Đà Nẵng n = 120 Sau 67 3.18 Két quả khảo sát các kênh thông tin có tác dụng kích thích mua sắm dụng cụ, trang phục thể dục thể thao của khách hàng Sau 70 3.19 Kết quả khảo sát sự tương
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa tác giả nào công bố
Trang 3Lê Thị Trà Lý
Trang 4CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5 1.1 TRUYỀN HÌNH LÀ MỘT PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG 5 1.2 VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA TRUYỀN HÌNH TRONG ĐỜI SỐNG
XÃ HỘI 7
1.2.1 VAI TRÒ CỦA TRUYỀN HÌNH KHI MỚI XUẤT HIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM: 7 1.2.2 CHỨC NĂNG CỦA TRUYỀN HÌNH TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÔNG CHÚNG KHÁN GIẢ 7 1.3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ QUẢNG CÁO TIẾP THỊ 10 1.4 QUẢNG CÁO TRÊN TRUYỀN HÌNH 12 1.5 NỘI DUNG VÀ CÁC YẾU TỐ THEN CHỐT CỦA SẢN PHẨM THỂ THAO, HÀNG HOÁ THỂ THAO 18
1.5.1 SẢN PHẨM THỂ THAO, HÀNG HOÁ THỂ THAO 18 1.5.2 CÁC YẾU TỐ THEN CHỐT CỦA SẢN PHẨM THỂ THAO 19 1.6 KHÁI NIỆM NHU CẦU, PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM TIÊU THỤ THỂ DỤC THỂ THAO 22
1.6.1 KHÁI NIỆM NHU CẦU, TIÊU THỤ THỂ DỤC THỂ THAO 22 1.6.2 CÁC LOẠI HÌNH TIÊU THỤ THỂ DỤC THỂ THAO 23 1.6.3 TÍNH CHẤT CỦA TIÊU THỤ THỂ DỤC THỂ THAO 24 1.6.4 LỢI ÍCH CỦA TIÊU THỤ THỂ DỤC THỂ THAO 26 1.6.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN MUA SẮM HÀNG HÓA THỂ DỤC THỂ THAO 28 1.7 TÁC DỤNG CỦA THỂ THAO ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH
TẾ, ĐỜI SỐNG VÀ SỨC KHỎE NHÂN DÂN 30
Trang 51.7.2 THỂ THAO LÀ BIỆN PHÁP QUAN TRỌNG ĐỂ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NHÂN DÂN 32
1.7.3 THỂ THAO LÀ BIỆN PHÁP HỮU HIỆU ĐỂ NÂNG CAO TỐ CHẤT CỦA NGƯỜI DÂN, PHÒNG NGỪA VÀ CHỮA TRỊ “CĂN BỆNH CỦA XÃ HỘI VĂN MINH” VÀ KÉO DÀI TUỔI THỌ 33
1.8 KHÁI QUÁT VỀ TRUYỀN HÌNH, TRUYỀN HÌNH THỂ THAO VÀ THỂ DỤC THỂ THAO QUẦN CHÚNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 34
1.8.1 KHÁI QUÁT VỀ TRUYỀN HÌNH VÀ TRUYỀN HÌNH THỂ THAO HIỆN NAY 34
1.8.2 KHÁI QUÁT VỀ THỂ DỤC THỂ THAO QUẦN CHÚNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 39
1.9 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 42
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 48
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 48
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
2.2.1 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ TỔNG HỢP TÀI LIỆU 48
2.2.2 PHƯƠNG PHÁP PHỎNG VẤN 49
2.2.3 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC 50
2.2.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SWOT 51
2.2.5 PHƯƠNG PHÁP KIỂM CHỨNG XÃ HỘI HỌC 51
2.2.6 PHƯƠNG PHÁP TOÁN HỌC THỐNG KÊ 52
2.3 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 52
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 54
Trang 6TRANG PHỤC THỂ DỤC THỂ THAO TRONG ĐỊA BÀN CÁC QUẬN NỘI ĐÔ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 54
3.1.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ TẦN SUẤT TIẾP CẬN CÁC CHƯƠNG TRÌNH THỂ THAO CỦA CÁC ĐÀI TRUYỀN HÌNH ĐƯỢC KHÁN GIẢ YÊU THÍCH PHỦ SÓNG TRÊN ĐỊA BÀN CÁC QUẬN NỘI ĐÔ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 54 3.1.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KINH DOANH VÀ TIÊU THỤ TRANG PHỤC, DỤNG CỤ TDTT TRÊN ĐỊA BÀN CÁC QUẬN NỘI ĐÔ CỦA TP ĐÀ NẴNG 58 3.1.3 THỰC TRẠNG CHI PHÍ QUẢNG BÁ SẢN PHẨM, HÌNH ẢNH DOANH NGHIỆP CỦA CÁC ĐƠN VỊ KINH DOANH HÀNG HÓA THỂ THAO TRONG ĐỊA BÀN CÁC QUẬN NỘI ĐÔ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 62 3.1.4 KHẢO SÁT ĐỘNG CƠ, NHU CẦU VÀ ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN CÁC CHƯƠNG TRÌNH THỂ THAO TRÊN TRUYỀN HÌNH CỦA CƯ DÂN TRÊN ĐỊA BÀN CÁC QUẬN NỘI ĐÔ TP ĐÀ NẴNG 64 3.2 LỰA CHỌN VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRUYỀN HÌNH THỂ THAO VÀ KINH DOANH TRANG PHỤC, DỤNG CỤ TDTT TRONG ĐỊA BÀN CÁC QUẬN NỘI ĐÔ THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG 90
3.2.1 NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP 90 3.2.2 LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRUYỀN HÌNH THỂ THAO VÀ KINH DOANH TIÊU THỤ TRANG PHỤC, DỤNG
CỤ TDTT TRÊN ĐỊA BÀN CÁC QUẬN NỘI ĐÔ TP ĐÀ NẴNG 91 3.2.3 KIỂM CHỨNG HIỆU QUẢ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRUYỀN HÌNH THỂ THAO VÀ KINH DOANH TRANG PHỤC,
Trang 7KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121
A KẾT LUẬN: 121
B KIẾN NGHỊ 121 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
Trang 8Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
DRT Đài phát thanh truyền hình Đà Nẵng
Trang 93.1 Hiện trạng chương trình phát sóng của Đài truyền hình
3.2 Các chương trình thể thao sản xuất và phát hàng ngày
trên các kênh sóng của VTV năm 2015 Sau 563.3 Chương trình thể thao hàng tuần của kênh HTV9 Sau 56 3.4
Khảo sát tần suất tiếp cận các chương trình truyềnhình thể thao trong 1 tuần của các khán giả trên địabàn các quận nôi đô Tp Đà Nẵng
Sau 57
3.5
Hiện trạng kinh doanh của các cơ sở kinh doanh dụng
cụ thể thao trên địa bàn nôi đô Tp Đà Nẵng năm2015
59
3.6
Thực trạng kinh doanh của các cơ sở kinh doanh dụng
cụ thể thao trên địa bàn các quận của Tp Đà Nẵngnăm 2015
63
3.9
Kết quả khảo sát đông cơ và điều kiện tiếp cận truyềnhình thể thao của khán giả lớn tuổi trên địa bàn cácquân nôi đô Tp Đà Nẵng (n = 80)
Sau 64
3.10
Kết quả khảo sát đông cơ và điều kiện tiếp cận truyềnhình thể thao của khán giả đang làm việc trên địa bàncác quân nôi đô Tp Đà Nẵng (n = 150 )
Sau 64
3.11
Kết quả khảo sát đông cơ và điều kiện tiếp cận truyềnhình thể thao của khán giả trẻ tuổi trên địa bàn cácquân nôi đô Tp Đà Nẵng (n = 120)
Sau 64
3.12 Kết quả khảo sát nhu cầu của khán giả lớn tuổi đối với
các nôi dung truyền hình thể thao trên địa bàn các
Sau 66
Trang 103.13 đối với các nôi dung truyền hình thể thao trên địa bàn
các quận nôi đô Tp Đà Nẵng (n = 150)
Sau 66
3.14
Kết quả khảo sát nhu cầu của khán giả trẻ tuổi đối với
các nôi dung truyền hình thể thao trên địa bàn các
quận nôi đô Tp Đà Nẵng (n = 120)
Sau 66
3.15
Kết quả khảo sát nhu cầu, đông cơ mua sắm dụng cụ,
trang phục TDTT của người lớn tuổi trên địa bàn các
quân nôi đô Tp Đà Nẵng (n = 80)
Sau 67
3.16
Kết quả khảo sát nhu cầu, đông cơ mua sắm dụng cụ,
trang phục TDTT của người đang làm việc trên địa
bàn các quân nôi đô Tp Đà Nẵng (n = 150 )
Sau 67
3.17
Kết quả khảo sát nhu cầu, đông cơ mua sắm dụng cụ,
trang phục TDTT của người trẻ tuổi trên địa bàn các
quân nôi đô Tp Đà Nẵng (n = 120 )
Sau 67
3.18
Két quả khảo sát các kênh thông tin có tác dụng kích
thích mua sắm dụng cụ, trang phục thể dục thể thao
của khách hàng
Sau 70
3.19
Kết quả khảo sát sự tương tác giữa truyền thông và
kinh doanh, tiêu thụ dụng cụ, trang phụcTDTT thông
qua khảo sát ý kiến chuyên gia, chủ doanh nghiệp và
khán giả-khách hàng
Sau 71
3.20
Kết quả kiểm định của chuyên gia phân tích SWOT về
truyền hình thể thao và tiêu thụ trang phục, dụng cụ
TDTT trên địa bàn Tp Đà Nẵng - Điểm mạnh (n=34)
Sau 81
3.21
Kết quả kiểm định của chuyên gia phân tích SWOT về
truyền hình thể thao và tiêu thụ trang phục, dụng cụ
TDTT trên địa bàn Tp Đà Nẵng - Điểm yếu (n=34)
Sau 81
3.22 Kết quả kiểm định của chuyên gia phân tích SWOT về
truyền hình thể thao và tiêu thụ trang phục, dụng cụ
Sau 81
Trang 113.23 truyền hình thể thao và tiêu thụ trang phục, dụng cụ
TDTT Tp Đà Nẵng – Thách thức (n=34)
Sau 81
3.24
Kết quả ý kiến chuyên gia lựa chọn các giải pháp phát
triển truyền hình thể thao hỗ trợ tăng tiêu dùng, tiêu
