1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC điểm HOANG TƯỞNG và ảo GIÁC ở BỆNH NHÂN rối LOẠN tâm THẦN và HÀNH VI DO sử DỤNG METHAMPHETAMINE tại BỆNH VIỆN tâm THẦN hải PHÒNG

65 197 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 666,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi điều này thường giải quyết nhanh chóng với việc chấm dứt sửdụng chất kích thích, một số trường hợp rối loạn tâm thần do thuốc kéo dài ởnhững người dễ bị tổn thương đã được ghi

Trang 1

 NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH

ĐẶC ĐIỂM HOANG TƯỞNG VÀ ẢO GIÁC Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI

DO SỬ DỤNG METHAMPHETAMINE TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN HẢI PHÒNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA

HỆ CHÍNH QUY KHÓA 2013–2019

HẢI PHÒNG – 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 2

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH

ĐẶC ĐIỂM HOANG TƯỞNG VÀ ẢO GIÁC Ở BỆNH NHÂN RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI

DO SỬ DỤNG METHAMPHETAMINE

TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN HẢI PHÒNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA

HỆ CHÍNH QUY KHÓA 2013- 2019 Người hướng dẫn: ThS- BS LÊ SAO MAI

HẢI PHÒNG – 2019

Trang 3

được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía nhà trường, thầy cô, gia đình, bạn

bè Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:Các thầy trong Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộcông chức trường đại học Y Dược Hải Phòng đã tận tình dạy bảo và giúp đỡtôi trong quá trình học tập tại trường

Ths Lê Sao Mai – giảng viên bộ môn Tâm Thần trường đại học Y DượcHải Phòng, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình hoàn thành khoá luận này Cô là người luôn tâm huyết vớinghề, truyền đạt cho sinh viên nhiều kiến thức chuyên môn và được các thế hệsinh viên yêu mến, kính trọng

Tôi xin chân trọng cảm ơn những nhà khoa học trong Hội đồng chấmkhóa luận đã đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu để bản khóa luận nàyđược hoàn chỉnh

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến phòng Kế hoạch tổng hợp, Khoa Điềutrị Nghiện chất bệnh viện Tâm thần Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện giúp đỡtôi trong quá trình thu thập số liệu cho khoá luận này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cha mẹ, người đã nuôidưỡng, dạy bảo và cho tôi có ngày hôm nay Cảm ơn những người bạn thânyêu đã luôn sát cánh, giúp đỡ tôi

Hải Phòng, ngày 20 tháng 05 năm 2019

Nguyễn Thị Phương Anh

Trang 4

gia Các số liệu trong khoá luận là trung thực, do tôi thu thập một cách kháchquan, khoa học và chính xác Kết quả khoá luận chưa từng được công bố trênbất kì tài liệu khoa học nào khác.

Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DAT Dopamine transporter

DOM 5 – Dimethoxy – 4 – methylamphetamine

FITC Fluorescein isothiocyante

LIF Laser-induced fluorescence

LSD25 Lysergic acid diethylamide

MDMA 4 – Methylen Dioxy Methamphetamine (Estasy)

MMDA 5 – Methoxy – 3 - 4 methylen dioxy amphetamine

Trang 6

UNODC United Nations Office on Drugs and Crime

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Methamphetamine (METH) là loại ma túy tổng hợp mà người chơithường gọi là ‘ice” hay ở Việt Nam gọi là ma túy “đá” Đây là một loại ma túydạng Amphetamine (AMPH) và nằm trong danh mục các loại ma túy dạngkích thích do nhà nước ta quy định Các chất này bị cấm buôn bán, sản xuất

và vận chuyển dưới mọi hình thức Ngày nay nghiện METH đang là một vấnnạn đáng lo ngại của nước ta Tỉ lệ người nghiện càng ngày càng tăng Ngườidùng có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng như: phá rối trật tự xã hội, đâmchém người, tự sát, cuồng dâm, loạn thần

Lúc đầu ma túy dạng AMPH được sản xuất và bán rộng rãi do tác dụngkích thích, tăng hiệu suất làm việc, tỉnh táo Tuy nhiên sau đó người ta pháthiện ra rằng chất này có tính gây nghiện và nhiều người dùng có biểu hiện rốiloạn tâm thần, do đó việc sản xuất và phân phối AMPH và METH đã đượckiểm soát chặt chẽ hơn Hiện nay ở Mỹ, METH chỉ được phép sử dụng trongnghiên cứu và trong y học để điều trị một số bệnh như tăng động giảm chú ý,béo phì ở người lớn và trẻ em

Thời gian gần đây trong nước đã có một số công trình khoa học nghiêncứu về tác hại của METH nhưng không nhiều Ma túy này ảnh hưởng rấtnhiều đến tư duy và tri giác bệnh nhân nên việc tìm hiểu những bất thường về

tư duy và tri giác do tác động của METH là cần thiết, nhằm phục vụ cho việcđiều trị được tốt nhất Chính vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tàinghiên cứu: “Đặc điểm hoang tưởng và ảo giác ở bệnh nhân rối loạn tâm thần

và hành vi do sử dụng Methamphetamine tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng”nhằm mục tiêu sau:

1. Mô tả đặc điểm lâm sàng hoang tưởng và ảo giác ở bệnh nhân rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng Methamphetamine

Trang 10

Chương 1- TỔNG QUAN

1.1. Methamphetamine

1.1.1. Khái niệm

1.1.1.1. Khái niệm về ma túy

Theo định nghĩa của Tổ chức Liên Hợp Quốc, ma tuý được hiểu là “Cácchất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làmthay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng”

Tổ chức Y tế thế giới cũng đưa ra khái niệm như sau: “Ma túy là các chấtđộc, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ phá hủy các cơ quan nội tạng”

Luật Phòng, Chống ma tuý của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày9/12/2000, có hiệu lực từ ngày 1/6/2000, tại điều 1 khoản 2 cũng góp phầnlàm rõ khái niệm ma túy thông qua định nghĩa về chất ma túy:

- Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trongcác danh mục do Chính phủ ban hành [3]

- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạngnghiện đối với người sử dụng [4]

- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu

sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng [5]

Từ những định nghĩa được đưa ra trên đây, ta có thể hiểu một cách chungnhất rằng: Ma tuý là các chất gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhântạo, khi đưa vào cơ thể sống có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năngtâm-sinh lý của cơ thể Sử dụng ma túy nhiều lần sẽ bị lệ thuộc cả về thể chấtlẫn tâm lý, gây hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình và xã hội

1.1.1.2. Khái niệm về Amphetamine và Methamphetamine

Amphetamine là một hợp chất tổng hợp có nguồn gốc hóa học từephedrine, một alcaloid tự nhiên với đặc tính hưng phấn Amphetamine(C9H13N) là một phân tử tương đối đơn giản, bao gồm một vòng thơm vớinhóm propyl có amin thay thế ở vị trí beta Nó lần đầu tiên được tổng hợp bởinhà hóa học người Do Thái – Rumani Lazar Edeleanu tại Đại học Berlin năm

Trang 11

1887 [19] Amphetamine gây ra biểu hiện chủ yếu là trạng thái kích thích,hưng phấn gây khoái cảm Tâm thần khoan khoái, dễ chịu, tan biến các ứcchế, tăng lòng tự tin, hòa nhã và cởi mở với mọi người [6].

