Từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài luận văn với tiêu đề: “ Hoạt động công tác xã hội nhóm trong trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/ AIDS tại Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục và lao
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LÊ THÙY DUNG
HO¹T §éNG C¤NG T¸C X· HéI NHãM TRONG TRî GIóP T¢M Lý CHO TRÎ EM NHIÔM HIV /AIDS T¹I TRUNG T¢M CH÷A BÖNH - GI¸O DôC – LAO §éNG X· HéI II, Hµ NéI.
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trịnh Văn Tùng
HÀ NỘI, 2019LỜI CÁM ƠN
Trang 2hướng dẫn, giúp đỡ quý báu từ phía các thầy cô Với lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc nhất tôi xin bày tỏ lời cám ơn chân thành đến:
Ban chủ nhiệm khoa Công tác xã hội trường Đại học Sư phạm Hà Nội
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoànthành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS TS Trịnh Văn Tùng – Trưởngkhoa Xã hội học trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã hết lònghướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các anh chị cán bộ tại Trung tâm Chữa bệnh,giáo dục và lao động xã hội II, đặc biệt là những trẻ em tại trung tâm đã nhiệttình giúp đỡ
Do kinh nghiệm còn hạn chế và thời gian có hạn nên trong quá trìnhnghiên cứu và thực hiện luận văn, mặc dù cố gắng nhưng tôi vẫn không tránhkhỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý từ phía các thầy côgiáo để tôi có thể hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 03 năm 2018
Học viên
Lê Thùy Dung
Trang 3Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động công tác xã hội nhóm trong việc
trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS
Trang 4Chương 2: Thực trạng áp dụng các hoạt động công tác xã hội trong trợ
giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/ AIDS tại Trung tâm
II 41 2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu .
Trang 553
3.2 Vận dụng mô hình công tác xã hội nhóm vào trợ giúp tâm lý cho trẻ
em nhiễm HIV/ AIDS tại Trung tâm
Trang 6MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo báo cáo tại Hội nghị sơ kết tình hình thực hiện Quyết định số 570/QĐ-TTg ngày 22/4/2014, số trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS năm 2014 tạiViệt Nam là 121.723 trẻ, trong đó trẻ em nhiễm HIV/AIDS là 6.800; trẻ bịảnh hưởng trực tiếp bởi HIV/AIDS là 73.129; trẻ có nguy cơ nhiễm cao (Trẻ
em sử dụng ma túy; trẻ em là con của người mua dâm, bán dâm, sử dụng matúy; trẻ em sống trong các cơ sở trợ giúp trẻ em) là 41.794
Việc bảo đảm quyền cho trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS được Nhà nước rấtquan tâm Đơn cử như theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quyđịnh: Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnh đặc biệtđược hưởng các quyền của trẻ em; hỗ trợ cá nhân, gia đình nhận chăm sóc,nuôi dưỡng trẻ em; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp trẻ em,thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em để bảo đảm cho mọi trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt, không còn nơi nương tựa được chăm sóc, nuôi dưỡng
Ngoài ra, để đảm bảo tốt hơn quyền của trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS,năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 84 và năm 2014,ban hành Quyết định 570 để đảm bảo thực hiện chăm sóc cho trẻ em bị nhiễmHIV được tốt hơn Trong đó, quy định trách nhiệm của các cấp, các ngành,đặc biệt là quy định trách nhiệm của Bộ GD&ĐT phải đảm bảo để trẻ nhiễmHIV/AIDS được đến trường
Những nguy cơ tổn thương mà trẻ em nhiễm HIV đang phải đối mặttương đối cao Gia đình và cộng đồng của trẻ có thể bị ảnh hưởng rất mạnhbởi những tác động của HIV như cha mẹ các em ốm yếu, không có khả nănglàm việc và bảo vệ con cái Việc này có thể làm xáo trộn cuộc sống của trẻ,khiến sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của trẻ bị đe dọa Trẻ em mồcôi vì HIV được xem là có nguy cơ tổn thương nhiều hơn nữa– các em có thể
Trang 7bị bỏ rơi, sao nhãng, không được chăm sóc đầy đủ, không thể đến trường.Điều này khiến đời sống tinh thần của trẻ em nhiễm HIV gặp phải nhiều khókhăn, thách thức.