thụ TDTT và tiếp thị quảng cáo hàng hoá thể thao
thông qua các chương trình truyền hình thể thao trên
địa bàn các quận nôi đô Tp Đà Nẵng (n=34)
Sau 94
3.25
Kiểm đô tin cậy của các giải pháp pháp phát triển
truyền hình thể thao hỗ trợ tăng tiêu dùng, tiêu thụ
TDTT và tiếp thị quảng cáo hàng hoá thể thao thông
qua các chương trình truyền hình thể thao trên địa bàn
các quận nôi đô Tp Đà Nẵng (n=34)
Sau 94
3.26
Kết quả kiểm định tương quan tính cấp thiết, tính khả
thi của các giải pháp phát triển truyền hình thể thao hỗ
trợ tăng tiêu dùng, tiêu thụ TDTT và tiếp thị quảng cáo
hàng hoá thể thao thông qua các chương trình truyền
hình thểthao trên địa bàn các quận nôi đô Tp Đà Nẵng
(n=34)
Sau 94
3.27
Kết quả kiểm chứng tương quan thứ bậc của các giải
pháp pháp phát triển truyền hình thể thao hỗ trợ tăng
tiêu dùng, tiêu thụ TDTT và tiếp thị quảng cáo hàng
hoá thể thao thông qua các chương trình truyền hình
thểthao trên địa bàn các quận nôi đô Tp Đà Nẵng
(n=34)
Sau 94
3.28 Thời lượng, hình thức, tần suất quảng cáo và chi phí
thực hiện quảng cáo của các cơ sở kinh doanh TDTT 1013.29 Chi phí quảng cáo và doanh thu từ trang phục, dụng cụ
3.30 Tổng doanh thu kinh doanh tiêu thụ TDTT (tỷ đồng) 103
Trang 12điểm diễn ra các sự kiện thể thao
Trang 133.1 Hiện trạng các Chương trình truyền hình thể thao 54
3.2
Kết quả khảo sát tần suất tiếp cận các chương trìnhtruyền hình thể thao trong 1 tuần của các khán giả trênđịa bàn các quận nôi đô Tp Đà Nẵng
57
3.3 Hiện trạng kinh doanh của các cơ sở kinh doanh dụng
cụ thể thao trên địa bàn nôi đô Tp Đà Nẵng năm 2015 58
3.4
Thực trạng kinh doanh của các cơ sở kinh doanh dụng
cụ thể thao trên địa bàn các quận nôi đô của Tp ĐàNẵng năm 2015
60
3.5
Kết quả khảo sát giá trị mua sắm dụng cụ, trang phụcthể dục thể thao của cư dân trên địa bàn nôi đô Tp ĐàNẵng trong 1 năm
61
3.6 Tăng trưởng Chương trình thể thao của DRT, năm
3.7
Tăng trưởng doanh thu của các cơ sở kinh doanh dụng
cụ thể thao trên địa bàn các quận nôi đô Tp Đà Nẵng,năm 2015-2016 (Triệu đồng)
99
3.8
Tăng trưởng nôp ngân sáchcủa các cơ sở kinh doanhdụng cụ thể thao trên địa bàn các quận nôi đô Tp ĐàNẵng năm 2015-2016 (Triệu đồng)
100
Trang 14Truyền thông là cách thức truyền đạt thông tin liên tục và có ảnh hưởngrất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hôi, ảnh hưởng đến nhận thức, hành đông
và cách ứng xử của người dân Trong nền kinh tế, truyền thông tác đông đến tiêudùng của người dân và giúp kinh tế phát triển Tại Việt Nam truyền hình làphương tiện truyền thông được đại đa số người dân sử dụng để nắm bắt thôngtin và giải trí, truyền hình xâm nhập mạnh mẽ và sâu sắc vào đời sống nhân dânvới sự phát triển rông khắp của hệ thống truyền hình trung ương, địa phương đãảnh hưởng và tác đông rất lớn đến đời sống chính trị tư tưởng, văn hóa và giải trícủa người Việt Nam
Truyền thông thể thao là nghệ thuật sử dụng cách thức giao tiếp khoa học
và hiệu quả để đưa thể thao đến gần hơn với công chúng, đưa thể thao tiếp cậnđược các doanh nghiệp và ngược lại Truyền thông thể thao có thể diễn ra ở mọicấp của thể thao, từ các giải đấu thể thao quần chúng, các giải thể thao phongtrào, cho đến các giải đấu thể thao chuyên nghiệp Theo các nghiên cứu của cácnhà kinh tế thể thao, truyền thông thể thao đã đóng môt vai trò quan trọng trong
Trang 15sự phát triển của TDTT Trong sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông thể thao,thể thao đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống người dân Thôngqua truyền thông thể thao, nhiều người xem và quan tâm nhiều hơn đến thể thao,đến các giải đấu thể thao cũng như những quảng cáo trên truyền hình trong cácchương trình thể thao.
Sự gia tăng của các phương tiện truyền thông đại chúng là sự phát triểnquan trọng nhất trong thể thao hiện đại Mối quan hệ giữa thể thao, truyền thông,quảng cáo là công sinh môt mối quan hệ phụ thuôc lẫn nhau [18]
Cùng với sự phát triển vượt bậc của ngành công nghiệp thể thao trongnhững thập kỷ gần đây, vấn đề kinh doanh thể thao cũng được nhiều chuyên giaquan tâm nghiên cứu Kinh doanh thể thao phụ thuôc vào số lượng và cấu trúccủa mức tiêu thụ thể thao, người dân không gia tăng mức tiêu thụ thể thao thìkinh doanh thể thao sẽ không thành công Vì vậy, để hướng dẫn và tạo đông lựccho người dân đối với tiêu thụ thể thao chiếm môt vị trí rất quan trọng trong sựphát triển của kinh doanh thể thao
Như vậy, truyền hình thể thao và tiêu thụ thể thao đều là những nhân tốgóp phần phát triển thể dục thể thao cho mọi người nói chung và ở Thành phố
Đà Nẵng nói riêng Ở mức đô nhất định, truyền hình thể thao phát triển tốt, cũnggóp phần khuyến khích sự tăng trưởng người tập luyện và tăng trưởng sức tiêuthụ thể thao
Đây là hai nhân tố cùng góp phần phát triển thể dục thể thao cho mọingười, nhưng ở mức đô nào đó, truyền hình thể thao còn góp phần quảng cáo,tiếp thị để tăng trưởng sức tiêu thụ thể thao mà đặc biệt là tiêu thụ trang phục,
dụng cụ TDTT Với ý tưởng nêu trên, tôi lựa chọn đề tài khoa học: “Nghiên cứu
về truyền thông và tiêu thụ trang phục, dụng cụ thể dục thể thao ở Thành phố
Đà Nẵng”.
Trang 162 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu về truyền thông thể thao được xem xét thông qua các chươngtrình truyền hình thể thao và tình hình tiêu thụ trang phục, dụng cụ TDTT của cưdân các quận nôi đô trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng Truyền thông thể thaođược nghiên cứu trong luận án này chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp là truyền hìnhthể thao với góc nhìn khuyến khích sự phát triển thể dục thể thao cho mọi người,
từ đó góp phần tăng tiêu thụ hàng hóa thể dục thể thao Với góc nhìn này, truyềnhình thể thao là môt nhân tố góp phần phát triển thể dục thể thao cho mọi người.Đồng thời, truyền hình thể thao cũng là môt phương thức quảng cáo, tiếp thị tiêudùng trang phục, dụng cụ thể dục thể thao, do khuyến khích số lượng người tậpthể dục thể thao quần chúng ngày càng đông đảo
3 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu, tìm hiểu về cơ sở về lý luận kết hợp với thực tiễn, thực trạngcủa hoạt đông truyền thông và tiêu thụ trang phục, dụng cụ thể thao tại Thànhphố Đà Nẵng sẽ làm cơ sở khoa học để luận án đưa ra những giải pháp cụ thể đểgóp phần phát triển truyền thông thể thao, tiêu thụ trang phục, dụng cụ thể thaotại Thành phố Đà Nẵng phù hợp với qui luật vận đông của thực tiễn khách quanthời kinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ nghĩa
4 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu 1 Đánh giá thực trạng, đông cơ và nhu cầu của truyền hình thể
thao, kinh doanh, tiêu thụ dụng cụ trang phục TDTT trong địa bàn các quận nôi
Trang 17đơn vị kinh doanh hàng hóa thể thao trong địa bàn các quận nội đô Thành phố
Đà Nẵng.
-Khảo sát động cơ, nhu cầu và điều kiện tiếp cận các chương trình thể thao trên truyền hình của cư dân trên địa bàn các quận nội đô Thành phố Đà Nẵng.
Mục tiêu 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các giải pháp phát triển truyền
hình thể thao và kinh doanh trang phục, dụng cụ TDTT trong địa bàn các quậnnôi đô Thành phố Đà Nẵng
-Nguyên tắc lựa chọn các giải pháp
-Lựa chọn các giải pháp phát triển truyền hình thể thao và kinh doanh tiêu thụ trang phục, dụng cụ TDTT trên địa bàn các quận nội đô Thành phố
Đà Nẵng.
-Kiểm chứng hiệu quả các giải pháp phát triển truyền hình thể thao và kinh doanh trang phục, dụng cụ TDTT trong địa bàn các quận nội đô Thành phố Đà Nẵng.
