và mục đích của việc nghiên cứu.Tuy nhiên, để có thể lựa chọn được một đề tài hay, ý nghĩa mang tính khả thi,đồng thời, có thể thực hiện trong khả năng của sinh viên không hề là mộtchuyện dễ dàng Sinh viên cần phải ý tưởng và hứng thú với một chủ đề nào
đó, đề tài cũng cần phải đảm bảo những yếu tố về cái mới mẻ, khả năng tìmkiếm tài liệu, khả năng thực hiện, tính ứng dụng và ý nghĩa của đề tài… Songsong đó, sinh viên cũng cần phải có một cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiêncứu, phải có bước chuẩn bị và tìm kiếm thông tin về đề tài Trong khi đó,trước khi thực hiện nghiên cứu đề tài, phần lớn sinh viên chỉ có những cáinhìn tổng quát, thậm chí rất đơn sơ về đề tài mà mình sẽ nghiên cứu
b) Tìm kiếm tài liệu
Trang 29Sau khi đã lựa chọn được một đề tài để nghiên cứu, khó khăn tiếp theo
mà sinh viên vấp phải chính là việc tìm kiếm tài liệu Đây có lẽ là điều màhầu hết tất cả các bạn sinh viên thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học đều gặpphải Đối với những đề tài không quá mới, thì nguồn tài liệu có phần dồi dàohơn Và vấn đề sinh viên gặp phải lại nằm ở việc quản lý và sử dụng như thếnào mới hiệu quả Thông thường sinh viên sẽ tìm kiếm quá nhiều tài liệu,thậm chí, có những tài liệu không cần thiết và không liên quan đến đề tàinghiên cứu Trong khi đó, các tài liệu nghiên cứu liên quan và thực sự cầnthiết với đề tài lại không tìm được Sinh viên thường thụ động trong việc tìmkiếm tài liệu chủ yếu tìm kiếm từ sách vở, giáo trình, internet, thư viện,…Việc tìm kiếm những tài liệu quan trọng và mang tính thực tế thì rất khó khăn,đôi khi tốn kém Đôi khi, sinh viên còn mắc phải sự mâu thuẫn trong quanđiểm của cùng một vấn đề ở nhiều tài liệu khác nhau.Việc tìm kiếm và sửdụng các tài liệu có nguồn gốc nước ngoài vẫn còn hạn chế Ngoài ra các sốliệu đối với từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể không phải là dễ tìm kiếm màsinh viên cần phải đến với những Ban ngành, Hiệp hội, Cơ quan,… nhất định
để thu thập Nhưng thực tế, các đơn vị này chưa thực sự hỗ trợ sinh viên trongquá trình nghiên cứu
c) Ngoại ngữ
Như chúng ta đã viết, ngoại ngữ - đặc biệt là tiếng anh đóng một vai tròhết sức quan trọng trong cuộc sống của chúng ta Vậy nguyên nhân nào khiếnAnh ngữ trở nên quan trọng như thế? Có lẽ một trong những nguyên nhânchính là sức mạnh kinh tế và khoa học của Hoa Kỳ ở thế kỷ 20 Hồi thế kỷ 19chúng ta thường nghe các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới là người Pháphay người Đức, nhưng đến thế kỷ 20, nhất là sau thế chiến thứ hai, cán cânnghiêng hẳn về Hoa Kỳ Có những năm mà hầu hết những người được giảiNobel về mọi ngành đều là người Mỹ! Điều đó cho chúng ta thấy những
