1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN rối LOẠN tâm THẦN và HÀNH VI DO sử DỤNG rượu tại BỆNH VIỆN tâm THẦN hải PHÒNG năm 2018 2019

94 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

APA American Psychiatric Association Hiệp hội Tâm thần họcHoa Kì CLCS Chất lượng cuộc sống DCM Dilated cardiomyopathy Bệnh cơ tim giãn DSM Diagnostic and Statistical Manual of Mental D

Trang 1

LÊ THỊ HUỆ

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI DO SỬ DỤNG RƯỢU TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN HẢI PHÒNG NĂM 2018-2019

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA HỆ CHÍNH QUY

KHÓA 2013-2019

Hải Phòng - 5/2019

Trang 2

LÊ THỊ HUỆ

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI DO SỬ DỤNG RƯỢU TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN HẢI PHÒNG NĂM 2018-2019

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA HỆ CHÍNH QUY KHÓA 2013-2019

Chuyên ngành: Tâm thần Người hướng dẫn: Ths Lê Sao Mai

Hải Phòng - 5/2019

Trang 3

Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths LêSao Mai, giảng viên bộ môn Tâm thần, trường Đại học Y Dược Hải Phòng.Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưatừng được ai công bố trong bất kì công trình nào trước đây, phân tích xử lý sốliệu bằng phương pháp khoa học Khóa luận có sử dụng một số nhận xét,đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan, tổ chức khác đã được nêutrong phần tài liệu tham khảo.

Nếu phát hiện bất kì gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệmtrước hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Ký tên

Lê Thị Huệ

Trang 4

đường mình đã chọn, vì sự nghiệp chăm sức khỏe cho người dân.Với tất cảniềm trân trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, các cán bộ nhân viên Trường Đại học

Y Dược Hải Phòng đã quan tâm, dạy dỗ tận tình cho tôi trong suốt quá trìnhhọc tập 6 năm qua

Các thành viên Hội đồng bảo vệ khóa luận tốt nghiệp, Hội đồng khoahọc nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành và bảo vệ khóa luận này

Ths.Bs Lê Sao Mai- Giảng viên bộ môn Tâm thần, trường Đại học YDược Hải Phòng, cô là người đã dành nhiều thời gian quý báu của mình đểnhiệt tình giúp đỡ, tận tâm chỉ dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này

Ban giám đốc, các bác sĩ khoa Điều trị nghiện chất, bệnh viện Tâm thầnHải Phòng đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu

Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cha mẹ, gia đìnhthân yêu đã nuôi dưỡng, luôn che chở, bên cạnh tôi, cho tôi có được ngàyhôm nay

Cảm ơn những người bạn thân thương đã sát cánh, giúp đỡ tôi trongsuốt quãng đời sinh viên

Hải Phòng, tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Trang 5

APA American Psychiatric Association ( Hiệp hội Tâm thần học

Hoa Kì)

CLCS Chất lượng cuộc sống

DCM Dilated cardiomyopathy ( Bệnh cơ tim giãn)

DSM Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (Cẩm

nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần)

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

FAS Fetal Alcohol Syndrome ( Hội chứng rượu bào thai)

FSH Follicle Stimulating Hormone ( Hormon kích thích noãn bào

tố)

GABA axit gamma-aminobutyric

GH Growth hormone ( Hormon tăng trưởng)

ICD- 10 International Classification of Diseases 10th Edition (Bảng

phân loại bệnh quốc tế, lần thứ 10)

LH Luteinsing Hormone ( Hormon kích hoàng thể tố)

NMDA N-Methyl-D-Aspartate

WHO World Health Organization ( Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 6

1.1 Đại cương về rượu và sử dụng rượu đúng cách……… ………….3

1.1.1 Đại cương về rượu……… ……….3

1.1.2 Sử dụng rượu đúng cách……… …………7

1.2 Nghiện rượu 9

1.2.1 Các giai đoạn của nghiện rượu 10

1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu 11

1.2.3 Dịch tễ nghiện rượu 13

1.3 Hậu quả của nghiện rượu 15

1.3.1 Hậu quả của nghiện rượu với bản thân bệnh nhân 23

1.3.2 Ảnh hưởng của nghiện rượu đối với gia đình 26

1.3.3 Ảnh hưởng của nghiện rượu đối với xã hội……… ………

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3 Địa điểm nghiên cứu: 29

2.4 Thời gian nghiên cứu: 29

2.5 Xử lý số liệu: 29

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu 33

3.3 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống và một số đặc điểm liên quan 37

CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 37

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 37

Trang 7

CHƯƠNG VI KIẾN NGHỊ 46TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

YBảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu nghiên cứu 30

Bảng 3.2 Đặc điểm về mối quan hệ với bệnh nhân 30

Bảng 3.3 Đặc điểm về tình trạng bạo lực trong gia đình ĐTNC 31

Bảng 3.4 Tình trạng mâu thuẫn của đối tượng nghiên cứu với bệnh nhân 32

Bảng 3.5 Mức độ chất lượng cuộc sống theo tự đánh giá của ĐTNC 33

Bảng 3.6 Đặc điểm CLCS về khía cạnh thể chất của ĐTNC 33

Bảng 3.7 Đặc điểm CLCS về khía cạnh tâm lý của ĐTNC 34

Bảng 3.8 Đặc điểm CLCS về khía cạnh xã hội của ĐTNC 35

Bảng 3.9 Đặc điểm CLCS về khía cạnh môi trường của ĐTNC 35

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu và thời gian nghiện rượu của bệnh nhân 36

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu và vấn đề bạo lực trong gia đình 36

Trang 9

Biểu đồ 3.2: Mức độ hài lòng của đối tượng nghiên cứu về tình trạng sứckhỏe của mình……….32

Trang 10

2016, việc sử dụng rượu có hại đã gây ra khoảng 3 triệu ca tử vong, tươngđương 5,3% tổng số ca tử vong trên toàn thế giới, với hầu hết các trường hợpnày xảy ra ở nam giới [14], [23] Chi phí kinh tế của việc tiêu thụ rượu quámức trong năm 2010 được ước tính là 249 tỷ đô la, tương đương 2,05 đô lamột đồ uống [25].

Nghiện rượu ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của bản thân bệnh nhânnhư gây ra các bệnh nội khoa mạn tính, các chấn thương ngoại khoa do sayrượu, rối loạn tâm thần và hành vi do rượu, giảm khả năng tình dục và nhữngbiến đổi về nhân cách, giảm các chức năng xã hội, nghề nghiệp…[3], [5].Ngoài ra bệnh còn có ảnh hưởng lớn đến xã hội và đặc biệt là gia đình Giađình là những người trực tiếp chăm sóc, tiếp xúc và sinh hoạt hàng ngày vớibệnh nhân nên họ là những người đầu tiên bị ảnh hưởng Họ không chỉ bị ảnhhưởng về thể chất, tinh thần mà còn cả về kinh tế Rối loạn tâm thần và hành

vi do rượu đóng một vai trò khá lớn đối với vấn đề xung đột và bạo lực giađình dẫn đến tình trạng hôn nhân đổ vỡ Khoảng 60% bạo lực gia đình xuấtphát từ việc say rượu [12] Những người nghiện rượu, đặc biệt là rối loạn tâmthần và hành vi do rượu thường giảm khả năng lao động nên gánh nặng vềkinh tế trong gia đình lại được dồn hết cho người thân Chi phí cho việc điềutrị những bệnh nội khoa, ngoại khoa, bệnh tâm thần do hậu quả của nghiệnrượu cũng gây áp lực kinh tế cho gia đình

Như vậy, có thể nói những bệnh nhân nghiện rượu có ảnh hưởng rất lớnđến chất lượng cuộc sống của gia đình họ, tuy nhiên hiện nay có rất ít nghiêncứu đánh giá một cách cụ thể và khoa học về vấn đề này Vì vậy chúng tôi