5 Giả thuyết khoa học của đề tài:
Nếu nghiên cứu được thực trạng công tác truyền thông, mà cụ thể trongluận án này là dưới góc đô quảng cáo, tiếp thị thông qua các chương trìnhtruyền hình thể thao và kinh doanh tiêu thụ trang phục, dụng cụ thể dục thể thaotại Đà Nẵng và đưa ra các giải pháp hữu hiệu tăng cường, phát huy hiệu quả củatruyền hình sẽ có tác dụng khích lệ mọi người yêu thích thể dục thể thao và tậpluyện thể dục thể thao sẽ dẫn đến tăng cường tiêu dùng hàng hóa thể dục thểthao Sự tăng trưởng tiêu thụ trang phục, dụng cụ thể thao đồng nghĩa với việctăng người tập luyện thể thao thường xuyên, góp phần phát triển thể thao đỉnhcao, sẽ góp phần lôi cuốn mọi người quan tâm đến các chương trình truyền hìnhthể thao nhiều hơn ở Thành phố Đà Nẵng
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng
“Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhómngười trong xã hôi nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau” Với sự phát triểnnhanh về quy mô dân số, con người cần đến sự trợ giúp của phương tiện thôngtin để quá trình truyền thông nhanh và hiệu quả hơn Hay chính các phương tiệntruyền thông đại chúng điều khiển các quá trình giao tiếp mang tính xã hôi rôngrãi: “Truyền thông đại chúng là hoạt đông giao tiếp xã hôi rông rãi, thông quacác phương tiện thông tin đại chúng” [9], [87]
Truyền thông đại chúng là môt bô phận quan trọng của đời sống văn hoá
xã hôi nước ta Cùng với những thành tựu to lớn của đất nước trong công cuôcđổi mới, hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng đã có những chuyểnbiến tích cực và tiến bô Trong những năm gần đây, truyền thông đại chúng pháttriển nhanh về số lượng và quy mô, về nôi dung và hình thức, về in ấn, pháthành và truyền dẫn Các loại hình truyền thông đại chúng bao gồm: sách, báo
in, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, internet, băng, đĩa hình và âmthanh…[13], [14], [40] Trong hệ thống các phương tiện truyền thông đạichúng này, truyền hình mặc dù xuất hiện sau nhưng phát triển với tốc đô như
vũ bão nhờ sự tiến bô của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra môt kênhthông tin quan trọng trong đời sống xã hôi Ngày nay, truyền hình là phương tiệnthiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tôc Truyền hình trở thành công cụsắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế - xã hôi, anninh, quốc phòng [9], [25], [32]
Truyền hình là môt loại hình truyền thông đại chúng chuyển tải thông tinbằng hình ảnh và âm thanh Hình ảnh chủ yếu và đặc trưng trong truyền hình làhình ảnh đông về hiện thực trực tiếp, ngoài ra truyền hình còn sử dụng các loại
Trang 19hình ảnh tĩnh như ảnh tư liệu, mô hình, sơ đồ, biểu đồ, chữ viết Âm thanhtrong truyền hình bao gồm lời bình của phát thanh viên, lời nói của con người,
âm nhạc, tiếng đông và các âm thanh của hiện trường ghi hình Truyền hìnhđang sử dụng tổng hợp tất cả các loại phương tiện chuyển tải thông tin có trongbáo in, phát thanh và điện ảnh
Truyền hình có sức hấp dẫn đặc biệt nhờ việc giao tiếp với con ngườibằng cả thị giác và thính giác "Sức mạnh của truyền hình tăng lên nhờ phạm viảnh hưởng rông rãi của nó Những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại đã tạo
ra khả năng cho truyền hình xâm nhập tới bất kỳ nơi nào trên trái đất" [14], [93].Với hình ảnh đông và âm thanh, truyền hình gần như đạt tới mức tuyệt đối vềphạm vi công chúng xã hôi Bất cứ ai, dù là ngôn ngữ nào cũng có thể xem vàhiểu được những gì được thể hiện trên truyền hình, ngoại trừ những người bị hạnchế về thị giác và thính giác Do tính tổng hợp và chức năng đa dạng của mình
mà truyền hình được gọi là "rạp hát tại nhà, quảng trường công công, trườnghọc nhân dân, người hướng dẫn văn hoá đại chúng" [4], [31], [39]
Ở nước ta, sau hơn 30 năm ra đời, truyền hình được coi là môt ngànhcông nghiệp đã có những bước phát triển vượt bậc Mặc dù là môt ngành côngnghiệp non trẻ, gặp những trở ngại về kinh tế, kỹ thuật, về không gian địa lýtrong sự phân bố dân cư nhưng đến năm 2005, trên 90% số hô đã được xemtruyền hình hàng ngày với 4 chương trình chính, "Đài truyền hình Việt Namđược coi là tờ báo hình lớn nhất đất nước" [59]
Chương trình truyền hình là sản phẩm lao đông của môt tập thể các nhàbáo, các cán bô và nhân viên kỹ thuật, dịch vụ, là quá trình giao tiếp truyềnthông giữa những người làm truyền hình với công chúng xã hôi rông rãi [30]
Chương trình truyền hình là sự gặp nhau giữa nhu cầu, thị hiếu của côngchúng với mục đích và ý tưởng sáng tạo của những nhà truyền thông bằngphương tiện truyền hình
Mỗi chương trình truyền hình đều nhằm tác đông đến môt đối tượng phục
Trang 20vụ nhất định [5], [6]
1.2 Vai trò, chức năng của truyền hình trong đời sống xã hội
1.2.1 Vai trò của truyền hình khi mới xuất hiện trên thế giới và ở Việt Nam
Với vai trò là môt tờ báo, khi mới xuất hiện, truyền hình chưa hề được để
ý tới Truyền hình chưa bị coi là đối thủ cạnh tranh đáng kể so với các loại hìnhbáo chí khác, chỉ đến khi những kỹ thuật điện tử thế hệ mới ra đời, khiến choviệc sản xuất chương trình truyền hình gọn nhẹ hơn, tiện lợi hơn, đáp ứng đượcyêu cầu của công chúng thì vị trí của truyền hình trong hệ thống các phươngtiện thông tin đại chúng mới nhanh chóng được khẳng định Trung bình mỗingày, công chúng trên thế giới giành 3 giờ 07' để xem truyền hình Điều đó chothấy truyền hình là môt phương tiện truyền thông đại chúng quan trọng đối vớicon người, nó không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin mà còn là phươngtiện giải trí rẻ, tiện lợi và hữu ích [63]
Ở Việt Nam, truyền hình ra đời khá muôn so với nhiều nước trên thế giới.Ngày 7 tháng 9 năm 1970 được đánh giá là mốc ra đời của ngành truyền hìnhViệt Nam Tiềm năng của truyền hình rất lớn, tuy ra đời muôn hơn so với báo in
và phát thanh nhưng truyền hình đã thực sự trở thành phương tiện truyền thôngđại chúng thu hút đông đảo công chúng khán giả, trở thành món ăn tinh thầnkhông thể thiếu được trong đời sống xã hôi Ngày nay, chiếc ti vi đã trở nên thânthiết với mỗi người, mỗi gia đình trong xã hôi, là môt phương tiện giải trí khôngthể thay thế [63]
1.2.2 Chức năng của truyền hình trong mối liên hệ với công chúng khán giả
Truyền hình là môt trong những loại hình truyền thông đại chúng, nó thựchiện các chức năng chung của các phương tiện truyền thông đại chúng như sau :
Chức năng thông tin: Chức năng thông tin được thể hiện ở các chương
trình truyền hình, mọi vấn đề của các lĩnh vực trong đời sống xã hôi đều được
Trang 21thông tin môt cách nhanh chóng, tức thời và đầy đủ nhất Chức năng thông tincủa truyền hình mang tính đặc trưng riêng biệt Bằng những hình ảnh có màusắc kết hợp với âm thanh tạo nên các cung bậc, âm điệu đa dạng, truyền hình cókhả năng truyền đạt thông tin tới người xem môt cách đầy đủ và chân thực nhất.Đặc trưng của chức năng thông tin truyền hình liên quan chặt chẽ với cácchương trình truyền hình và có tác đông lớn tới việc sáng tạo tác phẩm truyềnhình Chương trình Thời sự là chương trình mang đậm chức năng thông tin.Những thông tin mà chương trình Thời sự mang lại cho khán giả những hiểu biếtkịp thời và tương đối đầy đủ về mọi lĩnh vực của đời sống xã hôi, đáp ứng đượcnhu cầu nâng cao hiểu biết của khán giả truyền hình và đạt mục đích truyền đạtthông tin của người làm truyền hình [60], [71]
Chức năng văn hoá - giáo dục: Bản thân hoạt đông của các phương tiện
truyền thông đại chúng nói chung và của truyền hình nói riêng là những hoạtđông văn hoá Bất kỳ môt chương trình truyền hình nào cũng hướng tới mục đíchgiáo dục cái chân - thiện - mỹ cho công chúng Cho nên, truyền hình thực hiệnchức năng văn hoá - giáo dục là điều tất yếu Truyền hình thực hiện chức năngnày bằng cách thông qua các chương trình truyền hình, truyền hình xã hôi hoácác hiểu biết, kinh nghiệm sống, biến chúng từ cái riêng đơn nhất thành cáichung phổ biến; nâng cao trình đô tri thức cho xã hôi dưới hình thức các chuyênmục về lĩnh vực khoa học cụ thể
Chức năng văn hoá - giáo dục của truyền hình còn thể hiện ở việc giáodục lối sống cho công chúng, dẫn dắt, lôi kéo công chúng có lối sống tích cực,định hướng những khuynh hướng lối sống cụ thể [38], [43], [90]
Chức năng tư tưởng: Truyền hình tác đông vào ý thức xã hôi để hình
thành và củng cố hệ thống tư tưởng chính trị lãnh đạo xã hôi với mục đích địnhhướng xã hôi Truyền hình là phương tiện đặc biệt hữu hiệu trong việc giải quyếtcác nhiệm vụ của công tác tư tưởng trên phạm vi toàn xã hôi cũng như trongkhuôn khổ từng công đồng và đối với từng thành viên xã hôi Truyền hình thực
Trang 22hiện chức năng tư tưởng thông qua việc thông tin nhanh chóng, kịp thời, chânthực mọi mặt của đời sống xã hôi nhằm hình thành dư luận xã hôi lành mạnh,mang tính tích cực Đồng thời, trong quá trình thông tin, truyền hình còn địnhhướng tư tưởng chính trị cho toàn xã hôi, giáo dục những tư tưởng chính trị đónhằm biến những thông tin mà công chúng thu nhận thành những quan điểm, lậptrường chính trị xã hôi tích cực, tiến bô [7], [51]