Trang 30nghiên cứu về khoa học, kinh tế, thương mại, văn học đều ngả về lục địa BắcMỹ! Và điều quan trọng nhất mà chúng ta phải đề cập đó là những tài liệu,những bài nghiên cứu khoa học đó thì đều được viết bằng tiếng anh Nhữngnhà khoa học ấy đã tiếp thu một nền văn minh tiến bộ, tiếp bước những thànhtựu đã có, bỏ ra biết bao nhiêu năm tháng với sự nổ lực, cố gắng để làm nênnhững công cuộc nghiên cứu khoa học vô giá Vậy thì sẽ thật sự hối tiếc khichúng ta để ngôn ngữ làm cản trở con đường tiếp nhận tri thức mới ấy.Có lẽđây chính là khó khăn mà ta thường gặp phải ở đa phần sinh viên khi ngoạingữ của chúng ta còn khá nhiều hạn chế.Mà cụ thể ở đây là trong việc tiếpnhận, tìm kiếm, sử dụng và tham khảo tài liệu có nguồn gốc nước ngoài đểlàm cơ sở, nguồn tham khảo trong bài nghiên cứu khoa học
d) Xử lý số liệu
Khi đã có số liệu, việc xử lý những số liệu đó cũng gặp phải nhữngnhững khó khăn Sự khác biệt về số liệu của những nguồn khác nhau, hay sựthiếu hụt số liệu của một năm hay một giai đoạn nào đó, một mặt hàng trongmột ngành hàng,… sẽ khiến cho việc xử lý các số liệu này không được toàndiện và hiệu quả Thêm nữa, đối với những đề tài cần phải khảo sát thực tế,đặc biệt là các đề tài chuyên sâu về một lĩnh vực xác định hay liên quan đếnbệnh viện, doanh nghiệp thì thực sự sinh viên rất khó tiếp cận vì mối quan hệvới bệnh viện, doanh nghiệp và kinh phí bị giới hạn Thêm vào đó, họ chưatin tưởng vào kết quả mà các công trình nghiên cứu khoa học của sinh viênnên chưa có hành động hỗ trợ cần thiết Khi đã thu thập được số liệu, việc xử
lý bằng các phần mềm chuyên dụng để có thể tận dụng tối đa kết quả của các
số liệu thu thập được lại là một khó khăn mà sinh viên mắc phải Sinh viênđôi khi không có đủ những kiến thức và kỹ năng trong việc tổng hợp, xử lý sốliệu và phân tích kết quả của việc xử lý đó Do đó những ý nghĩa của số liệumang đến lại không được khai thác chính xác và hiệu quả
Trang 31e) Tinh thần và trách nhiệm làm việc
Hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên là hoạt động mang tính
tự nguyện, sinh viên cảm thấy yêu thích, đam mê thì thực hiện Tuy nhiên,trong quá trình nghiên cứu, sẽ gặp phải những khó khăn và trở ngại Có thểnói rằng tinh thần và trách nhiệm làm việc của sinh viên chúng ta chưa cao.Mỗi sinh viên nên ý thức được những lợi ích từ việc nghiên cứu khoa họcmang lại cho mỗi cá nhân, đó không chỉ là thành tích, điểm số mà còn lànhững kinh nghiệm, những trải nghiệm, những tìm tòi, những bài học màkhông phải lúc nào ta cũng có thể học được ở phương pháp truyền thống Do
đó, cần đòi hỏi ở mỗi sinh viên sự say mê, chủ động, quyết tâm, kiên trì vàtrách nhiệm Đồng thời, nghiên cứu khoa học không phải là một việc làm đơngiản và dễ dàng, vì thế nên sinh viên chúng ta thường làm theo nhóm Và đểquá trình hoạt động nhóm có hiệu quả hay không đòi hỏi mỗi thành viên phải
có kỹ năng làm việc nhóm Rất nhiều nghiên cứu khoa học gặp phải thất bạibởi vì những mâu thuẫn nội bộ trong khi làm việc nhóm như công việc khôngđược phân công một cách cụ thể, công bằng, sự thiếu ý thức trách nhiệmtrong công việc của một số thành viên, không thống nhất được ý kiến vớinhau…Thực tế đã có rất nhiều nhóm bỏ cuộc ngay từ khó khăn đầu tiên hoặcgiữa chừng vì nhiều lý do trên Tuy chỉ là phong trào nhưng các thành viêntrong nhóm cần phải ý thức một cách đúng đắn và nghiêm túc về việc thựchiện đề tài Mỗi thành viên cần phải tuân theo các kế hoạch, nguyên tắc làmviệc của nhóm Cần sắp xếp công việc cá nhân để đầu tư cho việc nghiên cứu