Trang 11

tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá chất lượng cuộc sống người nhà bệnhnhân rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu tại bệnh viện Tâm thầnHải Phòng” với hai mục tiêu:

1 Đánh giá chất lượng cuộc sống người nhà bệnh nhân nghiện rượu

2 Mối quan hệ giữa chất lượng cuộc sống của người nhà bệnh nhân vớimột số đặc điểm liên quan

Trang 12

I TỔNG QUAN 1.1 Đại cương về rượu và sử dụng rượu đúng cách

1.1.1 Đại cương về rượu

Rượu là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men(có hoặc không chưng cất) từ tinh bột của các loại ngũ cốc, dịch đường củacây và hoa quả hoặc được pha chế từ cồn thực phẩm (Ethanol) Rượu là mộtchất gây nghiện làm ức chế hoạt động của não bộ và hệ thống thần kinh trungương, được sử dụng rất rộng rãi ở Việt Nam Với đa số, uống một lượng nhỏrượu, không gây ra tác hại gì đáng kể, nhưng nếu uống nhiều rượu thườngxuyên sẽ gây ra các vấn đề về sức khoẻ cá nhân và quan hệ xã hội

Một số loại rượu nổi tiếng trên thế giới

Trang 13

Rượu Brandy

Đây là các loại rượu mạnh chưng cất từ vang (nho)hay từ trái cây đã lên men Thường thì Brandy phảiqua hai lần chưng cất để đạt tỷ lệ cồn 70 – 80% rồimới ủ cho rượu dịu bớt trong các thùng gỗ sồi nhờquá trình oxy hóa, sau đó được pha thêm nước cất đểđạt được độ cồn khoảng 40% Brandy có hai dòngchính là Cognac và Armagnac Các ký hiệu trên cácloại rượu dòng Brandy như V.O ( very old) ;V.S.O.P(very superior old pale) ; XO (extra old), là chỉ tuổicủa rượu Xếp theo trình tự, càng về sau tuổi càng lớnhơn, và rượu có tuổi càng cao thì càng ngon

Trang 14

Rượu vang

Rượu Vang là một loại thức uống có cồn được lên men từ nước nhohoặc các hoa quả khác Đây là kết quả của sự tương tác rất phức tạp giữa pháttriển sinh hóa của hoa quả, các phản ứng liên quan đến quá trình lên men,cùng với sự can thiệp của con người trong quá trình tổng thể Có các loại tiêubiểu như: Red wine; white wine; rose wine; champagne Bên cạnh đó, thuậtngữ "rượu vang” cũng có thể bao gồm các loại đồ uống hoặc tinh bột đã lênmen có nồng độ cồn cao, chẳng hạn như rượu lúa mạch, soju, hoặc sake

Rượu Rhum

Được chưng cất từ nước cốt mía hay sảnphẩm của cây mía (xirô mía, mật mía).Chưng đến hơn 95 độ cồn và thườngđược đóng chai ở độ thấp hơn Loại rượunày giữ lại phần lớn mùi vị tự nhiên củasản phẩm gốc (chính là cây mía) Có 3loại Rhum chính: Rhum trắng(nhẹ mùi,chưng cất bằng cột); Rhum vàng ( mùitrung bình, chưng cất bằng nồi, ủ trongthùng gỗ sồi hơn 1 năm); Rhum nâu( đậm mùi, chưng cất bằng nồi)

Trang 15

Rượu Gin

Gin được chưng cất từ các loại hạt (bắp, lúa mạch, lúa mì, lúa mạchđen) trộn với hương liệu thảo mộc như hạnh nhân, quế, hạt côca, gừng, vỏchanh, cam Độ cồn trong rượu Gin thường là 34 – 47 độ, thuộc dòng lên menthuần túy Có ba loại gin chính là: Clear Gin( trong suốt, không màu, là loạiphổ biến nhất); Golden Gin: (màu vàng nhạt do được ủ trong thùng gỗ,loạinày rất ít được sản xuất trên thế giới ); Flavoured Gin ( được sản xuất kếp hợptrái cây hay các loại thảo mộc khác tạo ra Gin với mùi vị phong phú)

Rượu Việt Nam

Là các loại rượu làm từ nguyên liệu gạo lên men và được đem đi chưngcất để lấy rượu Độ rượu trung bình 40- 50 độ Các loại rượu nổi tiếng: MẫuSơn (Lạng Sơn), rượu ngô men lá Na Hang (Tuyên Quang), rượu làng Vân

Trang 16

(Bắc Giang), rượu Kim Sơn (Ninh Bình), rượu Bàu Đá (Bình Định), rượu cần

Ê Đê Ban Mê (Đắk Lắk), rượu vang Đà Lạt (Lâm Đồng), rượu Gò Đen (LongAn)

1.1.2 Sử dụng rượu, đúng cách [9]

- Mặc dù một số nghiên cứu đã chứng minh được tác dụng của rượu vớinồng độ cồn thấp khi tiêu thụ một lượng rượu có hàm lượng cồn dưới ngưỡng

20 gam mỗi ngày Tuy nhiên một công trình khoa học nghiên cứu toàn diện

để tìm ra ngưỡng an toàn đối với rượu được đăng tải trên tạp chí Lancet 2018

đã cho thấy ngưỡng an toàn khi sử dụng đồ uống là zero (không có ngưỡng antoàn đối với sức khỏe khi sử dụng rượu)

- Như vậy, bảo vệ sức khỏe thì không nên uống rượu bia, tuy nhiên khiuống nên cân nhắc và uống đúng cách để hạn chế ảnh hưởng đến sức khỏe:

1 Liều lượng: bia, rượu vang, rượu mạnh là đồ uống có cồn ở các nồng độkhác nhau: Lượng cồn tiêu thụ được tính toán dựa trên nồng độ cồn của đồuống và thể tích đồ uống Cụ thể theo công thức tính sau:

Dung tích (ml) x nồng độ (%) x 0,79 (hệ số quy đổi)

Một đơn vị rượu là 10 g cồn tương đương ¾ lon bia 330 ml; 135 ml rượuvang; 30 ml rượu whisky Nếu uống cần hạn chế: đối với nam: ≤ 02 đơn vịcồn/ngày; nữ: ≤ 01 đơn vị cồn/ngày

2 Uống từ từ, chậm rãi nhằm giảm kích ứng niêm mạc miêng và dạ dày đồngthời giúp gan có thời gian để kịp oxy hóa rượu giảm nguy cơ say và ngộ độcrượu

3 Trước khi uống rượu nên uống nước lọc, nước quả hoặc nước súp/súp hoặcnước canh và đồ ăn đặc biệt là rau xanh nhằm pha loãng nồng độ cồn củarượu, giảm kích ứng dạ dày Nên ăn đồ ăn có nhiều protein khi uống rượu đểlàm chậm quá trình hấp thu rượu vào máu

Trang 17

4 Không nên uống rượu lúc đói: Uống rượu khi đói làm lượng cồn phối hợpvới dịch vị tăng khả năng kích ứng dạ dày dẫn đến viêm loét dạ dày và chảymáu dạ dày

5 Không nên uống rượu với đồ uống có ga (nước giải khát có ga, bia): lượng

ga tăng khả năng hấp thu rượu vào trong máu

6 Không nên sử dụng rượu với aspirin: Aspirin là một loại thuốc giảm đau,chống viêm Khi uống rượu có thể gây đau đầu, nên một số “cao thủ rượu” đãuống aspirin trước khi uống rượu để tăng “tửu lượng” Đây là điều hết sứcnguy hiểm vì aspirin có thể gây chảy máu dạ dày khi đói và tăng hấp thurượu vào trong máu dẫn đến nồng độ cồn trong máu tăng nhanh Do đó nhữngngười đang có chỉ định dùng aspirin (trong những trường đau đầu, đau răng,đau khớp, có nguy cơ đột quị…) thì nên tránh uống rượu Chưa có nghiêncứu về thời gian uống rượu thích hợp sau khi dùng aspirin, tuy nhiên lờikhuyên cho khoảng thời gian uống rượu, bia và dùng aspirin là 1 ngày: nếu

sử dụng cả aspirin và uống rượu trong 1 ngày thì nên cách xa bằng cách uốngaspirin vào buổi sáng và uống rượu vào tối hoặc ngược lại