Báo chí nước ta được coi là công cụ sắc bén của Đảng, Nhà nước trongviệc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách tới toàn nhân dân, bởivậy, truyền hình luôn phải làm tốt chức năng này [60]
Chức năng giám sát và quản lý xã hội: Với thế mạnh thông tin tác đông
trực tiếp tới công chúng của mình, truyền hình hiện nay đang trở thành môtphương tiện truyền thông đại chúng tham gia vào quá trình giám sát và quản lý
xã hôi đạt hiệu quả nhất Thông tin của truyền hình đến với công chúng môtcách nhanh chóng, đều đặn và trực tiếp
Thông qua hệ thống các hình thức liên lạc (điện thoại, thư điện tử, hôpthư truyền hình), truyền hình và công chúng xem truyền hình có mối liên hệ rấtchặt chẽ Truyền hình trở thành diễn đàn của toàn dân, tạo dư luận xã hôi, tíchluỹ các tư tưởng, ý kiến, kinh nghiệm của quần chúng, hình thành các chuẩnmực đạo đức và định hướng giá trị phù hợp với các mục tiêu và nhiệm vụ của xãhôi [5], [6]
Chức năng giải trí: Ưu thế số môt của truyền hình hiện nay đó là đáp
ứng được môt cách cao nhất nhu cầu thông tin giải trí cho khán giả xem truyềnhình Cuôc sống càng hiện đại, con người phải làm việc căng thằng thì nhu cầugiải trí càng cao Truyền hình đã và đang là sự lựa chọn hàng đầu hiện nay.Nhờ vào khoa học kĩ thuật – công nghệ ngày càng hiện đại, người dân có thểngồi tại nhà và chọn lựa tất cả những kênh truyền hình mà họ yêu thích Canhạc, phim ảnh… tất cả những loại hình nghệ thuật đáp ứng nhu cầu giải trí vànâng cao kiến thức của con người đều có thể đáp ứng trên truyền hình Đây là
Trang 23môt ưu điểm đặc biệt mà không phải loại hình báo chí nào cũng có được
Thông qua truyền hình, sự giao lưu văn hoá với các nước trong khu vực
và trên thế giới đã trở nên dễ dàng hơn Người xem có điều kiện mở rông tầmmắt, cho dù ngồi ở nhà, họ vẫn được xem những hình ảnh mới nhất, sống đôngđông nhất về nhiều nơi trên thế giới Đây là môt yếu tố quan trọng đối với việcphát triển văn hoá qua truyền hình
Có thể nói, chức năng phát triển văn hoá, giải trí là môt trong những chứcnăng quan trọng của truyền hình, là yếu tố có tính quyết định đến sự phát triểncủa truyền hình Thông qua các chương trình truyền hình, khán giả vừa có điềukiện giải trí, vừa có điều kiện nâng cao kiến thức của mình về mọi lĩnh vực trongđời sống xã hôi [38], [79], [92]
Như vậy, các chương trình giải trí trên truyền hình mới đáp ứng được nhucầu, mong mỏi của công chúng và "không có phương tiện nào khác có thể thuhút thời gian rỗi rãi của cư dân trên khắp hành tinh bằng truyền hình" [14]
Các chức năng của truyền hình luôn quan hệ chặt chẽ và có liên quan lẫnnhau Bản thân các chức năng này tạo điều kiện và thúc đẩy lẫn nhau Mỗi chứcnăng của truyền hình được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và cácchương trình truyền hình bao giờ cũng thực hiện đồng thời nhiều chức năng.Bởi vậy, vai trò của truyền hình chỉ được nhận thức môt cách đầy đủ khi đặt nótrong sự thống nhất hữu cơ giữa các chức năng đó [63], [73]
1.3 Một số khái niệm về quảng cáo tiếp thị
Quảng cáo là môt hoạt đông hết sức phổ biến hiện nay Tốc đô tăngtrưởng và đầu tư vào quảng cáo ở Việt nam nói riêng và thế giới nói chung đangngày càng mạnh mẽ Vai trò của quảng cáo ngày càng không thể phủ nhận trongnền kinh tế thị trường Mặc dù trên khắp thế giới, quảng cáo được sử dụng với ýnghĩa là cầu nối trung gian mang những thông tin của sản phẩm đến với ngườitiêu dùng nhưng đến bây giờ quảng cáo vẫn chưa được khái quát hóa thành môtđịnh nghĩa chung nhất trên toàn thế giới Do vậy, ở mỗi quốc gia, mỗi nền kinh
Trang 24tế khác nhau khái niệm này lại có cách thể hiện riêng [67], [88], [90], [91].
Quảng cáo là hình thức tuyên truyền được trả phí hoặc không để thựchiện việc giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tưởng Quảngcáo là hoạt đông truyền thông phi trực tiếp giữa người với người mà trong đóngười muốn truyền thông phải trả tiền cho các phương tiện truyền thông đạichúng để đưa thông tin đến thuyết phục hay tác đông đến người nhận thông tin.Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác đông tới hành vi, thói quen mua hàngcủa người tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệpbán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán [67]
Cuôc cạnh tranh giữa các phương tiện phản ánh không chỉ về mặt thu tiềnquảng cáo, mà còn đấu tranh trong việc sử dụng thời gian của khách hàng củacác phương tiện truyền thông đại chúng Qua theo dõi người ta nhận thấy rằng
sự sụt giảm của thời gian đọc báo, trong khi tỉ lệ thời gian dành cho nghe đài vàxem tivi tăng lên Trong thời đại số hóa hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của internet thì thị phần quảng cáo trên truyền hình đã có những ảnh hưởngnhất định
Tại Việt Nam, khán giả giữa truyền hình và internet có sự khác biệt đáng
kể về đặc điểm Theo kết quả nghiên cứu năm 2016 của Nielsen, 85% ngườidùng internet có đô tuổi từ 15-49 tuổi và khán giả xem truyền hình ở đô tuổi nàychỉ chiếm dưới 40% Sự khác biệt về nhóm khán giả sẽ dẫn đến các nhu cầu và
sở thích khác nhau trên các nền tảng truyền thông khác nhau Như vậy để có thểtạo nên môt kênh “truyền thông hôi tụ” hiệu quả cho cả tivi và internet, các kênhtruyền hình và nhà sản xuất nôi dung cần xây dựng được các chương trình thực
sự có chất lượng mới có thể tạo ra sức hút cho các nhóm khán giả trên các nềntảng khác nhau [46], [76]
Cuôc cạnh tranh ngày càng gia tăng buôc các doanh nghiệp truyền hìnhnhà nước phải nghĩ đến đông thái tiếp thị các sản phẩm truyền thông của họ, tấtnhiên trong khuôn khổ nhiệm vụ báo chí bao gồm tin tức, văn hóa, giáo dục và
Trang 25giải trí [28], [39].
1.4 Quảng cáo trên truyền hình
Quảng cáo trên truyền hình là môt hình thức truyền tin từ đơn vị thuêquảng cáo qua phương tiện truyền hình để đến với nhiều người tiêu dùng nhằmmục đích thông báo, thuyết phục người tiêu dùng về sản phẩm/ dịch vụ để họquan tâm, tin tưởng và tiến tới sử dụng Quảng cáo trên truyền hình là sự kếthợp sinh đông giữa hình ảnh, âm thanh, màu sắc công thêm cử đông và các kĩxảo truyền hình mang đến cho người xem những hình ảnh sống đông, chân thựccủa việc xảy ra trước mặt Từ đó tạo sự chú ý, cuốn hút và kích thích trí tò mòcủa người xem và cung cấp cho người tiêu dùng nhiều thông tin về sản phẩm,dịch vụ hơn các phương tiện quảng cáo khác Quảng cáo trên truyền hình có sốlượng khán giả tiếp cận thông tin nhiều nhất [25], [67]
Cũng như các loại hình quảng cáo khác, quảng cáo trên truyền hình cũngthể hiện những thông điệp quảng cáo nhất định Tuy nhiên thông điệp quảng cáotruyền hình có những điểm khác biệt so với các thông điệp quảng cáo khác, cóthể kể đến những sự khác biệt như sau [25]:
Thứ nhất, quảng cáo trên truyền hình có phương thức cung cấp thông tinđặc biệt: Nếu như quảng cáo trên báo tạp chí, pano, áp phích thông tin được thểhiện ở hình ảnh, chủ yếu chỉ tác đông tới thị giác của người xem, không thểtruyền tải hết sự sống đông cũng như toàn bô đặc điểm của sản phẩm quảng cáotrên đài phát thanh được thể hiện qua âm thanh, mà việc truyền thanh chỉ có thểtác đông vào thính giác của người nghe nên hạn chế về nôi dung cần quảng cáo
và hiệu quả gây sự chú ý Thì quảng cáo trên truyền hình là sự kết hợp giữa hìnhảnh và âm thanh công thêm cử đông, các kĩ xảo riêng truyền hình, mang đến chongười xem sự sống đông, hiện thực của việc xảy ra trước mặt do đó tạo sự chú ý,cuốn hút, kích thích trí tò mò của khán giả cung cấp cho khán giả được nhiềuthông tin hơn Đó là điều mà các phương tiện quảng cáo khác không làm được[25]
Trang 26Thứ hai, cách thức truyền tải thông tin đến người tiếp nhận quảng cáo trêntruyền hình Người tiếp nhận thông tin trên quảng cáo truyền hình thường bịđông khi tiếp nhận thông tin Tính bị đông của người tiếp nhận thông tin thểhiện ở chỗ, trong quảng cáo truyền hình người xem không được lựa chọn về thờiđiểm xem, nôi dung xem, thời lượng xem cũng như có xem hay không quảngcáo Đối với những kênh truyền hình chuyên quảng cáo thì người xem truyềnhình cũng chỉ có thể chủ đông trong việc lựa chọn có xem quảng cáo hay khôngchứ không thể lựa chọn nôi dung quảng cáo Thực tế cho thấy, nếu như đangxem môt chương trình nào đó và bị quảng cáo xen vào thì người xem có hai sựlựa chọn môt là xem tiếp đợi hết quảng cáo, hai là chuyển kênh; tuy nhiên việcchuyển sang môt kênh khác cũng vẫn có thể gặp các quảng cáo khác Không chỉvậy, nếu như người xem truyền hình có thích xem môt chương trình quảng cáonào cũng không thể lựa chọn sẽ xem khi nào, vì việc phát sóng truyền hình hoàntoàn theo chương trình của đài truyền hình Kể cả khi lên khung chương trìnhhay lịch phát sóng được đăng tải trên tạp chí truyền hình …cũng không có mụcnào thể hiện thời điểm phát sóng quảng cáo và các sản phẩm sẽ được quảng cáo.Trong khi đó, nếu như xem quảng cáo trên môt tạp chí, hay internet cùng nhưquảng cáo khác người đọc có thể chọn quảng cáo bắt mắt mà mình thích để xemhoặc có thể bỏ qua luôn mục quảng cáo để xem mục khác [33].
