Trong mỗi trang văn của mình, các tác giả thường thông qua nhân vật để miêutả thế giới con người và đồng thời gửi gắm tư tưởng, quan niệm, triết lí nhân văn...Như vậy, hình tượng nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -PHẠM THỊ PHƯƠNG HOA
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
QUA THÁNH TÔNG DI THẢO, TRUYỀN KỲ MẠN LỤC,
TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ VÀ LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Hµ Néi - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -PHẠM THỊ PHƯƠNG HOA
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ
QUA THÁNH TÔNG DI THẢO, TRUYỀN KỲ MẠN LỤC,
TRUYỀN KỲ TÂN PHẢ VÀ LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thanh
Hµ Néi - 2015
LỜI CẢM ƠN
Trang 3Để hoàn thành luận văn này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.
TS Vũ Thanh, người đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho em trongsuốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn tập thể các nhà khoa học, quý thầy cô trong khoaNgữ Văn - Trường ĐHSP Hà Nội đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quãng thời gian học tập trêngiảng đường không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn mà còn là hànhtrang quý báu để em bước vào cuộc sống một cách vững chắc và tự tin
Trong quá trình viết luận văn, bản thân em đã hết sức cố gắng nhưng dokhả năng, vốn kinh nghiệm nghiên cứu và thời gian có hạn nên luận văn khôngtránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ýcủa các nhà khoa học, các thầy, cô để luận văn của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phương Hoa
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
TTDT : Thánh Tông di thảo
TKML : Truyền kỳ mạn lục
TKTP : Truyền kỳ tân phả
LTKVL : Lan Trì kiến văn lục
TCVH : Tạp chí Văn học
Nxb : Nhà xuất bản
Ví dụ [6, 90] : được trích dẫn ở trang 90, tài liệu số 6 trong mục tham khảo
Ví dụ [8] : được trích dẫn ở tài liệu số 8 trong thư mục tham khảo
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi tư liệu nghiên cứu 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Cấu trúc của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 9
1.1 Giới thuyết khái niệm 9
1.1.1 Sự vận động 9
1.1.2 Truyện truyền kỳ và đặc trưng thể loại 10
1.2 Sơ lược về vai trò người phụ nữ trong văn hóa truyền thống và theo quan niệm Nho giáo 13
1.2.1 Vị trí người phụ nữ trong văn hóa Việt 13
1.2.2 Vị trí người phụ nữ theo quan niệm Nho giáo 15
1.3 Hình tượng người phụ nữ trong văn xuôi trung đại 16
1.4 Sơ lược về những tác giả tác phẩm TTDT, TKML, TKTP và LTKVL 21
1.4.1 TTDT - tác phẩm mở đầu của truyện truyền kỳ Việt Nam 21
1.4.2 TKML – đỉnh cao của sự phát triển thể loại 23
1.4.3 TKTP - bước cách tân ban đầu của thể truyền kỳ 24
1.4.4 LTKVL - bước cách tân vượt bậc của truyện truyền kỳ 27
Tiểu kết Chương 1: 28
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ QUA TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 29
2.1 Sự vận động của quan niệm về người phụ nữ qua các tập truyện 29
2.2 Sự vận động trong bản thân hình tượng người phụ nữ qua từng tập truyện 32
2.2.1 Điểm tương đồng 32
2.2.2 Điểm khác biệt 61
2.3 Lý giải sự khác biệt 66
Tiểu kết Chương 2: 70
Trang 6CHƯƠNG 3: SỰ VẬN ĐỘNG TRONG NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH
TƯỢNG NHÂN VẬT NGƯỜI PHỤ NỮ QUA TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL .72
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật người phụ nữ 72
3.1.1 Miêu tả ngoại hình 72
3.1.2 Tính cách 74
3.1.3 Đời sống nội tâm và hành động 76
3.1.4 Ngôn ngữ nhân vật 79
3.2 Nghệ thuật kể chuyện 83
3.2.1 Khái niệm điểm nhìn trần thuật 84
3.2.2 Các loại điểm nhìn trần thuật 85
3.2.3 Góc độ của điểm nhìn trần thuật qua từng tác phẩm 86
3.3 Những biến đổi trong quan hệ giữa yếu tố “kỳ” và “thực” qua các tập truyện 89
3.3.1 Quan hệ giữa “kỳ” và “thực” trong TTDT 89
3.3.2 Quan hệ giữa cái “kỳ” và “thực” trong TKML 93
3.3 Quan hệ giữa yếu tố “kỳ” và “thực” trong TKTP 96
3.3.4 Sự kết hợp giữa yếu tố “kỳ” và “ảo” trong LTKVL 99
3.4 Kết cấu 101
3.4.1 Sự giảm tải dần kiểu văn phong biền văn xen vận văn 101
3.4.2 Dung lượng tác phẩm và các kiểu kết cấu 105
3.4.3 Lời bình, lời bàn 106
Tiểu kết Chương 3: 108
PHẦN KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Văn học lấy con người là đối tượng trung tâm nên một trong những sợi dậynối kết quan trọng nhất giữa người sáng tác với độc giả chính là ở hình tượng nhânvật Trong mỗi trang văn của mình, các tác giả thường thông qua nhân vật để miêutả thế giới con người và đồng thời gửi gắm tư tưởng, quan niệm, triết lí nhân văn Như vậy, hình tượng nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong việc tìm hiểu,nghiên cứu tác phẩm văn học
Vấn đề người phụ nữ là vấn đề lớn của mọi thời đại, mọi nền văn học Phụnữ có vai trò rất quan trọng trong đời sống và sự phát triển của xã hội loài người.Lấy nguồn cảm hứng sáng tạo từ hiện thực đời sống, các tác giả đã cảm nhận đượcnỗi đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến như là một định mệnh tấtyếu vậy Vì vậy đề tài này xuyên suốt trong các sáng tác văn học
Ở thế kỷ thứ XV trở đi, khi mà hoàn cảnh lịch sử - xã hội có nhiều thay đổi,quan niệm về con người cũng thay đổi Con người được coi là chuẩn mực củacái đẹp Vấn đề con người được đặt lên hàng đầu thì người phụ nữ lại càng cầnđược lưu tâm hơn bao giờ hết Viết về đề tài này, rất nhiều cây bút đã khẳngđịnh vị trí của mình trong lịch sử dân tộc như: Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ,Đoàn Thị Điểm, Vũ Trinh, Hồ Xuân Hương… cùng với các tác phẩm xuất sắcnhư: Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn mục, Truyền kỳ tân phả, Lan Trì kiếnvăn lục, thơ Hồ Xuân Hương…
Truyện truyền kỳ là một trong những thành tựu văn học độc đáo của cácquốc gia khu vực Viễn Đông thời trung đại Ra đời ở Trung Quốc nhưng ngay khi
“di thực” sang Việt Nam, thể loại này đã khẳng định được vị trí của nó, đánh dấubước nhảy vọt về chất cho văn xuôi tự sự nước ta trên cả hai phương diện nội dung
và nghệ thuật
Người phụ nữ là một trong những hình tượng trung tâm của các truyệntruyền kỳ Việc nghiên cứu về hình tượng người phụ nữ trong từng tác phẩm sẽ giúpngười nghiên cứu phát hiện ra nhiều vấn đề về thể loại, tác giả và tác phẩm Nghiêncứu về hình tượng này đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ, song lại chưa có
Trang 8một công trình nào đề cập một cách trọn vẹn, chuyên biệt về hình tượng người phụnữ xuyên suốt truyện truyền kỳ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII Do đó, việc chọn
nghiên cứu đề tài: “Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua TTDT,
TKML, TKTP và LTKVL” với mong muốn đi sâu vào nghiên cứu hình tượng người
phụ nữ theo sự vận động của tính cách nhân vật và sự phát triển thể loại Từ việc soichiếu hình tượng nghệ thuật này dưới các góc độ văn hóa, lịch sử, xã hội để thấyđược số phận của người phụ nữ cũng như những phẩm chất đáng quý của họ trongthời đại bấy giờ Qua đó nâng lên thành những luận điểm khái quát về sự vận độngcủa trào lưu nhân văn, nhân đạo chủ nghĩa khi viết về hình tượng người phụ nữ.Đồng thời, thấy được sự vận động ở cả chiều sâu phương diện nội dung lẫn nghệthuật, từ bước cách tân trong quan niệm về người phụ nữ, sự chuyển biến của yếu tố
kỳ và ảo trong thể loại truyền kỳ cũng như bước phát triển hay thụt lùi của thể nàytrên dòng chảy văn học dân tộc
2 Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử văn học nhân loại, những vấn đề có liên quan tới vị trí, vai trò,
số phận người phụ nữ luôn luôn được dành một sự chú ý đáng kể Viết về ngườiphụ nữ là cảm hứng chủ đạo trong rất nhiều tác phẩm văn học Do vậy, việc nghiêncứu về hình tượng người phụ nữ trong văn học nói chung và truyện truyền kỳ nóiriêng đã thu hút sự quan tâm của nhiều độc giả
Văn học trung đại là một giai đoạn văn học có nhiều biến động thăng trầmnhất trong lịch sử dân tộc ta và cũng là giai đoạn nở rộ với nhiều hình tượng nhânvật được kể đến như: hình tượng quan lại, hình tượng thương gia lái buôn, hìnhtượng nho sĩ, hình tượng thần linh ma quái… và đặc biệt là hình tượng người phụnữ - nhân vật bị coi là dưới đáy xã hội Điển hình cho những tác phẩm này ở giaiđoạn văn học thế kỷ XV - XVIII, hình tượng người phụ nữ hiện lên một cách tươngđối đầy đủ và toàn diện cả về vẻ đẹp tâm hồn, lẫn tài năng trí tuệ và luôn là mộttrong những hình tượng trung tâm của các truyện truyền kỳ Có thể kể đến những
tác phẩm văn học như: Thánh Tông di thảo (TTDT) - tương truyền của Lê Thánh Tông, Truyền kỳ mạn lục (TKML) của Nguyễn Dữ, Truyền kỳ tân phả (TKTP) của Đoàn Thị Điểm và Lan trì kiến văn lục (LTKVL) của Vũ Trinh.
Trang 9Bên cạnh đó, lịch sử của nền văn học dân tộc cũng cho thấy truyện truyền kỳ
là một thể loại văn học có một quá trình phát triển với những thăng trầm biến độngnhưng bằng chính giá trị đích thực của mình, truyện truyền kỳ đã chiếm được vị tríquan trọng trong nền văn học dân tộc Trong những năm gần đây đã có nhiều côngtrình nghiên cứu của các tác giả về các tác phẩm văn xuôi tự sự trung đại có liênquan tới vị trí, vai trò, số phận của người phụ nữ như:
Năm 1962, tác giả Hoàng Hữu Yên căn cứ vào bản dịch của Ngô Lập Chi và
Trần Văn Giáp đã giới thiệu tác phẩm Truyền kỳ tân phả tới bạn đọc Trong cuốn
sách này, tác giả căn cứ vào tác phẩm chính bằng Hán văn, được lưu giữ tại thư việnKhoa học nhà nước, nhà xuất bản Lạc Thiện Đường, in năm Gia Long thứ 10
(1811) giới thiệu với độc giả bốn truyện Hải Khẩi linh từ, An Ấp liệt nữ, Vân Cát
thần nữ, Bích Câu kỳ ngộ và tóm tắt đại ý hai truyện Long hổ đấu kỳ, tùng bách thuyết thoại Tác giả Hoàng Hữu Yên đã nhận định tác phẩm như sau: “Đọc Truyền
kỳ tân phả ai cũng dễ nhận thấy bốn truyện chúng tôi giới thiệu đều mang màu sắc
hoang đường quái dị Phần thành công căn bản là sự nhất quán chủ đề tư tưởng của các truyện trong tác phẩm Tác giả hết lời ngợi ca tình yêu và nhiệt tình đề cao đạo đức, tài hoa của người phụ nữ” và chỉ ra hạn chế của tác phẩm “Các truyện kể nói chung nặng nề Tác giả nhiều khi nhẹ về kể chuyện, nặng về phô trương kiến thức, vì vậy mà câu chuyện kém phần hấp dẫn, nữ sĩ muốn đưa vào tác phẩm tài chơi chữ, tài xướng họa thơ văn và dùng điển cố Câu chuyện phát triển trường thiên về kể sự việc mà thiếu đi sâu vào đời sống nội tâm của nhân vật” [55,12] Trên cơ sở đó, tác giả đã tiến hành phân tích sơ lược một số
khía cạnh thuộc về phương diện nội dung tác phẩm Có thể nói đây là nhữngnhận định đầu tiên rất quý giá định hướng cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về hìnhtượng nhân vật nữ trong tác phẩm
Năm 1978, Bùi Duy Tân với bài viết: “Truyền kỳ mạn lục - một thành tựu
của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán” cũng đã có những nhận xét cụ thể về các
truyện trong tập truyện của Nguyễn Dữ: “Các truyện Chuyện nghiệp oan của Đào
Thị, Chuyện nàng Túy Tiêu… phản ánh quan niệm sống với khát vọng hạnh phúc chính đáng khi miêu tả những cặp trai gái công khai yêu nhau” [33,58].