7 Không nên uống rượu với caffeine Rượu là một chất ức chế/trầm cảm làmchậm hoạt động của não và làm suy yếu khả năng đi lại, giao tiếp và suy nghĩ.Caffeine là chất kích thích làm tăng huyết áp, nhịp tim và trong một số trườnghợp, gây nhịp tim đập nhanh và nhịp tim không đều Caffeine cũng dẫn đếnnhức đầu, bồn chồn, kích động, các vấn đề về dạ dày và hơi thở bất thường.Nếu sử dụng caffeine để “tỉnh táo” khi uống rượu là một sai lầm nguy hiểm.Uống đồng thời rượu và caffeine không có sự trung hòa giữa chất ức chế vàchất kích thích, ngược lại nó làm tăng nguy cơ tử vong do mắc hội chứng sốcđộc tố (Oxic Jock Syndrome)

Trang 18

1.2 Nghiện rượu

- Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nghiện rượu là nhu cầu thèm muốn, đòihỏi thường xuyên đồ uống có cồn, hình thành thói quen, gây rối loạn nhâncách, giảm khả năng lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe Để trở thành ngườinghiện rượu, bệnh nhân thường xuyên uống tối thiểu 300ml rượu 40 độ cồn,uống hàng ngày trong khoảng 10 năm [1]

Đa số các tác giả đều cho rằng phải uống rượu trên 10 năm mới trởthành nghiện rượu, chỉ một số ít bệnh nhân uống trên 5 năm đã trở thànhnghiện rượu Những bệnh nhân này phải uống một lượng rượu rất lớn mỗingày (700-1000ml rượu 40 độ cồn) Nhìn chung, tỷ lệ người nghiện rượu cóthời gian uống rượu dưới 5 năm chỉ chiếm 10% số trường hợp Tỷ lệ cao nhất

là nhóm uống rượu từ 10 đến 15 năm, chiếm 60%, còn nhóm bệnh nhân uốngrượu 15-20 năm chiếm 30% [1]

- 7 triệu chứng chính của nghiện rươu:

 Cảm giác thôi thúc phải uống rượu: người nghiện rượu khi đã bắt đầuuống rượu thì không thể ngừng lại được Nếu họ bỏ rượu, họ cảm thấythèm mãnh liệt

 Thói quen uống rượu hàng ngày: người uống rượu uống hết ngày nàysang ngày khác Họ uống rượu sau các khoảng thời gian nhất định đểtránh hoặc làm nhẹ hội chứng cai rượu

 Uống rượu được ưu tiên hơn các hành vi khác: với người nghiện rượu,uống rượu là ưu tiên hàng đầu, hơn cả sức khỏe, gia đình, xã hội, nghềnghiệp

 Có hiện tượng dung nạp rượu: với một nồng độ rượu trong máu bìnhthường, người nghiện rượu không bị ảnh hưởng Lượng rượu uống củabệnh nhân ngày càng tăng dần Đến giai đoạn cuối của nghiện rượu, sự

Trang 19

dung nạp rượu tụt xuống, bệnh nhân mất năng lực chỉ sau khi uống mộtlượng rượu nhỏ.

 Lặp di, lặp lại hội chứng cai rượu: các triệu chứng của hội chứng cairượu xuất hiện khi nồng độ rượu trong máu tụt xuống Vì vậy hộichứng cai rượu thường xuất hiện vào buổi sáng sớm, sau một đêmkhông uống rượu

 Uống rượu vào buổi sáng: người nghiện rượu phải uống rượu vào buổisáng sớm, ngay sau khi thức giấc để chặn hội chứng cai rượu Ở hầuhết các nền văn hóa, uống rượu buổi sáng được coi là nghiện rượu

 Tái nghiện rượu: sau một thời gian cai rượu, người nghiện rượu dễdàng tái nghiện chỉ sau vài ngày uống rượu

1.2.1 Các giai đoạn của nghiện rượu [1]

 Giai đoạn 1

- Giai đoạn này bệnh nhân chưa thực sự trở thành nghiện rượu dokhông có hội chứng cai khi ngừng uống rượu Bệnh nhân thích uống rượu vàuống ngày càng nhiều Nếu không uống rượu, bệnh nhân thấy thèm và nhớrượu Khả năng dung nạp với rượu của bệnh nhân tăng lên nhanh chóng, họ

có thể uống 500 ml rượu 40 độ cồn mỗi ngày

- Bệnh nhân mất phẩn xạ nôn khi uống rượu, thay đổi tính tình và dầntrở thành độc ác, hay nổi cáu vô cớ, hay quấy nhiễu và đa nghi Bệnh nhânhay quên, mất ngủ, chú ý và trí nhớ kém, hay mệt mỏi, khả năng lao độnggiảm sút Giai đoạn này thường kéo dài 5-10 năm Nếu bệnh nhân tiếp tụcuống rượu thì sẽ chuyển sang giai đoạn 2 của nghiện rượu

Trang 20

bệnh nhân lại phải uống rượu để giảm cơn thèm rượu Quãng thời gian nàyngày càng ngắn lại.

- Nếu không được uống rượu, bệnh nhân sẽ có hội chứng cai rượu Hộichứng cai rượu xuất hiện khi nồng độ cồn trong máu giảm xuống Vì thế hộichứng cai rượu hay xuất hiện vào buổi sáng, sau một đêm không được uốngrượu Để ngăn hội chứng cai rượu, bệnh nhân phải uống rượu buổi sáng, ngaysau khi ngủ dậy

- Bệnh nhân thường có khí sắc giảm, buồn rầu, dễ bực tức, giận dữ, độc

ác và đa nghi Bệnh nhân cũng có triệu chứng sợ hãi vô cớ, tự buộc tội mình,

có thể cáo ảo thính, ảo thị giác, giấc ngủ không sâu đầy mộng mị

- Hội chứng cai rượu biểu hiên bởi các triệu chứng run tay, nôn, buồn nôn,mất ngủ, rối loạn thần kinh thực vật, kích động, lo lắng vô cớ, hoang tưởng và

ảo giác, cơn co giật kiểu động kinh

- Khả năng dung nạp rượu tăng cao đến cực điểm và duy trì hàng năm,bệnh nhân uống từ 1500 đến 2000ml rượu 40 độ cồn mỗi ngày và triền miêntrong trạng thái say rượu Giai đoạn này thường kéo dài 5-10 năm

 Giai đoạn 3

- Triệu chứng thèm rượu của bệnh nhân có khuynh hướng giảm đi, bớt lènhè và bớt quấy rối hơn trước Khả năng dung nạp rượu của bệnh nhân kém

đi, họ chỉ uống được 150-200ml rượu mạnh đã say và say lâu hơn trước

- Hội chứng cai rượu ở giai đoạn này kéo dài hơn, các triệu chứng rối loạnthần kinh thực vật như mạnh nhanh, huyết áp cao giao động, ra nhiều mồ hôitrầm trọng hơn giai đoạn trước

- Giai đoạn này, bệnh nhân có các bệnh não thực tổn do nghiện rượu mạntính gây ra, đó là bệnh Korsakov, bệnh viêm não Wernicke và mất trí do rượu

Trang 21

1.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu

Tiêu chuẩn chẩn đoán của Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 [32]

