1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ tiếng anh (tiếng anh) vào lời các bài hát nhạc trẻ việt nam giai đoạn 2002 2018

47 215 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 598,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNGBảng 2.1: Thống kê tỉ lệ và số lượng đơn vị ngôn ngữ vay mượn...13 Bảng 2.2: Thống kê các đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh vay mượn...16 qua các giai đoạn...16 Bảng 2.4: Bảng thống

Trang 1

MỤC LỤC

PHỤ LỤC

Trang 2

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thống kê tỉ lệ và số lượng đơn vị ngôn ngữ vay mượn 13

Bảng 2.2: Thống kê các đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh vay mượn 16

qua các giai đoạn 16

Bảng 2.4: Bảng thống kê các từ loại và tần suất xuất hiện của các đơn vị 20

Bảng 2.5: Thống kê tần số xuất hiện của các loại câu theo ngữ pháp 21

Bảng 2.6: Bảng thống kê các loại mục đích nói của câu và 23

tần số xuất hiện của chúng 23

Bảng 3.1: Thống kê tỉ lệ thái độ ngôn ngữ của sinh viên các trường Đại học 29

Ngoài việc khảo sát thái độ của các khán thính giả khi nghe thể loại nhạc trên, chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa khiến các bạn trẻ lại có những thái độ như vậy, dưới đây là phần diễn giải cho các nguyên nhân đó: 29

Đối với những khán giả có thái độ “Bình thường” đối với hiện tượng chêm xen tiếng Anh trong các bài hát nhạc Trẻ Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2018 , các bạn nêu lên những lí do sau: 29

Nghe nhiều rồi thành quen, định hình trong tâm trí một “rãnh” tư duy khi được nghe nhiều lần nên cảm thấy không ghét cũng không thích 29

Đất nước hội nhập, tiếng Anh là ngôn ngữ thông dụng và phổ biến nên đưa tiếng Anh vào nhạc Việt là điều bình thường 29

Có những bài nghe rất hay vì biết cách chên xen để không làm phảm cảm người nghe, nhưng ngược lại cũng có những bài chêm xen một cách thô và làm người nghe thấy khó chịu 30

Tiêu chí để đánh giá một bài hát không chỉ dựa vào lời bài hát, có những yếu tố khác quyết định, hơn nữa người nhạc sĩ khi đưa tiếng Anh vào bài hát của họ, họ đã có dụng ý nghệ thuật riêng của mình, mỗi người nên tôn trọng điều đó, chúng ta có quyền xem hoặc không xem 30

Đối với những khán giả có thái độ “Yêu thích” đối với hiện tượng chêm xen tiếng Anh trong các bài hát nhạc Trẻ Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2018 , các bạn nêu lên những lí do sau: 30

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, dòng nhạc trẻ chiếm ưu thế lớn trong đời sống tinh thần củathanh thiếu niên- thế hệ trẻ tương lai của đất nước Những ca khúc nhạc trẻ cóthể nói là những món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của thế hệtrẻ ngày nay, dòng nhạc trẻ định hình cho họ những cảm xúc thẩm mỹ, hìnhthành nhân cách ở mỗi người trong cả một thế hệ Lời ca trong các ca khúcnhạc trẻ đóng vai trò vô cùng quan trọng khi đáp ứng cho họ những nguồn

“an ủi” riêng trong cuộc sống riêng của họ, nhạc trẻ giúp thế hệ thanh niên trởnên năng động, làm việc hiệu quả hơn

Từ trước đến nay, nghiên cứu hiện tượng chêm xen Ngôn ngữ ( Anh,Pháp, Nga,…) đã có nhiều bài nghiên cứu khác nhau, song trong phạm vi lờibài hát là chưa có Việc nghiên cứu hiện tượng chêm xen tiếng Anh trong lờicác bài hát nhạc Trẻ Việt là điều vô cùng cần thiết, đặc biệt lầ trong khoảngthời gian từ năm 2002 đến nay, khi đất nước ngày càng hội nhập nên việc sửdụng tiếng Anh cũng ngày càng phổ biến Trong suốt khoảng thời gian đó,cùng đồng hành với sự thay đổi, phát triển của xã hội là hệ thống Internet,đánh dấu việc chuyển giao từ một xã hội khá bảo thủ sang một xã hội cởi mở

Từ đó Internet là công cụ để moi người có thể thực hiện những công việc kinhdoanh, tương tác với nhau một cách dễ dàng và tiện lợi hơn Các bài hát củacác ca sĩ cũng từ ấy đến với người hâm mộ một cách vô cùng thuận tiện khichỉ cần có internet, gõ vào mục tìm kiếm là chúng ta có thể nhìn thấy ngườihâm mộ, thay vì đi mua các đĩa ca nhạc, xem trực tiếp hay mất công mở TVđợi đến giờ ca sĩ đó trình diễn.Đây là một hiện tượng bình thường của ngônngữ - xã hội, nó như là một quy luật tự nhiên Xã hội phát triển hơn, dòngthông tin, lối sống phong cách phương Tây, phương Đông ồ ạt tràn vào ViệtNam Giới trẻ là những người thích thú nhất Họ học tập, sáng tạo, áp dụng vàlàm ra cái mới của riêng họ Những ca sĩ trẻ Việt Nam chắc hẳn cũng có