Trang 10Năm 1978, Nguyễn Đăng Na trong công trình nghiên cứu: “Sự phát triển
truyện văn xuôi Hán – Việt từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XVIII đầu XIX qua một số tác phẩm tiêu biểu” tác giả đã dành những lời lẽ đánh giá cao về chủ đề tình yêu
của tác phẩm: “Trong Truyền kỳ tân phả Đoàn Thị Điểm dựng lên một thế giới
nhân vật, trai gái, tiên và tục đều coi tình yêu đôi lứa là lẽ sống duy nhất Còn tình, cuộc sống còn hương vị, hết tình thì hết muốn sống Do đó, tất cae cố tình tìm cách đạt hạnh phúc và không cam chịu thất bại chia lìa như nhân vật của Nguyễn Dữ Ở đây vấn đề hạnh phúc lứa đôi, tình yêu trai gái thật sự là đối tượng và mục đích của nghệ thuật” [20,121] Trên cơ sở nhận định đó, tác giả đã tiến hành phân tích
chủ đề tình yêu trong hai thiên truyện An Ấp liệt nữ và Vân Cát thần nữ, từ đó tác
giả đi tới khẳng định giá trị mang tính nhân văn sâu sắc của tác phẩm
Năm 1983, trong bài “Vũ Trinh và Kiến văn lục” trên Tạp chí Văn học
số 3, tác giả Nguyễn Cẩm Thúy bàn nhiều đến nội dung của tác phẩm, chủ yếu
là đề tài, chỉ ra đề tài chính: đề tài phụ nữ, đề tài giáo dục thi cử, đề tài ở hiền
gặp lành Tác giả cũng đi khẳng định: “Nói chung truyện của Vũ Trinh đều có ý
nghĩa xã hội” [47].
Đến năm 1989, Nguyễn Phạm Hùng trong bài “Sự xuất hiện khuynh hướng
trong văn học cổ” đã khẳng định lại: “Đặc điểm tiêu biểu của nội dung văn học thời
kỳ này là lấy con người làm mục đích phản ánh, là đề cao con người và đấu tranh cho con người, nhất là phụ nữ” [15].
Và cũng trong năm 1989, Trần Thị Băng Thanh trên Tạp chí Văn học số 6
- 1989 lại tiếp tục khám phá, nghiên cứu tác phẩm về mặt nội dung, tư tưởng với
bài “Vũ Trinh và Lan Trì kiến văn lục trong dòng truyện truyền kỳ Việt Nam” Nhà nghiên cứu khẳng định: “Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm là đề cao lòng
nhân hậu vị tha, đề cao tình yêu thủy chung, niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi, tình mẫu tử thiêng liêng” [41] Vẫn là nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh
nhưng sau đó trong bài: “Lan trì kiến văn lục in trong Truyện ngắn Việt Nam –
Lịch sử - Thi pháp – Chân dung do Phan Cư Đệ chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội
đã khẳng định ý tưởng nghệ thuật của Vũ Trinh trong tập truyện là: “Chủ yếu
nhằm mở rộng kiến văn cho mình, cho người, thông qua đó để chiêm nghiệm lẽ đời, lẽ trời, gửi gắm tâm sự, nỗi niềm về thân phận con người, về cuộc đời dâu
Trang 11bể và chút ước vọng mong manh nào đó ở mai sau” Đồng thời Trần Thị Băng
Thanh cũng nhắc đến “đội ngũ nhân vật trong Lan Trì kiến văn lục đông đảo, đa
thành phần nhưng nhìn chung mộc mạc”.
Tiếp theo đó, năm 1992, PGS TS Vũ Thanh với bài viết: “Những biến đổi
của yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam” đã có những nghiên
cứu về giá trị trong tác phẩm của Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ: “Thánh Tông di
thảo và đặc biệt là Truyền kỳ mạn lục sau này sẽ tạo ra một bước tiến mới theo
khuynh hướng ngày càng mở rộng khả năng sáng tạo nghệ thuật, mở rộng hạt nhân hiện thực vốn đã chứa đựng ít nhiều trong những tác phẩm truyền kỳ trước đó”
[42] Từ đó thấy được đóng góp của hai tác phẩm này trong tiến trình phát triển củathể loại truyện truyền kỳ Việt Nam
Và năm 1997, Nguyễn Đăng Na trong cuốn “Văn xuôi tự sự Việt Nam thời
trung đại” đã dành những ngôn từ đẹp nhât để đánh giá về TTDT và khẳng định:
“Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đã phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào
quỹ đạo nghệ thuật” [20,24].
Tuy nhiên, những bài viết, công trình vừa nêu ở trên đây chỉ là những nghiêncứu về hình tượng người phụ nữ mang tính riêng lẻ trong từng tác phẩm Cho đếnnay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổng quát, có tính hệthống và chuyên biệt về hình tượng người phụ nữ trong văn xuôi tự sự trung đại,cũng như xuyên suốt trong truyện truyền kỳ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua Thánh Tông di thảo,
Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả và Lan Trì kiến văn lục”.
Sự thành công của đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần thiết thực vào việc làm
rõ hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm văn học trung đại dưới các góc độvăn hóa, lịch sử, xã hội Đồng thời, thấy được số phận của người phụ nữ cũng nhưnhững phẩm chất đáng quý của họ trong thời đại bấy giờ, góp phần vào việc nghiêncứu hình tượng nhân vật này trong văn học giai đoạn thế kỷ XV- XVIII Từ đó, làmsáng tỏ một cách hệ thống sự phát triển của thế loại truyền kỳ và những cách tânmới mẻ của các tác giả ở từng giai đoạn khác nhau khi nhìn nhận, đánh giá về nhânvật người phụ nữ
Trang 12Trong đề tài này chúng tôi khảo sát nhân vật nữ trong từng tập truyện cụ thể:
- TTDT gồm 7 thiên truyện: Chuyện lạ nhà thuyền chài, Duyên lạ xứ hoa,
Chuyện tinh chuột, Một dòng chữ lấy được gái thần, Chuyện chồng dê, Chuyện yêu
nữ Châu Mai, Chuyện hai gái thần.
- TKML gồm 11 thiên truyện: Chuyện cây gạo, Chuyện đối tụng ở Long
cung, Chuyện nghiệp oan của Đào thị, Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện nàng Túy Tiêu, Chuyện Lệ Nương, Chuyện Lý tướng quân, Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây, Chuyện từ Thức lấy vợ tiên, Chuyện yêu quái ở Xương Giang, Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu.
- TKTP gồm 4 thiên truyện: Nữ thần Vân Cát, Đền thiêng ở cửa bể, An Ấp
liệt nữ, Cuộc gặp gỡ kỳ lạ ở Bích Câu.
- LTKVL gồm 10 thiên truyện: Sống lại, Đẻ lạ, Chuyện tình ở Thanh Trì,
Tháp Báo Ân, Ca kỹ họ Nguyễn, Liên hồ Quận công, Phu nhân Lan Quận công, Người con gái trinh liệt ở Cổ Trâu, Người đàn bà trinh tiết ở Thạch Hán, Trạng nguyên họ Nguyễn.
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm 32 nhân vật nữ của tổng số
88 truyện trong 4 tập truyện: TTDT, TKML, TKTP và LTKVL.
4.2 Phạm vi
Chúng tôi chỉ tập trung lựa chọn khảo sát các truyện tiêu biểu liên quan đếnhình tượng người phụ nữ trong bốn tập truyện của các tác giả: Lê Thánh Tông,Nguyễn Dữ, Đoàn Thị Điểm và Vũ Trinh Hiện nay, các tác phẩm có tồn tại nhiềubản dịch khác nhau, chúng tôi lựa chọn các bản dịch của các tác giả sau:
Trang 13- Lê Thánh Tông - Thánh Tông di thảo, do Nguyễn Bích Ngô dịch, Nxb
Văn hóa và Viện Văn học, Hà Nội, 1963
- Nguyễn Dữ - Truyền kỳ mạn lục, do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, Trần
Thị Băng Thanh giới thiệu và chỉnh lý, Nxb Văn học, Hà Nội, 1999
- Đoàn Thị Điểm - Truyền kỳ tân phả, do Ngô Lập Chi và Trần Văn Giáp dịch
và chú thích, Hoàng Hữu Yên giới thiệu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962
- Vũ Trinh - Lan Trì kiến văn lục, do Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb Hồng
Bàng, 2013
Ngoài ra, chúng tôi có tham khảo thêm một số truyện truyền kỳ khác để đốichiếu, so sánh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chỉ ra: Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua các tập truyện có liênquan đến đề tài trên hai phương diện chính là: nội dung và nghệ thuật
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng đồng bộ nhiều phương phápnghiên cứu, trong đó cơ bản nhất là ba phương pháp sau:
Trang 146.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Đây là phương pháp cơ bản, xuyên suốt đề tài giúp làm sáng tỏ những luậnđiểm, luận cứ đưa ra để đi tới những kết luận quan trọng
6.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để chỉ ra những điểm tương đồng và
khác biệt trong việc xây dựng đề tài viết về người phụ nữ trong TTDT tương truyền của Lê Thánh Tông, TKML của Nguyễn Dữ, TKTP của Đoàn Thị Điểm và LTKVL
của Vũ Trinh so với các tác phẩm của các tác giả nổi tiếng trước đó và trong cả tiếntrình lịch sử văn học trong và ngoài nước Đồng thời, qua đó thấy được sự biến đổicủa các nhân vật nữ trong các tác phẩm về quan niệm nghệ thuật
Ngoài những phương pháp trên, chúng tôi có sử dụng thêm thao tác thống
kê, phân loại Những phương pháp trên sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linhhoạt trong quá trình nghiên cứu
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo và Phụ lục, nội dungchính của luận văn được triển khai trên 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung
- Chương 2: Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua TTDT, TKML,
TKTP và LTKVL trên phương diện nội dung
- Chương 3: Sự vận động trong nghệ thuật xây dựng hình tượng người phụ
nữ qua TTDT, TKML, TKTP và LTKVL
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Giới thuyết khái niệm
1.1.1 Sự vận động
Sự vận động là một khái niệm mang tính lý luận được dùng để chỉ sự pháttriển và biến đổi liên tục của các sự vật hiện tượng, trào lưu, khuynh hướng khôngchỉ trong các ngành khoa học xã hội (văn học, sử học, địa lí) mà ngay cả trong lĩnhvực triết học thì khái niệm sự vận động càng thể hiện rõ nét hơn Theo Mác - Lênin:
“Vận động là sự tự thân, vận động của vật chất, được tạo nên từ sự tác động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật chất” [10,157] Còn theo
Ăngghen: “Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất (…) bao gồm tất cả mọi sự thay
đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến
tư duy” [10,15] Nói cách khác, vận động chính là một phương thức tồn tại của các
sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
Trong văn học, “sự vận động” được hiểu: Là sự biến đổi, thay đổi dựa trên
cơ sở tiếp thu cái mới, kế thừa cái cũ và loại trừ cái lạc hậu để đưa nền văn học sangmột trang mới phù hợp với từng giai đoạn lịch sử dân tộc, từng thời kì văn học Lịch
sử văn học dân tộc ta trải qua nhiều thời kỳ phát triển, tức là trải qua nhiều quá trìnhvận động ở nhiều thể loại khác nhau, đơn cử như: Thể truyền kỳ nước ta từ thế kỷ
XV đến thế kỷ XVIII đã có sự kế thừa và tiếp thu những tinh hoa của truyền kỳ khuvực mà tiêu biểu là thể truyền kỳ của Trung Quốc Thể truyền kỳ ngày càng bộc lộ
rõ sự vận động, phát triển của mình qua các giai đoạn văn học đặc biệt là về chủ đềđược mở rộng; đối tượng phản ánh gần gũi với cuộc sống, con người trần thế hơn;yếu tố kỳ - thực, kết cấu luân chuyển linh hoạt phù hợp với yêu cầu thời đại; lờibình, lời bàn về sau này được giảm tải và mất dần đi Đồng thời, chủ đề của thể loạitruyền kỳ giai đoạn sau cũng được mở rộng phạm vi hơn, không còn giới hạn trongchủ đề yêu nước mà mở rộng ra các chủ đề về gia đình, xã hội, tình yêu nam nữ mộtcách đậm nét Do vậy, có thể khẳng định rằng: càng giai đoạn sau thì sự vận độngtrong thể loại truyền kỳ càng rõ nét và trong hình tượng nhân vật, đặc biệt là nhânvật người phụ nữ trong các tập truyện của các tác giả truyền kỳ được thể hiện ở
Trang 16ngay quan niệm về người phụ nữ, quan niệm về tình yêu, tính cách, đời sống nộitâm Nếu yếu tố kỳ ảo trước đây là bút pháp chủ đạo trong các truyện thì ở giai đoạnsau nó giữ vai trò như yếu tố nền, làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, thu hút bạnđọc, thì yếu tố thực càng trở nên hiện thực gần gũi với đời sống hơn.