Chẩn đoán nghiện rượu theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD 10 dựa vàohội chứng nghiện (Dependence Syndrome ) và trạng thái cai (withdrawn state )bao gồm 1 nhóm các hiện tượng sinh lý, tập tính và nhận thức ở người sử dụngrượu

Chỉ chẩn đoán xác định NR khi có từ 3 trở lên các triệu chứng sau

– Lượng rượu uống ngày một tăng

– Xao nhãng công việc hay các sở thích, thói quen cũ

– Tiếp tục uống rượu mặc dù biết rõ tác hại của rượu

Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu theo sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ IV (DSM- IV) của hiệp hội tâm thần học Mỹ (APA): [3]

 Ngừng hoặc giảm lượng rượu sử dụng sau khi đã sử dụng nhiều trongmột thời gian dài

 Vài giờ hoặc vài ngày sau khi ngừng hoặc giảm sử dụng rượu phải xuấthiện ít nhất hai trong số triệu chứng sau:

 Tăng hoạt động tự động ( vã mồ hôi, mạch tang >100 lần/ phút)

 Run tay tăng lên

 Mất ngủ

 Buồn nôn và nôn

Trang 22

 Ảo thị giác, thính giác, ảo khứu hay hoang tưởng xuất hiệnthoáng qua

 Kích thích tâm thần vận động

 Lo âu

 Cơn co giật toàn thể kiểu động kinh

 Các triệu chứng trên làm mất hoặc suy giảm các chức năng xã hội, nghềnghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác

 Các triệu chứng trên không do các bệnh lý cơ thể và các rối loạn tâmthần khác gây ra

1.2.3 Dịch tễ nghiện rượu

- Nghiện rượu là một bệnh phổ biến, chiếm 1-10% dân số Tổ chức Y tếThế giới ước tính rằng tính đến năm 2010, có 208 triệu người mắc chứngnghiện rượu trên toàn thế giới (4,1% dân số trên 15 tuổi) [18], [19] Tại Hoa

Kỳ, khoảng 17 triệu (7%) người trưởng thành và 0,7 triệu (2,8%) trong sốnhững người từ 12 đến 17 tuổi bị ảnh hưởng.[11]

- Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy số người nghiện rượu ở thành thị

là 4% và ở nông thôn là 3% dân số [1]

- Tỷ lệ nữ/nam bị nghiện rượu giao động từ 1/8 đến 1/4 Trong thực tếlâm sàng, hầu hết các bệnh nhân nghiện rượu là nam Ở Việt Nam, nữ chỉchiếm chừng 10% số người nghiện rượu, số bệnh nhân nữ phải điều trị nghiệnrượu trong bệnh viện là rất hiếm

- Tuổi nghiện rượu có xu hướng ngày càng trẻ hóa Theo Nguyễn KimViệt có 3,6% học sinh lớp 12 ở Hoa Kỳ uống rượu hàng ngày [6] Ở ViệtNam, theo một số nghiên cứu tỷ lệ nghiện rượu ở nam giới trên 16 tuổi chiếmkhoảng trên 3% [7]

Trang 23

- Nghề nghiệp là môi trường ảnh hưởng đến nghiện rượu Có 3 loạinghề nghiệp liên quan đến nghiện rượu là nông dân với môi trường nôngthôn, tầng lớp công nhân lao động chân tay, nặng nhọc và những người tiếpxúc với công chúng nhiều như bồi bàn, giới kinh doanh.

- Ở Việt Nam, có đến 80% số người nghiện rượu làm những nghề laođộng nặng nhọc như thợ xây, thợ mộc, thợ rèn, nhưng có đến 32,5% số ngườinày thất nghiệp tại thời điểm nghiên cứu

- Người có học vấn thấp có tỷ lệ nghiện rượu cao hơn người có học vấncao Ở Việt Nam, theo Trần Viết Nghị (1996), có đến 80,6% số người nghiệnrượu chưa tốt nghiệp phổ thông trung học [1]

- Môi trường làm việc nặng nhọc, sự thiếu hiểu biết và sự phổ biến củaquan niệm sai lầm trong dân chúng cho rượu là thuốc bổ, giúp nhanh chóngphục hồi sức khỏe… đã tạo diều kiện thuận lợi cho phát sinh, phát triểnnghiện rượu [3], [4]

- Tiền sử gia đình nghiện rượu làm tăng nguy cơ nghiện rượu lên gấp 3đến 4 lần [26]

- Đa số các tác giả đều cho rằng phải uống rượu trên 10 năm mới trởthành nghiện rượu, chỉ một số ít bệnh nhân uống trên 5 năm đã trở thànhnghiện rượu Những bệnh nhân này phải uống một lượng rượu rất lớn mỗingày (700-1000ml rượu 40 độ cồn) Nhìn chung, tỷ lệ người nghiện rượu cóthời gian uống rượu dưới 5 năm chỉ chiếm 10% số trường hợp Tỷ lệ cao nhất

là nhóm uống rượu từ 10 đến 15 năm, chiếm 60%, còn nhóm bệnh nhân uốngrượu 15-20 năm chiếm 30% [3], [5]

Trang 24

1.3 Hậu quả của nghiện rượu

1.3.1 Hậu quả của nghiện rượu với bản thân bệnh nhân

 Tác hại về mặt thể chất

Sự hấp thu và bài tiết rượu:

Mức độ hấp thụ của rượu tùy thuộc vào loại rượu, lượng uống rượunhiều

hay ít, lượng thức ăn đi kèm khi uống, thể trạng của người uống, tâmtrạng khi uống trung bình sau uống 30 phút đạt nồng độ tối đa trong máu

Rượu được hấp thu nhanh khoảng 20% số lượng rượu được vào cơ thểngay qua dạ dày, số còn lại được hấp thu qua ruột Cơ thể thường có phản ứng

tự bảo vệ khi nồng độ rượu đưa vào quá cao, niêm mạc của dạ dày sẽ bị kíchthích tiết ra chất nhầy làm giảm bớt sự hấp thu, cùng lúc đó môn vị co thắtngăn rượu không xuống ruột, làm cho người uống buồn nôn và nôn rượu rangoài Thức ăn chất đạm và chất béo làm chậm sự hấp thu của rượu, trái lạinước uống sẽ làm tăng sự hấp thu của rượu Rượu phân phối vào hầu hết các

cơ quan, tổ chức cơ thể, qua được nhau thai Nhiễm độc rượu là khi nào nồng

độ rượu trong máu trên 0,15% thể tích Khoảng 10% số lượng rượu đào thải

ra ngoài bằng đường hô hấp, phần lớn được khử ở gan thành acetaldehyd vàđào thải qua nước tiểu

- Tác hại trên gan: Rượu gây nhiều tác hại trên gan Khi rượu đi vào cơ

thể, chúng được hấp thụ nhanh qua đường tiêu hóa, khi đói thì hấp thụ càngnhanh Trên 90% rượu được oxy hóa tại gan (phần còn lại thải trừ nguyên vẹnqua thận và phổi) để chuyển hóa thành acetaldehyde (chất có độc tính) sau đóthành acetat (sản phẩm không độc) Với bệnh nhân lạm dụng bia rượu có hiện

Trang 25

tượng dư thừa lượng lớn acetaldehyde do không chuyển hóa kịp thành acetat,các phản ứng oxy hóa gây giải phóng lượng lớn gốc tự do, gây tổn thương tếbào gan Khoảng ¼ số bệnh nhân nằm tại khoa tiêu hóa là xơ gan Rượu là thủ

phạm gây xơ gan đứng hàng thứ 2 chỉ sau vi rút viêm gan B…Các bệnh lý gan do rượu thường gặp là: gan nhiễm mỡ do rượu, viêm gan do rượu,

xơ gan do rượu, ung thư gan Tiêu thụ rượu có thể làm trầm trọng thêm tổn thương gan do các yếu tố gây bệnh khác, bao gồm cả virus viêm gan Khoảng 20% bệnh nhân bị viêm gan do rượu có nhiễm virus viêm gan C đồng thời [28] Lạm dụng rượu lâu dài đã được xác định là gây độc tính acetaminophen mạnh thông qua việc gây ra CYP2E1 và làm cạn kiệt glutathione Bệnh nhân nghiện rượu có thể bị tổn thương gan nặng, thậm chí gây tử vong sau khi uống liều điều trị chuẩn acetaminophen [36].