g) Kinh phí
Kinh phí của việc thực hiện công trình nghiên cứu khoa học trong sinhviên là một vấn đề cần phải quan tâm đúng mức Đối với cá nhân của nhóm,mặc dù vẫn có sự hỗ trợ kinh phí thực hiện đề tài từ phía nhà trường nhưngnhìn chung chỉ mang tính chất động viên và được nhận sau khi công trình đã
Trang 32hoàn thành Việc thực hiện đề tài hiện này kinh phí chủ yếu là do sinh viên tự
bỏ ra Chưa có sự hỗ trợ đúng mức từ nhà trường và việc hỗ trợ của tổ chức,doanh nghiệp thì gần như bị bỏ ngõ Các đề tài nghiên cứu đa phần chỉ dừnglại ở kinh phí vài triệu đồng, cao lắm lên đến khoảng chục triệu Do đó, chấtlượng của đề tài cũng bị giới hạn và thực sự chưa tận dụng, khai thác được hếthiệu quả làm việc của sinh viên và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Thiết nghĩ,cần phải có một sự hỗ trợ đúng mức cho sinh viên để sinh viên thực hiện côngtrình, các tổ chức, doanh nghiệp nên phối hợp với nhà trường hỗ trợ sinh viênnghiên cứu khoa học, đặt hàng những đề tài khoa học cho sinh viên thực hiện
h)Thời gian
Hầu hết các bạn sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học là những sinhviên năm thứ 4 năm 5 hay năm cuối (đối với sinh viên Y), hay năm 3,4 (đốivới sinh viên các trường đại học khác) nên quỹ thời gian rất hạn hẹp để thựchiện đề tài của mình, bạn phải vừa học vừa làm và phải đảm bảo được kết quảhọc tập của mình không bị ảnh hưởng cũng như đảm bảo hoàn thành đè tàiđúng thời gian quy định
k) Trình bày
Ban đầu, có thể mọi người nghĩ rằng trìnhh bày không phải là vấn đềlớn, có thể thực hiện được sau khi đã hoàn thành phần nội dung Nhưng bêncạnh nội dung khoa học, việc trình bày khoa học là một điều quyết định trựctiếp đến tính thuyết phục của đề tài Khi thực hiện một đề tài trên năm chụctrang (không kể phần phụ lục) với những thuật ngữ chuyên ngành với những
số liệu, bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ,… thì việc trình bày theo đúng quy định vàquy cách có lẽ không phải là đơn giản và tốn một thời gian nhất định Đơn cử,việc thống nhất trong hệ thống viết tắt, viết hoa, hay việc thống nhất cách viếtcác thuật ngữ, cụm từ,… là việc cần phải xác định và quan tâm đúng mức vàđôi khi khiến chúng ta nhầm lẫn và bối rối Việc trình bày bìa công trình,
Trang 33danh mục tài liệu tham khảo, các chữ viết tắt, các phụ lục, tóm tắt,… đều phảituân theo quy chuẩn của văn bản hướng dẫn nên sinh viên đôi khi cũng vấpphải những khó khăn nhất định Những lỗi kỹ thuật trong khi thực đề đề tàinhư lỗi font chữ, hình vẽ, biểu đồ,… cũng làm cho đề tài trở nên không đượchoàn thiện.
1.3.3 Vài nét về tình hình nghiên cứu khoa học của trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2012-2017
Hoạt động khoa học và công nghệ, cùng với đào tạo là hai nhiệm vụtrọng tâm của các trường đại học Nhận thức được tầm quan trọng này, trườngĐHYDHP đã có nhiều những giải pháp thiết thực để đẩy mạnh công tác
NCKH của GV và SV.