Thứ ba, quảng cáo truyền hình có tính xã hôi hóa cao: Có thể nói, so vớicác loại hình quảng cáo khác, quảng cáo trên truyền hình có số lượng người tiếpcận thông tin nhiều nhất
Nói chung, truyền hình hầu như không có tính chọn lọc khán giả nhưnhững phương tiện truyền thông khác như quảng cáo trên báo chí hay có thờilượng quảng cáo nhiều như internet 24/24 giờ (song số lượng người truy cậpthấp chỉ chiếm khoảng 4-5% dân số) người tiếp cận sản phẩm quảng cáo khôngcần bắt buôc phải đạt trình đô văn hoá nào đó như các loại hình quảng cáo khác,ngay cả những đứa trẻ vẫn có thể tiếp nhận, nghe và hiểu những thông tin được
Trang 27truyền tải thông qua các sản phẩm quảng cáo được phát sóng trên đài truyềnhình Cho nên quảng cáo trên truyền hình chiếm được lượng khán giả theo dõinhiều nhất trong số các loại phương tiện truyền thông
Do truyền hình thuôc về mọi người và nhất là ở Việt Nam các kênh truyềnhình phổ biến chủ yếu là kênh truyền hình miễn phí số lượng người xem đàitruyền hình là rất lớn, thuôc mọi tầng lớp đối tượng, vùng miền Trong khi đócác loại hình quảng cáo khác lại có sự giới hạn về đối tượng tiếp nhận, nhưquảng cáo trên báo chí, ấn phẩm người tiếp nhận cần có khả năng đọc và hiểuthông tin, còn đối với quảng cáo trên internet thì ngoài yêu cầu có khả năng đọc
và tiếp nhận thông tin cần có kỹ năng sử dụng internet, có các điều kiện để tiếpcận (như máy tính, cáp internet…) [83], [89]
Thứ tư, thông điệp trên quảng cáo trên truyền hình có tính tập thể cao hơncác loại thông điệp quảng cáo khác, điều này có thể dễ dàng nhận thấy khichúng ta tiếp nhận các sản phẩm quảng cáo trên các loại hình quảng cáo khácnhau Nếu như đối với quảng cáo trên truyền hình, môt sản phẩm quảng cáođược phát trên truyền hình có thể có nhiều người cùng môt lúc cùng xem sảnphẩm quảng cáo đó trên cùng môt cái tivi thì đối với các loại hình quảng cáokhác thì việc nhiều người cùng xem môt quảng cáo với nhau thường rất khó xảy
ra, chẳng hạn khi đọc môt tờ báo, rất ít khi có năm bảy người cùng ngồi để đọcchung môt thông điệp quảng cáo trên tờ báo đó như đối với việc tiếp nhận thôngđiệp quảng cáo trên truyền hình Hơn nữa, việc nhiều người cùng tiếp nhậnthông điệp quảng cáo như quảng cáo truyền hình còn tăng khả năng trao đổithông tin về thông điệp quảng cáo thể hiện trong sản phẩm quảng cáo, giúp chocác thông điệp quảng cáo đem lại hiệu quả cao hơn [25], [64]
Thứ năm, chủ thể tham gia quảng cáo truyền hình: Có thể nói quảng cáotrên truyền hình chính là môt hoạt đông kinh doanh, trong đó đài truyền hình làmôt trong các chủ thể của hoạt đông quảng cáo chứ không phải là môt phươngtiện quảng cáo thông thường Điều này có thể lý giải trong việc phân tích quan
Trang 28hệ quảng cáo, có sự tham gia của 3 loại chủ thể: người quảng cáo thương mại,người kinh doanh dịch vụ quảng cáo và người phát hành quảng cáo thương mại[25], [72].
Quảng cáo truyền hình có bốn chức năng:
- Chức năng kinh tế: Quảng cáo truyền hình thông tri, báo cáo với ngườixem về sự ra đời hoặc sự có mặt của môt mặt hàng Trong thời đại sinh sản hàngloạt, nó thôi thúc sự tiêu thụ của khách hàng vốn chuông những sản phẩm mới
Nó khai thác những nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu thụ, lập lại thế quân bìnhgiữa cung và cầu cũng như góp phần vào việc phân phối lợi tức trong xã hôi.Sản phẩm ra càng nhiều thì giá thành càng rẻ và người mua có cơ hôi mua rẻ vànâng cao chất lượng mức sinh hoạt của mình.Nhược điểm của nó là thúc đẩyngười ta ăn tiêu hoang phí, lôi cuốn con người bắt chước nhau tiêu thụ theo thờitrang, khơi gợi những lối tiêu thụ kiểu bốc đồng, nghĩa là mua mà không nghĩtrước nghĩ sau [25], [28], [31]
Chức năng thương mại: Quảng cáo truyền hình thông tri với xã hôi vai tròcủa doanh nghiệp, đường lối hoạt đông của nó Quảng cáo cũng đốc thúc doanhnghiệp góp phần vào việc phục vụ khách hàng và xây dựng xã hôi Nó khuyếnkhích doanh nghiệp không ngừng cải tiến hoạt đông của mình Nó tạo danh tiếngcho nhãn hiệu (Brand) và nâng cao tinh thần của nhân viên Điểm yếu của quảngcáo trong phạm vi này là nó gây ra khoảng cách giữa các doanh nghiệp, làm chiphí quảng cáo tăng vọt, làm cho các mặt hàng đoản mệnh vừa mới ra lò đã thànhlỗi thời vì có mặt hàng mới ra ngay sau đó [1], [19], [31]
Chức năng xã hôi: Quảng cáo nói chung và quảng cáo truyền hình nóiriêng giáo dục người tiêu dùng.Quảng cáo truyền hình mở rông tri thức, nângcao mức đô suy nghĩ, phán đoán của người tiêu dùng, dạy người ta về cách dùngcác mặt hàng và giúp người ta quyết định mua món hàng nào Nó vừa là tư liệucủa nôi dung truyền thông đại chúng, vừa là lý do để người tiêu dùng bắt đầubiết quan tâm tới món hàng mình tiêu dùng Nó khiến cho người ta đòi hỏi
Trang 29những mặt hàng ra đời phải đúng theo qui trình và yêu cầu của xã hôi Nó giúpngười ta tiết kiệm được thời giờ tìm hiểu vì giúp họ biết ngay ưu điểm của môtmặt hàng Tuy nhiên, những kẻ chống đối nó cho rằng quảng cáo chỉ đưa ranhững tin tức hời hợt, nhiều từ hoa mỹ hơn là sự thực [25], [28], [33]
Chức năng văn hóa: Quảng cáo truyền hình đề nghị môt nếp sốngmới Qua nó, chúng ta bắt mạch được hướng đi của xã hôi Nó là đề tài nóichuyện bất tận của quần chúng và nhờ nó, những hoạt đông văn hóa, xã hôi cóphương tiện vật chất để thực hiện Nó khai thác những đòi hỏi cao cả của conngười
Con người ta sau khi đã no cơm ấm áo, có an ninh, sức khỏe, còn cần cảtinh yêu, lòng tự hào về những thành đạt trong đời và có nhu cầu cống hiến cho
xã hôi Dĩ nhiên, ta đề cập đến nhu cầu nhân bản chứ không phải nói riêng vềnhu cầu tiêu thụ Thế nhưng, được hướng dẫn bởi những nhu cầu đó, con người
có thể tìm đến những sản phẩm hay dịch vụ để thỏa mãn mục đích mình đòi hỏi[20]
Quảng cáo truyền hình có tác đông mạnh mẽ đến hành vi mua sắm củangười tiêu dùng nhưng đó là những ảnh hưởng tích cực nếu như sản phẩm quảngcáo đảm bảo chất lượng, còn nếu không, có thể gây ảnh hưởng rất nghiêm trọngđến người tiêu dùng Bởi lẽ, quảng cáo có sự tác đông rất lớn đến niềm tin củangười tiêu dùng đến môt sản phẩm nào đó, vậy nên nếu môt sản phẩm kém chấtlượng mà do niềm tin của người tiêu dùng với quảng cáo truyền hình vẫn mua
và sử dụng thì rất có thể gây thiệt hại cho chính người tiêu dùng tin vào quảngcáo truyền hình Quảng cáo truyền hình không chỉ kích thích hành vi mua sắmcủa người tiêu dùng mà còn tác đông đến cả mục đích mua sắm của người tiêudùng Bởi lẽ quảng cáo truyền hình sẽ góp phần mở rông tri thức, nâng cao mức