- Tác hại trên dạ dày: viêm loét dạ dày, hành tá tràng, viêm dạ dày cấp.Rượu có thể gây ra sự khuếch tán ngược acid Clohydric qua niêm mạc thựcquản và dạ dày gây bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản

- Tác hại trên tim mạch và huyết áp: Khi vào máu, rượu được vậnchuyển đi khắp cơ thể, làm giãn mạch máu, đưa một lưu lượng máu lớn hơnlên bề mặt da (đỏ mặt), cảm giác ấm áp tạm thời, cơ thể mất nhiệt, hạ huyết

áp Rối loạn chức năng ty thể có một vai trò quan trọng trong sự phát triển vàbiến chứng của bệnh cơ tim do rượu Sử dụng rượu lâu dài có liên quan đến

sự phá hủy DNA ti thể, làm tăng nguy cơ đột biến [21] Rượu gây ra thiếu B1làm cho người bệnh cảm thấy mệt mỏi, phù, tím tái, giảm khả năng gắngsức… dần dần dẫn tới suy tim Uống rượu liên tục gây ra phản ứng viêm toànthân, có thể dẫn đến viêm cơ tim do rượu, gây nguy cơ tử vong cao [35].Nghiện rượu là một nguyên nhân quan trọng gây ra bệnh cơ tim giãn thứ phátkhông do thiếu máu cục bộ cơ tim và chiếm tới 1/3 các bệnh nhân bị bệnh

Trang 26

giãn cơ tim (DCM) [22] Rượu còn gây ra rối loạn nhịp nhĩ hay nhịp thất, nhất

là nhịp nhanh kịch phát ở những người bình thường Uống rượu liên quan đếnnhững biến chứng mạch máu não, nhất là trong vòng 24h sau khi uống rượu

- Bệnh nội tiết: Trong nhiều năm, rượu đã được biết là tác động tiêu cựcđến chức năng hormone [24] Rượu có khả năng cản trở các tuyến liên quanđến sự tiết và điều hòa hormone, như tuyến yên, có thể dẫn đến các biếnchứng, mất khả năng duy trì trạng thái cân bằng nội tiết tố của cơ thể Tuyếnyên, tổng hợp và tiết ra các hormone chữa lành và sửa chữa thiết yếu(hormone tăng trưởng của con người-GH) Tuyến này đã được chứng minhsuy giảm chức năng đáng kể do tiếp xúc với rượu Đái tháo đường là bệnh rấtphổ biến ở những bệnh nhân nghiên rượu [34]

-Trên não bộ và thần kinh:

 Uống rượu nhiều năm làm rối loạn chức năng não, tổn thương não, suygiảm trí nhớ, teo não Sự hình thành bệnh lý thần kinh ngoại biên, đặc biệt

là bệnh viêm đa dây thần kinh ngoại biên là một nguy cơ đối với nhữngngười có tiền sử tiêu thụ mãn tính một lượng lớn rượu Các triệu chứngcủa bệnh thần kinh do rượu biểu hiện ban đầu ở các chi dưới xa Các triệuchứng cảm giác (ví dụ, tê, dị cảm, khó tiêu, mất ngủ và mất rung và cảmgiác vị trí) thường biểu hiện trước các triệu chứng vận động (ví dụ, yếu).Bệnh nhân cũng có thể có biểu hiện mất dáng đi và khó đi lại hoặc có tiền

sử bị ngã thường xuyên Tuy nhiên, bệnh nhân có thể xuất hiện với cảtriệu chứng vận động và cảm giác [27], [30]

 Rượu không phải là một chất kích thích mà là một chất làm suy giảm cả 2quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương Nhưng rượulàm mất ức chế mạnh hơn gây nên quá trình hưng phấn giả và vì vậyngười uống rượu cảm thấy hưng phấn, đỡ lo âu, sợ hãi, hoạt động nhiều,

Trang 27

nói nhiều, khả năng tự kiềm chế bản thân suy giảm nên lời nói thiếu tếnhị, cử chỉ hoạt động thiếu chính xác Khi nồng độ rượu trong máu là0,3% thì vận động và tư duy, tri giác đều bị rối loạn Khi nồng độ rượu lêntới 0,4 – 0,5% thì cả 2 quá trình hưng phấn và ức chế đều bị suy giảm,người uống rượu bị bất tỉnh, hôn mê và khi nồng độ rượu lên đến 0,6 –0,7% thì người uống rượu có thể tử vong.

-Rối loạn tình dục: Lạm dụng rượu cũng được chứng minh là gây ra sựthay đổi hormone liên quan đến tuổi dậy thì ở trẻ vị thành niên được chứngminh bằng việc giảm đáng kể nồng độ testosterone, LH và FSH [15] Nghiệnrượu có thể dẫn đến suy giảm chức năng tình dục, giảm cương dương, giảmchất lượng tinh trùng Đối với nữ giới, nghiện rượu sẽ làm suy yếu vùng hạđồi - tuyến yên, buồng trứng dẫn đến trứng không rụng nữa, làm bất thườngphát triển nội mạc tử cung, rối loạn kinh nguyệt (ít kinh) Có sự sụt giảm nồng

độ estrogen ở trẻ gái vị thành niên và sự giảm này được duy trì trong thời giandài sau khi uống một lượng rượu trung bình [16] Làm ảnh hưởng khả năngsinh sản của chị em do thay đổi mức độ estrogen và progesterone, gây nguy

cơ sinh non cao và là một nguyên nhân gây vô sinh [2]

Ngoài ra, Tác dụng phụ của thai nhi, trẻ sơ sinh và trẻ em xảy ra khi sửdụng rượu bia của mẹ trong thai kỳ Nghiện rượu của cha mẹ có thể ảnhhưởng đến thai nhi ngay cả trước khi đứa trẻ được sinh ra Ở phụ nữ mangthai, rượu được mang đến tất cả các cơ quan và mô của mẹ, kể cả nhau thai,nơi nó dễ dàng đi qua màng ngăn cách hệ thống máu của mẹ và thai nhi Khimột phụ nữ mang thai uống đồ uống có cồn, nồng độ cồn trong máu của em

bé chưa sinh của cô ấy ngang bằng với chính mình Một phụ nữ mang thaitiêu thụ rượu trong khi mang thai có thể sinh em bé với Hội chứng rượu bàothai (FAS) Hội chứng rượu bào thai là một trong ba nguyên nhân hàng đầugây ra dị tật bẩm sinh Theo Hội đồng Quốc gia về Nghiện rượu và Ma túy,

Trang 28

khoảng 5000 em bé được sinh ra mỗi năm với thiệt hại nghiêm trọng do FASgây ra; 35000 em bé khác được sinh ra với các dạng FAS nhẹ hơn (Berger,tr.37) Chẩn đoán hội chứng rượu bào thai (FAS) dựa trên các phát hiện ở 3triệu chứng sau: (1) dị thường khuôn mặt đặc trưng: đầu nhỏ, mắt nhỏ, sốngmũi thấp ngắn, môi trên mỏng, (2) chậm phát triển (hạn chế tăng trưởngtrong tử cung và không phát triển kịp) và (3) Sự tham gia của CNS (suy giảmnhận thức, khuyết tật học tập hoặc bất thường về hành vi) [20]

- Các chấn thương ngoại khoa do say rượu: trong quá trình say rượubệnh nhân thường không kiểm soát được cảm xúc và hành vi có thể dẫn đếnđánh nhau, tai nạn sinh hoạt, tai nạn giao thông