Trang 4

những suy nghĩ muốn “cách tân’, muốn thay đổi đôi chút so với những bàihát nhạc trẻ truyền thống nhẹ nhàng quen thuộc

Song hiện tượng này cũng đem đến hai nguồn phản hồi khác nhau làtích cực và tiêu cực Những ý kiến tích cực cho rằng hiện tượng này là vôcùng bình thường bởi tiếng Anh hiện nay xuất hiện ở mọi nơi trên mọiphương diện, mặt khác những ý kiến tiêu cực cho rằng việc xen tiếng Anh vàolời bài hát trẻ Việt làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt, mất đi những giátrị văn hóa của người Việt

Bởi những lí do nêu trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “ Khảo sát việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh (tiếng Anh) vào lời các bài hát nhạc Trẻ Việt Nam giai đoạn 2002-2018” làm đối tượng nghiên cứu

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của báo cáo là hiện tượng sử dụng các đơn vịngôn ngữ tiếng Anh (tiếng Anh) trong lời các bài hát nhạc trẻ Việt Nam từnăm 2002 đến năm 2018

3 Mục đích nghiên cứu

- Phân tích đặc điểm của các đơn vị ngôn ngữ vay mượn tiếng Anh(tiếng Anh) trong lời các bài hát nhạc Việt: đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữnghĩa, đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm ngữ dụng

- Khảo sát cách thức sử dụng đơn vị ngôn ngữ vay mượn tiếng Anh( tiếng Anh) trong lời các bài hát nhạc trẻ Việt

- Khảo sát thái độ ngôn ngữ của sinh viên Đại học đối với hiệntượng sử dụng đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh (tiếng Anh) trng lời bài hát nhạctrẻ tiếng Việt

- Khuyến nghị khi sử dụng những đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh( tiếng Anh) trong lời bài hát nhạc trẻ Việt Nam để giữ gìn sự trong sángcủa tiếng Việt

Trang 5

5 Phương pháp nghiên cứu

Báo cáo có sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thống kê, khảo sát: số lượng đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh

- Phương pháp miêu tả: đặc điểm đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh tiếng Anh

- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng để khảo sát thái độ ngôn ngữ

6 Cấu trúc của báo cáo

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục, báo cáo của chúngtôi gồm có 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận

- Chương 2: Khảo sát đặc điểm và cách thức sử dụng tiếng Anh tronglời các bài hát nhạc Trẻ Việt Nam giai đoạn 2002-2018

- Chương 3: Khảo sát thái độ ngôn ngữ của sinh viên đại học và nhữngkhuyến nghị đối với việc chêm xen tiếng Anh trog lời các bài hát nhạc TrẻViệt Nam giai đoạn 2002-2018

Trang 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Lí thuyết về vay mượn ngôn ngữ

Hiện tượng vay mượn ngôn ngữ chủ yếu diễn ra ở đơn vị từ Do đó,trong các ngôn ngữ ta có khái niệm “Từ mượn”

Trước khi tìm hiểu cụ thể khái niệm của “Từ mượn”, ta đi tìm hiểu nghĩamột số từ được lấy từ cuốn “Từ điển tiếng Việt”, Hoàng Phê ( chủ biên, 2004):

“Vay”: Nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽtrả lại bằng cái cùng loại hoặc ít nhất có số lượng hoặc giá trị tương đương

“Mượn” : Lấy của người khác để dùng trong một thời gian rồi sẽ trả lại,với sự đồng ý của người đó

“Vay mượn”: ( nói khái quát)

- Như vậy, từ những định nghĩa đã nêu trên đây, theo hiểu biết thôngthường ta có định nghĩa: “Từ mượn là từ vay mượn từ tiếng nước ngoài (ngônngữ cho) để làm phong phú thêm cho vốn từ vựng của ngôn ngữ nhận Gầnnhư tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có từ mượn, vì một ngôn ngữ vốn dĩkhông có đủ vốn từ vựng để định nghĩa cho tất cả các khái niệm và việcchuyển ngữ từ vựng từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác để là xu thế tất yếutrong quá trình hội nhập của một nền văn hóa Tuy nhiên, việc tạo mới và sửdụng các từ mượn cũng cần hết sức quan tâm để tránh làm mất đi bản sắcngôn ngữ nhận, đánh mất sự đa dạng của ngôn ngữ; để tránh điều đó chỉ nên

sử dụng từ mượn trong một ngôn ngữ khi ngôn ngữ đó không có từ thay thếhoặc từ thay thế quá dài và phức tạp Từ mượn xuất hiện trong một ngôn ngữkhi từ đó được nhiều người nói ngôn ngữ đó sử dụng và mang một ý nghĩanhất định”

Trong nền ngôn ngữ thế giới, hầu như không có quốc gia nào là có vốn

từ “tự nó”/ mà không đi vay mượn các quốc gia khác, Việt Nam là một trongnhững quốc gia đi vay mượn từ ngữ khá nhiều của các quốc gia khác nhau

Trang 7

trên thế giới như Hán, Pháp, Anh, Chúng ta sử dụng những tự mượn của cácquốc gia này trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống

Ngoài việc vay mượn do không có, thiếu từ, còn xuất hiện một kiểu vay mượn có sẵn rồi những vẫn vay mượn