1.1.2 Truyện truyền kỳ và đặc trưng thể loại
a Khái niệm truyền kỳ
Truyện truyền kỳ có nguồn gốc từ truyện kể dân gian Trung Quốc, sau đóđược các tác giả ghi chép lại, nâng cao thành một thể loại trong văn học Từ điển
thuật ngữ văn học định nghĩa truyền kỳ là “thể loại tự sự ngắn cổ điển của văn học
Trung Quốc hình thành ở đời Đường (…) Kỳ có nghĩa là không có thực, nhấn mạnh tính chất hư cấu” [36,286] Các tác giả cuốn Từ điển văn học (bộ mới) giới thuyết
về khái niệm này đầy đủ, chi tiết hơn:“Một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung
Quốc, bắt nguồn từ truyện kể dân gian sau được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng những mô típ kỳ quái, hoang đường lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế (…) Tuy nhiên trong truyện bao giờ cũng có nhân vật là người thật, và chính những nhân vật mang hình thức phi nhân thì cũng chỉ là sự cách điệu, phóng đại của tâm lý, tính cách một loại người nào đấy, và vì thế truyện truyền kỳ vẫn mang rất đậm những yếu tố nhân bản, có giá trị nhân bản sâu sắc”
[36, 447]
Như vậy, các định nghĩa về thể loại này khá thống nhất Nhìn chung, các nhànghiên cứu đều đồng quan điểm truyền kỳ là một thể loại văn xuôi tự sự thời trungđại, được đặc trưng bởi tính chất hư cấu, kì lạ trong nhân vật, cốt truyện nhằm phảnánh hiện thực
b Sơ lược đặc trưng và các giai đoạn phát triển của truyện truyền kỳ Việt Nam
- Đặc trưng
Đặc trưng quan trọng nhất của truyền kỳ đó là sự kết hợp hòa quyện của haiyếu tố kỳ và thực Cái kỳ là một phạm trù mỹ học, được coi là đặc trưng tư duy củangười phương Đông và là thế giới quan thời kỳ cổ trung đại Không phải ngẫu nhiên
mà những tác phẩm nổi tiếng, tiêu biểu của phương Đông đều chứa đựng nhiều yếu
tố kỳ Cái kỳ trong truyện truyền kỳ đã phát triển từ thụ động đến tự ý thức, từ ảnhhưởng của văn học dân gian, sử ký, tôn giáo đến việc được nhà văn sử dụng như
Trang 17một thủ pháp nghệ thuật, một hạt nhân tự sự quan trọng trong kết cấu tác phẩm Kếthợp chặt chẽ với cái kỳ trong hạt nhân của thể loại là cái thực và xu thế phát triểntất yếu của truyện truyền kỳ là gia tăng yếu tố thực Tuy nhiên, cái kỳ không mất đi
mà hòa quyện chặt chẽ với cái thực trong một kết cấu thống nhất làm nên đặc trưngcủa thể loại Nếu truyện thiếu đi cái kỳ, truyện dễ trở thành truyện ký, thiếu cái thựctruyện truyền kỳ không thể vuợt khỏi giới hạn của chí quái Vai trò của yếu tố thực
và kỳ trong hạt nhân cơ bản của truyện sẽ biến đổi và có những đặc điểm riêng quatừng giai đoạn phát triển của thể loại
Đặc trưng thứ hai của truyện truyền kỳ, với tư cách là một thể loại văn học nghệthuật là sự kết hợp hài hòa nhiều thể loại văn chương Trong tác phẩm, bên cạnh cácthể văn xuôi còn bao gồm văn vần, thơ, phú… tạo nên một chỉnh thể thẩm mỹ
Một truyện truyền kỳ thường có dung lượng không lớn Vì vậy, PGS.TSNguyễn Đăng Na xếp truyền kỳ vào thể loại truyện ngắn Bố cục mỗi truyện thườngchia thành ba phần: mở đầu giới thiệu danh tính, nguồn gốc nhân vật; phần giữa kểlại hành trạng, cuộc đời nhân vật và phần kết khẳng định tính chân thực của câuchuyện Phần lời bình nằm cuối mỗi truyện cũng được xem là một bộ phận hữu cơtrong kết cấu chỉnh thể của thể loại
- Các giai đoạn phát triển
Truyện truyền kỳ từ khi ra đời trải qua 3 giai đoạn phát triển Nhưng tronggiới hạn nghiên cứu chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu truyện truyền kỳ giai đoạn 2 vàgiai đoạn 3 (tức từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX)
+ Giai đoạn hai: Từ thế kỉ XV đến hế kỉ XVI
Đây là giai đoạn phát triển và đạt đỉnh cao của thể truyền kỳ Việt Nam Ởgiai đoạn này, văn xuôi tự sự đã thực hiện một bước nhảy vọt dần thoát khỏi ảnhhưởng của văn học dân gian và văn học chức năng bằng một lối tư duy sáng tạonghệ thuật mới của người viết Lối ghi chép đơn thuần những thần tích, gia phả
trong các đền chùa kiểu Việt điện u linh tập và những sưu tầm, chỉnh lý tác phẩm văn học dân gian có sẵn kiểu Lĩnh Nam chích quái lục đã không còn là chủ đạo
trong các tác phẩm văn xuôi giai đoạn này Chúng ta thấy ở đây vai trò to lớn củacảm hứng sáng tạo với bút pháp nghệ thuật tinh tế hơn trong các truyện truyền kỳ,
tiêu biểu là hai tác phẩm: TTDT tương truyền của Lê Thánh Tông được xem là
Trang 18“bước đột khởi” (Vũ Thanh) và TKML của Nguyễn Dữ là đỉnh cao của thể loại Nói
như PGS.TS Nguyễn Đăng Na: “Nguyễn Dữ và Lê Thánh Tông đã phóng thành
công con tàu truyền kỳ vào quỹ đạo nghệ thuật: lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh” và ông khẳng: “thế kỉ XV - XVI là thế kỉ của truyện truyền kỳ” [ 21,20].
+ Giai đoạn ba: thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX
Sau khi đạt đỉnh cao ở giai đoạn thế kỉ XV - XVII, sang thế kỉ XVIII - XIX,văn xuôi tự sự lại tiến thêm một bước mới bằng những thành tựu to lớn của thể loại
kí và tiểu thuyết chương hồi, với khuynh hướng viết về “những điều trông thấy”
truyện truyền kỳ cũng có những bước chuyển mình rõ rệt theo khuynh hướng ấy.Các tác giả tiêu biểu của thời kỳ này quan niệm sáng tác truyền kỳ theo khuynh
hướng hiện thực là một sự “canh tân” Vì vậy, họ thể hiện quan niệm này ngay
trong nhan đề của tác phẩm Chẳng hạn như: TKTP của Đoàn Thị Điểm, Tân truyền
kỳ lục của Phạm Quý Thích, LTKVL của Vũ Trinh… Tuy nhiên, việc chú ý nhiều
đến tính chất hiện thực cuộc sống đã tước đi trong truyền kỳ đôi cánh kỳ diệu củatưởng tượng Bởi thế, sự cách tân mới mẻ này xét ở khía cạnh bút pháp nghệ thuật
nó thể hiện sự thụt lùi không còn phù hợp với tâm lý thời đại Còn trên phương diệnnội dung thì sự cách tân này lại có những bước tiến lớn về mặt dân tộc trong việcđịnh hình một lối viết của người Việt Chúng ta đã không còn thấy những ảnhhưởng trực tiếp từ bất cứ tác phẩm nào của văn học Trung Quốc Cho nên, khi đọctruyện, độc giả có cảm giác như những nhân vật, những số phận kia giống nhưnhững con người có thật ngoài đời Vì, càng trung thành với nguyên mẫu hiện thựcbao nhiêu thì đôi cánh truyền kỳ càng bị cột chặt bấy nhiêu Do vậy, không thể đưangười đọc vào một thế giới huyền ảo, huyễn hoặc đậm chất truyền kỳ
Cuối thế kỷ XIX là giai đoạn chuyển giao giữa văn học trung đại và văn học cậnhiện đại Cùng với sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ và ảnh hưởng của văn học phươngTây, truyện truyền kỳ nói riêng và các thể loại văn học trung đại nói chung bị suy yếu
và kết thúc vai trò lịch sử của mình Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nhận thấy bóngdáng của nó trong bút pháp của thể loại này ở các tác phẩm văn học hiện đại
Trang 191.2 Sơ lược về vai trò người phụ nữ trong văn hóa truyền thống và theo quan niệm Nho giáo
1.2.1 Vị trí người phụ nữ trong văn hóa Việt
Thế kỉ XVI - XVIII, lịch sử đất nước có nhiều biến đổi cùng với sự tác độngmạnh mẽ của kinh tế - xã hội làm cho đời sống tinh thần dân tộc cũng có nhiều đổithay Lúc này, văn hóa truyền thống của dân tộc được phục hưng sau thời gian dài bịkìm kẹp bởi những tín điều khô cứng của Nho giáo
Xuất phát từ nền văn hóa nông nghiệp lúa nước trọng tình trọng tĩnh, chủ về
âm (rất coi trọng vai trò của người phụ nữ) định cư văn minh sinh sống quần tụquanh các làng, xã nên nảy sinh tâm lý cộng đồng Đây là điểm khác biệt so với nềnvăn hóa Trung Hoa, văn hóa du mục (du canh du cư), thiên về cái động (tức là nóitới sức mạnh của người đàn ông), chủ về dương nên coi trọng vai trò của đàn ông.Điều đó được thể hiện rất rõ ở tinh thần đoàn kết, yêu ghét phân minh Mặt kháccũng qua môi trường sinh hoạt văn hóa dân gian đã giúp cho con người có điều kiệntrở về với cuộc sống tự nhiên, dân chủ hơn Ở đó những điều lệ mà lễ giáo liệt vàohàng cấm kỵ, những khát vọng mang tính chất bản năng trần thế, niềm vui tự nhiêncủa con người có dịp được bộc lộ, tỏa sáng Đồng thời, những chuẩn mực mang tính
chính thống cũng đã bị “giải thiêng, phàm tục hóa” Trong giai đoạn này đã xuất
hiện những sản phẩm độc đáo mang tính phi chính thống thuộc nhiều lĩnh vực nghệthuật khác nhau như điêu khắc, hội họa Đó là những bức tranh Đông Hồ nổi tiếngnhư đánh ghen, hứng dừa …là những bức chạm khắc Rồng thú giao phối (ở chùaDiềm, ở Ninh Bình), trai gái đùa vui (ở đình Liên Hiệp, ở Hà Tây)…
Trong văn học, hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương là sự hồi phục mạnh mẽ củavăn hóa dân gian, nhất là yếu tố của văn hóa phồn thực - qua ngôn từ đến nội dungthể hiện, những yếu tố dân gian đều xuất hiện đậm đặc và chiếm vị trí quan trọng
Tiếng cười trong thơ bà “thấp thoáng hội hè phong tục, trí tuệ, tiếng cười dân gian,
tín ngưỡng phồn thực”, khát vọng sống đời thường của người phụ nữ Do đó, Xuân
Hương được mệnh danh là người đàn bà “lệch chuẩn”, “đứa con lạc loài của Nho
giáo” thời bấy giờ.