Theo TS Kirstan Schoultz, Giám đốc UNAIDS tại Việt Nam phát biểutrong Hội thảo “Đánh gía tình hình trẻ em và HIV/AIDS tại Việt Nam”(2017), việc nâng cao đời sống tinh thần cho trẻ em nhiễm HIV là đặc biệtquan trọng vì khi bị tách ra khỏi cộng đồng trẻ em nhiễm HIV sẽ phải đốimặt với cái chết về mặt xã hội Sự phân biệt đối xử không chỉ ảnh hưởng đếntâm lý của trẻ em nhiễm HIV mà điều này còn gây hậu quả đáng tiếc đến giađình, nhà trường, cộng đồng
Hà Nội là một trong những thành phố lớn và thu hút đông đúc dân cưđến định cư, đậy cũng là thành phố có mật độ dân số đông nhất cả nước vàcũng là nơi có số lượng người nhiễm HIV cao nhất Tại Hà Nội đã có nhiềutrung tâm dành cho người nhiễm HIV Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục và laođộng xã hội 02 là một trong những trung tâm dành riêng để chăm sóc đốitượng trẻ em nhiễm HIV Hiện tại trung tâm đang chăm sóc và nuôi dưỡng 81trẻ mang trong minh căn bệnh thế kỷ Sự đãi ngộ với trẻ em tại trung tâmtương đối tốt nhưng trước khi vào trung tâm nhiều trẻ đã gặp khó khăn trongđời sống tinh thần và trong quá trình các em đi học, hòa nhập cộng đồngcũng gặp nhiều khó khăn
Từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài luận văn với tiêu đề: “ Hoạt động công tác xã hội nhóm trong trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/ AIDS tại Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục và lao động xã hội II, Hà Nội”
qua đây mong đóng góp một phần nhỏ bé trong nỗ lực nâng cao đời sống tinhthần đối với trẻ mắc căn bệnh thế kỷ nói chung và trẻ em nhiễm HIV trên địabàn thành phố Hà Nội nói riêng
Trang 82 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu nhằm xác định, làm sáng tỏ các nhu cầu nâng caođời sống tinh thần cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS từ đó ứng dụng phương phápcông tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ nâng cao đời sống tinh thần cho trẻ emnhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục và lao động xã hội II
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm trong việc trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễmHIV/AIDS từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục và lao động xã hội II
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Trẻ em nhiễm HIV tại Trung tâm Lao động xã hội II.
- Nhân viên, cán bộ, tổ chức làm việc với trẻ em nhiễm HIV tại Trungtâm Chữa bệnh, giáo dục và lao động xã hội II
3.3 Phạm vi nghiên cứu
-Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Chữa
bệnh, giáo dục và lao động xã hội II
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 5/11/2018 đến 20/5/2019
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Tại sao trẻ em nhiễm HIV/AIDS thường gặp vấn đề về tâm lý?
- Thực trạng của vấn đề tâm lý xảy ra đối với trẻ em nhiễm HIV/AIDStại Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục và lao động xã hội II, Hà Nội?
- Những yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ em nhiễm HIV/ADIS tạiTrung tâm II?
- Công tác xã hội phải làm gì để trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS?
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Mô tả đặc điểm tâm lý trẻ em nhiễm HIV/ AIDS tại Trung tâm Chữa
bệnh, giáo dục và lao động xã hội II
Trang 9- Xác định, đánh giá thực trạng vấn đề tâm lý của trẻ em nhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm II.