Ví dụ 3: Chết/ hy sinh/ băng hà/ quy tiên/ từ trần

Buồn/ sầu/ sầu não/u sầu

Trang 8

Ví dụ 5: Blouse: bờ - lu

(2) Complet: com lê

(3) Ciné/ Cinéma: Xi – nê

(4) Sandale: xăng – đan

+ Thay đổi hoàn toàn vỏ ngữ âm: trường hợp này ta hay gặp xuất hiệntrong từ mượn tiếng Hán, ta chỉ mượn nội dung ngữ nghĩa ( cách dịch)

Ví dụ

Sơn thủy hữu tình Núi sông có tình

Bách phát bách trúng Trăm phát trăm trúng

Hựu hồng hựu chuyên Vừa hồng vừa chuyên

Ngưu đầu mã diện Đầu trâu mặt ngựa

1.1.1.1.2 Vay mượn về hình thái cấu trúc

+ Giữ nguyên hình thái – cấu trúc như ngôn ngữ đi vay mượn

Xảy ra điều này khi ngôn ngữ đi vay và ngôn ngữ cho vay cùng thuộcloại hình ngôn ngữ hoặc có sự giống nhau về cấu tạo từ

Ví dụ theo báo cáo luận án Thạc sĩ của

Các từ tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt nhờ cách đọc Hán Việt gồmcác từ đơn tiết như:

• Nhóm từ chỉ mùa: xuân, hạ, thu, đông,,,

• Nhóm từ chỉ đơn vị hành chính: thôn, ấp,xã, tổng, châu, huyện, phủ,trấn, tỉnh, phường, quận…

• Nhóm từ chỉ đạo đức phương Đông: trung, hiếu, lễ, nghĩa, trí, tín,công, dung, ngôn, hạnh…

• Nhóm từ chỉ âm dương ngũ hành: âm, dương, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ…

• Nhóm từ chỉ cuộc đời con người: số, kiếp, duyên, phận, mệnh, họa, phúc…+ Thay đổi cho phù hợp với hình thái- cấu trúc ngôn ngữ đi vay

Điều này thường xuyên xảy ra trong các ngôn ngữ biến hình, đó là sựthay đổi trật tự các yếu tố trong từ vay mượn cho phù hợp với đặc trưng hình

Trang 9

thái của ngôn ngữ đi vay Tiêu biểu như trong tiếng Việt các yếu tố là chính +phụ, còn trong tiếng Hán là phụ+ chính.

1.1.1.1.3 Vay mượn về bình diện ngữ nghĩa

+ Mượn toàn bộ nội dung ngữ nghĩa của từ mượn đó Ta hay bắt gặptrường hợp này trong các thuật ngữ khoa học

Ví dụ 6 : Trong ngành y học ta hay bắt gặp các từ như: a – mi – đan

(amydal)0; a – xit (acide); vắc – xin (vaccin); vi – ta – min (vitamine)…

+ Mượn một nghĩa hoặc một vài nghĩa của từ đa nghĩa:

Ví dụ 7: Từ cravate trong tiếng Pháp có nghĩa là: Dải vải quấn quanh cổ

áo, thắt nút, trang trí; Khăn quàng cổ (phụ nữ); Băng thắt (đầu ngọn cờ); Dâyôm; Miếng văn cổ (thể thao), , Khi thâm nhập vào tiếng việt, từ này mangnghĩa “ dải vải quấn quanh cổ áo, thắt nút, trang trí…” Các biến thể củaCravate trong tiếng Việt là: ca- vát; cà- rà- vạt; cà vát;…

+ Mượn và có những thay đổi nhất định về nội dung nghĩa vốn có

Ví dụ 8: Một số từ Hán Việt chỉ màu sắc trong tiếng Hán dùng để chỉ các

màu cơ bản khi sang tiếng Việt được dùng để chỉ mức độ của từng loại màu:

Bạch (trắng) Trắng bạch, trắng phau, trắng lốp, trắng

tươi, trắng muốt,…

Huyền ( đen) Đen huyền, đen tuyền, đen óng

+ Mượn và trên cơ sở nghĩa mượn để phát triển nghĩa mới

Ví dụ 9: Allo trong tiếng Pháp là thán từ để “thu hút sự chú ý” Khi sử

dụng trong tiếng Việt, allo được sử dụng trong phạm vi nghĩa “gây sự chú ýkhi chuẩn bị nói trước đám đông, khi gọi loa,thoại

1.1.1.1.4 Vay mượn ở bình diện chữ viết

Trang 10

+ Mượn hoàn toàn cách viết trong ngôn ngữ đi mượn

Ví dụ 10: trong tiếng Anh như format, key, bit,…

+ Thay đổi một phần cho phù hợp với cách đọc, cách viết của ngôn ngữcho đi vay

Ví dụ 11: Sắc – xô – phôn (Saxophone), sô – đa (soda), ca – nô (canot)

+ Thay đồi hoàn toàn cách viết của từ mượn

Trường hợp này xảy ra khi vay mượn nội dung ngữ nghĩa mà khôngvay mượn ở bình diện hình thức

Ví dụ 12: nút cổ chai ( bottle neck), bàn đạp (pedan)…

1.1.1.2 Các cách vay mượn từ vựng

+ Dịch nghĩa

+ Phiên âm: Đây là cách vay mượn từ vựng bằng cách dựa trên âm đọccủa từ ngữ cho vay để ghi lại từ ngữ đó bằng cách đọc, cách viết của ngônngữ đi vay