- Nghiện rượu và HIV/ AIDS: Nghiện rượu và nghiện ma túy có liênquan mật thiết với nhau Trong nhiều trường hợp rượu là một thuốc cửa ngõsau đó sẽ nghiện một loại khác Người nghiện rượu không kiểm soát đượchành vi của mình, buông thả, liên quan tới hành vi tình dục bừa bãi, không antoàn là những nguy cơ dẫn tới nhiễm HIV

Tác hại đối với tâm thần

Cơ chế tác động của rượu:

Ethanol là một phân tử nhỏ dễ dàng phân phối đến não và đạt mức caonhất trong máu khoảng 30 phút sau khi uống đồ uống có cồn Ethanol ảnhhưởng đến các protein có liên quan đến nhiều chất dẫn truyền thần kinh vàcon đường Chúng bao gồm con đường dopamine, con đường serotonin,protein liên quan đến thụ thể GABA, thụ thể glutamate, thụ thể mGlu, thụ thểnicotinic, thụ thể CB1 cannabinoid, kênh ion canxi điện áp và kênh kali kíchhoạt canxi [17]

Trang 29

Giống như các rối loạn tâm thần khác, nguyên nhân chính xác của rốiloạn tâm thần liên quan đến rượu vẫn chưa rõ ràng, nhưng rất có thể nó cóliên quan đến dopamine trong limbic và có thể các hệ thống khác, chẳng hạnnhư hệ thống dẫn truyền thần kinh glutamatergic Giả thuyết dopaminethường được áp dụng cho rối loạn tâm thần liên quan đến hoạt động quá mứccủa hệ thống dopaminergic Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy hoạtđộng của dopaminergic tăng lên khi tăng giải phóng dopamine khi uống rượu.

Mặt khác, việc cai rượu sẽ làm giảm việc bắn ra các tế bào thần kinhdopaminergic ở vùng não thất và giảm sự giải phóng dopamine từ tế bào thầnkinh Ethanol làm gián đoạn nghiêm trọng sự dẫn truyền thần kinhglutamatergic bằng cách ức chế phản ứng của thụ thể NMDA Ức chế kéo dàithụ thể NMDA bởi ethanol dẫn đến quá mẫn cảm Trong giai đoạn thu hồi,loại bỏ ethanol cấp tính gây ra sự gia tăng rõ rệt hoạt động của các tế bào thầnkinh sau synap, chẳng hạn như các chất trong hệ noradrenergic, và, trongtrường hợp cực kỳ kích thích do glutamate gây ra [17], [31]

Các rối loạn tâm thần trong nghiện rượu, lạm dụng rượu rất thường gặp

do rượu là một chất tác động tâm thần mạnh

Các bệnh lý tâm thần liên quan đến nghiện rượu thường gặp là:

 Rối loạn tâm thần do ngộ độc rượu (say rượu):

 Say rượu thông thường: say rượu thông thường có thể có những rốiloạn tâm thần như cảm xúc không ổn đinh, cáu giận, lo âu, rối loạnhành vi… kèm theo các triệu chứng của ngộ độc rượu Những rốiloạn tâm thần này chỉ tồn tại thời gian ngắn khi còn tác dụng dược lýcủa rượu, khi hết tác dụng dược lý của rượu các triệu chứng này tựhết [8]

Trang 30

 Say rượu bệnh lý là tình trạng rối loạn tâm thần cấp xuất hiện khi sayrượu Thường với liều sử dụng rượu thấp, đối tượng xuất hiện tìnhtrạng loạn thần cấp sau sử dụng rượu với liều thấp Đối tượng có thể

có những hành vi nguy hiểm, mất kiểm soát ý thức về hành vi củamình Tình trạng loạn thần hết sau khi hết cơn say rượu [8]

 Loạn thần do rượu:

 Sảng rượu (sảng run): Sảng rượu là tình trạng loạn thần cấp xuất hiện

ở đối tượng nghiện rượu mạn tính, là tình trạng cấp cứu về tâm thần

và chuyển hóa [10], [13] Biểu hiện bằng run, hoảng hốt, lo âu, trầmcảm Ý thức mê sảng hoặc lú lẫn, hoang tưởng, kích động, mấtngủ…hoạt động thần kinh tự trị gia tăng Tiến triển nặng dần, nhất là

về chiều tối

 Ảo giác do rượu: Thường gặp ở người nghiện rượu lâu ngày, nổi bật làcác loại ảo giác, thường là những ảo giác thật Ảo giác chủ yếu là ảothị giác, ảo thanh, ảo xúc giác với nội dung rùng rợn, ghê sợ Ảo giác

do rượu có thể khởi phát cấp tính hay từ từ và thường nặng lên vềchiều tối Ảo giác thường là những ảo giác thật, có thể có nhiều ảogiác trên một bệnh nhân, có thể có ảo thanh, ảo thị, ảo giác xúc giác,

ảo thanh nặng lên về chiều tối Thoái triển đột ngột sau một giấc ngủ sâu hay

Trang 31

giảm dần về cường độ và tần số, khi ảo thanh hết hẳn thì bệnh nhân phê phánđược trạng thái loạn thần đã qua

Ảo thị cũng thường gặp sau ảo thanh, nội dung ảo thị thường phù hợpvới nội dung ảo thanh và hoang tưởng Khi ảo giác có sảng thì bệnh nhân thấynhững côn trùng, động vật với kích thước thu nhỏ Khi ảo giác kèm theo ýthức u ám bệnh nhân thấy những cảnh giống mộng nhưng chủ đề thườngkhông hoàn chỉnh và mất tính thứ tự Ảo xúc ít gặp hơn ảo thanh và ảo thị,thường xuất hiện cùng với ảo thị, bệnh nhân thấy những côn trùng bò trên dathịt, chuột gậm nhấm chân tay mình gây cảm giác khó chịu Đôi khi ảo xúc làcảm giác những vật lạ trong miệng và họng Ảo khứu và ảo vị chỉ gặp ở 9%bệnh nhân loạn thần do rượu với ảo giác chiếm ưu thế

 Hoang tưởng do rượu: là một hội chứng hay là một thể bệnh của loạnthần do rượu Hoang tưởng ghen tuông và hoang tưởng bị hại là nhữngbiểu hiện lâm sàng chủ yếu của hoang tưởng do rượu Paranoia do rượuđược nhắc đến nhiều là hoang tưởng ghen tuông, được phát triển dầntrên một nhân cách đã thoái hoá do rượu Thoạt đầu những ý tưởngghen tuông chỉ có trong khi say Dần dần mới trở nên bền vững và xuấthiện cả những khi bệnh nhân không uống rượu Từ chỗ nghi ngờ đi đếnkhẳng định vợ mình không chung thuỷ Bệnh nhân rình mò, tra khảo,bắt vợ phải nhận lỗi Bệnh nhân xác định người yêu của vợ mìnhthường là người quen biết Sự phức tạp của loạn thần có thể diễn ratheo 2 hướng:

+ Hoang tưởng ghen tuông là chủ đề duy nhất không thay đổi

+ Ý tưởng hoang tưởng còn có nội dung khác liên quan đến sự thiệthại vật chất (vợ lấy tiền cho người yêu, đầu độc bệnh nhân để có tự dovới người yêu)

Trang 32

Một số tác giả nhận thấy hoang tưởng ghen tuông thường xuất hiện sauloạn thần do rượu cấp tính, ở tuổi trung niên Một số thống kê nhận thấyhoang tưởng ghen tuông gặp ở 40% bệnh nhân loạn thần do rượu với hoangtưởng và ảo giác chiếm ưu thế.