Các chế phẩm của Amphetamine chính hiện có phổ biến là:

- N-ethyl - 3 - 4 methylen dioxy amphetamine (NDEA) còn gọi là Eva

- 5-Methoxy - 3 - 4 methylen dioxy amphetamine (MMDA)

- 5-Dimethoxy - 4 methylamphetamine (DOM)[2]

Methamphetamine là một dẫn xuất của Amphetamine Sự khác biệtchính giữa Methamphetamine và Amphetamine là ở quá trình điều chế vàtiềm năng kích thích thần kinh trung ương METH là một chất kích mạnh vớicác đặc tính gây nghiện và gây độc thần kinh mạnh [50] Ngay từ những ngàyđầu sử dụng, METH đã rất đa dạng với các dạng khác nhau như “ICE”, bột vàthuốc; có các đặc tính dược động học khác nhau khiến chúng phổ biến trêntoàn cầu METH có thể được tạo ra do Methyl hóa Amphetamine Nghĩa làmột nhóm Methyl chức năng (-CH3) được gắn vào phân tử AMPH để tạoMethamphetamine

Hình 1 1 Công thức hóa học của Methamphetamine và Amphetamine

Trang 12

METH là một loại chất dễ bay hơi, thường gặp ở dạng bột màu trắng tinhthể có vị đắng, dễ hòa tan trong nước hoặc rượu Mặc dù nó có thể được híthoặc tiêm, nhưng nó thường được hút, nuốt như một viên thuốc hoặc hòa tantrong đồ uống vì vị đắng của nó [15].

Hình 1 2 Hình ảnh tinh thể ma túy đá

1.1.1.3 Tình hình sử dụng ma túy đá ở Việt Nam và trên thế giới.

Lạm dụng AMPH-METH đã gia tăng trên toàn thế giới.Năm 1983 theothống kê của Kaplan và Sandocks có 9% bệnh nhân nhập viện vì có các rốiloạn tâm thần liên quan đến sử dụng ATS [26]

Ở Việt Nam năm 1999, trong dự án B93 do Chương trình Phát triển LiênHợp Quốc (UNDP) tài trợ, Bộ lao động thương binh xã hội đã tiến hành khảosát 7905 người nghiện ở 7 tỉnh tại ba miền Bắc, Trung, Nam có 1% ngườinghiện ATS, đến năm 2001 là 1,5%, đến năm 2003 là 4% Nghiên cứu củamột số chuyên gia của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội thì số lượng người sửdụng ATS chiếm đến 64% số người nghiện ma túy Thực tế con số trên có thểnhiều hơn và ngày càng tăng [10]

1.1.1.4. Cách sử dụng.

٭ Đường dùng

METH có thể dùng theo nhiều cách như nuốt, hút, hít, uống hoặc tiêm.Một nghiên cứu được thực hiện năm 2014 trên 319 nam quan hệ tình dụcđồng giới tại thành phố Hồ Chí Minh mô tả tình hình sử dụng METH và tìmhiểu các mối liên quan tới sử dụng METH trong nhóm nam quan hệ tình dục

Trang 13

đồng giới Trong tổng số 319 đối tượng nghiên cứu có 26,0% đã từng sử dụngMETH, chủ yếu qua đường hút và hít khói [7] Chỉ một số người (tỉ lệ rất nhỏ,chỉ dưới 3% số người sử dụng) dùng METH theo đường tiêm chích.

1.1.2. Sơ lược lịch sử Methamphetamine

Amphetamine (1-metyl-2-phenethylamine) (AMPH) là thành viên đầutiên của nhóm các hợp chất có cấu trúc tương tự và các đặc tính sinh học vàgọi chung là “chất kích thích dạng Amphetamine” (ATS), lần đầu tiên được

Trang 14

tổng hợp bởi nhà hóa học người Romania tên là Lazar Edeleanu tại Đại họcBerlin năm 1887 [19] Năm 1893, METH được tổng hợp từ ephedrine tạiNhật Bản bởi nhà hóa học Nagai Nagayoshi Tuy nhiên METH đã khôngđược sử dụng trên lâm sàng cho đến khi Gordon A Alles tái tổng hợp thuốctrong những năm 1920 để sử dụng trong y tế như một thuốc giãn phế quảnđiều trị hen phế quản và cảm lạnh.

ATS phổ biến nhất bao gồm Methamphetamine- được tổng hợp sau 6năm, 3-4-methylenedioxymethamphetamine (MDMA) và Methylphenidateđược cấp bằng sáng chế vào năm 1914 và năm 1954

Trong đại chiến thế giới lần thứ II, Amphetamine đã được sử dụng rộngrãi cho binh lính trên chiến trường châu Âu Từ năm 1942, Amphetamine bịhạn chế do các bác sĩ phát hiện khả năng gây nghiện của chúng

Ngày 21/12/2016, tại Hà Nội, Bộ Y tế tổ chức Hội thảo “Điều trị nghiện

ma túy tổng hợp” với sự tham gia của đại diện các Vụ, Cục liên quan; đại diệncác bệnh viện tâm thần và trường Đại học Y Hà Nội Báo cáo tại Hội thảo nêurõ: “Ma túy tổng hợp dạng Amphetamine (ATS) thường làm thay đổi tâmtrạng, suy nghĩ, hành vi Các chất kích thích dạng Amphetamine bao gồmMethamphetamine (gây kích thích), hỗn hợp MDMA (gây phê sướng), chấtDimethoxy-4-methyl-amphetamine (gây ảo giác), chất Fenfluramine (gây mấtcảm giác thèm ăn) Trong đó, Methamphetamine là chất gây loạn thần được

sử dụng dưới dạng khói, thường được gọi là “đá” hay “tinh thể” Các chấtkích thích sẽ gây nhiều tác động nguy hiểm dài hạn như: trầm cảm, lo lắng,giảm trí nhớ, hoảng loạn, có ý định tự tử, ảo giác thính giác