Ví dụ 13: Một số từ tiếng Anh

(1) milo -> mi – lô (nghiêng về chữ)

(2) valentine -> va – len – tin (nghiêng về chữ)

(3) valentine -> va – len – thai (nghiêng về âm đọc)

(4) virus -> vi- rút ( nghiêng về chữ)

(5) virus -> Vai – rớt (nghiêng về âm đọc)

+ Mượn nguyên hình dạng của nguyên ngữ

Cách vay mượn này thể hiện ở hình thức chữ viết; sử dụng nguyên cáchviết chính tả đơn vị từ vựng của ngôn ngữ đi vay; còn cách đọc thì cố gắngvới cách đọc của nguyên ngữ

Ví dụ 14: Trong tiếng Anh có các từ được thâm nhập vào tiếng Việt

như: stress; cotton, silk,…

1.1.1.3 Hiện tượng ngôn ngữ lai tạp

Trang 11

UNESCO đã định nghĩa “Ngôn ngữ lai tạp là một thứ ngôn ngữ đượcdùng theo thói quen của những người có tiếng mẹ đẻ khác nhau, nhằm làm dễdàng trong giao tiếp giữa họ”

Hiện tượng ngôn ngữ lai tạp được thể hiện dưới rất nhiều các đặc điểmkhác nhau, tuy nhiên ở báo cáo này chỉ nêu đến hiện tượng lai tạp tiếng Anhtrong tiếng Việt

Theo báo cáo Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ “ Sự thâm nhập của tiếngAnh vào tiếng Việt trên một số phương tiện truyền thông đại chúng ở ViệtNam” của Tôn Nữ Nguyệt An ( Trường ĐHSP TPHCM), hiện tượng pha tạpAnh – Việt được biểu hiện ở 3 mặt , chủ yếu là ngữ âm và từ vựng:

- Về ngữ âm

Khi các từ tiếng Anh được phát âm theo âm tiết tiếng Việt thì sẽ kéotheo sự tham gia của các dấu thanh Tuy nhiên tần suất xuất hiện của cácthanh là khác nhau

Ví dụ 15:

Thanh ngang: ghêm (game); lai (like)…

Thanh sắc: pót (post); gút (good)…

Thanh huyền: tôn- nờ (toner), cơn-vi-niền (convinient)…

Thanh hỏi: oẳn (one) ,…

- Về từ vựng

Tính pha tạp từ vựng thể hiện ở cách dùng pha trộn từ ngữ Anh – Việttrong nói năng của nhiều người Trong quá trình vay mượn, từ ngữ của ngônngữ đi vay như ngôn ngữ Tiếng Việt bị giản lược đi rất nhiều

Ví dụ 16:

Giới trẻ Việt thường có những câu giao tiếp thông thường với nhau như:

• Hôm nay xem đá bóng được free vé vào ( vé miễn phí)

• Bộ quần áo này đang hot trên mạng đấy ( đang nổi, đang thu hút)

Trang 12

Tuy nhiên sự pha tạp này không chỉ diễn ra trong giao tiếp thườngngày mà còn diễn ra trong ngôn ngữ báo chí Giả dụ:

Theo cách hiểu của thời đại ngày nay, Nhạc trẻ là thể loại nhạc dành

cho lứa tuổi từ 16-30 tuổi, là những bài hát mang xu hướng trẻ trung có chứađựng những cách cảm, cách nghĩ phù hợp với những người trẻ tuổi, nhạc trẻnhìn chung vô cùng sôi động và có giai điệu nhanh, mạnh, những bài nhạc trẻtrữ tình sâu lắng cũng thường chỉ phù hợp với tâm trạng của lớp trẻ và chủyếu phục vụ cho tinh thần của lớp trẻ mà ở những độ tuổi khác khi nghe dòngnhạc này sẽ cảm thấy không phù hợp mà chỉ thích nghe những bản nhạc đicùng năm tháng

Nhạc trẻ hướng về đối tượng những người trẻ tuổi thuộc tầng lớp thanhthiếu niên- lứa tuổi đang có sự chuyển biến rõ rệt trong tâm sinh lí, lứa tuổimới biết yêu/đã/đang yêu, thể loại nhạc trẻ đáp ứng được nhu cầu về tinh thầncủa họ khi đưa ra phần lớn các bài hát mang chủ đề tình yêu nam nữ, một số ítkhác hát về tình bạn, những khám phá của tuổi trẻ Các nhạc sĩ sáng tác nênthể loại nhạc này phần lớn cũng đều là những người trẻ tuổi, có thể thấu hiểu

và nắm bắt được suy nghĩ của các khán giả của mình nên sẽ viết lời phù hợp

Trang 13

với từng tâm trạng cũng như kết hợp với giai điệu phù hợp để thu hút đôngđảo lượng khán giả đến với thể loại nhạc trẻ hơn.