Bên cạnh sự trở về của văn hóa Việt, là truyền thống tôn trọng phụ nữ.Người phụ nữ Việt Nam trong truyền thống, vốn không phải sống với quan niệm
Trang 20“tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” và cũng không phải là loại
người thuộc hạng tiểu nhân “nan hóa” (Đây là quan niệm của Nho giáo Trung Hoa),
mà có thân phận rõ ràng trong làng, xã Người phụ nữ Việt Nam quán xuyến việcnhà, tham gia vào hoạt động của xã hội, có vai trò quan trọng hơn nam giới trongkinh tế, giáo dục gia đình Họ nắm tay hòm chìa khóa và nếu như ở nhiều nơi, sựbất bình đẳng bắt nguồn từ thờ cúng và nữ giới bị xem là nhơ bẩn thì ở đây trái lạinữ giới là đối tượng được tôn thờ và làm chủ thế giới siêu nhiên
Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, người phụ nữ trở thành Mẫu, chúanhư: Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, MẫuThoải, Bà chúa kho nghĩa là, trong văn hoá truyền thống con người rất tôn sùngĐạo Mẫu Và lẽ đó, vai trò, vị trí của người phụ nữ đương thời ấy rất được coitrọng, còn người đàn ông mờ nhạt hơn, hay nói cách khác là không được chú ý
nhiều Ngay trong ca dao có câu như: “lệnh ông không bằng cồng bà”, “nhất vợ nhì
trời”, “giàu vì bạn sang vì vợ” Vị trí của người phụ nữ, người vợ lúc này được
tôn trọng, đề cao hơn bao giờ hết Họ là những người một tay vun vén, lo toan mọiviệc trong gia đình sinh con đẻ cái, thực hiện thiên chức làm mẹ, nhân hậu, thuỷchung son sắt với chồng Họ cũng có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triểncủa gia đình, từ việc “thay anh phụng dưỡng mẹ già”, đến “dạy con đèn sách thiếp
là phụ thân”, rồi thì “nâng khăn sửa túi” cho chồng và đến ngay cả việc “dệt cửithêu thùa”, “rau heo cháo chó” cũng là một tay họ làm tất cả Không chỉ làm chỗdựa vững chắc cho chồng trên con đường phấn đấu mà họ còn là hậu phương chongười đàn ông yên tâm xây dựng nghiệp lớn
Những người phụ nữ ấy không chỉ đảm việc nhà mà họ còn rất giỏi việc nước.Trong những năm tháng đất nước bị giặc đô hộ tàn phá thì những người phụ nữ ấy đã
sẵn sàng đứng lên đánh giặc như một anh hùng bất khuất, gan dạ tiêu biểu như: Truyện
hai bà Trinh Linh phu nhân họ Trưng trong Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp
rồi tới các nhân vật có thực trong lịch sử: Bà Trưng, Bà Triệu, Dương Vân Nga, Ỷ Lan,Bùi Thị Xuân… và với khẩu hiệu “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Có thể thấy rằng,
vị trí của người phụ nữ trong văn hoá truyền thống là những con người đảm đang, tháovát, chăm chỉ, biết lo toan Thế nên họ xứng đáng được tôn thờ, được coi trọng, đượcphong là những Mẫu tiết nghĩa, khả hạnh…
Trang 21Như vậy, sau bao nhiêu thế kỷ bị Nho giáo chèn ép, sự phục hưng mạnh mẽcủa yếu tố văn hoá, đặc biệt sự phục hưng trở lại của mẫu hình người phụ nữ ViệtNam truyền thống đã ảnh hưởng rất lớn đến các lĩnh vực văn học - nghệ thuật thúcđẩy sự phát triển của truyện Nôm và làm thay đổi nội dung văn học mà còn làmchất liệu cho các thể loại khác phát triển trong đó có truyền kỳ.
1.2.2 Vị trí người phụ nữ theo quan niệm Nho giáo
Nho giáo là một học thuyết không những chỉ nổi tiếng ở phương Đông màcòn trên toàn thế giới Có rất nhiều vấn đề mà Nho giáo đặt ra nhưng tất cả vẫn quy
tụ về mối quan hệ giữa con người với con người Nho giáo đòi hỏi con người phảiluôn luôn xác định được mình đứng ở vị trí nào trong mối quan hệ gia đình, xã hội
và phải luôn luôn làm tròn bổn phận của mình
Xã hội phong kiến lấy đạo đức Nho giáo làm chuẩn mực khắt khe quy địnhmọi hành vi của bậc nữ nhi, nên người phụ nữ trong xã hội đó luôn bị “giam hãm
trong bức tường Nho giáo” Người phụ nữ phải tuân thủ đúng khuôn mẫu của “tam
tòng tứ đức”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Quan niệm Nho
giáo còn quy định “nam nữ thụ thụ bất thân” và người con gái phải có đủ bốn đức
“công - dung - ngôn - hạnh” Thậm chí pháp luật phong kiến lấy Nho giáo làm
chuẩn mực cũng rất khắt khe, nghiêm khắc đối với phận nữ nhi nếu người vợ trongthời gian để tang chồng mà tư thông với trai làm việc hôn giá và người nào lấyngười đàn bà ấy làm vợ đều phải chịu tử hình Đặc biệt Khổng Tử hạ thấp ngườiphụ nữ coi họ chỉ là nhân vật phụ, là loại không thể giáo dục được và cũng chẳng
nên cho đến trường Bởi vì theo ông “chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó ở cho vừa
lòng, gần thì họ khinh lơn, xa thì họ oán trách” [Luận ngữ] Đạo Nho đã đặt người
con gái ngang hàng với kẻ tiểu nhân, xem thường người phụ nữ Chính vì thế, ngườiphụ nữ trong xã hội xưa đã trở thành nạn nhân của chế độ gia trưởng nam tôn nữ ty,không được tham gia vào các hoạt động xã hội, không được ở trong bộ máy nhànước và đặc biệt không cho đi học để dễ sai bảo… Họ chịu thiệt thòi đủ đường cảngoài xã hội cũng như trong gia đình Những tư tưởng của Nho giáo đối với ngườiphụ nữ về bản chất là sự tước đoạt quyền lợi của nữ giới Thời nhà Chu, Nho giáo
đã phát huy đến cùng sự thắng lợi của cuộc cách mạng mà người ta đã gọi là “một
trong những cuộc cách mạng triệt để nhất mà loài người đã trải qua” (tức là cuộc
Trang 22cách mạng chuyển từ chế độ mẫu quyền sang chế độ phụ quyền) Người phụ nữ từchỗ là chủ gia đình và xã hội trở thành người bị giam hãm, áp bức Ngoài công việcnội trợ họ chỉ có vai trò sinh con đẻ cái, đặc biệt là phải sinh con trai để nối dõi tôngđường và giữ gìn gia tài tư hữu của gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác Chỉ biết
“sự”, “tùy” và “tùng” nên người phụ nữ không có và không được nhắc đến cái gọi
là quyền, cả quyền định vị cho hạnh phúc của mình cũng được phép quyết định Sốphận bất hạnh của họ dường như đã trở thành mẫu số chung cho cuộc đời nhữngngười phụ nữ trong xã hội phong kiến Họ phải chịu nhiều những đè nén, áp chế caynghiệt cả về thể xác lẫn tinh thần: làm con, làm vợ hay làm mẹ cũng đều bị sự ứchiếp của nam giới, của lễ giáo và của pháp luật
Như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể nhận thấy sự ảnh hưởng của Nhogiáo tới người phụ nữ rất đậm nét và nó không chỉ diễn ra ở đời sống thường nhật
mà ngay cả trong văn học, sự hà khắc ấy cũng được các nhà văn, nhà thơ phản ánh
rất rõ Việc nghiên cứu đề tài: “Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua
TTDT, TKML, TKTP và LTKVL” để thấy được sự vận động của hình tượng nữ
giới trong văn học, thấy được những cảnh đời, số phận nhỏ bé cùng với những bấtcông mà người phụ nữ xưa kia phải chịu đựng Qua đó, đề tài chỉ ra sự phá cách nổiloạn dám khẳng định bản lĩnh bản thân, đòi lại quyền công bằng, tự do của nữ giới
và trái tim nhân ái cảm thông sâu sắc của các tác giả tới số phận người phụ nữ
1.3 Hình tượng người phụ nữ trong văn xuôi trung đại
Đất nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ hàng ngàn năm và với sự xâmnhập mạnh mẽ của Nho giáo đã làm cho giá trị truyền thống của dân tộc ta bị xáotrộn, lấn át Và một trong những yếu tố bị Nho giáo làm thay đổi đó là quyền và vaitrò vị trí của con người mà đặc biệt là người phụ nữ Bởi vậy, trong thời đại mà Nhogiáo lên ngôi thì vị trí người phụ nữ lúc này bị lép vế, không được coi trọng, khôngcòn được giữ vai trò độc tôn như trước Điều này được thể hiện rất rõ trong văn học
mà đặc biệt là trong văn học trung đại
Có thể nói, xuất phát từ góc nhìn Nho giáo trong xã hội phong kiến ViệtNam thời bấy giờ nên người phụ nữ trong văn hoá truyền thống hay trong văn họctrung đại về cơ bản cũng không thể bước qua cái vòng cương toả khắt khe đó Dùvậy, hình ảnh người phụ nữ qua văn hoá truyền thống khi được soi chiếu vào văn
Trang 23học trung đại dần dần có sự vận động, phát triển trong tư tưởng, hành động và tâm lí
rõ rệt hơn Đặc biệt, qua một số tác phẩm văn học trung đại, người phụ nữ ít nhiềuđã dám cất lên tiếng nói phản kháng chống lại cường quyền và thần quyền đang đènén lên đôi vai nhỏ bé của họ
Trong quá khứ, người phụ nữ dù ở phương Đông hay phương Tây đều giữnhững địa vị hết sức thấp kém trong gia đình và xã hội Số phận của họ ở vào thế bịđộng, phải phụ thuộc vào người khác, nhiều khi họ chỉ là những thứ mua vui, tiêukhiển, là đồ trang sức hay thậm chí là nô lệ Họ không được làm chủ số phận của chínhmình Điều này được thể hiện rõ qua những câu hát, lời ca than thân, trách phận vẫncòn lưu lại trong kho tàng ca dao dân tộc bao đời nay:
“ Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
(Ca dao )
“Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các hạt ra ruộng đồng”
( Ca dao)hay:
“ Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân”…
(Ca dao)
Những câu ca dao than thân với cụm từ bắt đầu quen thuộc “thân em…” vang lên đầy xót xa ngậm ngùi Số phận của người phụ nữ, lúc thì ví như “hạt mưa
sa”, lúc thì như “tấm lụa đào…” Song dù được dân gian ví với điều gì, thì người
phụ nữ cũng đều chung một số phận đau khổ gian truân Họ không biết sẽ sống rasao, sẽ bị dòng đời đưa đẩy trôi nổi đến phương trời nào? Sẽ sống sung sướng nơi
“đài các” hay làm lụng vất vả nơi “ruộng cày”? Đối với họ, quãng đời phía trước
vô cùng mịt mù, chẳng biết được điều gì sắp xảy đến, sẽ “vào tay ai…” Có khi lấy
phải người chồng xấu, không tốt, người phụ nữ yếu đuối sẽ phải chịu nhiều cực khổ
và đón nhận “đòn cân số phận” đang chờ mình Thế nên, dẫu cả đời mình dù phải
sống trong đau khổ, nhục nhã, họ cũng đâu dám kêu than Bởi thân phận là nữ nhi
đã bị coi thường thì không có tư cách để mà phản kháng, kêu oan Họ phải chấp
Trang 24nhận cảnh “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” như điều tất yếu, đón nhận số phận tốthay xấu, may rủi như điều hiển nhiên.