1.2. Dịch tễ

Trong năm 2011, có khoảng 3,6% đến 6,9% số người trưởng thành đượcước tính đã sử dụng một chất bất hợp pháp trong năm Tỷ lệ sử dụng ma túy

Trang 15

bất hợp pháp và số người sử dụng ma túy bị rối loạn hoặc lệ thuộc sử dụng

Rối loạn sử dụng ma túy METH xuất hiện ở mọi tầng lớp xã hội và phổbiến hơn ở lứa tuổi từ 12-25 so với lứa tuổi từ 26 trở lên Khoảng 66% sửdụng đường hút, 18% tiêm chích, 10% hít Theo Báo cáo về ma túy thế giớinăm 2012 do Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm (UNODC) ban hành,Amphetamine là thuốc theo toa nhiều nhất, thường bị lạm dụng bởi thanhthiếu niên-thanh niên và xếp hạng lạm dụng chất kích thích bất hợp pháp, vịtrí thứ hai ở thanh niên, với tỷ lệ ước tính là 0,3-1,2% trong năm 2010 (giữa14,3 triệu và 52,5 triệu người tiêu dùng) [43]

Bảng 1.1 Tiêu thụ ma túy trong năm 2010, UNODC 2012 [43].

Tần suấtLoại ma túy

Trang 16

Methamphetamine, một chất kích thích hệ thần kinh trung ương đượcsản xuất tổng hợp, là loại thuốc bất hợp pháp thứ hai trên toàn thế giới sau cần

sa Thuốc này có tỷ lệ lưu hành toàn cầu hàng năm ước tính là 0,4% Việc sửdụng Methamphetamine ở Slovakia từ 1,5 đến 4 cho 1000 trường hợp Báocáo về ma túy thế giới năm 2009 cho thấy có tới 51 triệu cá nhân (1,2% dân

số toàn cầu trong độ tuổi 15-64) có đã sử dụng Methamphetamine ít nhất mộtlần trong 12 tháng qua [42]

1.3. Dược động học và cơ chế tác dụng

1.3.1 Dược động học

METH có thể được dùng theo đường tiêm, hít, hút hoặc nuốt METH cóthể dễ dàng hấp thu từ đường tiêu hóa và niêm mạc mũi, tự do xâm nhập quahàng rào máu não Chủ yếu là bài tiết không thay đổi trong nước tiểu thôngqua hệ thống vận chuyển hữu cơ Sau khi uống, sinh khả dụng của METHđược khoảng 67% và bán hủy khoảng 10 giờ METH phân phối qua hầu hếtcác cơ quan Hấp thu cao nhất xảy ra ở phổi (liều lượng 22%), gan (23%) vàtrung gian trong não (10%) Thận cũng cho thấy sự hấp thu cao (7%) Độthanh thải của METH nhanh nhất ở tim và phổi (7 phút và 16 phút), chậmnhất ở não, gan và dạ dày (> 75 phút) và trung gian ở thận, lách và tuyến tụy(22 phút-50 phút) Sự tích lũy ở phổi của METH cao hơn 30% ở người Mỹgốc Phi so với người da trắng (p <0,05) nhưng không có sự khác biệt ở các cơquan khác [44] Một nghiên cứu khác cho thấy METH được hấp thu tốt saukhi hút thuốc hoặc tiêm tĩnh mạch, với sinh khả dụng là 79% sau khi tiêm tĩnhmạch và 67% liều phân phối ước tính hoặc 37,4% liều tuyệt đối (đường uống)sau khi hút thuốc Nồng độ METH tối đa xảy ra ở mức 2,7 giờ và 2,5 giờ saukhi tiêm và hút thuốc Thời gian bán thải với tiêm tĩnh mạch là 11,4 giờ và

Trang 17

đường hút là 10,7 giờ Thời gian cư trú trung bình là 16 giờ Độ thanh thảithận METH là khoảng 100 mL/h/kg [20].

1.3.2 Cơ chế tác dụng của Methamphetamin

Các chất kích thích tâm thần Amphetamine và Methamphetamine(METH) giải phóng dopamine dư thừa (DA) vào các khe hở tiếp hợp của các

tế bào thần kinh dopaminergic Phát hành DA bất thường được cho là xảy rabằng cách vận chuyển ngược qua phương tiện vận chuyển DA (DAT) So sánhcấu trúc AMPH và METH tương tự về chức năng của DAT trong một hệthống biểu hiện dị thể và trong một mô hình động vật Trong vitro hệ thốngbiểu hiện, dòng toàn tế bào qua trung gian DAT là lớn hơn đối với kích thíchMETH so với AMPH Ở cùng điện áp và nồng độ, METH giải phóng DAnhiều hơn năm lần so với AMPH Ở nồng độ hiệu quả tối đa, METH giảiphóng gấp đôi Ca 2+ so với AMPH Ca 2+ phản ứng với cả hai loại thuốckhông phụ thuộc vào điện thế màng nhưng bị ức chế bởi chất đối khángDAT Các chất ức chế protein kinase II và protein kinase C phụ thuộc vàoCalmodulin đơn thuần hoặc kết hợp cũng ngăn chặn các phản ứng Ca 2+ doAMPH hoặc METH gây ra Các dữ liệu này cùng nhau chứng minh rằngMETH có tác động mạnh hơn đến sinh lý tế bào qua trung gian DAT so vớiAMPH [23]

Tính chất gây nghiện của METH là do sự phóng thích nhanh gần nhưngay lập tức chất dopamine tại não Dopamine là một chất trung gian hóa họctạo ra các cảm giác sảng khoái [8] Newsweek, tháng 8 năm 2005, đã mô tảMETH hấp dẫn người sử dụng "với cuộc chạy đua đầy sức mạnh tự tin, tăng

sự thức tỉnh và khoái cảm kéo dài nhiều giờ” Nghiên cứu cho thấy lượngdopamine được phóng thích do sử dụng METH nhiều gấp 3 lần so với cocain