- Phân tích các nhu cầu của trẻ em nhiễm HIV/AIDS về tâm lý
- Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm trợ giúp tâm lý cho trẻ
em nhiễm HIV/ AIDS tại trung tâm Chữa bệnh, giáo dục và lao động xã hội II
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và cáctài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước
Đề tài này có sử dụng phương pháp phân tích tài liệu trong việc nghiêncứu các văn bản, các bài báo cáo khoa học liên quan đến trẻ em nhiễmHIV/AIDS cũng như vai trò của công tác xã hội với trẻ em nhiễm HIV/AIDS
để có thể thu thập được những thông tin đa dạng, những số liệu thống kêchính xác phục vụ mục đích nghiên cứu của đề tài
6.2 Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động quản lý, chăm sóc, hoạt động tham gia sinh hoạt,hoạt động tham vấn tâm lý, hoạt động quản lý ca và các hoạt động khác đốivới trẻ em nhiễm HIV/ AIDS tại trung tâm
6.3 Phương pháp công tác xã hội nhóm
Tác giả sử dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ nângcao đời sống tinh thần cho trẻ em nhiễm HIV/ADIS tại Trung tâm Chữa bệnh,giáo dục và lao động xã hội 02
- Thành viên nhóm gồm 09 thành viên tại Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục vàlao động xã II, tác giả lựa chọn thành viên từ 10 tuổi trở lên
6.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học thu thập thông tin bằng cách lập bảnghỏi cho nhóm đối tượng trong một khu vực nhất định ở một không gian, thờigian nhất định
Trang 10Cụ thể trong đề tài này có xây dựng một bảng hỏi là tổ hợp các câu hỏi
về thực trạng áp dụng công tác xã hội đối với trẻ em nhiễm HIV tại trung tâmChữa bệnh, giáo dục và lao động xã hội II Sử dụng phương pháp điều trachọn mẫu với 81 đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, không nơi nươngtựa thuộc các xã, huyện của Thành phố Hà Nội đang được nuôi dưỡng vàchăm sóc tại Trung tâm giúp có được những thông tin mang tính chính xác vàthực tế nhất
6.4.1 Mẫu nghiên cứu (điêu tra)
Theo báo cáo của trung tâm Chữa bệnh, giáo dục và Lao động xã hội IIhiện trung tâm đang chăm sóc và nuôi dưỡng 81 trẻ, trong đó số trẻ có độ tuổi
từ 10 trở lên là 61 trẻ Đây là những trẻ có đầy đủ năng lực, hành vi để thamgia điều tra Do vậy, nghiên cứu lựa chọn tất cả 61 trẻ có độ tuổi trên 10 đểđiều tra khảo sát
6.4.2 Giới thiệu mẫu nghiên cứu (điều tra)
6.5.2.2 Thời gian sinh sống ở trung tâm Chữa bệnh, giáo dục và Lao động xã hội II
Thời gian sinh sống
Trang 116.5.2.3 Xuất cư
Khá giả
Bình thường
Tiến hành phỏng vấn 2 đối tượng chính là:
- Phỏng vấn trẻ em nhiễm HIV/ AIDS hoặc gia đình của trẻ em nhiễmHIV/ AIDS (nếu có)
- Phỏng vấn nhân viên y tế, nhân viên công tác xã hội đang làm việc tạiTrung tâm
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài gồm 3 chương:
Trang 12Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động công tác xã hội nhóm trong việc
trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS
1.1 Tổng quan đề tài
1.2 Một số khái niệm công vụ
1.3 Một số lý thuyết vận dụng trong đề tài nghiên cứu
1.4 Chính sách của Nhà nước về trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS
Tiểu kết chương 1
Chương 2: Thực trạng áp dụng các hoạt động công tác xã hội trong trợ
giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/ AIDS tại Trung tâm II
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ em nhiễm HIV/ AIDS tại Trung tâm II
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý trẻ em nhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm 2.4 Nhu cầu các hoạt động công tác xã hội tại Trung tâm II
2.5 Đánh giá các biện pháp đã và đang sử dụng để trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm II
Tiểu kết chương 2
Chương 3: Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ nâng cao đời sống tinh thần cho nhóm trẻ em nhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm II
3.1 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp tâm lý cho trẻ
em nhiễm HIV/ AIDS tại Trung tâm II
3.2 Vận dụng mô hình công tác xã hội nhóm vào trợ giúp tâm lý cho trẻ emnhiễm HIV/ AIDS tại Trung tâm II
Tiểu kết chương 3
Kết luận và kiến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC TRỢ GIÚP TÂM LÝ CHO TRẺ EM NHIỄM
HIV/AIDS.