đô suy nghĩ, phán đoán của người tiêu thụ, dạy người ta về cách dùng các mặthàng và giúp người ta quyết định mua món hàng nào Bên cạnh đó sự tác đôngmạnh mẽ của quảng cáo truyền hình cũng có thể gây ra những hậu quả tiêu cực
Trang 30như là thúc đẩy người ta ăn tiêu hoang phí, lôi cuốn con người bắt chước nhautiêu thụ theo thời trang, khơi gợi những lối tiêu thụ kiểu bốc đồng, nghĩa là mua
mà không nghĩ trước nghĩ sau Quảng cáo truyền hình còn có tác đông rất lớnđến môt đối tượng rất đặc biệt nữa là trẻ em Hầu hết những trẻ em được hỏithích xem chương trình nào trên tivi nhất thì câu trả lời nhận được là quảng cáo[25], [83], [84], [85]
Các yếu tố ảnh hưởng đến quảng cáo truyền hình:
Yếu tố kinh tế xã hôi: Thực chất của hoạt đông quảng cáo truyền hình làmôt hoạt đông kinh doanh, do đó nó chịu tác đông sâu sắc của yếu tố kinh tế xãhôi Ở những môi trường kinh tế khác nhau thì lại cần những chiến lược, kếhoạch khác nhau cho từng nhóm sản phẩm Nhân tố kinh tế xã hôi thể hiện quatrình đô học vấn, thu nhập bình quân đầu người, mức chi tiêu bình quân hô giađình hàng ngày,… trong xã hôi đó Vì thế, khi tiến hành môt chương trình quảngcáo truyền hình, bạn phải xem xét kỹ lưỡng ảnh hưởng của các nhân tố trên đếnhiệu quả quảng cáo truyền hình
Yếu tố văn hóa và tôn giáo: Mỗi dân tôc lại có môt nền văn hóa, tôn giáokhác nhau thế nên môt quảng cáo có thể phù hợp với dân tôc này nhưng lạikhông phù hợp với dân tôc khác Ví dụ như với người phương tây thì nhữngquảng cáo có hình ảnh các cô gái mặc bikini là bình thường thì ở các nước đạohồi điều này lại là cấm kỵ Các quảng cáo thiếu vải không phù hợp với văn hóacủa người hồi giáo
Yếu tố trình đô kỹ thuật: Trình đô kỹ thuật cho phép doanh nghiệp sángtạo thông điệp quảng cáo ấn tượng nhằm giúp thu hút sự chú ý của khách hàngđến sản phẩm của mình Thế nhưng, trình đô kỹ thuật ở mỗi nước khác nhau nênchất lượng quảng cáo ở các nước cũng rất khác nhau
Đặc tính của sản phẩm: Mỗi môt nhóm sản phẩm có môt đặc tính khácnhau và được sử dụng cho những nhóm khác hàng khác nhau Vì thế, việcnghiên cứu kỹ đặc tính của sản phẩm sẽ giúp xác định được khách hàng mục
Trang 31tiêu và đưa ra được thông điệp phù hợp trong quảng cáo.
Yếu tố chi phí và giá thành quảng cáo: Có rất nhiều các doanh nghiệp ýthức được các lợi ích của quảng cáo truyền hình mang lại xong chính chi phí vàgiá thành thực hiện quảng cáo là rào cản khiến họ không thể thực hiện được ýmuốn của mình [34], [37]
1.5 Nội dung và các yếu tố then chốt của sản phẩm thể thao, hàng hoá thể thao
1.5.1 Sản phẩm thể thao, hàng hoá thể thao
Theo quan điểm marketing, sản phẩm là tất cả những gì được chào bántrên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng để cóthể thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn của người tiêu dùng, mang lại những lợiích cho họ, vì những yếu tố này mà người tiêu dùng đã chọn mua sản phẩm nàyhay sản phẩm khác Môt sản phẩm thường được hình thành như là môt hàng hóahữu hình mang vỏ bọc vật chất được sản xuất, nó là môt thứ gì đó có thể đượccầm hay sờ được, chẳng hạn như đôi giày thể thao, bóng, vợt, trang phục bảohiểm trong các môn võ, các thiết bị tập luyện…[19], [39]
Tuy nhiên, trong thể thao sản phẩm cũng có thể là những hàng hóa vôhình đó là các ý tưởng và dịch vụ Thực tế, từ “sản phẩm” được sử dụng trongmarketing thể thao được hiểu theo nhiều cách: 1/hàng hóa (hữu hình), 2/dịch vụ,3/ý tưởng, 4/nhân vật (người), 5/địa điểm (công trình) hoặc các kết hợp ở trên[19] [28]
Có thể hiểu hàng hóa thể thao là môt sản phẩm vật chất nào đó được đưa
ra thị trường với mục đích mua bán, sử dụng và tiêu dùng Trong ngành côngnghiệp thể thao có nhiều sản phẩm hàng hóa hữu hình, từ đôi giày, trang phục thiđấu thể thao đến các dụng cụ, thiết bị tập luyện thi đấu như vợt tennis, bóng bàn,ván trượt, bóng đá, dụng cụ thể dục… Ngoài ra, cũng có những hàng hóa khôngchỉ dành riêng cho môt môn thể thao, mà còn có thể sử dụng cho nhiều môn thểthao khác hoặc là môt phần của hoạt đông thể thao như các dụng cụ, thiết bị tập
Trang 32luyện thể dục thể thao, kính mát, mũ, áo pull, đồng hồ bấm giây, máy nghe nhạc,dụng cụ tập thể dục, túi xách, quần áo thể thao…Đây là những loại hàng hóahữu hình, nghĩa là người tiêu dùng có thể có cảm nhận thông qua các giác quannhư thị giác, xúc giác, thính giác…[19], [23], [35].
Trong thực tế, hầu hết các sản phẩm thể thao là hỗn hợp của các yếu tố vậtthể hữu hình và yếu tố vô hình Nhiều sản phẩm vật chất có yếu tố dịch vụ hay ýtưởng, ví dụ người tiêu dùng mua thiết bị tập luyện thể dục tại nhà (băngchuyền, xe đạp lực kế…) không đơn thuần họ mua nó vì kiểu dáng, màu sắc,chất lượng mà họ còn cần được tư vấn, hướng dẫn về cách thức tập luyện bằngthiết bị đó bởi các nhà thể thao chuyên nghiệp Sản phẩm tư vấn là môt lời hứa
mà giá trị của nó nằm ở danh tiếng hay thương hiệu của người tư vấn là cácchuyên gia, vận đông viên, huấn luyện viên nổi tiếng cũng như trong việc chuẩn
bị nghiêm túc các nôi dung tư vấn [66]
Hàng hóa thể thao thường được người tiêu dùng thể thao mua do lợi ích
vô hình mà nó cung cấp Tương tự, nhiều dịch vụ sẽ được bán (cung ứng) cùngvới môt vật thể hữu hình; ví dụ môt thẻ thành viên câu lạc bô bóng đá có thể đikèm với môt gói hàng gồm huy hiệu câu lạc bô, trang phục hoặc bản tin thườngxuyên Trong nhiều trường hợp, người tiêu dùng thể thao có thể mua môt hỗnhợp gồm hàng hóa, dịch vụ, lợi ích và ý tưởng Ngoài ra, còn có các ví dụ về cácdịch vụ thể thao được chuyển đổi thành các sản phẩm thể thao, giống như tròchơi trực tiếp đã được ghi vào DVD để bán sau này Trong marketing thể thao,người ta thường kết hợp sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, các vật thể và phi vậtthể để cung cấp môt cách linh hoạt, hấp dẫn hơn sản phẩm cho người tiêu dùngthể thao [19]
1.5.2 Các yếu tố then chốt của sản phẩm thể thao
Các sản phẩm thể thao có môt loạt các lợi ích cũng như các yếu tố hữuhình và vô hình Nếu các sản phẩm thể thao thiếu các yếu tố hữu hình hay vôhình khác, nó có thể gặp khó khăn hơn với thị trường tiêu dùng Do đó, cần phải
Trang 33nghĩ các sản phẩm thể thao như là môt gói hàng hoàn chỉnh hoặc môt 'gói' cácyếu tố, bao gồm các lợi ích cốt lõi, đặc tính của sản phẩm và các sản phẩm tăngcường.