Đặc biệt trong giai đoạn 5 năm (từ năm 2012 đến 2017), công tácnghiên cứu khoa học đã được chú trọng đầu tư một cách thoả đáng, cả về vậtchất cũng như con người nhờ đó tạo được những chuyển biến rõ rệt Nghiêncứu khoa học không chỉ là trách nhiệm, mà đã trở thành công việc tự giác củagiảng viên
Kết quả: giai đoạn 2012-2017, Trường đã và đang thực hiện được 05 đềtài cấp Nhà nước, 07 đề tài cấp Bộ/Thành phố, 812 đề tài cấp cơ sở, nhiềusách chuyên khảo; giáo trình; bài giảng phục vụ công tác giảng dạy Ngoài racòn có 64 bài báo đã được đăng tải trên các tạp chí khoa học quốc tế; và 944bài báo trên tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước.[17]
Với phương châm hoạt động gắn Nhà trường với Bệnh viện và xã hội,đồng thời từ những kết quả nghiên cứu sẽ tạo thêm chất liệu mới và nâng caochất lượng đào tạo, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng có kế hoạch đẩymạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học; nâng cao chất lượng đào tạo;hoàn thiện giáo trình, bài giảng và thay đổi nội dung, chương trình các mônhọc bám sát với công việc thực tế của xã hội; tạo cơ chế thông thoáng giúp
Trang 34cán bộ, giảng viên và sinh viên có điều kiện nghiên cứu chuyên sâu; thườngxuyên tổ chức các buổi hội thảo, diễn đàn, trao đổi về nghiên cứu khoa học ởcấp trường cho cán bộ, giảng viên và sinh viên Đồng thời, mở rộng hoạt độnghợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ với các trường đại học,
cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước
Hoạt động nghiên cứu khoa học của cán bộ trẻ và sinh viên cũng đượcNhà trường đặc biệt quan tâm như: tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học chocán bộ trẻ và sinh viên nghiên cứu khoa học; thường xuyên tổ chức các buổitọa đàm về nghiên cứu khoa học; giao lưu nghiên cứu khoa học với cáctrường bạn Các đề tài nghiên cứu khoa học tuổi trẻ của cán bộ trẻ và sinhviên hàng năm luôn tăng cả về số lượng và chất lượng: Định kỳ cứ 2 nămtrường tổ chức Hội nghị khoa học tuổi trẻ [17]
Các sinh viên và cán bộ trẻ Trường ĐH Y Dược Hải Phòng đã hăng háithi đua, nhiệt tình tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học Phát huy thànhtích đã đạt được trong những năm trước đây Kết quả và sản phẩm từ các đềtài đạt được là các bảng số liệu, báo cáo phân tích và các bản kiến nghị kèmtheo của từng đề tài tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực sau đây:
- Y học lâm sàng: đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm, chẩn đoán, điều trị,tiên lượng và phòng bệnh, ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán
và điều trị, sử dụng một số thuốc đặc hiệu trong điều trị từng bệnh chuyênkhoa sâu
Trang 35-Y tế công cộng: nghiên cứu đặc điểm vệ sinh môi trường, sức khỏe,bệnh tật của người dân tại cộng đồng, tổ chức hoạt động mạng lưới y tế cơ sở.
- Dược học: các đề tài nghiên cứu nhằm tăng cường sử dụng thuốc antoàn hợp lý, phát triển lĩnh vực dược lâm sàng trong bệnh viện, nghiên cứucác nguyên liệu làm thuốc từ nguồn tự nhiên và dược liệu biển là một trongcác mũi nhọn đang được quan tâm, ưu tiên
- Các đề tài khối y học cơ sở, cơ bản và xã hội: nghiên cứu phát triểnthể lực, chức năng sinh lý cơ quan, ứng dụng tin học trong quản lý, đào tạo,nghiên cứu dược liệu, các loại thuốc…
Về xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ:
+ Trường có lực lượng cán bộ là GS, PGS, TS, ThS, BSCKII đang thựchành tại các cơ sở y tế lớn trên địa bàn, có nhiều kinh nghiệm trong nghiêncứu KHCN Bên cạnh đó, Labo công nghệ cao của Trường cũng là một cơ sởtập trung nhằm phục vụ cho các nghiên cứu chuyên sâu các lĩnh vực sinh họcphân tử, di truyền
+ Lực lượng cán bộ trẻ và các sinh viên trong trường rất nhiệt tình,hăng hái, say mê nghiên cứu khoa học
+ Trường đã định ra hướng nghiên cứu có tầm chiến lược kết hợp vàđược vận dụng cụ thể đối với từng khoa, bộ môn trên cơ sở nhân lực và trangthiết bị hiện có nhằm phối hợp vừa nghiên cứu vừa giảng dạy
