ĐẶT VẤN ĐỀCo giật do sốt CGDS cao đơn thuần là tình trạng cấp cứu khá phổ biến ở trẻ em, chiếm đến 2/3 số trẻ bị co giật, là một hiện tượng co giật xảy ra ở trẻnhỏ, thường là lứa tuổi từ
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Ngọc Sáng
2 Thạc Sĩ.Phạm Bích Ngọc
Hải phòng 2019
Trang 31.1 Các định nghĩa và thuật ngữ 21.2 Lịch sử nghiên cứu co giật do sốt 31.3 Dịch tễ học co giật do sốt ở trẻ em 41.4 Lâm sàng, cận lâm sàng 61.5 Sinh lý bệnh co giật do sốt. 91.6 Các nguyên nhân trực tiếp gây sốt 101.7 Điều trị và tiên lượng co giật do sốt cao đơn thuần 10Chương 2: ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 132.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cúu 13
2.4 Thu thập và xử lý số liệu 152.5 Biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 152.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 16
3.1 Đặc điểm chung của trẻ co giật do sốt cao đơn thuần 173.2 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ 24
4.1 Đặc điểm chung của trẻ co giật do sốt cao đơn thuần 26
4.6.Các bệnh lý mắc kèm gây sốt 33KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5phức tạp 13Bảng 3.2 Phân bố trẻ co giật do sốt cao đơn thuần theo tuổi 23Bảng 3 3 Phân bố trẻ co giật do sốt theo số cơn giật 25Bảng 3.4 Phân bố tái phát cơn CGDS theo tuổi 26Bảng 3.5 Phân bố trẻ theo thời gian từ khi sốt đến khi co giật 38Bảng 3.6.Tình trạng ý thức trẻ sau cơn giật 40Bảng 3.7.Phân bố trẻ theo thời gian cơn co giật 40Bảng 3.8 Phân bố trẻ Thân nhiệt lúc co giật: 41Bảng 3.9 Phân bố số ngày sốt trong đợt vào viện của trẻ 41Bảng 3.10.Phân bố trẻ co giật do sốt theo nguyên nhân 41Bảng 3.11 Một số yếu tố liên quan CGDS 42
Trang 6Hình 3 1 Phân bố trẻ co giật do sốt theo tháng vào viện trong 1 năm 23Hình 3 2 Phân bố trẻ co giật theo giới tính 24Hình 3.3 Phân bố trẻ co giật do sốt theo địa dư 25
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Co giật do sốt (CGDS) cao đơn thuần là tình trạng cấp cứu khá phổ biến
ở trẻ em, chiếm đến 2/3 số trẻ bị co giật, là một hiện tượng co giật xảy ra ở trẻnhỏ, thường là lứa tuổi từ 3 tháng đến 5 tuổi, kết hợp với sốt nhưng không donhiễm khuẩn nội sọ hoặc do một nguyên nhân khác”[19]
Nguyên nhân gây sốt chủ yếu là do nhiễm trùng đường hô hấp trên,nhiễm trùng đường tiêu hóa… Bệnh có liên quan đến một số yếu tố nguy cơnhư: tiền sử co giật của gia đình tiền sử sản khoa tiền sử phát triển tâm thầnvận động và một số yếu tố làm dễ xuất hiện cơn co giật do sốt: tuổi, cơn sốt,căn nguyên của sốt[5]
Ở Việt Nam nói chung số trẻ bị co giật do sốt gặp khoảng 3% số trẻ dưới
5 tuổi Theo tác giả Lê Thiện Thuyết (2003) có 3,16% trẻ <15 tuổi bị co giật
do sốt [8] Nguyễn Thị Thu (2013) tỷ lệ co giật do sốt xảy ra chủ yếu dưới 24tháng chiếm 78,5% [9]
Các nguyên cứu về giật do sốt cao đơn thuần đã được tiến hành ở một sốbệnh viện trong nước Vậy đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của co giật do sốtcao đơn thuần ở trẻ em vào điều trị tại Bệnh viện trẻ em Hải Phòng trongnăm qua như thế nào, các nguyên nhân và một số yếu tố liên quan ra sao lànhững câu hỏi rất cần có lời giải đáp Do đó chúng tôi tiến hành đề tài nàynhằm mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học lâm sàng của co giật do sốt cao đơn thuần ởtrẻ em vào điều trị tại Bệnh viện trẻ em Hải Phòng trong1 năm từ tháng
2 năm 2018 đến tháng 2 năm 2019
Trang 82 Xác định nguyên nhân và một số yếu tố liên quan đến co giật do sốtcao đơn thuần ở những bệnh nhân trên.