1.2.2 Mối quan hệ giữa phần lời và phần nhạc trong bài hát nhạc trẻ

Phần lời và phần nhạc đều là những yếu tố vô cùng quan trọng quyếtđịnh nên thành công của một ca khúc nhạc trẻ

Phần lời là phần câu chữ do người nhạc sĩ sáng tác, câu chữ đó đượcthể hiện phụ thuộc vào tài năng, sự sáng tạo cũng như chiều sâu cảm xúc củangười nhạc sĩ, phần lời hay sẽ khiến khán giả chú ý, phần lời nếu đánh trúngvào tâm trạng và cảm xúc của khán giả sẽ gây được hiệu ứng cao trong việclay động trái tim của người nghe

Phần nhạc là phần giai điệu của bài hát, tùy từng bài khác nhau sẽ cónhững giai điệu riêng Những bài hát với nội dung hoài niệm, nhớ lại kí ức cũthường kèm với những giai điệu sâu lắng, da diết, ngược lại những bài hátmang tâm trạng vui tươi sẽ thường đi kèm với những giai điệu mạnh mẽ, khỏekhoắn , tiết tấu nhanh và mạnh

Phần lời và phần nhạc giống như hai mặt của một vấn đề, nếu thiếu mộttrong hai yếu tố đó, bài hát sẽ không được ra đời Song nếu bài hát được rađời nhưng chỉ có phần lời hay, phần nhạc không đủ hấp dẫn với người nghe,hoặc phần nhạc hay, nhưng phần lời lãng xẹt mà không biểu thị những cảmxúc cụ thể cũng đều khiến cho bài hát mất đi sự hấp dẫn của nó

Phần nhạc và phần lời nên có sự ăn khớp, thống nhất , hòa hợp vớinhau, dựa vào nội dung mà bài hát phản ánh mang tâm trạng buồn hay vui để

có được phần nhạc cũng như phần lời phù hợp, chúng luôn phải bổ sung lẫnnhau để khiến bài hát khi đến với khán giả sẽ không bị rơi vào tình trạng

“vênh” Một bài hát hay là bài hát đó phải có sự trọn vẹn về cả nhạc và lờigiống như phần “xác” và phần “hồn”

1.3 Xu hướng đưa những đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh trong lời bài hát nhạc trẻ giai đoạn 2002- 2018

Trang 14

Trong thời đại mới khi tiếng Anh ngày càng trở nên phổ biến ở mọiphương diện truyền thông đại chúng, thì việc chúng xuất hiện trong âm nhạckhông phải là ngoại lệ Từ năm 2002 khi mới xuất hiện hiện tượng đưa nhữngđơn vị ngôn ngữ tiếng Anh tiếng Anh vào các bài hát nhạc trẻ Việt còn rời rạc

và ít ỏi, thì cho đến năm 2018 hiện tượng này đã trở nên vô cùng phổ biến vàthông dụng, gần hai thập kỉ trôi qua, tiếng Anh ngày càng thâm nhập sâu hơnvào trong đời sống tinh thần của người Việt và có xu hướng tăng mạnh mẽhơn trong những năm tới

Việc chêm xen những đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh tiếng Anh vào trongcác bài hát Việt Nam trước hết bắt đầu bằng những đơn vị ngôn ngữ tiếngAnh nhỏ lẻ như từ, cụm từ rồi dần sang câu và đoạn, thậm chí chiếm 2/3 bàihát nhạc Việt, sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu hiện tượngvay mượn ngôn ngữ này

Trang 15

Chương 2: KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁCH THỨC SỬ DỤNG TIẾNG ANH TRONG LỜI CÁC BÀI HÁT NHẠC TRẺ

GIAI ĐOẠN 2002-2018

Để có cái nhìn khách quan hơn về hiện tượng này, chúng tôi đã khảo sát

130 bài nhạc trẻ Việt trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến nay (2018),trong đó cụ thể qua các khía cạnh sau:

2.1 Đặc điểm của những đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh trong lời bài hát nhạc trẻ giai đoạn 2002-2018

2.1.1 Đặc điểm cấu tạo

Bảng 2.1: Thống kê tỉ lệ và số lượng đơn vị ngôn ngữ vay mượn

ĐVNN vay mượn Phần trăm Số lượng

Ví dụ 18: Trong ca khúc “Mặt trời của em” được phát hành năm 2017

do ca sĩ JustaTee sáng tác có sử dụng câu “I just wanna be with you”, câu hát cũng được lặp lại nhiều lần trong bài tạo nên điểm nhấn cho toàn bộ ca khúc Những câu có kiểu cấu trúc đơn giản như vậy xuất hiện rất nhiều trong các bài hát Việt có vay mượn của ngôn ngữ tiếng Anh tiếng Anh, có lẽ cấu trúc đơn giản khiến người đọc có thể dễ dàng hát theo cùng với giai điệu bắt tai khiến cho việc sử dụng câu trở nên vô cùng phổ biến trong các ca khúc có hiện tượng vay mượn tiếng Anh

Ví dụ 19: Trong ca khúc “Miss you” được phát hành năm 2015 do nhạc sĩ Bảo Chinh sáng tác có sử dụng câu: “Miss you so much and i need

Trang 16

you” ( Nhớ em rất nhiều và anh cần em) , cấu trúc câu khá đơn giản và cũng

sử dụng những từ ngữ quen thuộc không gây khó khăn cho người nghe trong việc dịch nghĩa