Số phận đã hẩm hiu, cuộc đời của họ cũng lại càng bấp bênh hơn nên khiđã xuất giá họ cũng chưa hẳn đã được hưởng hạnh phúc trọn vẹn Bởi xã hộithời bấy giờ:
“ Trai thì năm thê bảy thiếp Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”
(Ca dao)Xuất phát từ điểm nhìn văn hoá truyền thống ấy, hình ảnh người phụ nữ dầndần được đi vào những trang thơ, trang văn của các nhà thơ, nhà văn ngày một rõnét hơn, đậm đặc hơn
Thơ ca Việt Nam trước thế kỷ XV đặc biệt là thơ văn thời Lý - Trần, các nhàvăn sáng tác văn học chủ yếu phục vụ cho mục đích tuyên truyền, giáo huấn, cangợi non sông đất nước nên các sáng tác thời đó thường vắng bóng người phụ nữ
Tuy nhiên, đến Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp thì đề tài về người phụ nữ
đã trở lại, chủ yếu trong tác phẩm này người phụ nữ được ca ngợi bởi khí chất của
người anh hùng: Truyện hai bà Trinh Linh phu nhân họ Trưng; họ được đề cao bởi thiên chức làm mẹ như: Nàng Âu Cơ (truyện họ Hồng Bàng), Man Nương (truyện
Man Nương); đặc biệt ở đó người phụ nữ phần nào cũng được chú ý đến bởi sự táo bạo
trong tình yêu và hôn nhân như: công chúa Tiên Dung (truyện Nhất dạ trạch), quận chúa A Kim (truyện Hà Ô Lôi)
Đến thế kỷ XV, trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi người đọc mới thấy thấpthoáng bóng dáng của người phụ nữ:
“Loàn đơn ướm hỏi khách lầu hồng
Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng Ngoài ấy dù còn áo lẻ
Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng”
(Bài thơ 208 – QATT - Nguyễn Trãi)
Tiếp nối Nguyễn Trãi là Lê Thánh Tông với tập truyện TTDT - nhân vật nữ
lần đầu tiên được xuất hiện công khai trong văn học Xuất phát từ quan điểm của tácgiả khi nhìn nhận về vấn đề con người, nhân vật người phụ nữ được gắn liền với
Trang 25vấn đề tải đạo, ít nhiều mang tính thời sự Điều này cho thấy văn xuôi tự sự thế kỷ
XV đã thực sự đi vào quỹ đạo nghệ thuật khi lấy con người làm trung tâm, làm đốitượng phản ánh Nhân vật người phụ nữ ở đây được nhắc tới không còn mờ nhạtnhư trước mà nhân vật xuất hiện đậm nét Dưới ngòi bút tác giả, nhân vật được kéo
về gần với cuộc sống đời thường Điều đó thể hiện ngay trong nguồn gốc xuất thâncủa nhân vật, đặc biệt xuất hiện ở nhân vật có đời sống nội tâm, khát vọng cá nhân
Rõ ràng khi xây dựng nhân vật như vậy, tác giả đã đưa nhân vật dần thoátkhỏi mô hình nhân vật đơn giản trong văn học dân gian hoặc văn xuôi lịch sử Nhânvật không còn là đối tượng của ghi chép mà đã mang dáng dấp của một kết quả laođộng sáng tạo nghệ thuật, nhằm phục vụ ý đồ của nhà văn Đặc biệt sự xuất hiệncủa nhân vật nhà vua trong vai trò người kể chuyện là một dạng nhân vật luôn thểhiện uy quyền của con người, có sức mạnh làm chủ muôn loài Cùng với ngòi búthướng nội, chú ý trong việc miêu tả nội tâm nhân vật tác giả đã tạo ra sự cách tântrong nghệ thuật xây dựng nhân vật Do đó, có thể nói hình tượng người phụ nữ đến
TTDT đã có sự chuyển biến đáng kể ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
Đây là cơ sở đặt nền móng cho sự phát triển của văn học về sau
Bước vào thế kỷ XVI, giai đoạn xã hội phong kiến bắt đầu có dấu hiệukhủng hoảng, mâu thuẫn giai cấp trở thành vần đề trung tâm của sự phát triển lịch
sử Vấn đề con người, nhất là người bị áp bức trở thành mối quan tâm lớn của xã hội thìNguyễn Dữ đã mở ra một khuynh hướng sáng tác mới, đề cập tới người phụ nữ với
những khát khao về tình yêu và hạnh phúc của họ Trong số hơn 20 truyện trong TKML
có tới 11/20 truyện nói tới người phụ nữ Đặc biệt là những vần thơ nói lên tâm sự, khátkhao của một nửa thế giới này
Với tâm hồn tinh tế và trái tim đa cảm nhân hậu, lại sống trong bối cảnh xãhội rối ren, Nguyễn Dữ thấm thía và thấu hiểu được mọi nỗi khổ cũng như nỗi khao
khát cháy bỏng của người phụ nữ Cho nên viết TKML, ông không chỉ đi theo quan
điểm của Nho giáo, mà tác giả còn ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo, đặc biệt làvăn hoá dân gian Vì thế, khi phóng tác trên cơ sở những truyện vốn lưu hành trongdân gian, Nguyễn Dữ có bảo lưu những tư tưởng phi Nho giáo song cái hình thức tưtưởng Khổng - Mạnh ấy lại chủ yếu là để thể hiện tư tưởng nhân dân Tuy những
nhân vật ấy thường biểu hiện phẩm chất qua khuôn mẫu “trung hiếu tiết
Trang 26-nghĩa” nhưng thực chất thì lại phản ánh những truyền thống đạo đức tốt đẹp của
dân tộc, phần nào thể hiện yêu cầu của nhân dân về đạo lí làm người Cái nhìncủa Nguyễn Dữ đối với người phụ nữ chịu sự chi phối sâu sắc của tư tưởng đó,
cộng với những đổi thay mới của thời đại nên người phụ nữ trong TKML không
chỉ là người phụ nữ của lễ giáo “ép phần xác để toả phần hồn” mà còn là nhữngngười không ngừng khao khát, không ngừng đấu tranh cho hạnh phúc chính đángcủa bản thân Trong những bức tường khắc nghiệt của đạo đức Nho gia, họ vẫnhướng ra ngoài với cái nhìn “thèm khát” bằng hành động táo bạo
Như vậy, với việc văn xuôi tự sự dần thoát khỏi mối ràng buộc của văn họcdân gian và văn học chức năng, nhân vật người phụ nữ xuất hiện trong văn học (X -XV) có sự phát triển rõ rệt qua từng thời kỳ Từ hình ảnh con người thần tiên đếncon người bình dân, nhân vật đã có sự chuyển biến vượt bậc: từ con người được baophủ bởi một lớp màn sương mờ ảo huyền thoại đến con người bình thường trongcuộc đời thực Từ mô hình cứng nhắc của loại hình nhân vật lịch sử theo một côngthức nhất định sang kiểu nhân vật văn học nhằm phục vụ chuyển tải cho ý đồ sángtác của tác giả Do đó truyện vừa mang sắc thái dân tộc, vừa phản ánh hiện thựcđương thời Nhưng phải đến thế kỷ XVI cùng sự xuất hiện của Nguyễn Dữ với
TKML người đọc mới thực sự cảm nhận đầy đủ về hình tượng người phụ nữ với
mọi cung bậc, cảm xúc Nhân vật với những giằng xé, trăn trở nội tâm không chỉthể hiện cho tư tưởng tác giả trong việc đi tìm một lối sống, một con đường đi đúngđắn cho mình mà còn thể hiện tư tưởng của con người trước những biến cố thời đạikhi đạo quân thần suy vi, điên đảo
Sang thế kỷ XVIII tình hình đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng trầmtrọng, không phương cứu chữa, vua chúa bỏ bê chính sự, hoang dâm vô độ Điều
đó được phản ánh đậm đặc trong sáng tác của các nhà văn Người cung nữ trongsáng tác của Nguyễn Gia Thiều là một cung nữ xinh đẹp tài hoa, khát khao hạnhphúc bị nhà vua bỏ rơi, sống cô đơn, mòn mỏi lạnh lẽo nơi cung cấm, chôn vùi tuổi
xuân trong cung điện thâm u (Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều) Người
phụ nữ chỉ có một khát vọng rất bình thường là được chung sống cùng với ngườichồng thân yêu, song lại rơi vào cảnh đau đớn “tử biệt sinh li” đằng đẵng chờ đợi
không biết có ngày gặp lại (Chinh phụ ngâm - Đặng Trần Côn) Rồi đó còn là
nhưng người phụ nữ thủy chung son sắc, vì tình, vì nghĩa, sẵn sàng hi sinh bản thân
Trang 27đổi lấy hạnh phúc cho người mình yêu mà không chút bận tâm, do dự như trong
TKTP của Đoàn Thị Điểm và LTKVL của Vũ Trinh Hay ngay cả nàng Kiều trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du, xinh đẹp, tài hoa là thế nhưng lại bị vùi dập trong
cảnh: “Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”, liên tiếp bị đầy đoạ cả về thể xác lẫn
tâm hồn để rồi phải thốt lên rằng:
“Thân lươn bao quản lấm đầu Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Vẫn nối tiếp tư tưởng ấy, trong sáng tác của mình - Hồ Xuân Hương đã có sự
cách tân lớn so với thời đại đó là: người phụ nữ trong thơ bà không bao giờ chấpnhận thực tại phũ phàng Họ sẵn sàng nổi loạn ngay ở giữa thời đại họ đang sống,chứ không phải đợi khi ở bên kia thế giới mới dám thực hiện điều đó như trong sángtác của Nguyễn Dữ hay ngồi đó ôm ấp khát vọng như người cung nữ của NguyễnGia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Vũ Trinh Và cũng không phải nhún nhường, nhỏ nhẹhay né tránh về những ước mơ khát vọng chính đáng của người phụ nữ như NguyễnDữ, nữ sĩ dám lên tiếng nói đòi quyền bình đẳng, quyền được yêu, được hưởnghạnh phúc… một cách thẳng thắn, táo bạo và nổi loạn
Như vậy, có thể thấy rằng người phụ nữ trong văn học trung đại ngày càngđược đề cập đến nhiều ở các giai đoạn về sau Viết về người phụ nữ, các tác giảtruyền kỳ cũng có những cách tân mới theo sự vận động và phát triển của văn học.Người phụ nữ trong văn học ngày càng hiện lên một cách đầy đủ từ hình thức đếntâm hồn Mặc dù, viết về người phụ nữ ở nhiều tác phẩm văn học vẫn chưa vượt rakhỏi những nguyên tắc của thủ pháp ước lệ, tượng trưng nhưng rõ ràng là hình
tượng người phụ nữ ngày càng được gia tăng yếu tố hiện thực Với đề tài: “ Sự vận
động của hình tượng người phụ nữ qua TTDT, TKML, TKTP và LTKVL” chúng
tôi muốn tìm hiểu sự vận động trong quan niệm về con người, sự vận động trong cáinhìn mới mẻ của từng tác giả khi viết về người phụ nữ
1.4 Sơ lược về những tác giả tác phẩm TTDT, TKML, TKTP và LTKVL
1.4.1 TTDT - tác phẩm mở đầu của truyện truyền kỳ Việt Nam
a Tác giả và thời đại
Vấn đề tác giả, niên đại của TTDT là một trong những nghi án văn chương
nan giải
Trang 28Hiện nay có rất nhiều tư liệu liên quan đến niên đại của tác phẩm chẳng hạn:
Năm 1958, Nguyễn Đổng Chi viết Thánh Tông di thảo trong bộ Sơ thảo lịch sử văn
học Việt Nam - Quyển 2, đã đặt ra vấn đề tác giả của tác phẩm này: “Sách phần nào
đáng ngờ là ngụy thư vì từ trước chưa có tài liệu gì nói về nó cả Thế nhưng hiện nay chưa có chứng cớ đích xác để cho là không phải của Lê Thánh Tôn” [3,153].