1.5.2.1 Lợi ích cốt lõi
Các lợi ích cốt lõi đại diện cho nguyên tắc lợi thế mà người tiêu dùngnhận được từ việc mua và sử dụng sản phẩm thể thao Ví dụ, nếu môt người tiêudùng mua môt chiếc xe thể thao, lợi ích chính là phương tiện để giao thông Nếumôt khách hàng mua môt áo pull, lợi ích chính là môt lớp vỏ che cơ thể Nếumôt khách hàng mua môt vé cho môt sự kiện thể thao, các lợi ích chính là giá trịgiải trí hoặc trải nghiệm mà người tiêu dùng nhận như là môt kết quả của việctham dự Nếu người tiêu dùng mua môt dịch vụ, như buổi tập vật lý trị liệu thểthao hoặc môt bài học kỹ thuật thể thao, lợi ích cốt lõi là cách phục hồi môt chấnthương, hoặc được hướng dẫn cách chơi môt môn thể thao tương ứng [64]
Thật dễ dàng để đánh giá thấp tầm quan trọng của lợi ích cốt lõi của môtsản phẩm thể thao và tập trung vào các yếu tố khác như đặc tính (của sản phẩmthực tế) hoặc sự thêm vào (sản phẩm gia tăng) Nhưng lợi ích cốt lõi vẫn là lợiích cơ bản nhất của sản phẩm thể thao; nếu nó không đáp ứng được nhu cầu củakhách hàng thể thao, thì nó khó có thể thành công về sau [19]
1.5.2.2 Sản phẩm thực tế
Các sản phẩm thực tế đề cập đến các nét đặc biệt của sản phẩm Các đặctính của hàng hóa thể thao, ví dụ như trang phục thi đấu thể thao có thể có màusắc, kích thước, chất liệu và hoa văn khác nhau Các đặc tính của môt sự kiệnthể thao có thể bao gồm địa điểm, bảng điểm, cơ sở vật chất, vận đông viêntham gia hoặc người chơi Các đặc tính của môt dịch vụ vật lý trị liệu thể thao
có thể gồm các khoảng thời gian trị liệu, nơi điều trị được thực hiện (ví dụ như ởnhà hoặc tại cơ sở dịch vụ) Quan tâm đến các đặc tính của sản phẩm thể thao cóthể là môt cách làm nổi bật để chống lại sự cạnh tranh Kéo dài lợi ích cốt lõicủa sản phẩm là điều mọi người muốn, sau đó phát triển các đặc tính phù hợp có
Trang 34thể giúp khuếch đại hiệu ứng của sản phẩm hay làm cho nó được tốt hơn để đápứng nhu cầu cụ thể của người tiêu dùng [87]
1.5.2.3 Sản phẩm gia tăng (các dịch vụ kèm theo)
Từ gia tăng có nghĩa là cải thiện hoặc tăng cường Các sản phẩm gia tăng
đề cập đến bất kỳ sự bổ sung hoặc mở rông nào để thêm vào các đặc tính năngthực tế của sản phẩm Chẳng hạn như khi môt sản phẩm được gia tăng, có nghĩa
là nó sẽ có được các dịch vụ kèm theo sản phẩm bao gồm các dịch vụ trước khibán, trong khi bán và sau khi bán Đây có thể là lợi ích bổ sung, thậm chí giatăng thêm hình ảnh của môt sản phẩm Ví dụ khi bán môt thiết bị tập luyện thểdục, người bán hàng (cung cấp) có thể thêm đĩa DVD hướng dẫn cách thức sửdụng thiết bị tập luyện bởi môt chuyên gia về lĩnh vực thể hình hoặc thể lực, nó
có thể cải thiện trong con mắt của người tiêu dùng như là môt thương hiệu cụthể mà họ nghĩ là chất lượng [66]
Thị trường giày thể thao là môt ví dụ, các lợi ích cốt lõi của giày là nhưnhau (để bảo vệ đôi chân) bất kể ai làm ra nó, nhưng các nhà sản xuất khác nhauphải cố gắng tạo ra các đặc tính khác nhau của sản phẩm này về hình thức, màusắc, bô phận khí chống sốc ở đế giày Tuy nhiên các đặc tính này thường nhanhchóng bị sao chép bởi đối thủ cạnh tranh Môt trong những cách hiệu quả nhất
để làm cho đôi giày thể thao nổi bật là thông qua các hình ảnh của sản phẩm[80], [81]
Nhiều nhà sản xuất như Nike và Adidas sử dụng vận đông viên tài trợ đểcung cấp cho các sản phẩm của môt sự gắn bó với thành công, tính đôc quyềnhoặc mang phong cách thể thao Không phải là dễ dàng để phân biệt ba yếu tốchính của các sản phẩm thể thao Người tiêu dùng có thể thao có những đông cơkhác nhau cho các quyết định tiêu dùng của họ Ví dụ mặc dù lợi ích cốt lõi củachiếc đạp thể thao là phương tiện di chuyển, ta cũng có thể kết luận rằng nókhông thực sự đem lại lợi ích trong giao thông để hấp dẫn người tiêu dùng muahàng Thay vào đó, các đặc tính của môt chiếc xe thể thao như kiểu dáng, đẳng
Trang 35cấp… làm cho lợi ích vận chuyển của nó hấp dẫn hơn Ngoài ra, sản phẩm giatăng tiện ích thêm vào như được tham gia sinh hoạt ở môt câu lạc bô xe đạp thểthao, được tiếp cận các tay đua nổi tiếng…có thể cung cấp thêm những lợi thế
có thể làm hài lòng người tiêu dùng thể thao khi quyết định mua loại xe này[65], [66]
1.6 Khái niệm nhu cầu, phân loại, đặc điểm tiêu thụ thể dục thể thao
1.6.1 Khái niệm nhu cầu, tiêu thụ thể dục thể thao
Nhu cầu là môt hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn,
nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùytheo trình đô nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗingười có những nhu cầu khác nhau
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt môt cái gì đó mà con người cảm nhận được[58] Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt đông Nhu cầu càng cấp bách
thì khả năng chi phối con người càng cao; có 2 nhu cầu: vật chất và tinh thần
.Cũng theo các nhà nghiên cứu xã hôi học thì nhu cầu có 3 loại: Nhu cầu sinhtồn; Nhu cầu phát triển; Nhu cầu hưởng thụ.Nhu cầu là đông lực phát triển, cómục đích mới trở thành đông cơ, như yếu tố tích cực của tâm lý Nhu cầu thểdục thể thao là loại nhu cầu phát triển và hưởng thụ [21], [53],
Tiêu thụ là khái niệm thuôc phạm trù kinh tế xã hôi để chỉ sự sử dụngnhững của cải vật chất hoặc phi vật chất mà con người làm ra đã thỏa mãn nhucầu của con người Tiêu thụ là hoạt đông và quá trình quan trọng trong hoạtđông kinh tế của xã hôi loài người, cũng là môt lĩnh vực quan trọng trong đờisống kinh tế xã hôi Quá trình hoạt đông tiêu thụ cá nhân thông thường cũngbiểu hiện qua quá trình chi tiêu tiền tệ, mua sắm hàng hóa để đáp ứng nhu cầutiêu thụ khác nhau của mỗi cá nhân [22]
Tiêu thụ thể dục thể thao chỉ chi tiêu của cá nhân trong hoạt đông thểthao
Tiêu thụ thể dục thể thao hiểu theo nghĩa hẹp là tiêu thụ thể dục thể thao
Trang 36cá nhân có liên quan trực tiếp đến hoạt đông thể dục thể thao chẳng hạn nhưmua thiết bị hay trang phục thể dục thể thao
Tiêu thụ thể dục thể thao theo nghĩa rông là tiêu thụ thể dục thể thao cóliên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt đông thể dục thể thao; ví dụ nhưtham gia hoặc theo dõi các hoạt đông thể dục thể thao người tiêu dùng phải chitiêu cho môt số dịch vụ đi kèm như chi phí đi lại, báo chí, truyền hình [64]
Tiêu thụ thể dục thể thao là hoạt đông tiêu dùng cá nhân mà con ngườitheo đuổi nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và hưởng thụ sau khi đáp ứng nhucầu tiêu dùng sinh tồn cơ bản Đồng thời là hoạt đông tiêu thụ cá nhân trong thờigian rảnh rỗi ngoài thời gian hoàn thành công việc Tiêu thụ thể dục thể thao làmôt bô phận cấu thành quan trọng trong tiêu dùng vui chơi giải trí và tiêu khiển
xã hôi, chiếm môt vị trí quan trọng trong tiêu dùng thời gian nghỉ ngơi cá nhân
Với sự phát triển của nền kinh tế xã hôi như hiện nay, thời gian nghỉ ngơiđược tăng lên thì các hoạt đông thể thao giải trí đang trở thành nhân tố ưu tiêncủa lối sống văn minh Vì thế tiêu thụ thể dục thể thao là tiêu dùng vui chơi giảitrí của phòng cách sống văn minh nhằm nâng cao chất lượng cuôc sống Tiêu thụthể thao không ngừng phát triển là biểu hiện của môt xã hôi tiến bô và văn minh[18], [21]
1.6.2 Các loại hình tiêu thụ thể dục thể thao
Khi tiến hành tiêu thụ thể dục thể thao, chúng ta sử dụng những nôi dungliên quan để tiến hành hoạt đông thể thao, các loại nôi dung tiêu thụ thể thaokhác nhau thì có hình thái và chức năng khác nhau Xuất phát từ chức năng khácnhau trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của người tiêu dùng, tiêu thụ thể thao
có thể phân loại như sau:
Tiêu dùng thể thao mang tính thưởng thức nhằm đáp ứng nhu cầu thị giáccủa người tiêu dùng; Ví dụ: các loại thi đấu thể thao, biểu diễn thể thao, triểnlãm thể thao
Tiêu dùng thể thao hiện vật nhằm đáp ứng nhu cầu tham gia hoạt đông thể
Trang 37thao của người tiêu dùng, trong đó các vật dụng có tác dụng phòng hô hay có tácdụng là môt thiết bị, công cụ thể thao; ví dụ như các loại thiết bị hoạt đông haytrang phục thể thao Loại hình tiêu thụ thể dục thể thao này có thể phân ra làm 2