Chương 1 - TỔNG QUAN1.1 Các định nghĩa và thuật ngữ
1.1.1 Sốt
Mặc dù các ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất, nhưng định nghía sau đây
về sốt được hầu hết các tác giả chấp nhận: “Sốt là hiện tượng tăng nhiẹt độ cơthể khi nhiệt độ đo ở hậu môn trên 37,8°C (ở trẻ bú mẹ) hoặc trên 38°C (ở trẻlớn hơn) trong điều kiện cơ thể nghỉ ngơi - do hậu quả của sự rôi loạn trungtâm điều nhiệt ở vùng dưới đồi làm tăng ngưỡng thân nhiệt [2]
Gần đây, để cho tuyến y tế ca sở tránh bỏ sót những trường hợp bệnh rấtnặng có sốt, chương trình xử trí lồng ghép trẻ bệnh (IMCI: Intergra ^management of chilhood illness) của tổ chức Y Tê Thế Giới quy định “Gọi làsốt khi nđộ cặp ờ nách (chưa cộng thêm 0,5°C) là từ 37,5°c trở lên hoặc khi
sờ ở bụng hoặc sờ ở nách trẻ ta thấy nóng hơn bình thường hoặc trong bệnh
sử gia đình khai trẻ có sốt”[37]
1.1.2 Co giật
Co giật là những cơn co cơ kịch phát hoặc nhịp điệu và tùng hồi, biểuhiện bằng những cơn co cứng hoặc những cơn co giật hay co cứng - co giật donguyên nhân từ động kinh hoặc do các nguyên nhân khác [1],
Co giật là hậu quả biểu hiện của một tình trạng phóng xung điện bấtthưòng, không tự ý, quá mức, đồng thời cùa một quần thể những tế bào thầnkỉnh ở não
Trang 91.1.3 Co giật do sốt
Tháng 5 năm 1980, Viện Quốc Gia Sức Khỏe Hoa Kỳ đã tổ chức mộtcuộc hội thảo và nhất trí định nghĩa: “Co giật do sốt là một hiện tượng co giậtxảy ra ở trẻ nhỏ, thường là lứa tuổi từ 3 tháng đến 5 tuổi, kết hợp với sốtnhưng không do nhiễm khuẩn nội sọ hoặc do một nguyên nhân khác” [19]
Trang 101.1.4 Đợt co giật do sốt
Là khoảng thời gian được tính từ lúc khới phát của bệnh có sốt cho đếnlúc kết thúc bệnh ấy mà trong thời gian đó có cơn co giật do sôt Trong mộtđợt co giật do sốt có thế có một hoặc nhiều cơn co giật [16]
1.1.5 Co giật do sốt đơn thuần và co giật do sốt phức tạp
Cách phân loại co giật do sốt của các tác giả ở Việt Nam chưa thôngnhất:Theo Lê Đức Hinh [3], phân co giật do sốt thành:
* Co giật do sốt đơn thuần hoặc co giật do sôt không có biến chứng
- Xảy ra ở các trẻ phát triển bình thường
- Các cơn thường ngắn
- Không xảy ra nhiều lần trong ngày
- Sau cơn trẻ không có triệu chứng thần kinh bất thường nào
* Co giật do sốt có biến chứng là co giật do sốt mà:
- Xảy ra cục bộ hoặc thiên về một bên
- Các cơn kéo dài
- Xảy ra nhiều lần trong ngày
- Có triệu chứng thần kinh bất thường sau khi đã hết cơn giật
Trang 111.2.Lịch sử nghiên cứu co giật do sốt
Co giật do sốt cùng dà dirợc dè cập dến trong y văn của người Babylon