Năm 1963, lần đầu tiên TTDT ra mắt công chúng bằng bản dịch của Nguyễn
Bích Ngô, hai nhà nghiên cứu Lê Sỹ Thắng, Hà Thúc Minh trong lời giới thiệu tácphẩm đã tổng hợp ba loại ý kiến xung quanh vấn đề tác giả, năm sáng tác tác phẩm.Những ý kiến này khá tương đồng với nhận định của Nguyễn Đổng Chi và vẫn lànhững trăn trở của giới nghiên cứu quan tâm đến tác phẩm
Như vậy, vấn đề tác giả và năm ra đời tác phẩm TTDT cho đến nay vẫn tồn
tại những nghi ngờ Với tình hình tư liệu hiện nay và trong khi chờ đợi một bằng
chứng khoa học chắc chắn, chúng tôi vẫn coi toàn bộ tác phẩm TTDT của Lê Thánh
Tông được sáng tác trong những năm ông trị vì đất nước
Lê Thánh Tông (1442 -1497), hiệu là Thánh Tông Thuần Hoàng đế Là ôngvua thứ năm của triều Hậu Lê Lê Thánh Tông lên ngôi vua từ năm 18 tuổi, trị vìđất nước được 37 năm Trong thời gian làm vua, ông đã xây dựng được một đấtnước cường thịnh, trăm họ yên ổn, sung túc Đây được coi là thời kỳ thịnh trị nhấttrong lịch sử xã hội phong kiến nước ta
b Tác phẩm
TTDT được xem là tập truyện mở đầu cho thể loại truyện truyền kỳ Việt
Nam Tác phẩm đã vượt qua những ghi chép các thần tích gia phả hay các truyệndân gian, đặt dấu ấn đầu tiên cho kiểu tư duy nghệ thuật mới Tác phẩm chính lànền móng để thể loại truyền kỳ có điều kiện thâm nhập và phát triển rộng rãi trongvườn văn học trung đại
TTDT gồm hai quyển, 19 truyện do người đời sau sưu tầm và đặt tên cho tác
phẩm Hầu hết các thiên truyện trong TTDT đều tuân theo kết cấu thông thường của
thể loại truyền kỳ Mở đầu giới thiệu danh tính, gốc gác nhân vật, tiếp theo là nhữngdiễn biến ly kỳ và cuối cùng là kết quả các số phận Các thiên truyện có tính chấtngụ ngôn thì kết thúc theo hướng gợi những bài học về lối sống mà con người cầnhọc tập cũng như cần tránh xa Cuối tác phẩm thường là lời bàn của Sơn Nam Thúc
Trang 29Tóm lại, TTDT tuy không phải là một tác phẩm đồ sộ, lẫy lừng trong di sản
văn học nước nhà nhưng rõ ràng nó có một vị trí không kém phần quan trọng tronglịch sử dân tộc Nó là tác phẩm mở đầu cho thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam dời
xa được lối ghi chép đơn thuần để tiến tới sự sáng tạo, hư cấu trong nghệ thuật sángtác văn chương, mở đường cho một lối sáng tác văn học mang tính nghệ thuật ởnhững giai đoạn kế tiếp
1.4.2 TKML – đỉnh cao của sự phát triển thể loại
a Tác giả và thời đại
Cho đến nay các nhà nghiên cứu đều đi tới một quan điểm thống nhất cho rằng
Nguyễn Dữ sáng tác TKML vào khoảng đầu thế kỷ XVI Giai đoạn này chế độ phong
kiến Việt Nam đã có những dấu hiệu suy thoái, khủng hoảng
Có thể nhận thấy, thời kỳ được đánh dấu là thịnh trị của chế độ phong kiếnViệt Nam là thời kỳ Lê sơ mà đỉnh cao là giai đoạn trị vì của đấng minh quân LêThánh Tông Sau vua Lê Thánh Tông thì các vị vua sau không để lại dấu ấn tốt đẹp
gì ngoài tiếng vang là những vị vua bất tài, vô dụng, hoang dâm, tàn ác bỏ bê chính
sự đất nước khiến cho dân chúng càng thêm khổ cực Đó là các vị vua: Lê TúcTông, Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông Chỉ trong vòng một thời gianngắn (1504- 1527) mà nước ta có rất nhiều đời vua kế vị Họ vẫn ngồi trên ngaivàng nhưng sứ mệnh “thiên tử” lại không còn Họ bỏ bê triều chính làm cho đấtnước rối ren, đạo lí xã hội đảo ngược, suy đồi nên đã tạo điều kiện cho sự tranhgiành quyền lực, chia bè chia phái chém giết lẫn nhau rồi chiến tranh nổi ra liênmiên dẫn tới cảnh dân chúng ngày càng lầm than khổ cực Từ tình hình lịch sử rốiren đó đã dẫn đến sự thay đổi trong hệ tư tưởng của con người trong xã hội Nhữngngười tri thức có tâm huyết cống hiến thì thất vọng trước thời cuộc lui về ở ẩn đểgiữ danh tiết, phẩm hạnh, giữ quan điểm chính kiến của mình Và tác giả NguyễnDữ là một nhà văn tiêu biểu cho những người tri thức thời đại đó
Mặc dù xã hội thời đại thế kỷ XVI loạn lạc, nhưng văn học vẫn tiếp nối mạchchảy trên đà phát triển liên tục Nếu văn học giai đoạn trước chủ yếu bàn đến nhữngvấn đề quốc gia, đại sự thì giai đoạn này các nhà văn lại bắt đầu chuyển hướng, có
sự quan tâm nhiều hơn đến số phận con người trong xã hội, đặc biệt là số phận củanhững con người thấp cổ bé họng Có thể nói, chủ nghĩa nhân đạo trong văn học đã
Trang 30bắt đầu manh nha từ đây và là tiền đề cho sự phát triển của văn học theo khuynhhướng nhân đạo chủ nghĩa sau này.
Về tác giả Nguyễn Dữ theo một số nghiên cứu: Nguyễn Dữ (? - ?), người xã
Đỗ Tùng, huyện Trường Tân nay thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Hiệnnay chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông là con cả của cụ NguyễnTường Phiêu, đậu tiến sĩ khoa Bính Thìn và làm tới chức Thượng thư Trước thờiđại rối ren và không muốn thờ hai vua nên Nguyễn Dữ xin về ở ẩn với lí do phụngdưỡng mẹ già
Tuy lui về ở ẩn nhưng Nguyễn Dữ vẫn không từ bỏ hoài bão giúp đời Ông
viết TKML là để ký thác tâm sự của mình, để bày tỏ thái độ của mình đối với xã hội đương thời Qua TKML có thể thấy Nguyễn Dữ là con người luôn lo nghĩ cho dân,
cho nước, có tinh thần dân tộc và tư tưởng nhân đạo sâu sắc
b Tác phẩm
TKML từ khi ra đời đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Song nhìn
chung có thể khẳng định TKML được Nguyễn Dữ hoàn thành trong thời gian ông
cáo quan về ở ẩn tại quê nhà Tác phẩm gồm 4 quyển, bản dịch hiện nay còn 20truyện Các truyện đều được viết bằng văn xuôi chữ Hán xen lẫn biền văn, thơ catrừ truyện số 19 Cuối mỗi truyện đều có lời bình của tác giả hoặc người cùng quan
điểm với tác giả Khác với lời bàn của Sơn Nam Thúc trong TTDT, lời bình của truyện TKML không bàn về nghệ thuật văn chương mà chủ yếu bàn về nội dung ý
nghĩa đạo đức của truyện Nguyễn Dữ chọn thể loại truyền kỳ nhằm mượn cái vỏhoang đường hư ảo để gửi gắm tâm sự và thể hiện quan điểm của mình về cuộc sốngxã hội phong phú, phức tạp lúc bấy giờ
Như vậy, với một tác phẩm duy nhất mà Nguyễn Dữ để lại cho đời TKML đã
có sức lan tỏa rộng rãi không chỉ trong nước mà còn trên thế giới về giá trị nhân văn
mà tác phẩm phản ánh Nói như Phan Huy Chú, tác phẩm xứng danh là "áng văn
hay của bậc đại gia".
1.4.3 TKTP - bước cách tân ban đầu của thể truyền kỳ
a Tác giả và thời đại
Đoàn Thị Điểm sống ở giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX,thời điểm chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng,
Trang 31mọi giá trị đạo đức bị đảo lộn, suy vi mạnh Trước thực trạng đất nước rối rennhưng vua Lê - chúa Trịnh lại không màng chính sự, lao vào ăn chơi, cướp đoạtngôi vị của nhau đẩy người dân vô tội vào cảnh khốn cùng Cũng trong cảnh đó,Nho giáo bị lung lay dần, Phật giáo và Đạo giáo hưng thịnh trở lại làm lay độngthức tỉnh góc riêng sâu kín trong mỗi con người Và cái tôi cá nhân với ý thức về
“bản ngã” đã xuất hiện Một cái tôi khao khát được giải phóng khỏi những ràngbuộc khắt khe của Nho giáo để được sống, được yêu một cách tự do như bản năngtồn tại trong mỗi con người Chính điều này, đã đem lại cho văn học một tiếng nóimới, thôi thúc các nhà văn viết về số phận, cuộc đời của những con người trần thế,đời thường Và nữ sĩ Đoàn Thị Điểm là một nhà văn tiêu biểu
Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), hiệu Hồng Hà nữ sĩ, người làng Giai Phạm,huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Bà sinh ra trong một gia đình có truyền thốngNho học Cha là Đoàn Doãn Nghi đỗ thi Hương và làm quan đến Điển hạ, mẹ làngười họ Vũ nổi tiếng thông minh, anh là Đoàn Doãn Luân đỗ Giải nguyên trườngKinh Bắc
Năm 25 tuổi cha mất, rồi ít lâu sau anh trai mất Một mình bà phải gánh vác
lo toan cho cả gia đình
Năm 37 tuổi bà nhận lời làm vợ Nguyễn Kiều Lấy nhau chưa đầy một thángchồng bà phải đi sứ Trung Quốc ba năm Đến khi Nguyễn Kiều về nước ít lâu lại đinhậm chức Tham thị Nghệ An Bà theo chồng vào Nghệ An vừa đến nơi thì cảmlạnh và mất, hưởng thọ 44 tuổi
b Tác phẩm
Hiện tại số lượng tác phẩm mà nữ sĩ để lại cho đời còn lưu truyền đến ngày
nay gồm ba tập: Chinh phụ ngâm, TKTP và một ít thơ văn chữ Hán, Hồng Hà phu
nhân di văn Trong đó có tập TKTP là tác phẩm mà chúng tôi khảo sát trong đề tài
luận văn
TKTP là một tác phẩm viết bằng chữ Hán, ra đời vào khoảng giữa thế kỷ
XVIII Trải qua những biến động dữ dội của lịch sử xã hội cùng với khoảng cáchthời gian khá lớn khiến tác phẩm không còn được lưu giữ nguyên vẹn như lúc mới
ra đời Vấn đề văn bản, số lượng truyện trong tác phẩm hiện nay còn tồn tại nhiều
Trang 32điểm nghi vấn Một số tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra các văn bản được lưu giữ tại thưviện Hán Nôm như sau:
Văn bản có kí hiệu VHv.1487: văn bản chép tay, một mục lục, khổ 27cm x
15cm, 158 trang Văn bản ghi tên tác phẩm là Truyền kỳ tân phả, tác giả là Hồng
Hà phu nhân, niên đại vào năm Tự Đức 17 (1864), nơi lưu giữ là Tập Văn đường ởĐan An Mục lục cuốn sách này bao gồm 6 truyện Số truyện được ghi theo trình tự
sau: Hải khẩu linh từ, Vân Cát thánh tích lục, Tùng bách thuyết thoại Phụ chép ba truyện là An Ấp liệt nữ, Long hổ đấu kỳ, Bích Câu kỳ ngộ.
Văn bản mang kí hiệu VHv.2959, khổ 24 cm x 16 cm, gồm 90 trang, cũng
được in vào năm Tân Mùi, niên hiệu Gia Long thứ 10 (1811) Văn bản có tên là Tục
truyền kỳ lục, tác giả là Hồng Hà Đoàn phu nhân Văn bản được cụ Nhàn Vân Đình
(tức Trần Duy Vôn), người Phương Thượng (nay thuộc xã Xuân Thủy, tỉnh Nam
Hà) lưu trữ Cuốn sách này chỉ ghi có 3 truyện là: Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần
nữ, An Ấp liệt nữ.