và gấp 4 lần morphin Hiệu ứng cấp tính của METH là một tình trạng quá dư

Trang 18

thừa catecholamine và serotonin, dẫn đến cảm giác kích thích và sảng khoáicao độ, làm tăng sự tỉnh táo, tăng tập trung chú ý, tăng động lực, tăng khí sắc,tăng năng lượng và giảm sự thèm ăn Các rối loạn tâm thần tức thời có thểbao gồm lo lắng, bồn chồn và mất ngủ Chỉ trong vài ngày tiếp xúc vớiMETH, thay đổi sinh hóa não do sử dụng mãn tính bắt đầu xuất hiện (ví dụnhư giảm chất dẫn truyền thần kinh dopamine và gia tăng các dấu hiệu tiêuhủy hệ dopaminergic ở đầu cuối sợi trục) Việc tiếp xúc lâu dài với METHkhông gây ra thoái hóa vĩnh viễn các đầu dây thần kinh trong giai đoạn đầuvới liều lượng được sử dụng bởi các đối tượng trẻ Tuy nhiên, việc giảmdopamine có thể giải thích một số tác dụng gây khó chịu của thuốc, trongkhi đó chất vận chuyển dopamine giảm có thể tạo cơ sở cho việc tăng liềuxảy ra ở một số người sử dụng METH [45].Sử dụng METH mãn tính là cáchtạo ra một trạng thái cạn kiệt nhanh chóng catecholamine và serotonin, gâymệt mỏi, trầm cảm, hôn mê và mất khoái cảm (anhedonia) Cạn kiệtserotonin, dopamine kéo dài đến bốn năm trong nghiên cứu ở loài linh trưởng

và giảm vận chuyển dopamine tại nhân đuôi trong nghiên cứu ở người (thấphơn 20%), tại nhân accumbens (29,6%) và tại vỏ não trước trán (33%) gópphần làm mất khoái cảm, giảm động cơ hoạt động và suy giảm nhận thức Cơchế của sự mất dopamine dường như do sự tái phân phối dopamine củaMETH từ môi trường nghèo synap vào môi trường oxy hóa tế bào chất của tếbào, tiếp tục sản sinh các gốc tự do và chất chuyển hóa khác làm thiệt hạiprotein và màng tế bào [45]

METH làm thay đổi sinh hóa và cấu trúc não gây suy giảm chức năng nhận thức Suy giảm nhận thức bao gồm suy giảm trí nhớ lời nói và trí nhớhình ảnh, chức năng vận động, sự chú ý và chức năng điều hành đòi hỏi trừutượng, thiết lập sự di chuyển và ức chế Suy giảm nhận thức có xu hướng xấu

đi ở giai đoạn đầu cai với METH (5 – 14 ngày) Những thiếu sót trong sự chú

Trang 19

ý chọn lọc đã được chứng minh là có cải thiện ở 2 tháng cai và việc cải thiện trínhớ lời nói cần 3 – 14 tháng cai Sử dụng METH kéo dài tạo nên nguy cơ trầmcảm, mất khoái cảm, lo âu, hoang tưởng, ảo thanh và ảo thị [45].

1.4. Đặc điểm lâm sàng người sử dụng Methamphetamine

Ở liều thấp, METH gây ra những tác động tích cực nói chung như tăng

sự tỉnh táo, năng lượng, hưng phấn, tăng sự tự tin, hoạt động và làm việc bền

bỉ, tăng khả năng nói chuyện, tăng khoái cảm tình dục và tăng cường tình dục,cảm giác hạnh phúc, tăng sức mạnh và ăn mất ngon

٭ Một số biểu hiện hưng phấn khi sử dụng ma túy đá gồm:

Cảm thấy khoẻ khoắn, lâng lâng sung sướng

Tỉnh táo hơn và tràn đầy sinh lực

Tăng ham muốn tình dục, tăng khả năng giao tiếp

Không cảm thấy đói

Thông thái hơn, tâm trạng tốt hơn

Nhịp tim và huyết áp tăng, tăng thân nhiệt, thở nhanh

Giãn đồng tử, khô miệng và khó nuốt, trường hợp nặng có thể gây tìnhtrạng mất nước và sốt cao

Một rối loạn tâm thần do thuốc giống như tâm thần phân liệt hoangtưởng có thể xảy ra khi sử dụng Methamphetamine liều cao hoặc lặp đi lặplại Trong khi điều này thường giải quyết nhanh chóng với việc chấm dứt sửdụng chất kích thích, một số trường hợp rối loạn tâm thần do thuốc kéo dài ởnhững người dễ bị tổn thương đã được ghi nhận Nhạy cảm hành vi cũng cóthể xảy ra và thuốc an thần kinh có thể ngăn ngừa sự tái phát của rối loạn tâmthần tiếp theo được kích hoạt bằng cách sử dụng Methamphetamine liều thấpliên tục

1.4.1 Ngộ độc cấp

Trang 20

Quá liều dường như là nguồn gây bệnh đáng kể và tỷ lệ tử vong ở nhữngngười sử dụng METH trẻ bao gồm các triệu chứng kích động, giãn đồng tử,tăng huyết áp, nhịp tim nhanh và thở nhanh Các triệu chứng khác bao gồmtăng thân nhiệt, run rẩy, khó thở, đau ngực, suy thận và hôn mê [28] Nhữngngười tiêm METH một mình hoặc trong kết hợp với các loại thuốc bất hợppháp khác như heroin cũng có nguy cơ tự sát [36].

Các triệu chứng trên xuất hiện cấp, bệnh nhân thường gây rối ở nơi côngcộng, ở các câu lạc bộ hoặc trong gia đình Đây là lí do quan trọng để bệnhnhân sử dụng, nghiện METH được đưa đến bệnh viện để chẩn đoán và điềutrị

1.4.2 Hậu quả của việc sử dụng Methamphetamine

Những người dùng đường hít thường xuyên có thể xuất hiện viêm xoang,viêm niêm mạc mũi, thủng vách ngăn, chảy máu mũi… Những người dùngđường hút có nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp (ho, viêm phổi, viêm phếquản…) Các bệnh lây truyền như HIV, viêm gan B… tăng cao do dùngMETH đường tiêm chích và tình dục không an toàn Suy dinh dưỡng, sụt câncũng thường gặp

٭ Biến chứng tim mạch:

Dữ liệu của khoa cấp cứu đã cho thấy sự nhất quán giữa đau ngực, rốiloạn nhịp tim (nhịp tim nhanh), đánh trống ngực và tăng huyết áp là một trongnhững triệu chứng thực thể phổ biến nhất sau nhiễm độc METH [31],[37] Sựkéo dài của QTc vượt quá 440 ms được báo cáo trong số 27,2% người dùngMETH [24] Hậu quả tim mạch của việc sử dụng METH bao gồm hội chứngmạch vành cấp tính, nhồi máu cơ tim cấp tính, bóc tách động mạch chủ cấp và

Trang 21

đột tử do tim [27] Các biến chứng tim mạch liên quan đến sử dụng METH cóthể xảy ra với tất cả các tuyến hành chính chính [27].