từ năm 2080 Trước Công Nguyên Hypocrates cùng đã mô tà rõ ràng hộichứng này trong tụp sách cùa mình và nhấn mạnh: “Co giật sẵn sàng xảy ra ởtrẻ em dirới 7 tuổi nếu có hiện diện mộtbệnh sốt cấp tính, không xảy ra ờ trổlớn và người lớn” [10], [21]
Năm 1929, Berger phát minh ra máy đo điện não đồ, đã mở đường chonhững nghiên cứu sinh lý điện học Albert và Ellen Grass đã đưa ra thị trườngchiêc máy đo điện não có bộ phận khuyếch đại đầu tiên, giúp cho các thâythuôc thực hành hàng ngày cũng có thể trực tiếp ghi điện não cho bệnh nhân.Chính việc ghi hoạt động điện não đã trở thành một chìa khóa chẩn đoán độngkinh [4]
Năm 1949 Lennox đã có bài viết đầu tiên về lâm sàng, điện não đồ vàtiến triển của co giật do sốt Sau đó, nhiều bài báo về co giật do sốt tiếp tụcxuất hiện, song vào thời đó người ta cho rằng co giật do sốt có thể là một triệuchứng của nhiễm trùng nội sọ [4]
Năm 1973, M.Lennox - Buchtal đã viết cuốn “Co giật do sốt - sự đánhgiá lại”, trong đó đề nghị điều trị dự phòng co giật do sốt liên tục bằngPhénobarbital Tác giả này cho rằng co giật do sốt có thể gây thương tổn nãovĩnh viễn và nên điều trị dự phòng liên tục bằng Phénobarbital [21] Tuy nhiêntheo một số tác giả Phénobarbital lại có nhiều tác dụng phụ Vì vậy nhiềunghiên cứu sau đó đã đi vào hướng tìm biện pháp thay thế [25]
Tháng 5 năm 1980, một cuộc hội thảo để thống nhất về co giật do sốt đãđược tổ chức tại Viện Quốc Gia Sức Khỏe Hoa Kỳ Hội thảo đã bàn đếnnhiều vấn đề: định nghĩa, các yếu tố nguy cơ, tiến triển cũng như biện pháp
Trang 12điều trị dự phòng Từ đó, người ta bắt đầu chú ý đến tác dụng phụ của thuốckháng động kinh khi dược dùng liên tục ở trẻ bị co giật do sốt để dự phòng táiphát và dã đưa ra các chỉ định cụ thể hơn [5].
Tại Châu Á, trong các hội nghị về thần kinh Nhi khoa, vấn để co giật
do sốt cũng đã được bàn luận rất nhiều [19]
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu vê co giật do sốt,điện não đồ trong co giật do sốt như: Nguyễn Đình Thoại, Nguyên Bùi Bình,Phạm Thị Lệ Quyên và Nguyễn Văn Thắng [10, 5] [6]
- Theo Sheila J Wallace [22]:
+ Tẩn suất co giật do sốt nói chung cho mọi trẻ em là 3%
+ Tần suất co giật do sốt ở các trẻ mà có anh chị em cũng bị co giật do sốt là14%
+ Tần suất bị co giật do sốt ở các trẻ mà có cha hay mẹ cũng bị co giật do sốt
là 10-12%
+ Tần suất bị co giật do sốt ở các trẻ mà có cha hay mẹ bị động kinh là 5%
Trang 13- Theo Lê Đức Hinh và cộng sự (1994) thì tỷ lệ co giật do sốt là 3% tính chođến 5 tuổi [3].