Paranoid do rượu được nhắc đến nhiều là hoang tưởng bị theo dõi,hoang tưởng bị hại và các hoang tưởng cảm thụ có tính hình tượng cao.Hoang tưởng bị theo dõi chi phối mãnh liệt hành vi, cảm xúc của bệnh nhân.Thường có ảo tưởng lời nói, ảo tưởng cảm xúc và ảo thanh với nội dung đedoạ Hành vi có tính xung động, nguy hiểm cho bản thân và xung quanh.Bệnh nhân bỏ chạy, phòng thủ, có khi tự sát Trong những trường hợp kéo dàithì hành vi ít nguy hiểm hơn, ít thấy các hoang tưởng bị theo dõi, bị chi phốibằng vật lý như trong tâm thần phân liệt Theo Soayka H., 1990 hoang tưởng

bị theo dõi chiếm 32% bệnh nhân ảo giác do rượu Hoang tưởng bị hại có thểcùng xuất hiện với hoang tưởng bị theo dõi hoặc hoang tưởng ghen tuôngtrong paranoid cấp do rượu Theo thống kê của một số tác giả hoang tưởng bịhại chiếm 71% bệnh nhân loạn thần do rượu với hoang tưởng chiếm ưu thế.Hoang tưởng bị hại có tỉ lệ cao nhưng không đặc hiệu cho loạn thần do rượu

Ngoài ra ở bệnh nhân loạn thần do rượu còn thấy một số hoang tưởngkhác như hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng nghi bệnh nhưng với tỉ lệ thấp Hoang tưởng và ảo giác đôi khi cùng phối hợp với nhautrong một bệnh cảnh lâm sàng của loạn thần do rượu Theo thống kê củaSoayle M., 1990 chỉ có 13% bệnh nhân loạn thần do rượu có ảo giác đơnthuần

 Bệnh loạn thần Korsakov: Đây là một trong các thể bệnh não thực tổnmạn tính do rượu Nguyên nhân là do nghiện rượu mạn tính dẫn đếnthiếu Thiamine Hội chứng mất nhớ và viêm đa dây thần kinh là dấuhiệu chủ yếu của bệnh [4], [2], [5]

Trang 33

Ngoài ra bệnh nhân nghiện rượu thường biến đổi nhân cách, đạo đứcsuy đồi.

1.3.2 Ảnh hưởng của nghiện rượu đối với gia đình.

- Nghiện rượu còn được gọi là bệnh gia đình Người nghiện rượu có thể

có con nhỏ, thiếu niên hoặc trưởng thành; họ có vợ hoặc chồng; họ có anh chịem; họ có cha mẹ hoặc người thân khác Một người nghiện rượu hoàn toàn cóthể phá vỡ cuộc sống gia đình và gây ra những tác động có hại có thể kéo dàisuốt đời Theo U S Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh và SAMHSA, (Cơ quanQuản lý Dịch vụ Sức khỏe Tâm thần & Lạm dụng Chất gây nghiện), Cơ quanThông tin về Rượu và Ma túy Quốc gia, bảy mươi sáu triệu người Mỹ đã bịnghiện rượu trong gia đình Nghiện rượu chịu trách nhiệm cho nhiều vấn đềgia đình hơn bất kỳ nguyên nhân nào khác Theo Silverstein (1990), cứ bốngia đình thì có một người gặp vấn đề với rượu

- Các nghiên cứu về bạo lực gia đình thường xuyên được xác định dotiêu thụ rượu Ước tính khác nhau giữa các nước Ở Hoa Kỳ, và ở Anh vàWales, nạn nhân tin rằng các đối tác của họ đã uống rượu trước tấn côngtrong 55% và 32% trường hợp xảy ra cãi vã căng thẳng Ở Nam Phi, 65% phụ

nữ bị bạo hành báo cáo rằng đối tác của họ luôn luôn hoặc đôi khi sử dụngrượu trước khi hành hung Các nước khác có tỉ lệ bạo lực gia đình cao baogồm Ấn Độ, Uganda, Việt Nam, và Zimbabwe Hơn nữa, một nghiên cứu lớn

ở Chile, Ai Cập, Ấn Độ và Philippines được xác định thường xuyên tiêu thụrượu của chồng là một yếu tố rủi ro cho người thân suốt đời đối với cả bốnnghiên cứu các nước [33]

- Ảnh hướng tới kinh tế gia đình, giảm khả năng lao động trong khi phảităng chi phí cho rượu, và liên quan đến dùng rượu Người bệnh cũng giảm sútkhả năng lao động kiếm tiến nên gánh nặng kinh tế dồn lên vai người thân của

họ, thường là vợ, mẹ hoặc con cái

Trang 34

- Nguy cơ phá vỡ cấu trúc gia đình, rối nhiễu mối quan hệ giữa cácthành viên trong gia đình, sứt mẻ tình cảm, mất hạnh phúc gia đình Trẻ emsinh ra trong những gia đình có người nghiện rượu bị ảnh hưởng nặng nề Bạolực gia đình và lạm dụng trẻ em có thể xảy ra Một nghiên cứu ở Mĩ cho thấy60-70% trong số những người tấn công bạn tình đã lạm dụng rượu.

- Người bệnh ngày càng trở nên ích kỷ, mất đi những thích thú cũ, lãnhđạm hoàn toàn với người thân, đòi hỏi có tính chất vị kỷ thô bạo, đặc biệttrong quan hệ với người thân Giảm sút tình cảm đạo đức, không quan tâm đếngia đình, tiêu xài tất cả tiền lương vào rượu suốt ngày chăm lo đến việc làmthế nào để có rượu uống Người bệnh không cảm thấy xấu hổ vì đã phải ănbám gia đình, vợ con, hơn nữa người bệnh cũng chẳng ân hận khi lấy cắp tiềncủa người thân để uống rượu, thậm chí còn bán cả những vật dùng cần thiếtcủa mình cũng như của vợ con.Cuộc sống tạm bợ, bê tha, hoàn toàn khôngnghĩ gì đến ngày mai Người bệnh hay nói dối, cuộc sống buông thả, dễ mắc

nợ, cắm quán, hứa hão, bịa ra đủ mọi thứ để vòi tiền Nợ nần thường khôngtrả, để cho người thân phải trả Những cá tính tinh tế bị mất đi, do giảm khảnăng nắm bắt thực tại và ứng xử các tình huống xảy ra,thiếu lịch sự và hànhđộng quá khích

- Khả năng phê phán giảm rõ rệt đặc biệt đối với địa vị của mình vàquan hệ của gia đình mình Phủ nhận là mình đã dùng rượu quá mức Đôi khingười bệnh hứa bỏ rượu một cách dễ dàng, cam đoan rằng điều đó đối với họchẳng khó khăn gì, song thực tế không đủ ý chí để từ chối những lời hẹn hòcủa các bạn rượu, chiều đến người nghiện đứng ngồi không yên, bồn chồn đitới, đi lui chờ mong tín hiệu của bạn rượu để được đến điểm hẹn uống rượu.Người bệnh chẳng những không từ chối mà còn vui sướng nhận những lời mờirượu của bạn rượu Những biến đổi như trên ngày càng làm suy giảm các tậptính tốt

Trang 35

- Trong nghiện rượu mạn tính, thời kỳ đầu người bệnh chỉ dùng rượutừng lúc, về sau thường cảm thấy cồn cào vào buổi sáng và cả buổi chiều Lúcđầu chỉ uống vào những ngày nghỉ, ngày lễ khoảng 1 – 2 lần trong tuần hoặcgặp thì uống.Khi say người bệnh còn giữ được những nét khoan khoái, khoáicảm, vui vẻ, sau đóxuất hiện tình trạng say liên miên Trong cơn say cảm xúcgiận dữ, dễ bị kích thích, người bệnh khi uống rượu vào trở nên dễ bực dọc,hay gây sự, vin cớ cãi cọ, tục tằn, thường tấn công, đập phá, đồ đạc, đánh đậpngười thân (có người trong tình trạng này đã cầm dao chém vợ, đánh con gâythương tích nặng nề) Đe dọa tính mạng của người thân khiến cho cả gia đìnhluôn trong tình trạng hoảng loạn.