Khi METH được kết hợp với rượu, cocaine hoặc opioids, độc tính và căngthẳng trên hệ thống tim mạch được tăng lên [33]

٭ Biến chứng mạch máu não:

Sử dụng METH có liên quan đến đột quỵ do thiếu máu cục bộ, xuấthuyết nội sọ và xuất huyết dưới nhện, đặc biệt là ở những bệnh nhân trẻ tuổi.Một nghiên cứu cho thấy rằng không có bằng chứng đột quỵ thiếu máu cục bộliên quan đến sử dụng METH là do nguyên nhân gây viêm nhưng có thể là doquá trình xơ vữa động mạch nhanh [25] METH dẫn đến tăng nồng độcatecholamine, dẫn đến co mạch vành, sản xuất các gốc oxy hóa tự do, xơ hóa

cơ tim và bệnh cơ tim bởi vì độc tính trực tiếp đối với các mạch bổ sung vànội sọ, dẫn đến thay đổi đường kính lòng mạch [25]

Rối loạn tâm thần và bệnh Parkinson đã được báo cáo trong số nhữngngười lạm dụng METH Để xác nhận giả thuyết này, một nghiên cứu hồi cứucho thấy rằng việc sử dụng kéo dài METH làm tăng nguy cơ gấp tám lầnbệnh Parkinson so với AMPH [22]

Suy giảm thần kinh do METH gây ra là bởi các bất thường ở thùy trán vàlimbic Các chức năng chính thay đổi là học tập, trí nhớ, chức năng điều hành,tốc độ xử lý thông tin, trí nhớ làm việc và thu hẹp tri giác [39] Sự thiếu hụtnhận thức vẫn tồn tại hơn sáu tháng sau khi cai METH [28] Việc sử dụngMETH cũng dẫn đến các hành vi trộm cắp, mại dâm và các hành vi vi phạmpháp luật khác

1.4.3 Loạn thần do sử dụng Methamphetamine

Các rối loạn tâm thần do sử dụng AST theo ICD10

A Ngộ độc cấp

B Sử dụng gây hại

Trang 22

C Hội chứng nghiện AST

D Trạng thái cai AST

E Rối loạn loạn thần do sử dụng AST

F Hội chứng quên

G Rối loạn loạn thần di chứng và khởi phát muộn [3]

Rối loạn tâm thần do METH gây ra là thoáng qua, liên quan đến cáctriệu chứng hoang tưởng và ảo giác [28] Ảo giác do METH gây ra chủ yếu là

ảo thanh (có nghiên cứu gặp trong 85% các trường hợp rối loạn tâm thần doMETH), ảo thị (46%) và ảo xúc giác (21%) Hoang tưởng về sự khủng bố(71%) cũng phổ biến [28],[34] Thời gian kéo dài của triệu chứng loạn thần làkhác nhau, thường mất đi trong vòng một tuần kiêng hoặc tồn tại vô thời hạn[28] Rối loạn tâm thần cũng có thể đi kèm với một trạng thái thiếu cảm xúc,kích động và hành vi thù địch, trường hợp nặng cần phải nhập viện dùngthuốc an thần và thuốc chống loạn thần [14]

Mặc dù tính dễ bị tổn thương với các triệu chứng loạn thần khác nhaugiữa những người dùng, một nghiên cứu báo cáo rằng 23% đã trải qua triệuchứng lâm sàng loạn thần trong năm qua và 13% sàng lọc dương tính cho mộtrối loạn tâm thần (so với 1,2% dân số nói chung) [32]

Một số yếu tố có liên quan đến việc tăng nguy cơ phát triển các triệuchứng loạn thần:

- Chúng có nhiều khả năng xảy ra trong số người dùng mãn tính và phụ thuộcthuốc [32] Một nghiên cứu cho thấy rằng 31% người dùng Methamphetaminephụ thuộc có triệu chứng loạn thần, so với 13% người dùng không phụ thuộc[32]

- Thời gian sử dụng dài hơn [13],[46], sử dụng liều cao hơn [46] và đườngdùng (tiêm) [19]

- Tiền sử các triệu chứng loạn thần đã có từ trước [34] cũng làm tăng nguy cơgây ra các triệu chứng loạn thần

Trang 23

Cần chẩn đoán phân biệt hoang tưởng, ảo giác do METH với bệnh tâmthần phân liệt, rối loạn tâm thần do rượu, cần sa…đặc biệt ở thanh thiếu niên

đã có tiền sử nghiện các chất khác với các triệu chứng loạn thần lần đầu, cấpdiễn

Rối loạn cảm xúc, hành vi: thường do hoang tưởng, ảo giác chi phối.Các triệu chứng cơ thể: đau đầu, đau cơ, bồn chồn, bứt dứt…

Thông thường các triệu chứng loạn thần sẽ giảm dần dưới tác dụng của điều trị

Trang 24

Chương 2- ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là tất cả bệnh nhân đang đượcđiều trị tại khoa Điều trị nghiện chất, bệnh viện Tâm thần Hải Phòng từtháng 9/2018 đến tháng 3/2019 phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn và tiêuchuẩn loại trừ dưới đây:

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Lựa chọn các bệnh nhân có đủ các tiêu chuẩn sau vào nghiên cứu: Bệnhnhân đang được điều trị tại khoa Điều trị nghiện chất, bệnh viện Tâm thần HảiPhòng, được chẩn đoán là rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng ma túyMethamphetamine theo tiêu chuẩn ICD10, có tham khảo thêm tiêu chuẩnchẩn đoán của DSM –V

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần do sử dụng Methamphetamine theoICD10

Các rối loạn tâm thần do sử dụng METH được ghi mã ở mục F15.5 [9].Các triệu chứng loạn thần xuất hiện trong hoặc sau khi sử dụng METH, đặctrưng là các ảo giác sinh động (điển hình là ảo thanh), các loại hoang tưởng,các rối loạn tâm thần vận động, các rối loạn cảm xúc Tri giác thường sángsủa nhưng cũng có thể có ý thức mù mờ ở mức độ nào đó nhưng không dẫnđến lú lẫn nặng Rối loạn này nếu điển hình sẽ mất đi, ít nhất một phần trongvòng một tháng và mất hoàn toàn trong vòng 6 tháng [2]

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần do sử dụng Methamphetamine theo

DSM V.