Ở Việt Nam theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Thoại (2000) chothấy co giật do sốt gặp ở trẻ dưới 3 tuổi (93,75%) tỷ lệ cao nhất ờ nhóm 12-
24 tháng(49,43%) Tuổi khởi phát trung bình là 18,43 tháng [5]
Cao Xuân Đĩnh (2007) nghiên cứu trên 328 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ trẻ
bị co giật ở nhóm tuổi dưới 36 tháng là 70,43%, chủ yếu ở nhóm 12- 24 tháng(46,65%) Tuổi khởi phát trung bình là 16,68 tháng [8]
Tuổi khởi phát cũng liên quan đến mức độ nặng nhẹ của cơn giật [8]
Tỷ lệ co giật nặng chiếm 30% ờ nhóm tuổi từ 3- 13 tháng, 15% từ 14- 18tháng và 9% ở nhóm trên 3 tuổi [8]
1.3.4 Thời gian mắc bệnh trong năm
Trang 14Co giật do sốt cao đơn thuần xảy ra trong bệnh cảnh gây nên sốt, có thể gây ratheo mùa.
Ở Nhật Bản, một nghiên cứu về co giật do sốt cho thấy hai đỉnh của tỷ lệmắc, tháng 11 đến tháng 1 và tháng 6 đến tháng 8, tương ứng với các đỉnhnhiễm trùng đường hô hấp trên và nhiễm trùng đường tiêu hóa[17]
Một nghiên cứu được thực hiện ở Ý, đã xem xét 188 co giật do sốt lần đầu,cho thấy có sự gia tăng đáng kể về co giật do sốt từ 6 giờ chiều đến 11:59 tối
và cao điểm theo mùa vào tháng 1[26] Đã được nhiều các nghiên cứu đã ủng
hộ kết luận rằng co giật do sốt có cực đại vào mùa đông và cuối mùa hè[39],[32]
Theo Cao Xuân Đĩnh (2007) thân nhiệt trung bình khi xuẩn hiện co giật
là 39,25°c Co giật chiếm tỷ lệ nhiều nhất ờ mức thân nhiệt từ 39 - 40°c, thânnhiệt dưới 39°c là 22,26 % và mức thân nhiệt trên 40°c là 5,79 % [8]
Thời gian từ khi sốt tới khi co giật: cơn co giật thường xuất hiện sớmtrong ngày đầu của sốt Theo Nguyễn Đình Thoại (2000) tỷ lệ cơn giật xuất
Trang 15Co giật do sốt chiếm 1,69% sổ trê vào viện và 1,93% bệnh nhi trong độtuôi 1 tháng đốn 5 tuổi, chiếm 40,36% tổng số các nguyên nhân gây co giậtthường gặp ỡ trẻ 1 tháng dến 5 tuổi và 18,11% trẻ 1 tháng đến 15 tuổi[6].