bô phận: Mua sắm tư liệu tiêu dùng vật dụng thể thao với mục đích trực tiếptham gia các hoạt đông thể thao, bô phận còn lại là đặt mua các loại tạp chí sáchbáo có liên quan đến thể thao với mục đích tăng cường kiến thức và sự hiểu biết
về thể thao
Thông thường chức năng của nôi dung, đối tượng tiêu thụ thể thao khôngthể thay thế cho nhau, do đó ranh giới chức năng giữa chúng rất rõ ràng, ví dụnhư bóng chuyền, bóng bàn, quần vợt, cầu lông Nhưng môt số chức năng củanôi dung, đối tượng tiêu thụ thể dục thể thao không có gì khác biệt so với chứcnăng các loại tiêu dùng sinh hoạt hàng ngày, ví dụ như trang phục thể thao, giầythể thao Trong hoạt đông thể thao có thể phát huy, đảm bảo chức năng công cụ,nhưng bình thường cũng có thể sử dụng, do đó chức năng tiêu thụ thể dục thểthao và chức năng tiêu thụ sinh hoạt có thể thay đổi lẫn nhau [65], [66]
Xét từ hình thái tự nhiên của tiêu thụ thể thao, có thể phân thành 2 loạilớn: Tư liệu tiêu thụ vật dụng thể thao và tiêu thụ dịch vụ thể thao Tiêu thụ vậtdụng thể thao có liên quan đến hoạt đông thể thao dưới sự tồn tại hình thái sảnphẩm vật chất như trang phục, dụng cụ TDTT… Tiêu thụ dịch vụ thể thao dưới
sự tồn tại của hình thái hoạt đông, nó đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thể thao củangười tiêu dùng theo phương thức hoạt đông dịch vụ nhất định như xem cáchoạt đông thi đấu thể thao, tham gia các hoạt đông thể thao… [18]
1.6.3 Tính chất của tiêu thụ thể dục thể thao
Nguyên lí cơ bản của kinh tế chính trị học chủ nghĩa Mác cho thấy, tínhchất và đặc điểm của chế đô kinh tế xã hôi quyết định tính chất và đặc điểm củatiêu thụ xã hôi…[61], [62] Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hôichủ nghĩa ở Việt Nam, những đặc trưng cơ bản của tiêu thụ thể dục thể thao baogồm những vấn đề sau [18]:
Trang 38Tiêu thụ thể dục thể thao là tiêu dùng văn minh, lành mạnh và khoa học:
Tiêu thụ thể dục thể thao phải có lợi cho sự phát triển toàn diện của con người
về các mặt đức, trí, thể, mỹ; đem lại cho người dân cuôc sống hạnh phúc và thật
sự có ý nghĩa trong khoảng thời gian nghỉ ngơi Khi toàn xã hôi hình thànhphương thức và phong cách tiêu thụ thể dục thể thao văn minh, lành mạnh vàkhoa học, sẽ thúc đẩy sự phát triển tinh thần văn minh dân tôc, hiện đại Do đó,tiêu thụ thể dục thể thao xã hôi chủ nghĩa phải kiên quyết phản đối phương thứcsinh hoạt cổ hủ, dung tục, thấp kém trái với thuần phong mỹ tục Đồng thời ngăncấm phương thức tiêu thụ thể dục thể thao có hại cho sức khỏe của con người, đingược lại với nguyên tắc xã hôi chủ nghĩa Nhà nước xã hôi chủ nghĩa áp dụngnhững biện pháp kinh tế, chính trị và dư luận tuyên truyền để tăng cường vàhướng dẫn môt cách khoa học đối với hoạt đông tiêu thụ thể dục thể thao chomọi người để nâng cao chất lượng cuôc sống cá nhân và an ninh xã hôi [18]
Tiêu thụ thể dục thể thao gắn liền với tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng
kinh tế là yếu tố cần thiết để tiêu thụ thể dục thể thao đồng thời tiêu thụ thể dụcthể thao cũng phản ánh trình đô phát triển kinh tế tiêu dùng thể thao để nâng caochất lượng nguồn nhân lực
Đồng thời mục tiêu cơ bản của sản xuất xã hôi chủ nghĩa là đáp ứng nhucầu về văn hóa cũng như về vật chất đang ngày môt tăng lên của toàn thể nhândân, trong đó tiêu thụ thể dục thể thao có thể đáp ứng nhu cầu phát triển vàhưởng thụ của con người Tiêu thụ thể dục thể thao là biện pháp quan trọng thựchiện mục tiêu sản xuất xã hôi chủ nghĩa Vì thế đẩy mạnh tiêu thụ thể dục thểthao gắn liền với tăng trưởng kinh tế là đặc trưng quan trọng của tiêu thụ thể dụcthể thao xã hôi chủ nghĩa [19]
Nhu cầu tiêu thụ thể dục thể thao là bô phận của tiêu thụ phát triển và tiêuthụ hưởng thụ Tiêu thụ thể thao mang tính thời gian và không gian trong đờisống xã hôi Thời gian lưu hành của môt số loại hình tiêu thụ thể dục thể thaokhá ngắn như xem môt sự kiện thi đấu thể thao nhưng cũng có loại hình kéo dài
Trang 39nhiều năm như việc rèn luyện thân thể nâng cao sức khỏe hàng ngày Trong quátrình lưu hành nhu cầu của xã hôi đối với loại hình tiêu thụ thể dục thể thao khálớn, nhu cầu của xã hôi đối với loại hình tiêu thụ thể dục thể thao này khôngphân biệt tuổi, giới tính, nghề nghiệp xã hôi.
Có sự chênh lệch rõ rệt trình đô tiêu thụ thể dục thể thao giữa các vùngmiền Do chịu ảnh hưởng của trình đô phát triển kinh tế, ở các thành phố trình
đô tiêu thụ thể dục thể thao khá cao; ở các vùng nông thôn và vùng núi cao,vùng sâu vùng xa việc tiêu thụ thể dục thể thao ít và không liên tục Trong cùngmôt khu vực, tiêu thụ thể dục thể thao cũng thể hiện tính tầng lớp nhất định dođiều kiện kinh tế khác nhau của người tiêu thụ thể thao Tham gia chương trìnhtiêu thụ thể dục thể thao tầng lớp cao như: Golf, Tennis, Cầu lông; những ngườitiêu thụ thể dục thể thao với chi phí thấp hơn như: bóng bàn, bơi lôi là sự pháttriển khách quan trong xã hôi
Tiêu thụ thể dục thể thao là môt biện pháp quan trọng trong việc đáp ứngnhu cầu vật chất và đời sống văn hóa đang không ngừng tăng lên của mỗi ngườidân trong xã hôi hiện nay, thực hiện mục tiêu sản xuất xã hôi chủ nghĩa, nângcao chất lượng đời sống, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người Đồngthời cũng là con đường phổ biến rông rãi ý thức thể dục thể thao của toàn dân,nâng cao tố chất sức khỏe của dân tôc Chính vì vậy nhà nước phải chăm lo, đầu
tư để thể dục thể thao phát triển không ngừng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xãhôi về mặt thể chất và tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng cuôc sống chonhân dân Đẩy mạnh chính sách xã hôi hóa thể dục thể thao, huy đông mọi thànhphần xã hôi đầu tư phát triển thể dục thể thao và được hưởng thụ giá trị lợi íchcủa thể dục thể thao [9], [10], [11]
1.6.4 Lợi ích của tiêu thụ thể dục thể thao
Tiêu thụ thể dục thể thao là môt loại đầu tư lành mạnh: Việc chi tiêu chocác hoạt đông thể dục thể thao đối với môt số người cảm thấy rất khó tính toán
và cho rằng đây là môt loại tiêu hao không hoàn lại Thực ra tiêu thụ thể dục thể
Trang 40thao không phải là loại chi tiêu không hoàn lại, mà tiêu thụ thể dục thể thao làmôt loại đầu tư, kết quả của loại đầu tư này mang lại đó chính là giúp con ngườităng cường tố chất sức khỏe, điều tiết nhịp điệu cuôc sống, tận hưởng cảm giáchưởng thụ, duy trì và tăng cường lao đông trí óc và lao đông chân tay Các loạichi tiêu cho thể dục thể thao đều có thể thu về lợi nhuận.
Lợi ích tiêu thụ thể dục thể thao chỉ người tiêu dùng thể thao tiêu thụ môtlượng tư liệu thể thao nhất định để đạt được mức đô đáp ứng nhu cầu tiêu thụthể dục thể thao trên thực tế Lợi ích tiêu thụ thể dục thể thao có thể xem xét từgóc đô lợi ích kinh tế cũng có thể xét từ góc đô lợi ích xã hôi Trong nhiềutrường hợp lợi ích kinh tế và lợi ích xã hôi của tiêu thụ thể dục thể thao đan xenlẫn nhau, khó có thể phân chia môt cách rõ ràng [69], [70], [74]
Tiêu thụ thể dục thể thao có lợi ích cho việc tăng cường và nâng cao tốchất sức khỏe cũng như phát triển trí tuệ của người lao đông thông qua việctham gia vào các hoạt đông thể thao, đồng thời cũng tránh được bệnh tật và môt
số loại bệnh nghề nghiệp, tăng cường mức đô chăm chỉ và hiệu quả công việc
Tiêu thụ thể dục thể thao có lợi ích cho việc phát triển sản xuất các thiết bịvật dụng thể thao, trang phục thể thao, đồ uống, thực phẩm, vui chơi thể thao …đồng thời cung cấp nhu cầu và thông tin cho ngành sản xuất về các loại sảnphẩm để tiêu thụ thể dục thể thao Từ đó có thể thúc đẩy và đẩy mạnh ngành thểdục thể thao và các ngành có liên quan đến thể thao phát triển nhanh chóng
Tiêu thụ thể dục thể thao góp phần tăng thu nhập kinh tế nâng cao hiệusuất sử dụng cũng như lợi ích kinh tế của các cơ sở vật chất kỹ thuật công trìnhthể thao: Tiêu thụ thể dục thể thao có lợi trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển
và hưởng thụ của người tiêu dùng, kích thích chí tiến thủ, nâng cao tinh thần caothượng, bồi dưỡng ý chí cạnh tranh và tinh thần đoàn kết đồng đôi thúc đẩy conngười phát triển toàn diện
Tiêu thụ thể dục thể thao có lợi ích cho việc tăng cường ý thức thể thaocho người dân, nâng cao mức đô hoạt đông thể thao của toàn xã hôi, nâng cao