Tuy nhiên có sự chênh lệch tỉ lệ đáng kể với đơn vị ngôn ngữ câu là từ,cụm từ, đoạn Mỗi đơn vị ngôn ngữ vay mượn này lần lượt chiếm 36%;38,5%; 45% Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch như vậy là bởi các ca khúcmuốn vay mượn một câu hoàn chỉnh để mang một ý nghĩa cụ thể hoàn chỉnh,biểu thị sắc thái trọn vẹn về mặt ngữ nghĩa cho ca khúc của mình, hay khivay mượn từ sẽ gây được điểm nhấn cho lời ca, tạo ấn tượng cho khán giả,còn nếu vay mượn cụm từ thì chỉ xuất hiện ít hơn trong việc chêm xen lẫn ca

từ tiếng Anh và tiếng Việt, tạo ấn tượng nhất thời cho ca khúc, làm ca khúc

có điểm khác lạ chứ để biểu đạt về mặt ý nghĩa một cách trọn vẹn thì việcmượn từ và cụm từ đôi khi không đạt được mục đích đó, nếu có cũng chỉchiếm số lượng rất ít

Ngoài ra thì việc mượn đơn vị ngôn ngữ là một đoạn/nhiều đoạn tiếngAnh trong một ca khúc cũng chiếm tỉ lệ cao thứ hai sau việc mượn câu Taxem xét ví dụ:

Ví dụ 20: Ca khúc “Cause I love you” được phát hành năm 2016 do nhạc sĩ Đỗ Hiếu sáng tác có đoạn sau:

Tell me babe eh eh

Why did you make me cry

Tell me babe eh eh

I miss you every night

Cause i love you love you

Hãy nói với anh em à Tại sao em lại khiến anh khóc Hãy nói với anh em à

Anh nhớ em hàng đêm Bởi vì anh yêu em, anh yêu em

Ngoài những ca từ tiếng Việt thì trong bài hát có sử dụng một đoạnnguyên tiếng Anh, điều này xảy ra trong rất nhiều ca khúc nhạc Việt, thậm chícác đoạn còn xuất hiện với mức độ dày đặc hơn:

Ví dụ 21: Ca khúc Chocolate được phát hành năm 2016 do ca sĩ Trang Pháp sáng tác và thể hiện:

Trang 17

Ngôn ngữ vay mượn Dịch nghĩa

- I'm the sweetie chocolate

Baby honey chocolate

Are you still my cho-co-lat-te ???

Cho-co-la-te

I don't like the sweet words that you

say to me, you said the same things to

her

I don't like the sweet things that you

give to me, you gave the same things

I don't like her to be your honey baby

I don't like her to be your honey

Em không thích những lời ngọt ngào

mà anh nói với em, anh đã nói những điều tương tự với cô ta

Em không thích những điều ngọt ngào anh làm cho em, anh đã làm những điều tương tự với cô ta

Em không thích cô ta trở thành tình nhân bé nhỏ của anh

Em không thích cô ta trở thành tình nhân yêu dấu của anh

Em chỉ muốn anh là của em và chỉ duy nhất của em

Em chỉ muốn anh là người tình yêu dấu của em

Việc mượn cả một đơn vị đoạn tiếng Anh vào trong lời bài hát tiếngViệt đã nên phổ biến khi ngày càng có nhiều bài hát xuất hiện hiện tượng này

và điều này có dấu hiệu tăng dần theo từng năm, cách chêm xen này theonhiều người cho là bình thường bởi đất nước Việt Nam đang dần phải hộinhập quốc tế, mà tiếng Anh lại là ngôn ngữ hội nhập cho nên để khán giả ởnhiều quốc gia trên thế giới biết đến bài hát của quốc gia mình là điều nênlàm Song cũng có những ý kiến trái chiều cho rằng việc chêm xen quá nhiều

sẽ dẫn đến mất đi cái đẹp của ngôn ngữ mẹ đẻ, mất đi thuần phong mỹ tục củangười Việt

Trang 18

Chúng tôi có đi sâu nghiên cứu vào tỉ lệ gia tăng hàng năm đối với hiệntượng chêm xen ngôn ngữ tiếng Anh vào trong các bài hát nhạc Việt thôngqua các giai đoạn khác nhau, cụ thể điều đó được minh họa qua bảng sau:

Bảng 2.2: Thống kê các đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh vay mượn

qua các giai đoạn Đơn vị ngôn ngữ 2002-2010 2011-2014 2015- 2018

có dấu hiệu sẽ tăng nhanh hơn trong các giai đoạn tiếp theo Lí giải về nguyênnhân vì sao đơn vị từ và cụm từ lại ít được đưa vào hơn có rất nhiều quanđiểm khác nhau Song chúng tôi cho rằng “từ” và “cụm từ” chỉ được đưa vàobài để gây ấn tượng chứ không biểu đạt một nội dung trọn vẹn về cả hìnhthức lẫn ý nghĩa của câu hát Việc vay mượn từ hay cụm từ đôi khi chỉ khiếncâu hát trở nên có vần, có nhịp điệu hơn, nói cách khác là phục vụ cho mụcđích chơi chữ của nhạc sĩ

Ví dụ 22 : Ca khúc “Cô gái m52” được phát hành năm 2018 do ca sĩ Huy và Tùng Viu sáng tác và thể hiện có câu:

“ Thì dù cho ai có nói tình mình hơi sai sai

Anh vẫn sẽ đưa em fly high high high”

Phân tích lời hát trên, ta thấy ở câu 1 kết thúc bằng từ “sai” , âm “ai”, câuthứ 2 được kết thúc bởi cụm “Fly high” ( đọc là: phờ- lai hai), âm “ai”, nghĩa củacụm từ đó là “Bay cao”, ta dịch được nghĩa cả câu theo tiếng Việt là:

“ Thì dù cho ai có nói tình mình hơi sai sai

Trang 19

Anh vẫn sẽ đưa em bay cao cao cao”

Dễ nhận ra rằng rõ ràng việc chêm cụm từ tiếng Anh “fly high” vào lờihát vừa khiến lời bài hát trở nên ấn tượng, hấp dẫn người nghe hơn, vừa khiếncâu hát trở nên có vần hơn khi cuối cả hai câu đều kết thúc bằng từ có cáchphát âm chứa âm “ai” tạo nên được hiệu ứng rất bắt tai cho người nghe

Song nếu chỉ mượn từ và cụm từ thì nhiều lúc không thể diễn đạt đượcmột ý nghĩa trọn vẹn và không mang lại nhiều cảm xúc cho người nghe bằngviệc đưa cả một câu hoặc một đoạn tiếng Anh vào lời bài hát Tỉ lệ đưa câutiếng Anh vào lời bào hát chiếm tỉ lệ cao nhất, và những câu tiếng Anh nàycũng không quá đánh đố người nghe, người nghe không cần phải mất quánhiều thời gian để nghe cho ra xem nghĩa của câu ấy là gì Ngược lại đối vớiđoạn tiếng Anh thì hạn chế hơn, số lượng cũng ít hơn là bởi cho dù chúng tađang trong gia đoạn hội nhập tiếng Anh nhưng không phải ai cũng có đủ trình

độ tiếng Anh để nghe và hiểu được một đoạn tiếng Anh dài khi được đưa vàomột bài hát

Ví dụ 23: Ca khúc “Nothing in your eyes” (Không còn gì trong đôi mắt em/anh) được phát hành năm 2011 do hai ca sĩ Yanbi và và Mr.T sáng tác có

sử dụng câu:

“ It’s too late to apologize!

Forget forget my eyes”

(Tạm dịch: Đã quá muộn để xin lỗi! Hãy quên đi, quên đi đôi mắtem/anh)

Việc sử dụng cả câu tiếng Anh như vậy sẽ mang một ý nghĩa hoànchỉnh khiến người nghe hiểu được lời bài hát đang muốn nhắm đến nội dung

gì, khía cạnh gì và có thể “cảm hiểu” được nội dung bài hát một cách khá dễdàng mà lại gây được ấn tượng sâu sắc kết hợp với phong cách biểu diễn của

ca sĩ và giai điệu của bài hát Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khi ta đưa cảđoạn tiếng Anh vào bài hát sẽ mang đến nhiều nguồn ý kiến khác nhau :

Trang 20

Ví dụ 24: Ca khúc “Là con gái phải xinh” được phát hành năm 2011

do nhạc sĩ Đỗ Hiếu sáng tác có sử dụng đoạn tiếng Anh như sau:

Oh your body is callin me

Fantasy my favorite

Party party on da beach

Your flavor whatchu call it

Get it right,

Would you mind

take my time

would you take the lead ?

would you take the lead?

what you tell me is

Ya, baby,lemme take my time baby

All I know is you got yours and I got mine,

And its exciting baby

Whatchu know about it

Boomerang I keep you coming back

escalated when we’re on the track

That we killin the track like ya baby ya baby

Đoạn lời bài hát trên không hẳn quá khó nhưng cũng không hề dễ dịchđối với khán giả bởi trong đoạn có sử dụng rất nhiều từ lóng mà nếu takhông tìm hiểu kĩ thì sẽ không biết Chưa kể đến yếu tố khi ca sĩ hát lênđoạn đó cùng với tiết tấu và nhịp điệu nhanh sẽ khiến người nghe rơi vàotình trạng “choáng ngợp” bởi họ không hiểu và không định hình được mìnhđang nghe cái gì

2.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa

Khi đi nghiên cứu về phương diện ngữ nghĩa của ngôn ngữ tiếng Anh,chúng tôi có đưa ra bảng thống kê phân loại các trường nghĩa khác nhau,

Trang 21

trong đó tập trung chủ yếu vào ba trường nghĩa chính là trường nghĩa tìnhcảm (yêu/thích/ghét/…), trường nghĩa cảm xúc (buồn/vui/…), trường nghĩahành động:

Bảng 2.3: Bảng thống kê các trường nghĩa trong

các đơn vị ngôn ngữ tiếng Anh

độ của các trường nghĩa xuất hiện trong lời các bài hát nhạc trẻ Việt, chiếm tỉ

lệ cao nhất là trường nghĩa hành động (44%), sau đó lần lượt là các trường nghĩa tình cảm (34%) và trường nghĩa cảm xúc (22%) Ta đi xem xét các ví

dụ cụ thể:

Ví dụ:

(25) “My baby I love you so much forever you and I”

Lời hát được trích ra từ ca khúc “Please tell me why” phát hành năm

2006 của Vương Khang và Bảo Thy tạm được dịch là “Anh yêu hỡi em yêuanh rất nhiều mãi mãi chỉ anh và em”, câu hát thể hiện một cách rõ ràng tìnhcảm mà cô gái thể hiện với chàng trai, cho nên chúng ta có thể khẳng địnhđây là câu nói mang trường nghĩa thể hiện tình cảm đôi lứa (yêu)

(26) “Mah baby im so sad when you say you don’t want me”