* Đặc điểm cơn co giật sốt cao đơn thuần
Cơn giật thường xuất hiện đột ngột, không có tiên triệu, thương xay ralúc thân nhiệt đang tăng, đặc biệt lúc tăng đột ngột, co giật cũng co the xuathiện lúc thân nhiệt đang giảm, một số trường hợp xuât hiện ờ nhiẹt đọ thaphơn nhiệt độ ban đầu [28]
Co giật xảy ra sớm trong đợt sốt, thường là co giật toàn thể, dưới dạngcơn co cứng, trương lực hoặc cơn rung giật hoặc co cứng - co giật [8]
Cơn co giật thường ngắn, khoảng 1- 2 phút, có trường hợp chỉ 10 giây, ítkhi co giật kéo dài trên 10 phút [8]
Theo nghiên cửu của Nguyễn Đình Thoại (2000) cơn co giật ngắn dưới 5phút chiếm tỷ lệ 82,89%[5]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bùi Bình (2001) cho thấy trong cơn co giậttrẻ có thể tăng tiết đờm dãi, tím môi và ít gặp đại tiểu tiện không tự chủ, mất ýthức hoặc ngừng thở Sau cơn co giật trẻ tỉnh, một số ít lú lẫn, ngủ nhưngđánh thức dậy thì trẻ tỉnh hoàn toàn [10]
Cơn co giật do sốt đầu tiên có vai trò quan trọng trong tiên lượng nếucơn co giật lần đầu xuất hiện sớm, thời gian cơn giật kéo dài thì nguy cơ táiphát, chuyển thành cơn động kinh sẽ tăng lên, đặc biệt khi bệnh nhân có tiền
sử gia đình có người động kinh hoặc tiền sử bẩt thường lúc sinh [38, 18]
Trang 16Trong một đợt co giật do sốt, trẻ có thể bị một hoặc nhiều cơn co giật.Theo nghiên cứu của Cao Xuân Đĩnh (2007) khoảng trên 60% trẻ có trong đợt
co giật do sốt, khoảng 30% trẻ có 2 cơn co giật trong đợt [8]
Trang 171.4.2.Cận lâm sàng
Đến nay chưa có một xét nghiệm đặc hiệu nào cho chẩn đoán co giật dosốt, các xét nghiệm chủ yếu là để định hướng và loại trừ giúp tìm nguyênnhân gây sốt Vì vậy các xét nghiệm liên quan đến sốt cũng như xác địnhnguyên nhân gây co giật phải được đặt lên hàng đầu [10, 8]
+ Tổng phân tích tế bào máu.: Đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn của bệnhnhân thông qua số lượng bạch cầu tăng, bạch cầu đa nhân trung tính tăng.+ Trẻ thiếu máu khi : Hb< 110g/l
Mức độ thiếu máu:
● Nhẹ 90 < Hb <110 g/l; vừa 60 < Hb < 90 g/l;
● nặng 30 < Hb < 60 g/l; rất nặng Hb <30 g/l
+ Sinh hóa máu:
+ Đường máu: thường cao do tăng phân hủy colagen dưới ảnh hưởng của sựgiải phỏng adrenergic, đồng thời có thể loại trừ nguyên nhân co giật do hạđường huyết
+ CRP: đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn
+ Điện giải đồ, calci ion: đánh giá loại trừ co giật do nguyên nhân rối loạnđiện giải
+ Các xét nghiệm định hướng nguyên nhân khác:
+ Dịch não tủy: Chọc dịch não tuỷ khi nghi ngờ viêm não, viêm màng não:làm xét nghiệm sinh hóa, tể bào, vi sinh Nhằm xác định các nhiễm khuẩn
Trang 18thần kinh vì co giật kết hợp với sốt có thể là biểu hiện đầu tiên của mộtnhiễm khuẩn thần kinh.
+ Điện não đồ: Điện não đồ trước đây thường được dùng để đánh giá khảnăng tải phát hay tiến triển thành động kinh của co giật do sốt Tuy nhiêngần đây một só nghiên cứu đã chỉ ra rằng điện não đồ trong đợt co giật dosốt không giúp ích nhiều cho tiên lượng và có thể gây nhầm lẫn Vì vậycác tác giả khuyên không nên dùng điện não đồ để quyết định điều trị dựphòng hay không
+ CT-Scanner, MRI: Xét nghiệm này thường được chi định trong trường hợpbệnh nhân có triệu chứng thần kinh như liệt khu trú, tăng áp lực nội sọnghi ngờ có khối choáng chỗ, dùng để loại trừ nguyên nhân gây co giật
1.5.Sinh lý bệnh co giật do sốt.