A Có một hoặc cả hai triệu chứng sau:

Hoang tưởng

Ảo giác

Trang 25

B Có bằng cớ rõ ràng trong bệnh sử, qua khám xét, hoặc các xét nghiệm cả (1)

và (2);

(1) Các triệu chứng trong tiêu chuẩn A phát triển trong hoặc ngay saunhiễm độc (say) ma túy METH hoặc hội chứng cai

(2) Ma túy METH có khả năng gây ra các triệu chứng ở tiêu chuẩn A

C Các rối loạn không được giải thích hợp lý hơn bởi các rối loạn tâm thần khác.Như có bằng chứng rõ ràng về một rối loạn tâm thần độc lập khác, bao gồmcác trường hợp sau: các triệu chứng xuất hiện trước khi sử dụng METH, cáctriệu chứng tồn tại dai dẳng (khoảng 1 tháng) sau khi cai hoặc ngộ độc (say)nặng hoặc có bằng cớ hiển nhiên về sự tồn tại một rối loạn tâm thần độc lậpkhác không do ma túy METH

D Các rối loạn không xuất hiện trong quá trình mê sảng

E Các rối loạn gây ra sự suy giảm các chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc cácchức năng quan trọng khác

Lưu ý: Chẩn đoán rối loạn tâm thần do ma túy METH có thể được sửdụng thay cho chẩn đoán ngộ độc (say) hoặc hội chứng cai ma túy METH chỉkhi các triệu chứng trong tiêu chuẩn A chiếm ưu thế trên lâm sàng và khi cáctriệu chứng này đủ nặng để cần chăm sóc trên lâm sàng [2]

+ Xét nghiệm chẩn đoán:

Thời gian bán hủy của METH từ 1 đến 3 ngày, có thể tới 4 ngày phụthuộc vào liều dùng và sự chuyển hóa Người ta có thể tìm thấy sự có mặt củaMETH trong mẫu tóc sau 90 ngày, trong nước tiểu trong vòng 3 ngày

Hiện nay xét nghiệm tìm METH là loại que thử sắc ký, mẫu thử nếu cóchất gây nghiện hoặc chất chuyển hóa của METH thì nó sẽ cạnh tranh vớicộng hợp chất gây nghiện đã được cố định trên màng thấm của que thử để gắnkết với một lượng kháng thể có trên que thử

Khi mẫu thử tiếp xúc với que thử, METH và chất chuyển hóa của nó nếu

có trong mẫu thử ở nồng độ nhỏ hơn hoặc bằng 500 ng/ml sẽ không cản trởcác cộng hợp của METH gắn kết với các kháng thể kháng METH trên que

Trang 26

thử Cộng hợp sẽ được mao dẫn lên trên cùng với nước tiểu lên đến khu vựctest Tại đây sẽ có liên kết với các dẫn xuất của METH đã được cố định tại vịtrí vạch test trên màng menbrane (T) Lúc đó 1 vạch màu hồng sẽ được nhìnthấy bằng mắt thường tại vị trí vạch test Vạch này sẽ không thể hình thànhnếu như nồng độ METH và các dẫn xuất của nó hiện diện trong mẫu thử vớinồng độ lớn hơn 500 ng/ml Mẫu thử bất kể nồng độ METH là bao nhiêucũng đều tạo ra một vạch hồng tại vị trí C, cho thấy xét nghiệm vận hành hoànhảo.

• Âm tính: xuất hiện 2 vạch màu hồng (xuất hiện thêm vạch thứ 2 ngang

vị trí T), nồng độ METH nhỏ hơn hoặc bằng 500 ng/ml

Hiện nay có một xét nghiệm miễn dịch chính xác, đơn giản và nhanhchóng giúp phát hiện METH trong nước tiểu bằng phương pháp điện di maomạch (CE) hoặc bằng huỳnh quang cảm ứng bằng laser (LIF) Một dẫn xuấtaminobutyl của METH được kết hợp với protein và được sử dụng như mộtchất miễn dịch để tạo ra các kháng thể cho xét nghiệm Dẫn xuất METH cũngđược dán nhãn fluorescein isothiocyanate (FITC) để cạnh tranh với METH cósẵn trong mẫu cho vị trí gắn kháng thể Xét nghiệm miễn dịch cạnh tranh này

đã sử dụng kháng huyết thanh thay vì kháng thể hoặc mảnh kháng thể tinhkhiết nhưng vẫn có độ chính xác tốt với độ nhạy thấp hơn 20 ng/ml Cáckháng thể khác nhau cũng đã được sàng lọc và phản ứng chéo của kháng thểchống METH với các chất tương tự METH cũng đã được nghiên cứu Kết quả

Trang 27

chỉ ra rằng xét nghiệm miễn dịch dựa trên CE-LIF là một công cụ mạnh mẽ

để sàng lọc và mô tả kháng thể và có thể có các ứng dụng khả thi trong việcphát hiện các loại thuốc bị lạm dụng trong nước tiểu [12]

Xác định METH và Amphetamine trên tóc được thực hiện bằng phươngpháp sắc ký khí Chiết xuất tóc bằng methanol/acid hydrochloric (20:1) bằngphương pháp siêu âm được chọn làm phương pháp tiêu chuẩn Các đườngcong hiệu chuẩn cho AMPH trên tóc là tuyến tính từ 1 đến 100 ng/mg (r >0,99) Giới hạn phát hiện là 0,5 ng/mg ở mức độ tin cậy 95% Các hệ số biếnđổi (CV) (n=8) của phân tích tóc của người sử dụng METH là 0,7 đến 6%

Hệ số biến đổi (n=8) phân tích tóc của người lạm dụng METH là 17,5% Phântích mặt cắt của lông khỉ và lông người sau khi uống METH cho thấy mốitương quan tốt giữa thời gian sử dụng thuốc và phân phối thuốc trên tóc [35]

- Nghiên cứu được tiến hành trên 53 bệnh nhân điều trị tại khoa Điều trịnghiện chất bệnh viện Tâm thần Hải Phòng

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân có mắc các rối loạn tâm thần khác

- Bệnh nhân sử dụng nhiều loại ma túy

- Bệnh nhân nghiện rượu

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Điều trị Nghiện chất Bệnh viện Tâm thần HảiPhòng

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang

Trang 28

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

Lấy mẫu thuận tiện ngẫu nhiên, không xác suất tất cả những bệnh nhânđến điều trị tại khoa Điều trị nghiện chất Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng đượcchẩn đoán là rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng Methamphetamine

2.2.3 Thu thập số liệu

• Lập hồ sơ bệnh án: mỗi bệnh nhân có một bệnh án nghiên cứu (phụ lục 1) Hồ

sơ bệnh án của bệnh nhân được thiết kế để phục vụ mục đích nghiên cứu Mỗibệnh nhân có một mã số nghiên cứu