- Giai đoạn muộn của nghiện rượu khả năng dung nạp rượu bắt đầugiảm xuống Trong vài ngày liền đang uống hàng ly rượu lớn, người bệnh sau

đó buộc phải giảm liều hoặc phải ngừng uống rượu hẳn vì các rối loạn toànthân nặng (tức ngực, tim đập nhanh, khó chịu, nôn, ỉa chảy ) Cứ như vậy lúctăng, lúc giảm, lúc buộc phải ngừng rồi lại uống lại cuối cùng người bệnhngày càng suy nhược phải nằm tại giường

- Là gánh nặng cho gia đình và xã hội do mắc các bệnh tật kèm theo.Như đã nói ở trên, nghiện rượu có thể gây ra hàng loạt các bệnh cơ thể và tâmthần kèm theo Chi phí cho việc điều trị, chăm sóc cho những bệnh nhân nàykhông hề it Mặt khác, để chăm sóc những đối tượng này, gia đình phải bố tríthời gian, công việc và kinh tế [3], [12]

1.3.3 Ảnh hưởng của nghiện rượu đối với xã hội

- Gây rối và gây tổn thất cho xã hội; làm phát sinh và phát triển các tệ nạn xã hội: trộm cắp, lừa đảo, mại dâm, nghiện ma tuý…Nghiện rượu làm suy yếu khả năng nhận thức và khả năng về thể chất dẫn đến bỏ bê trách nhiệm liên quan đến công việc, cuộc sống gia đình, tăng khả năng xung đột, gây rối trật tự xã hội, lái xe không an toàn, tham gia tranh chấp và bạo lực

Trang 36

- Người bệnh nghỉ việc thường xuyên, năng suất công tác giảm sút làmcho bệnh nhân sớm bị buộc thôi việc Công việc thường bị gián đoạn, tiềnlương kiếm được ngày càng giảm sút, mặc dù bệnh nhân rất muốn kiếm đượcnhiều tiền để uống rượu.

- Với xã hội: Địa vị xã hội của người bệnh dần dần bị hạ thấp, mối quan

hệ xã hội bị thu hẹp dần, người bệnh mất dần những bạn bè thân thích, đặc biệtnhững người bạn tốt muốn gần gũi khuyên can bệnh nhân từ bỏ rượu, chỉ cònnhững bạn rượu chia xẻ thú uống rượu nhất thời Phẩm chất xã hội thoái hóadần, thường vi phạm pháp luật

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành trên 62 người nhà của 62 bệnh nhân rốiloạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu đủ tiêu chuẩn chẩn đoán theo tiêuchuẩn của ICD-10 đang điều trị tại bệnh viện tâm thần Hải Phòng, đồng ýtham gia nghiên cứu Họ là những người sống cùng hoặc trực tiếp chăm sóccho bệnh nhân hàng ngày

Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượutheo ICD- 10:

F10.0: Nhiễm độc cấp

F10.1: Sử dụng gây hại

F10.2: Hội chứng nghiện

F10.3: Trạng thái cai

F10.4: Trạng thái cai với mê sảng

F10.5: Rối loạn loạn thần

Trang 37

F10.6: Hội chứng quên

F10.7: Rối loạn loạn thần di chứng và khởi phát muộn

F10.8: Các rối loạn tâm thần và hành vi khác

F10.9: Rối loạn tâm thần và hành vi không biệt định

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

Đối tượng không được chọn tham gia nghiên cứu nếu có ít nhất mộttrong các đặc điểm sau:

Người nhà không đồng ý tham gia nghiên cứu

Người nhà có có trình độ học vấn thấp, không hiểu câu hỏi và cách trảlời

Người nhà có rối loạn về tâm thần

Người nhà dưới 18 tuổi

Người nhà không trực tiếp sống và sinh hoạt cùng bệnh nhân

Người nhà của bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâmthần và hành vi do sử dụng rượu theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ICD-10

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang

Các bước tiến hành:

Thu thập số liệu nghiên cứu (dự kiến từ tháng 9/2018 đến tháng4/2019)

 Lập hồ sơ bệnh án mỗi bệnh nhân có người nhà tham gia nghiên cứu

có một bệnh án nghiên cứu: khai thác bệnh sử, khám tâm thần đưa ra chẩnđoán xác định theo tiêu chuẩn ICD; khai thác các yếu tố liên quan: tuổi, trình

độ học vấn, nghề nghiệp, nơi ở, tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế, thờigian nghiện rượu, các bệnh kèm theo

 Lập hồ sơ của đối tượng nghiên cứu: Tên, tuổi, giới, trình độ học vấn,mối quan hệ với bệnh nhân, tình trạng kinh tế, nghề nghiệp, tình trạng

Trang 38

hôn nhân, tiền sử bạo lực gia đình.

 Phỏng vấn đối tượng tham gia nghiên cứu bằng thang đánh giá chấtlượng cuộc sống của tổ chức y tế thế giới WHOQOL-Breft Các câuhỏi đánh giá chất lượng cuộc sống này là phiên bản rút gọn QoL-100của tổ chức y tế thế giới, được xây dựng với 26 câu hỏi, gồm 4 khíacạnh: Sức khỏe thể chất (7 câu hỏi), sức khỏe tâm thần (6 câu hỏi),mối quan hệ xã hội (3 câu), môi trường (8 câu) và hai câu hỏi về nhậnthức chung của đối tượng về chất lượng cuộc và sức khỏe [29] Tổngđiểm ở mỗi khía cạnh sẽ được chuyển đổi sang thang điểm 100 để sosánh với bảng hỏi đầy đủ

Trang 39

Xử lý số liệu và viết đề tài (Dự kiến từ 4-5/2019)

2.3 Địa điểm nghiên cứu:

Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng

2.4 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2018- 4/2019 2.5 Xử lý số liệu: sử dụng phần mềm SPSS 20

Trang 40

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu nghiên cứu

Ngày đăng: 18/07/2019, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Trần Viết Nghị (2000). Sảng rượu. Loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế. Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần, Tập bài giảng dành cho sau đại học, Bộ môn Tâm thần, Trường Đại học Y Hà Nội, 127 - 141.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần, Tập bài giảng dànhcho sau đại học
Tác giả: Trần Viết Nghị
Năm: 2000
11. "Alcohol Facts and Statistics". Archived from the original on 18 May 2015. Retrieved 9 May 2015.12. American Addiction Centrers,https://americanaddictioncenters.org/alcoholism-treatment/family-marital-problems. 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alcohol Facts and Statistics
13. Americain Psychiatric Association (2004). Practice Guildeline for the Treatment of Patients With Delirium. Practice Guidelines for Treatment of Psychiatric Discorders, Edition Panther Publishers Private Limited, Washington, 29 - 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Practice Guidelines for Treatment of Psychiatric Discorders
Tác giả: Americain Psychiatric Association
Năm: 2004
14. Anderson P. WHO Reports 3 Million Alcohol-Related Deaths in 2016. Medscape Medical News. Available at https://www.medscape.com/viewarticle/902614. September 27, 2018;Accessed: October 2, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: https://www.medscape.com/viewarticle/902614
15. Block GD, Yamamoto ME, Mallick A, et al. Effects on pubertal hormones by ethanol abuse in adolescents. Alcoholism: Clinical and Experimental Research. 1993;17(2):505 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects on pubertal hormones by ethanol abusein adolescents
16. Diamond F, Jr, Ringenberg L, MacDonald D, et al. Effects of drug and alcohol abuse upon pituitary-testicular function in adolescent males. Journal of Adolescent Health Care. 1986;7(1):28–33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of drug and alcohol abuse uponpituitary-testicular function in adolescent males

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w