Bảng 1.1 Các tiêu chuẩn phân biệt co giật do sốt
Đặc điểm
Co giật do sốt đơn thuần
Co giật do sốt phức
tạp
Tuôi măc bệnh 6 tháng - 5 tuổi Bất kỳ
Thân nhiệt Trên 39°c Dưới 39°c
Tính chất co giật Lan tỏa Lan tỏa hoặc khu trúThời gian co giật Ngắn, dưới 10 phút Dài, trên 20 phút
Tần số co giật ít, 2-4 lần Tái diễn nhiều lần
Yểu tổ gia đình Không Có người động kinhNước não tùy Bình thường Biến đổi
Điện não đồ ngoài cơn Bình thường Có biến đổi
Trang 19Theo Viện quốc gia về sức khỏe Hoa Kỳ (1980) đã định nghĩa [19]:
- Co giật do sốt phức tạp là co giật do sốt mà:
+ Giật khu trú
+ Hoặc kéo dài trên 15 phút
+ Hoặc có hơn hai cơn giật trong một đợt sốt
- Co giật do sốt đơn thuần là co giật do sốt mà:
+ Cơn co giật toàn thể
+ Cơn ngắn dưới 15 phút
+ Chỉ có < 2 cơn trong một đợt sốt
Một đặc điểm cơ bản của điều hòa thân nhiệt ờ trẻ em là trung tâm điềuhòa thân nhiệt chưa trường thành, dễ bị tác động, dỗ sốt cao ngay cả khi cónhiễm trùng nhẹ hay ngược lại, diện tích da của trẻ (theo cân nặng) lớn hơn,mạng mao mạch dưới da nhiều hơn so với người lớn nên thân nhiệt trẻ em dễ
bị ảnh hường bởi nhiệt độ môi trường, do cơ thể trẻ em đang phát trien, trẻluôn hiếu động nên quá trình sinh nhiệt cũng cao hơn Vì vậy so với người lớnthì trẻ em dễ bị sốt và thường sốt cao hơn[7]
Trẻ em từ 6 tháng đến 3 tuổi có tỷ lệ co giật do sốt cao nhất, đây là thời
kỳ biệt hóa, myelin hỏa dần các nơron Ở tuổi này, khi nhiệt độ cơ thể tăng l°c
sẽ làm chuyển hóa cơ bản tăng 15% [5]
Trang 20Ngoài ra người ta còn nghi ngờ có sự thiểu hụt trong hệ thông enzym ởnão của trẻ bị co giật do sốt: giảm hoạt động enzym adenosin triphotphatase gâygiảm phosphoryl hóa, giảm gama amino butyric acid (GABA) [33, 30, 34].
1.6 Các nguyên nhân trực tiếp gây sốt
Theo nghiên cứu của Ganesh R và cộng sự (2008) nhiễm trùng đường hôhấp là nguyên nhân thường gặp nhất gây sốt ở trẻ co giật do sốt như viêmphổi 16%, viêm tai giữa 15% và viêm phê quản 12 %[29, 31]
Tại Việt Nam các nghiên cứu cũng cho thây nguyên nhân gây co giật dosốt ở trẻ em chủ yểu là nhiễm khuẩn đường hô hâp trên[10, 5]
Theo Cao Xuân Đĩnh (2007) thì 86,59% trường hợp co giật do sốt là donhiễm khuẩn đường hô hấp trên [8]
Theo Phạm Thị Lệ Quyên và Nguyễn Văn Thắng (2006) thì 86,59%trường họp co giật do sốt là do nhiễm khuẩn đường hô hâp trên[6]
1.7 Điều trị và tiên lượng co giật do sốt cao đơn thuần
Trang 21+ Đặt bệnh nhân nằm ngừa, nghiêng đầu về một bên.
+ Đặt Canuyn Mayor hoặc chèn gạc giữa hai hàm răng (nếu đang co giật).+ Hút đờm dãi; Cho thở oxy để đạt Sp02 92-96%
+ Đặt nội khí quản nểu thất bại với thở oxy hoặc có cơn ngừng thở
- Cắt cơn co giật [15] [12].