• Khai thác bệnh sử và khám tâm thần trong 1 – 2 ngày đầu nhập viện Một sốtrường hợp nhập viện trong trạng thái kích động chống đối phủ định bệnh khó

có thể khai thác đầy đủ bệnh sử và khám lâm sàng trong ngày đầu nhập viện,

do đó quá trình khai thác bệnh có thể cần diễn ra trong 2 – 3 ngày Các thôngtin về tuổi, giới, nghề nghiệp, địa chỉ, đặc điểm hoang tưởng, ảo giác

• Làm xét nghiệm định tính 5 loại ma túy trong nước tiểu ngay khi có thể.Thông thường bệnh nhân sẽ được làm xét nghiệm nước tiểu ngay khi mớinhập viện Những trường hợp kích động, chống đối có thể làm muộn hơntrong vòng 1 ngày Xét nghiệm này cho phép xác định 5 loại ma túy: cần sa,Methamphetamine, Morphine, heroin, MDMA trong nước tiểu

• Khám tâm thần lại sau 1 – 2 tuần sau khi bệnh tạm ổn định Khi bệnh nhân đãtạm ổn định, không còn trạng thái kích động, chống đối nữa thì cần khám lại

để tìm hiểu rõ hơn các triệu chứng

• Xử lý số liệu và viết đề tài

Các biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu gồm:

Tuổi, giới, điều kiện kinh tế, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghềnghiệp, tiền sử gia đình có người nghiện ma túy, tổng thời gian sử dụngMethamphetamine, lần cuối cùng sử dụng METH trước khi vào viện, xétnghiệm định tính 5 loại ma túy trong nước tiểu

Các biến số về đặc điểm rối loạn ảo giác của đối tượng nghiên cứu

Trang 29

Đặc điểm rối loạn tri giác, đặc điểm các loại ảo giác, đặc điểm của ảo

giác thính giác, mối liên quan giữa ảo giác và tổng thời gian sử dụng METH,mối liên quan giữa tổng thời gian sử dụng METH với nội dung của ảo giácthính giác

Các biến số về đặc điểm rối loạn hoang tưởng của đối tượng nghiên cứu gồm:

Đặc điểm về rối loạn hình thức tư duy, đặc điểm về nội dung tư duy, đặcđiểm về hoang tưởng, mối liên quan giữa hoang tưởng và ảo giác, giữa hoangtưởng và tổng thời gian sử dụng METH

2.2.5. Xử lý số liệu

Theo phương pháp thống kê y học, làm sạch số liệu mã hóa số liệu và xử

lý trên phần mềm Epi info 7.2

Các giá trị trung bình được biểu diễn dưới dạng Mean ± SD

Kết quả có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95% (p < 0,05)

2.3. Đạo đức nghiên cứu

Đề tài được thực hiện theo đúng nội dung của đề cương nghiên cứu đã được hội đồng đánh giá đề cương của trường Đại học Y Dược Hải Phòng thông qua và sự đồng ý của Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, không gây ảnh hưởng tới thể chất, tinh thần, vật chất và không có sự can thiệp tới đối tượng nghiên cứu

Mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu không sử dụng cho mục đích khác

Kết quả của nghiên cứu phục vụ cho sự phát triển của y tế và chính lợiích của bệnh nhân

Trang 30

Chương 3- KẾT QUẢ

Tiến hành nghiên cứu trên 53 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu tạikhoa Điều trị Nghiện chất Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng trong khoảng thờigian từ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019 Chúng tôi thu thập được một số kếtquả sau:

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng

Bảng 3.1 Đặc điểm về nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 30,11 ± 5,86.

Nhóm tuổi từ 20 – 30 chiếm tỉ lệ cao nhất là 66,04%, đứng thứ hai lànhóm tuổi từ 31 – 40 với 26,42% và có 7,55% bệnh nhân từ trên 40 tuổi,không có ca nào mắc ở nhóm tuổi dưới 20

Hình 3 1 Đặc điểm về giới tính của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Nam giới chiếm tỉ lệ 92,55% cao hơn nữ giới chiếm 7,55%.

Trang 31

Bảng 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Trình độ trung học cơ sở chiếm tỉ lệ cao nhất với 45,28%,

sau đó là trung học phổ thông với 39,62%, thấp nhất là trung học chuyên nghiệp 1,89 %

Trang 32

Bảng 3.3 Đặc điểm về tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Đa số bệnh nhận chưa kết hôn (chiếm 52,83%), có 9,43% bệnh

nhân đã ly hôn hoặc ly thân

Bảng 3.4 Đặc điểm về điều kiện kinh tế của đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Có 47,17% bệnh nhân có điều kiện kinh tế trung bình, 35,85%