Lời hát được trích ra từ ca khúc “Xin anh đừng” phát hành năm 2012

do tác giả Lil Knight sáng tác tạm được dịch là “Người dấu yêu hỡi em rấtbuồn khi anh nói anh không cần em” , câu hát thể hiện được tâm trạng buồn

và thất vọng của cô gái khi bị người yêu bỏ rơi, nó mang trường nghĩa chỉcảm xúc một cách rất rõ nét mà cụ thể ở đây là cảm xúc tiêu cực

Trang 22

(27) “Right now i sing mah song Let’s show me what u feel

Lời hát được trích ra từ ca khúc La La phát hành năm 2007 của Young Unotậm được dịch là “Ngay lúc này tôi sẽ hát bài hát của tôi Hãy nói cho tôi biếtcảm xúc của bạn” Lời hát thể hiện hành động “hát” của nhân vật, do vậymang trường nghĩa thể hiện hoạt động

2.1.3 Đặc điểm ngữ pháp

2.1.3.1 Từ loại

Từ loại trong tiếng Anh được phân chia làm 8 loại: Danh từ, động từ,tính từ, trạng từ, đại từ, liên từ, giới từ, thán từ Trong các đơn vị ngôn ngữtiếng Anh tiếng Anh khi vay mượn chêm xen vào các bài hát nhạc Viêt, các cakhúc này có sử dụng ở mỗi bài khác nhau những tỉ lệ các loại từ nhất định Cụthể tỉ lệ vay mượn các loại từ trong tiếng Anh vào việc chêm xen trong cácbài hát nhạc Việt được thể hiện cụ thể thông qua bảng sau:

Bảng 2.4: Bảng thống kê các từ loại và tần suất xuất hiện của các đơn vị

ngôn ngữ tiếng Anh trong lời các bài hát Việt

Trang 23

Tổng số 1365 100%

Nhìn từ bảng thống kê trên chúng ta có thể thấy Động từ tiếng Anhchiếm số lần xuất hiện nhiều nhất trong các bài hát nhạc Việt, chiếm tỉ lệ caothứ 2 là Danh từ, ngoài ra số lần xuất hiện các từ được sắp xếp theo thứ tự làĐại từ, Giới từ, Tính từ, Thán từ, Trạng từ và Liên từ Tỉ lệ các Động từ tiếngAnh được chêm xen vào trong các bài hát chiếm đến 45% trên tổng số 100%,

lí giải nguyên nhân vì sao dẫn đến hiện tượng này không khó bởi trong cácbài hát, chủ yếu thường dùng các động từ diễn tả hành động để thể hiện nộidung của bài hát, ngoài ra có dùng danh từ để gọi tên các sự vật, hiện tượng,các đại từ để xưng hô, các tính từ để miêu tả tính chất của sự vật, đối tượng,các trạng từ để bổ sung ý nghĩa cho lời bài hát,…

Sau đây chúng tôi sẽ tiếp tục đưa ra bảng thống kê phân loại các loạiđộng từ được xuất hiện trong lời các bài hát nhạc Việt với những sắc thái ýnghĩa khác nhau, cụ thể như sau:

2.1.3.2 Câu theo cấu tạo ngữ pháp

Trong các bài hát nhạc trẻ Việt Nam từ năm 2002 đến năm 2018 có vaymượn các loại câu đơn tiếng Anh, câu ghép tiếng Anh, câu phức tiếng Anh, vềtần số và tỉ lệ vay mượn các loại câu, ta xem xét bảng sau:

Bảng 2.5: Thống kê tần số xuất hiện của các loại câu theo ngữ pháp tiếng Anh vào lời các bài hát nhạc Việt Nam giai đoạn 2002-2018

Quan sát bảng thống kê trên, chúng ta có thể thấy một cách khá rõ ràng

số câu đơn tiếng Anh chiếm số lần xuất hiện nhiều nhất (66%), ngoài ra có

Ngày đăng: 18/07/2019, 14:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Văn Khang (1999), “Ngôn ngữ học xã hội- Những vấn đề cơ bản”, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ngôn ngữ học xã hội- Những vấn đề cơ bản”
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
[2]. Nguyễn Thị Khánh Dương (2009), “Ngôn ngữ chat: tiếng Việt và tiếng Anh”, Luận văn Thạc sĩ Ngôn Ngữ học, Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường ĐHSP TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Ngôn ngữ chat: tiếng Việt và tiếng Anh”
Tác giả: Nguyễn Thị Khánh Dương
Năm: 2009
[3]. Tôn Nữ Nguyệt An (2007), “Sự thâm nhập của tiếng Anh vào tiếng Việt trên một số phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt nam”, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường ĐHSP TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự thâm nhập của tiếng Anh vàotiếng Việt trên một số phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt nam”
Tác giả: Tôn Nữ Nguyệt An
Năm: 2007
[4]. Nguyễn Thúy Nga (2017), “Từ mượn tiếng Anh và mức độ vay mượn trong tạp chí Tiếng Việt”, Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường ĐHSP HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ mượn tiếng Anh và mức độ vaymượn trong tạp chí Tiếng Việt”
Tác giả: Nguyễn Thúy Nga
Năm: 2017
[5]. Trần Kiều Huế (2012), “Một số vấn đề chung về vay mượn từ vựng và khái quát về từ mượn Hán trong tiếng Nhật”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Ngoại Ngữ 28 (2012) 255-265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về vay mượn từ vựngvà khái quát về từ mượn Hán trong tiếng Nhật”
Tác giả: Trần Kiều Huế
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w