+ Diazepam: 0,2 mg/kg/liều tiêm tĩnh mạch chậm (chuẩn bị sẵn bóng, mask
đề phòng ngừng thở) Nếu không tiêm tĩnh mạch được có thể dùng quađường hậu môn với liều 0,5mg/kg/liều Nếu không cắt giật có thể lặp lạiliều thứ 2 sau 10 phút, tối đa 3 liều
+ Hoặc Midazolam liều 0,1 - 0,15 mg/kg/lần tiêm tĩnh mạch chậm, có thểlặp lại liều trên sau 10 phút nếu không đáp ứng
+ Phenobarbital: liều 15-20 mg/kg truyền tĩnh mạch trong 30 phút, trẻ sơsinh ưu tiên dùng Sau 30 phút còn co giật thì có thể lặp lại liều thứ hai10mg/kg
Nếu cơn co giật vẫn tiếp tục hoặc tái phát [12, 15]
+ Phenytoin 15-20mg/kg truyền tĩnh mạch chậm trong 30 phút, liều duy trì5-10 mg/kg/24h tĩnh mạch chậm chia 3 lần, chú ý theo dõi sát huyết ảp.+ Nếu không có Phenytoin: Phenolbarbital 15 - 20mg/kg tĩnh mạch chậmtrong 30 phút.
+ Nếu vẫn thất bại dùng Diazepam truyên tĩnh mạch, liêu khơi đau0,25mg/kg tĩnh mạch, sau dó 0,lmg/kg/giờ truyền tĩnh mạch
Trang 22- Điều trị sốt:
+ Khi trẻ sốt chú ý hạ nhiệt bằng chườm ấm
+ Paracetamol 10- 15 mg/kg/lần, uống hoặc đặt hậu môn (nêu trẻ khônguông được) khi sốt trên 38,5°c, mồi lần cách 4-6 tiếng
+ Bổ sung đủ nước bằng đường uống hoặc đường tĩnh mạch khi trẻ sốt cao.+ Chú ý trấn an gia đình và hướng dẫn cẩn thận cho gia đình vê các biệnpháp hạ sốt vật lý như cho trẻ mặc thoáng, cho trẻ uống nhiều nước,chườm ẩm
1.7.2.Tiên lượng.
Các nghiên cứu cho thấy co giật do sốt là một rối loạn lành tính và cótiên lượng tốt [11, 15]
Trang 23Chương 2: ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cúu
Tất cả bệnh nhi vào điều trị tại bệnh viện Trẻ em Hải Phòng từ01/02/2018 đến 01/02/2019 được chẩn đoán co giật do sốt
Tiêu chuẩn chần đoán co giật do sốt đơn thuần: dựa theo tiêu chuẩn củaViện quốc gia về sức khỏe Hoa Kỳ [31]:
+ Cơn co giật toàn thể
+ Cơn ngắn dưới 15 phút
+ Chỉ có <2 cơn trong một đợt sốt
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Những trẻ có co giật không kèm theo sốt hoặc có sốt mà không kèm
co giật, các trường hợp co giật do sốt phức tạp
+ Tiền sử đã được chẩn đoán động kinh hoặc sốt giật phức tạp nhiềulần
+ Những trẻ có sốt, co giật do bệnh nhiễm trùng hệ thần kinh (viêmmàng não mủ, não viêm, áp xe não, ), hoặc do rối loạn chuyển hóa(hạ Natri máu, hạ canxi máu, hạ magne máu, hạ đường huyết), hoặc
do ngộ độc, chấn thương sọ não kèm theo
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh Viện Trẻ Em Hải Phòng, trongkhoảng thời gian từ 01/02/2018 đến 01/02/2019
Trang 242.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiểt kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu và tiến cứu
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Chọn mẫu thuận tiện: Chọn tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa chọntrong thời gian nghiên cứu