là khó khăn, chỉ có khoảng 16,98% là điều kiên kinh tế khá

Hình 3 2 Đặc điểm tiền sử gia đình có người nghiện ma túy

Nhận xét: Có 81,13% bệnh nhân gia đình không có người nghiện ma

túy và 18,87% bệnh nhân có người nghiện ma túy trong gia đình

Bảng 3.5 Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Ngày đăng: 18/07/2019, 21:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Curran C, Byrappa N, McBride A (2004), “Stimulant psychosis:systematic review”, Br J Psychiatry, 185, 196-204 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stimulant psychosis:systematic review”, "Br J Psychiatry
Tác giả: Curran C, Byrappa N, McBride A
Năm: 2004
14. Darke S, Kaye S, McKettin R, Duflou J (2008), “Major physical and psychological harms of methamphetamine use”, Drug and Alcohol, 27, 253-262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Major physical andpsychological harms of methamphetamine use”, "Drug and Alcohol
Tác giả: Darke S, Kaye S, McKettin R, Duflou J
Năm: 2008
15. De-Carolis C, Boyd G A, Mancinelli L, Pagano S, &amp; Eramo S (2015), “Methamphetamine abuse and “meth mouth” in Europe”, Medicina oral, patologia oral y cirugia bucal, 20(2), e205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Methamphetamine abuse and “meth mouth” inEurope”, "Medicina oral, patologia oral y cirugia bucal, 20
Tác giả: De-Carolis C, Boyd G A, Mancinelli L, Pagano S, &amp; Eramo S
Năm: 2015
16. Degenhardt L, Coffey C, Moran P, Carlin JB, Patton GC (2007),“The predictors and consequences of adolescent amphetamine use”, Findings from the Victoria Adolescent Health Cohort Study, 102, 1076-1084 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The predictors and consequences of adolescent amphetamine use”,"Findings from the Victoria Adolescent Health Cohort Study
Tác giả: Degenhardt L, Coffey C, Moran P, Carlin JB, Patton GC
Năm: 2007
17. Degenhardt L, Coffey C, Carlin JB, Moran P, Patton GC (2007),‘Who are the new methamphetamine users”, A 10-year prospective study of young Australians, 102, 1269-1279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A 10-year prospectivestudy of young Australians
Tác giả: Degenhardt L, Coffey C, Carlin JB, Moran P, Patton GC
Năm: 2007
18. DSM-IV-TR (2000), “Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 4th edn, text revision”, Washington DC, American Psychiatric Association Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and Statistical Manual of MentalDisorders, 4th edn, text revision”
Tác giả: DSM-IV-TR
Năm: 2000
19. Eledeano L (1887), “Ueber einige Derivate der Phenylmethacrylsaure und der phenylisobuttersaure”, Berichte der deutschen chemischen gesellchaft (20), 616-622 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ueber einige Derivate derPhenylmethacrylsaure und der phenylisobuttersaure”, "Berichte derdeutschen chemischen gesellchaft
20. Harris DS, Boxenbaum H, Everhart ET, Sequeira G, Mendelson JE, Jones RT (2003), “The bioavailability of intranasal and smoked methamphetamine”, Clinical pharmacology &amp; therapeutics, 74(5), 475-486 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The bioavailability of intranasal and smokedmethamphetamine”, "Clinical pharmacology & therapeutics
Tác giả: Harris DS, Boxenbaum H, Everhart ET, Sequeira G, Mendelson JE, Jones RT
Năm: 2003
21. Gan H, Zhao Y, Jiang H, Zhu Y, Chen T, Tan H, ... &amp; Zhao M (2018), “A survey of methamphetamine induced psychosis in 1430 individuals with methamphetamine use disorder: clinical features and related risk factors”, Frontiers in Psychiatry, 9, 551 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A survey of methamphetamine induced psychosis in 1430individuals with methamphetamine use disorder: clinical featuresand related risk factors”, "Frontiers in Psychiatry
Tác giả: Gan H, Zhao Y, Jiang H, Zhu Y, Chen T, Tan H, ... &amp; Zhao M
Năm: 2018
22. Garwood ER, Bekele W, McCulloch CE, Christine CW (2006),“Amphetamine exposure is elevated in Parkinson’s disease”, Neurotoxicology, 27, 1003-1006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amphetamine exposure is elevated in Parkinson’s disease”,"Neurotoxicology
Tác giả: Garwood ER, Bekele W, McCulloch CE, Christine CW
Năm: 2006
25. Ho EL, Josephson SA, Lee HS, Smith WS (2009), “Cerebrovascular complications of methamphetamine abuse”, Neurocrit Care, 10, 295-305 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cerebrovascularcomplications of methamphetamine abuse”, "Neurocrit Care
Tác giả: Ho EL, Josephson SA, Lee HS, Smith WS
Năm: 2009
26. Kaplan HI, Sandocks BJ (2009), Comprehensive textbook of psychiatry, Baltimore, Md Lippincott Willams and Wikils, 792-798 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comprehensive textbook ofpsychiatry
Tác giả: Kaplan HI, Sandocks BJ
Năm: 2009
27. Kaye S, McKetin R, Duflou J, Darke S (2007), “Methamphetamine and cardiovascular pathology”, A review of the evidence, 102, 1204- 1211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Methamphetamineand cardiovascular pathology”, "A review of the evidence
Tác giả: Kaye S, McKetin R, Duflou J, Darke S
Năm: 2007
28. Karila L, Petit A, Cottencin O, Reynaud M (2010),“Methamphetamine dependence”, Consequences and complications, 39, 1246-1253 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Methamphetamine dependence”, "Consequences andcomplications
Tác giả: Karila L, Petit A, Cottencin O, Reynaud M
Năm: 2010
29. Kim SJ, Lyoo IK, Hwang J, Chung A, Hoon Sung Y, et al (2006),“Prefrontal grey matter changes in short term and long term abstinent methamphetamine abusers”, Int J Neuropsychopharmacol , 9, 221-228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prefrontal grey matter changes in short term and long termabstinent methamphetamine abusers”, "Int J Neuropsychopharmacol
Tác giả: Kim SJ, Lyoo IK, Hwang J, Chung A, Hoon Sung Y, et al
Năm: 2006
31. Lan KC, Lin YF, Yu FC, Lin CS, Chu P (1998), Clinical manifestations and prognostic features of acute methamphetamine intoxication, 97, 528-533 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinicalmanifestations and prognostic features of acute methamphetamineintoxication
Tác giả: Lan KC, Lin YF, Yu FC, Lin CS, Chu P
Năm: 1998
32. McKetin R, McLaren J, Kelly E, Lubman D, Hides L (2006), The prevalence of psychotic symptoms among methamphetamine users, 101, 1473-1478 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theprevalence of psychotic symptoms among methamphetamine users
Tác giả: McKetin R, McLaren J, Kelly E, Lubman D, Hides L
Năm: 2006
33. McGregor C, Srisurapanont M, Mitchell A, Wickes W, White JM (2008), “Symptoms and sleep patterns during inpatient treatment of methamphetamine withdrawal : a comparison of mirtazipine and modafinil withtreatment as usual”, J Subst Abuse Treat, 35, 334- 342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Symptoms and sleep patterns during inpatient treatment ofmethamphetamine withdrawal : a comparison of mirtazipine andmodafinil withtreatment as usual”, "J Subst Abuse Treat
Tác giả: McGregor C, Srisurapanont M, Mitchell A, Wickes W, White JM
Năm: 2008
34. Newton TF, Kalechstein AD, Duran S, Vansluis N, Ling W (2008),“Methamphetamine abstinence syndrom: a preliminary findings”, Am J Addict, 17, 83-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Methamphetamine abstinence syndrom: a preliminary findings”,"Am J Addict
Tác giả: Newton TF, Kalechstein AD, Duran S, Vansluis N, Ling W
Năm: 2008
45. Nakahara Y, Takahashi K, Shimamine M, &amp; Takeda Y, (1991), “Hair analysis when drug abuse: I. Determination of hair methamphetamine and amphetamine by means of stable gas chromatography dilution mass spectrometry”, Journal of forensic science, 36 (1), 70-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hairanalysis when drug abuse: I. Determination of hairmethamphetamine and amphetamine by means of stable gaschromatography dilution mass spectrometry”, "Journal of forensicscience
Tác giả: Nakahara Y, Takahashi K, Shimamine M, &amp; Takeda Y
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w