Văn bản có kí hiệu A.48: văn bản khắc in, 6 truyện, một mục lục, khổ 25 cm
x 15 cm, 91 tờ, mỗi tờ 2 trang, mỗi trang 10 dòng, mỗi dòng xấp xỉ 20 chữ Văn bản
này ghi rõ tên tác phẩm là TKTP, đề tác giả là “Hồng Hà Đoàn phu nhân trứ” (Đoàn
phu nhân - Đoàn Thị Điểm, hiệu Hồng Hà sáng tác) Văn bản được khắc in vào nămTân Mùi, niên hiệu Gia Long 10 (1811) của Nxb Lạc Thiện Đường Mục lục của tập
sách này ghi tên 6 truyện bằng hai loại chữ khác nhau Các truyện: Hải khẩu linh từ
lục, Vân Cát thần nữ lục, An Ấp liệt nữ lục được ghi bằng loại chữ to; ba truyện còn
lại là Bích Câu kỳ ngộ, Tùng bách thuyết thoại, Long hổ đấu kỳ được ghi bằng loại chữ nhỏ Trong 6 truyện được khắc in cũng chỉ có 2 truyện là: Hải khẩu linh từ lục
và An Ấp liệt nữ lục có ghi đầy đủ tên tác giả “Văn giang Đoàn Hồng Hà nữ trứ” và
tên hiệu người phê bình “gia huynh Tuyết Trai Phạm Như Phủ phê bình” Còn cáctruyện khác lại không ghi tên tác giả và người phê bình
Với tình hình văn bản như trên đã chứng tỏ số lượng các truyện trong tác
phẩm TKTP chưa có sự thống nhất vẫn là mối băn khoăn của các nhà nghiên cứu.
Căn cứ vào tình hình văn bản hiện còn và các tư liệu tiêu biểu trên có thể
thấy ba truyện: Hải khẩu linh từ, Vân Cát thần nữ và An Ấp liệt nữ là xuất hiện ở cả
ba văn bản Hơn nữa, cả ba truyện này đều có sự thống nhất cao độ về phương diện
Trang 33chủ đề tư tưởng cũng như phong cách văn chương của tác giả Do vậy, có thể chắcđây là sáng tác của Đoàn Thị Điểm.
TKTP được tác giả viết theo lối kể chuyện nhưng xen lẫn thơ ca Số lượng
thơ ca trong TKTP khá nhiều, có phần hơn so với TTDT và TKML Thơ ca được
dùng như một yếu tố đắc lực giúp nhân vật bộc lộ cảm xúc, cảm giác, tâm sự.Những sáng tác thơ ca trong tác phẩm vừa là phương tiện để thể hiện đời sống nộitâm, bộc lộ tính cách, phẩm chất của nhân vật vừa khẳng định ngòi bút tài hoa, uyênbác của tác giả
Như vậy có thể thấy, TKTP vừa tuân theo bút pháp đặc trưng của thể loại, vừa có điểm cách tân so với các tác phẩm truyền kỳ Việt Nam như TTDT và TKML
nói riêng và các tác phẩm thuộc thể loại truyện truyền kỳ nói chung Sự cách tânxuất phát từ nhu cầu tâm lý chung của thời đại gắn liền với hướng đi mới của vănxuôi tự sự thời trung đại
1.4.4 LTKVL - bước cách tân vượt bậc của truyện truyền kỳ
a Tác giả và thời đại
Vũ Trinh sống trong xã hội phong kiến – một xã hội với nhiều khuông khổ,thành kiến nặng nề lộ rõ Tư tưởng, lễ giáo phong kiến đã hạn chế những tìnhcảm hồn nhiên, tốt đẹp nhất của con người, biến con người thành mắt xích của xãhội Trong xã hội đó không ai khác, người phụ nữ là tầng lớp chiu nhiều thiệtthòi, ngang trái Họ đã bị khuôn vào những chuẩn mực đạo đức cứng nhắc, bịbiến mình thành “nô lệ” của những chuẩn mực ấy, bị gò vào một cuộc sống tùtúng, hạn hẹp, bất trắc
Thế kỷ Vũ Trinh sống là thế kỷ XVIII, với biết bao biến động thăng trầmlịch sử, phụ nữ trực tiếp là nạn nhân của xã hội loạn lạc, đạo đức xuống cấp, tài sắc
bị sỉ nhục, thân phận bị rẻ rúng, quyền sống, hạnh phúc bị chà đạp thô bạo Nhưngđồng thời đây cũng là thế kỷ của những cuộc cách mạng tư tưởng đặc biệt ở các nhàNho đương thời Thế kỷ này đã có sự lung lay của ý thức hệ phong kiến và đặc biệt
sự phát triển của những trào lưu dân chủ, nhân đạo, nhân văn diễn ra ở phạm vi sâurộng Đây cũng la giai đoạn Nho học có sự chuyển biến mạnh từ mối quan tâm đặcbiệt tới luân lý đạo đức sang việc hướng tới thực tế nhiều hơn Cùng với ảnh hưởngcủa phong trào cải cách Thực học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Các nhà vănlúc này đặc biệt quan tâm và có hứng thú với những vấn đề của thực tiễn xã hội, lấythực tại làm đối tượng phản ánh, họ ghi chép những sự việc, những số phận đang
Trang 34diễn ra trong cuộc sống hằng ngày Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm cũng có
sự chuyển biến rõ rệt, nhân vật trong truyện đa số là những con người có tài, khôngnhững đa tài mà còn đa tình Tình yêu khát vọng hạnh phúc chân thực của conngười đến đây được bày tỏ một cách chính đáng Một bước tiến quan trọng của vănhọc lúc này là các nhà văn không chú trọng đến những hình thức khuôn mẫu nhưngày xưa, văn học đề cao những sáng tạo nghệ thuật, người ta bắt đầu đánh giá giátrị tác phẩm qua sự nhìn nhận của công chúng văn học Văn học phản ánh chân thựcnhững điều tai nghe mắt thấy, đi vào đời sống thực tế, đề cao vai trò của con ngườivới những giá trị đạo đức là một bước ngoặt cho lịch sử văn học nước nhà, là nềntảng cho trào lưu văn học nhân đạo chủ nghĩa, cho thể loại truyện ngắn của văn họcViệt Nam
Vũ Trinh (1759 – 1828), tên tự là Duy Chu, hiệu là Lan Trì Ngư Giả, đạohiệu Hải Âu Hòa Thượng, người làng Xuân Lan, huyện Lương Tài nay là tỉnh BắcNinh Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống thi thư Năm 17 tuổi đỗHương tiến, chức Tri phủ Quốc Oai, tước Lan Trì bá
Cuộc đời Vũ Trinh đã theo đuổi lí tưởng giúp nước cứu đời rất cao đẹp song lạikhông hợp thời, mặc dù có tài năng nhưng cuộc đời ông lại gặp nhiều gian truân Vì thếnhững đóng góp của ông đối với đất nước cũng không dễ dàng được công nhận
b Tác phẩm
LTKVL hiện nay còn bốn văn bản đều chép tay Kết cấu của sách gồm: mục
lục, 4 bài tựa và phần truyện (tác phẩm có khoảng 45 truyện) Tác phẩm ban đầu có
tên là Kiến văn lục nghĩa là ghi chếp những điều tai nghe mắt thấy Tác giả ghi lại
những câu chuyện lạ thường nhưng có thực, xảy ra ở vùng ông hoặc những ngườithân quen kể lại
Tiểu kết Chương 1:
Như vậy ở chương 1 chúng tôi đã nêu lên những khái niệm sự vận động củahình tượng người phụ nữ, vị trí của người phụ nữ trong văn hóa truyền thống vàtheo quan niệm Nho giáo,về thể loại truyền kỳ cũng sự hình thành và phát triển củachúng Bên cạnh đó là những nét chung về các tác giả và tác phẩm mà luận vănnghiên cứu Tất cả những yếu tố đó được coi là tiền đề để chúng tôi đi triển khai tìmhiểu: Sự vận động của hình tượng người phụ nữ qua bốn tập truyện một cách cụ thể,chi tiết hơn ở các chương tiếp theo
Trang 35CHƯƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ QUA
TTDT, TKML, TKTP VÀ LTKVL TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
Con người là sản phẩm của thời đại, thời đại như thế nào sẽ sản sinh ranhững con người tương ứng Người phụ nữ là một trong những hình tượng tiêubiểu của văn học trung đại Người phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong đờisống và sự phát triển của xã hội Lấy nguồn cảm hứng sáng tạo từ hiện thực đờisống, các tác giả đã cảm nhận được nỗi đau khổ của người phụ nữ trong xã hộiphong kiến như là một định mệnh tất yếu vậy Do đó, đề tài : “Sự vận động của
hình tượng người phụ nữ qua TTDT, TKML, TKTP và LTKVL” là một minh
chứng rõ cho số phận người phụ nữ qua các giai đoạn lịch sử xã hội
2.1 Sự vận động của quan niệm về người phụ nữ qua các tập truyện
Trải qua dòng chảy thời gian cùng với những vận động biến chuyển của vănhóa, lịch sử đã tác động đến quan điểm, tư tưởng của nhà văn nên mỗi thời kỳ khácnhau các nhà văn lại có những hướng nhìn nhận, đánh giá khác nhau Viết về ngườiphụ nữ là trong những mảng đề tài tiêu biểu của các tác giả truyền kỳ Nhưng càng
về sau những phát hiện về chiều sâu nhân vật của các tác giả càng sâu rộng vàphong phú hơn Qua đó giúp bạn đọc hiểu hơn về vai trò, số phận người phụ nữtrong thời đại bấy giờ Để chứng minh cho sự vận động đó, người viết đi tìm hiểu
quan niệm về người phụ nữ trong bốn tập truyện: TTDT, TKML, TKTP và LTKVL
của các tác giả Lê Thánh Tông, Nguyễm Dữ, Đoàn Thị Điểm và Vũ Trinh
Ở thế kỷ XV, tác giả Lê Thánh Tông khi viết TTDT không chỉ tạo ra một
cuộc cách tân mới trong tiến trình phát triển của truyện truyền kỳ hướng về cuộcsống thực tại hàng ngày Tác phẩm ra đời lần đầu tiên hướng đến con người và lấycon người làm đối tượng trung tâm phản ánh của văn học Tuy nhiên, vấn đề con
người, nhất là người phụ nữ trong TTDT lại không phải là chủ đề chính của tác
phẩm Viết về họ, tác giả nhằm hướng tới mục đích tải đạo, giáo huấn con người, ítnhiều mang tính thời sự Do đó, người phụ nữ xuất hiện trong tác phẩm xuất hiện lànhững tấm gương liệt nữ, dưới vỏ bọc là những con người bình dân, đời thường nêntruyện vẫn mang hơi hướng của văn học giai đoạn trước Hình ảnh con người trongtruyện vẫn mang đậm tính siêu nhiên, thần bí
Trang 36Sang đến thế kỷ XVI với tập truyện TKML, tác giả Nguyễn Dữ đã đưa con
người đặc biệt là người phụ nữ trở thành nhân vật chính, trung tâm của tác phẩm Ở
đó những tâm tư tình cảm, khao khát thầm kín cùng những bi kịch và số phận ngườiphụ nữ được tác giả phản ánh vào trang văn một cách đầy đủ, phong phú Đối tượngphản ánh và phạm vi phản ánh cũng theo đó được mở rộng hơn, từ tầng lớp nghèokhổ đến tầng lớp thượng lưu, gồm cả người bình dân đến cả thần tiên, ma quái Tấtcả đã làm cho bức tranh hiện thực dưới ngòi bút Nguyễn Dữ trở nên sinh độnghơn bao giờ hết
Tiếp đến thế kỷ XVIII, truyện truyền kỳ vẫn dựa trên nền tảng của giaiđoạn trước lấy con người là nhân vật trung tâm của tác phẩm Các tác giả VũTrinh, Đoàn Thị Điểm bằng sự cách tân của mình và ảnh hưởng trước yêu cầucủa thời đại truyện truyền kỳ mang nét mới mẻ hơn ở chỗ phản ánh những điềutai nghe, mắt thấy Các nhân vật chủ yếu là những người bình dân giản dị, đờithường, yếu tố kỳ ảo tuy xuất hiện nhưng chỉ làm nền để tôn cái thực thêm thựchơn, gần gũi hơn… Do vậy có thể nói, khi lấy con người làm đối tượng vàtrung tâm phản ánh của nghệ thuật: Lê Thánh Tông, Nguyễn Dữ, Đoàn ThịĐiểm hay Vũ Trinh đều phát hiện ra sức mạnh của con người và bày tỏ tấm lòngcảm thông, thương xót cho số phận của họ
Tuy nhiên, khi khẳng định con người mỗi tác giả lại có những cách đánh giákhác nhau Lê Thánh Tông đi sâu vào khẳng định quyền uy của con người và chú ýđến cái bí ẩn kỳ lạ trong cuộc đời nhân vật hơn cái bản thân gọi là “con người” bêntrong họ Do đó, nhân vật của ông thường mang dáng dấp của thánh thần hoặc siêu