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm lâm sàng
Chúng tôi tiến hành tham khảo bệnh án điều trị, hỏi bệnh trực tiếp giađình bệnh nhân để khai thác các thông tin về tiền sử, bệnh sử Thực hiệnkhám lâm sàng ở tất cả các trẻ trong nhóm nghiên cứu để tìm nguyên nhângây sốt
Hỏi bệnh:
+ Tuổi: tuổi của trẻ được tính bằng cách lấy ngày, tháng, năm sinh cùa trẻ+ Giới: nam, nữ
+ Địa dư: nội thành, ngoại thành
+ Tiên sử: tiền sử co giật do sốt
+ Các đặc điểm của đợt sốt này bao gồm:
• Thân nhiệt của trẻ khi co giật (bao nhiêu °C)
• Khoảng cách từ khi sốt đến khi co giật (khoảng bao nhiêu giờ)
Trang 25+ Các đặc điểm của cơn co giật bao gồm:
• Tính chất cơn co giật (co giật toàn thân hay cục bộ)
• Thời gian mỗi cơn giật (khoảng bao nhiêu phút)
• Số cơn co giật (bao nhiêu cơn)
Khám bệnh: Do bác sỹ chuyên khoa Nhi đảm nhiệm
- Lấy nhiệt độ: chúng tôi dùng nhiệt kế thủy ngân thông dụng Đối vớitrẻ nhỏ dưới 3 tuổi thì lấy nhiệt độ hậu môn, thời gian lưu nhiệt kế là 3 phút.Còn với trẻ từ 3 tuổi trờ lên thì cặp nhiệt kế ờ nách, thời gian cặp là 5 phút
- Khám lâm sàng thần kinh: thăm khám để loại trừ các nhiễm khuẩn thầnkinh.: Ý thức (tỉnh hay li bì); dấu hiệu liệt khu trú, dấu hiệu màng não, biểuhiện thiểu năng tinh thần vận động
- Khám toàn thân và các bộ phận khác để xác định nguyên nhân gây sốt
Trang 262.3.2 Cận lâm sàng.
- Xét nghiệm tại các khoa phòng chẩn đoán hình ảnh,hóa sinh, vi sinh,huyết học
2.4 Thu thập và xử lý số liệu
2.4.1 Công cụ thu thập số liệu
Mỗi bệnh nhân có một mẫu bệnh án nghiên cứu
2.4.2 Quy trình thu thập số liệu
Chọn đối tượng nghiên cứu
Hỏi bệnh, thăm khám lâm sàng, điều tra bệnh án có sẵn
2.4.3 Quy trình xử lý số liệu và khống chế sai số
2.5 Biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
*Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: chia 5 nhóm.: 03 - < 12 tháng ;12 - < 24 tháng; 24 - < 36 tháng;
36 - < 48 tháng ; 48-60 tháng
Trang 27- Đặc điểm cơn co giật
+ Số cơn giật trong 24 giờ đầu: chia thành 2 nhóm:1 cơn; 2 cơn co giật.+ Thời gian kéo dài cơn co giật:3 nhóm: <2 phút; 2 - < 5 phút.; 5 -< 15 phút;không rõ thời gian
- Tình trạng ý thức sau cơn co giật: tình táo hay ngủ li bì
- Công thức máu: theo tiêu chuẩn của Tổ Chức Y Tế Thế Giới dựa trên sốlượng hemoglobin (Hb) phân loại thiếu máu ở trẻ từ 2 tháng đến 6 tuổi khihemoglobin <110 g/l
- Nguyên nhân gây sốt dẫn đến co giật: nhiễm khuẩn hô hấp trên, nhiễmkhuẩn hô hấp dưới, viêm tai giữa cấp, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩnđường tiêu hóa, tiêu chảy cấp, sốt sau tiêm phòng và các nguyên nhânkhác
2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý và phê duyệt của hội đồng đánh giá đềcương trường Đại Học Y Dược Hải Phòng và Bệnh Viện Trẻ Em Hải Phòng