- Về hoạt đông đào tạo phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ:Hiện nay, trường đã triển khai đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Y tế công cộng,Nhi, Ngoại, Nội; cao học Y tế công cộng; Y học biển, cao học và nội trú Nội,Ngoại, Sản, Nhi; chương trình đào tạo BSCKII Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Y tếcông cộng; chương trình CKI Nội , Ngoại, Sản, Nhi, RHM, TMH, YHCT,chẩn đoán hình ảnh, ung bướu vv…
Trang 36- Kết hợp Nghiên cứu khoa học với Hợp tác quốc tế và Đào tạo sau đạihọc: nhiều đề tài được xây dựng từ các quan hệ hợp tác (với Nhật bản, ĐàiLoan, Hoa Kỳ), nhiều nghiên cứu sinh, Thạc sỹ đang được học tập tại cácnước này
Về các hoạt động khoa học công nghệ khác
- Thông tin khoa học công nghệ: trường có thư viện điện tử, tạo điềukiện thuận lợi cho cán bộ giảng dạy, sinh viên cập nhật các thông tin mới vềkhoa học công nghệ Thư viện cũng hỗ trợ tích cực cho việc tìm kiếm tin bằngcách cung cấp các địa chỉ trang Web tìm kiếm thông tin y tế cho các độc giả
và tìm kiếm tin theo yêu cầu Hội đồng GS cơ sở của trường được thành lậphàng năm và hoạt động rất đều đặn
- Trường đã tổ chức thành công các hội thảo, hội nghị Quốc tế và trongnước
- Các công trình nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng dạy và sinhviên đã báo cáo tại các Hội nghị chuyên ngành, Hội nghị khoa học của trường
và đã được đăng trên tạp chí Y học thực hành ,Y học Việt Nam và một số tạpchí khác Mặc dù hoạt động nghiên cứu khoa học là hoạt động khá phổ biến ởhầu hết các trường Đại học Việt Nam, trong thời gian qua, số lượng các đề tàinghiên cứu khoa học đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, sốlượng sinh viên tham gia nghiên cứu ở trường ĐHYDHP có số lượng tươngđối ít, trong 2 năm 2016-2018 có tổng 240 đề tài (chỉ chiếm 4,2% trong tổng
số sinh viên của trường), trong đó có 85 số đề tài tham dự tại Hội nghị khoahọc cơ sở và 6 đề tài được chọn tham dự Hội nghị KHCN Tuổi trẻ lần thứXIX[12] Kết quả đó có thực sự tương xứng với tiềm lực của sinh viên YDược Hải Phòng?
Trang 37CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: sinh viên 3 năm cuối hệ bác sĩ đa khoa,bác sĩ y
học dự phòng, bác sĩ răng hàm mặt hệ chính quy trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm học 2018-2019
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 38- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Không đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Đối tượng không có mặt trong thời gian nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Y Dược Hải Phòng, số 72ANguyễn Bỉnh Khiêm, quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11/2018 đến tháng 4/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu
− n: là số sinh viên cần điều tra
− p = 0,34 (Tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học là 34% theonghiên cứu của ThS.Cao Minh Toàn tại trường ĐH An Giang năm 2010).[15]
− ∆: Sai số tương đối so với tỷ lệ p, chọn ∆ = 0,05
− α: Chọn mức ý nghĩa thống kê 95%, có α = 0,05
Trang 39− Z2
1−α /2 : Hệ số giới hạn tin cậy Giá trị thu được bằng cách tra bảng Z,
có α = 0,05 => Z 1−α /2 = 1,96 khi mức ý nghĩa thống kê 95%
− Thay vào công thức:
N: Dân số của quần thể
Bảng 2.1: Phân bố cỡ mẫu điều tra theo khối
Khối
sinh viên Chuyên ngành
Kích thước quần thể
Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết
Số lượng thực tế điều tra
Trang 40Năm 5 BS đa khoa 422 81 80
Theo số liệu điều tra tổng số sinh viên thuộc các ngành BS đa khoa,
BS dự phòng, BS răng hàm mặt là 1789 Thực tế lấy mẫu 350 sinh viên 3năm cuối thuộc các BS đa khoa, BS dự phòng, BS răng hàm mặt
i + 2k; i + 3k… i + (n-1)k Sau khi chọn mẫu xong là tiến hành phântheo lớp rồi tiến hành phỏng vấn
2.3 Các biến số nghiên cứu
Nhóm biến số Biến số Loại biến Phương thức thu
thập số liệu Phần I: Thông tin chung