nhân Còn Nguyễn Dữ với TKML, tác giả đi sâu phản ánh con người đời thường,
trần thế qua thế giới nhân vật đa dạng, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội
Và chính sự đa dạng, phong phú trong việc xây dựng nhân vật Nguyễn Dữ đã đemđến cho truyện truyền kỳ Việt Nam điều mới mẻ ở việc phát hiện chất đời thường,trần thế trong con người trên những phương diện: khát vọng tình yêu đôi lứa, khátvọng hạnh phúc gia đình, khát vọng giải phóng tình cảm bản năng tự nhiên và bi
kịch của con người trên con đường tìm kiếm hạnh phúc - điều mà TTDT chưa đề
cập đến Vấn đề này càng được các tác giả truyền kỳ giai đoạn sau như Đoàn ThịĐiểm, Vũ Trinh phản ánh sâu hơn qua những điều trông thấy hàng ngày, hàng giờ
Trang 37của những con người bình dị, chân chất mà không cần phải dùng tới “ đôi cánh
truyền kỳ để nâng đỡ” như ở các tác phẩm trước đó cụ thể: Với TKTP của nữ sĩ
Đoàn Thị Điểm, chúng ta thấy nhân vật chính trong tập truyện hầu như là nhữngcon người phàm tục có thật trong lịch sử Tác giả viết về họ dưới góc nhìn của mộtngười cùng giới nên nhân vật nữ phần lớn được khắc họa sâu sắc ở diễn biến tâm lý,nội tâm nhân vật và qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại trong tác phẩm Điều này lýgiải do cùng là nhân vật nữ nên ngòi bút nhà văn khi viết về họ sẽ thấu hiểu và dễcảm thông hơn các tác giả trước là nam giới Và theo lẽ đó, cả bốn tác phẩm của nữ
sĩ đều viết về nhân vật nữ và tác giả đã đề cao vai trò, vị trí của người phụ nữ, cangợi họ như những thánh nữ của thời đại và hạ thấp vai trò của nam giới Đây cũngchính là quan niệm mới mẻ, cách tân của tác giả khi nhìn nhận, đánh giá về conngười nhất là người phụ nữ - nhân vật mà nữ sĩ dành nhiều sự quan tâm nhất
Tiếp đến tác giả Vũ Trinh trong LTKVL, cùng nhìn và hướng về nhân vật
người phụ nữ nhưng không giống các tác giả đi trước, Vũ Trinh chọn cho mình mộthướng đi riêng Tác giả không nhằm hướng tới ca ngợi nhân vật là liệt nữ hay thánhnữ mà đi đến nhìn nhận họ là những con người bình dị của cuộc sống đời thường.Tác giả đi quan tâm tới mọi đối tượng thuộc mọi tầng lớp, kể cả tầng lớp thấp hènnhư con hát, ca nhi, kỹ nữ trong xã hội đó cũng được tác giả nâng niu, trân trọng,ngợi ca và hết lòng bảo vệ, bênh vực Đọc truyện của Vũ Trinh người đọc có cảmgiác đó là những câu chuyện vẫn thường thấy đâu đây quanh cuộc sống Nhân vậtcủa ông cũng gần gũi như chính những nhân vật của cuộc đời thực đang diễn rahàng ngày
Bằng sự cách tân hướng tới những con người bình dị, gần gũi, mộc mạc VũTrinh đã đem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ Qua những con người bình
dị, đời thường tác giả còn phê phán tục phân biệt đẳng cấp trong xã hội thời bấy giờ
và chỉ ra người phụ nữ chính là nạn nhân của chế độ nam quyền, phải chịu mọi cayđắng tủi nhục Không chỉ đưa ra quan niệm mới về con người mà ngay cả trong tìnhyêu nhà văn cũng thể hiện cái nhìn phóng khoáng: để nhân vật chủ động tìm đến vớitình yêu, hạnh phúc của mình chứ không đặt nhân vật vào vòng cương tỏa của Nhogiáo Nhưng cũng không vì thế mà tác giả để cho nhân vật quá dễ dãi trong tìnhyêu, ông cũng rất coi trọng chữ trinh nơi người phụ nữ Do vậy, nhân vật của ông
Trang 38dù cởi mở tự do trong tình yêu nhưng họ vẫn luôn biết giữ mình và chung thủy vớingười mình yêu đến cùng Đó chính là điểm mới mà tác giả Vũ Trinh hơn hẳn cáctác giả đi trước khi nhìn nhận và đưa ra quan niệm mới mẻ này.
Như vậy, với những điều khái quát đã trình bày ở trên, chúng tôi muốn chỉ ra
ở các tác giả truyền kỳ qua mỗi giai đoạn phát triển và biến đổi liên tục đều cónhững cái nhìn nhận, đánh giá, quan niệm và hướng viết khác nhau chứ không dậpkhuôn máy móc khi xây dựng hình tượng người phụ nữ Và ở mỗi giai đoạn lại cónhững dấu ấn riêng và ngày càng hoàn thiện, đầy đủ hơn Con người nhất là ngườiphụ nữ được quan tâm không chỉ qua số phận, bi kịch mà cả những tâm tư, tìnhcảm, những day dứt trăn trở, những khát khao thầm kín được phản ánh vào văn học
ở các giai đoạn về sau Đó chính là sự vận động trong quan niệm người phụ nữ ởcác tác giả mà chúng tôi nghiên cứu
2.2 Sự vận động trong bản thân hình tượng người phụ nữ qua từng tập truyện
a Nhân vật người phụ nữ theo đạo lý cương thường
- Nhân vật người phụ nữ thủy chung, một lòng hướng về chồng
Từ bao đời nay, người phụ nữ vẫn luôn trở thành một hình tượng đẹp, một bônghoa bất tử trong tâm thức người Việt Điều đó được thể hiện rất rõ trong văn học trong
đó có truyện truyền kỳ
Trong TTDT có tất cả 19 truyện thì 7 truyện tác giả dành cho đối tượng
người phụ nữ Tuy số lượng không nhiều nhưng cũng phần nào thể hiện được sốphận của người phụ nữ trong một thời kỳ lịch sử xã hội thịnh trị Viết về người phụnữ, Lê Thánh Tông phát hiện và ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của họ nhất là tình yêuthủy chung Thủy chung biểu hiện qua sự chờ đợi Điển hình là các nhân vật nữ
Trang 39trong Chuyện yêu nữ Châu Mai, Hai gái thần và truyện Duyên lạ nước hoa Ở
Chuyện yêu nữ Châu Mai kể về một nữ yêu tinh xinh đẹp tên là Ngư Nương đã thủy
chung chờ đợi chồng Bằng phép thuật tinh thông của mình nàng đã biến hóa kỳ ảo,lúc biến thành cô gái xinh đẹp, có lúc lại nhẹ như Triệu Phi Yến, lúc béo tốt nhưDương Quý Phi nhưng không phải để đi mê hoặc hay dụ dỗ người đời mà để chờđợi tìm lại người chồng xưa Yêu nữ ẩn náu trong nhà hát, mong dùng tiếng hát củamình để làm tín hiệu giúp chồng nhận ra Mặc cho sự giàu sang quyền quý củakhách làng chơi, nàng bỏ ngoài tai những lời dụ dỗ ngon ngọt hay dọa dẫm của chủnhà hát, người phụ nữ ấy vẫn chung trinh một chờ đợi chồng
Cũng giống như yêu nữ Châu Mai, vợ thần núi Đông Ngu không quản ngạigian khổ đi tìm người chồng yêu dấu năm xưa của mình nay lạc xuống chốn dương
gian trong truyện Hai gái thần Trong câu chuyện, sự xuất hiện của nàng được miêu tả đó là một cô gái trẻ “đương tuổi cập kê, mặt hoa da tuyết” Vẻ đẹp ấy khiến cho
“nhiều chàng trai ham sắc sinh lòng mơ tưởng Nhưng hễ kẻ nào manh tâm trêu
ghẹo, thì tự nhiên rối trí nhức đầu” [34,37] nên không ai dám đến gần Đó là ý thức
bảo vệ nhân phẩm của người phụ nữ có nhân cách cao đẹp, một lòng thủy chung vớingười chồng, dù hai người đang bị thất lạc khá lâu
Sống những năm tháng xa chồng, giữa bao nhiêu lời ong bướm cợt trêukia, nhưng nàng vẫn “quyết tâm rẽ đường đi tìm người tôi yêu” đến cuối cuộcđời chứ không thay lòng đổi dạ Dẫu biết con đường phía trước là mịt mù, vôđịnh nhưng với tình yêu thủy chung và niềm tin vững chắc nàng không quảnngại khó khăn, gian khổ đi tìm chồng khắp chốn đã làm cho biết bao trái tim bạnđọc phải cảm phục, ngưỡng mộ
Tới cả nàng Mộng Trang - công chúa Bướm, một lòng thủy chung chờ đợi
chồng trong truyện Duyên lạ nước hoa Trải qua bao cảnh biệt ly với bao gian nan,
thử thách Cuối cùng vợ chồng cũng được đoàn tụ hạnh phúc Chồng nàng sau khi
hiển vinh trở thành “Bình Man đại tướng quân” đã không quên người vợ thủa hàn
vi, sẵn sàng từ quan chết theo vợ để được cùng nhau sống ở một thế giới khác
Qua đây, ta thấy rằng một nữ chúa Bướm, một yêu nữ Châu Mai hay vợ thầnĐông Ngu, mỗi người tuy có một số phận khác nhau nhưng với lòng thủy chung sonsắt nên cuối cùng họ vẫn được hạnh phúc bên nhau Đồng thời, tác giả Lê Thánh
Trang 40Tông khi phác họa nên những nhân vật của mình đều có dụng ý xây dựng và thểhiện ở đó những con người lí tưởng, những con người là hiện thân cho mẫu hìnhcủa người phụ nữ Việt Nam truyền thống Họ không chỉ đẹp ở vẻ ngoài đơn sơ mộcmạc, mà họ còn toát lên vẻ đẹp nội tâm sáng ngời phẩm hạnh tiết nghĩa.
Tiếp đến TKML của tác giả Nguyễn Dữ, những phẩm chất đẹp đẽ của người
phụ nữ cũng được tác giả kế thừa và phát triển thông qua các nhân vật trong truyện
Tiêu biểu là nàng Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương “tính tình thùy mị,
nết na lại có thêm tư dung tốt đẹp” Nàng là một cô gái hoàn hảo của làng quê, một
bông hoa đầy sức hấp dẫn của vườn biếc Chính vì nàng có nhiều ưu điểm như vậy,
nên “Trương Sinh đã xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về” Về nhà chồng, Vũ
Nương cư xử rất hiếu thuận với mọi người, coi bố mẹ chồng như bố mẹ đẻ củamình Phẩm chất của nàng còn được thể hiện rõ hơn khi chồng đi chinh chiến nơi
xa Chồng ra đi nàng nhắn nhủ bằng những lời chân thành, tình nghĩa: “Lang quân
đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi…” [7,201] Những ngày xa
chồng, sống trong nỗi buồn, nỗi nhớ nhung mòn mỏi nhưng nàng luôn là một người mẹ
hiền, một nàng dâu thảo và một người vợ thủy chung: “Cách biệt ba năm giữ gìn một
tiết, tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”
[7,385] Hay là nàng Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu cũng là
một người vợ thủy chung, tiết hạnh Trong những ngày chồng đi chiến trận trước lời
khuyên nhủ của bà cô Lưu thị và trước những lời “trăng gió cợt trêu” của người ngoài nàng “thà liều mình chứ quyết không mặc áo xiêm của chồng để đi làm đẹp lòng
người khác…” [7,218] Phẩm chất thủy chung của nàng với người chồng là trước sau
như một, không gì thay đổi
Nếu như ở tác giả Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ phác họa chân dung nhânvật vẫn còn trộn lẫn chất thần thì đến Đoàn Thị Điểm chân dung nhân vật của bàhầu như là những người phàm tục có thật trong lịch sử và được lý tưởng hóa thông
qua bút pháp kỳ ảo Nhân vật Đinh phu nhân trong Người liệt nữ ở An Ấp - là nhân
vật có thực trong lịch sử - vợ của tiến sĩ trẻ Đinh Nho Hoàn đã tự vẫn theo chồngkhi nghe tin chồng chết trên đường đi sứ Phẩm chất thủy chung của nàng thể hiệnrất rõ ở hành động: sống thì mong sánh vai cùng nhau, chết nguyện đi theo để thỏa