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS là một đề tài nóngbỏng được nhiểu nhà nghiên cứu quan tâm, trên thực tế chúng ta thấy có rấtnhiều tài liệu nói về trẻ em bị nhiễm HIV/ADIS
Năm 2005, với ngân sách tài trợ của tổng thống G Bush (Mỹ) quachương trình kế hoạch viện trợ khẩn cấp cho việc phòng chống HIV/AIDS(gọi tắt là PEPFAR), Ủy ban Dân số Gia đình trẻ em Trung ương phối hợpvới tổ chức Cứu trợ trẻ em Mỹ đã thực hiện cuộc nghiên cứu đánh giá về
“Tình hình trẻ em mồ côi và dễ bị tổn thương tại Việt Nam 12/2005 – 10/2007, đánh giá tình hình trẻ em và HIV/AIDS tại Việt Nam, suy nghĩ của trẻ sống chung với HIV, trẻ bị ảnh hưởng do HIV/AIDS và người chăm sóc” trẻ em trong độ tuổi từ 06 đến 18 tuổi, khảo sát được tiến hành tại
05 tỉnh thành trọng điểm có số lượng trẻ em nhiễm HIV cao nhất trong cảnước: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh và An Giang.Thông qua nghiên cứu định tính với các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luậnnhóm tiêu điểm, kết quả khảo sát cho thấy rằng hầu hết trẻ em mồ côi bởiHIV/AIDS được nuôi dạy bởi ông bà hoặc người bà con họ hàng Đa số trẻ
em bị HIV/AIDS và trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS sống trong hoàn cảnhkinh tế rất khó khăn Các em trở thành gánh nặng kinh tế gia đình cho ngườinuôi nên nguy cơ bỏ học của các em rất cao Tâm lý của các em luôn cảmthấy bị cô lập, thiếu người quan tâm chăm sóc Việc kỳ thị, phân biệt đối xửtrọng hệ thống y tế, trường học vẫn còn tổn tại
Cuốn sách “Sự thật về trẻ em và HIV/AIDS” đã được Bộ Giáo Dục và
Đào Tạo (Bộ GD&ĐT) biên soạn với sự hỗ trợ của các tổ chức Liên HợpQuốc (LHQ) tại Việt Nam vào tháng 8, 2010 Quyển sách này nhằm cung cấp
Trang 14thông tin về trẻ em và HIV/AIDS, với mục tiêu xóa đi những quan niệm sailầm về HIV và trẻ em bị ảnh hưởng bởi AIDS, và giảm kỳ thị và phân biệt đối
xử đối với các trẻ em này Bản thân cuốn sách này chưa đủ để xóa bỏ nhữngquan niệm sai lầm về HIV/AIDS và về trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS hay xóa bỏ
kỳ thị và phân biệt đối xử với các em Vì vậy, một bản Hướng dẫn truyềnthông đã được xây dựng là tài liệu dùng kèm cuốn sách để hỗ trợ ngườihướng dẫn khi tổ chức truyền thông theo hình thức tương tác và sáng tạo vàphát huy tối đa hiệu quả sử dụng của cuốn sách Hướng dẫn này dành chonhững ai tổ chức truyền thông cho cha mẹ, học sinh, cộng đồng về giảm kỳthị và phân biệt đối xử đối với HIV Những người làm công tác truyền thôngnày có thể là giáo viên, hiệu trưởng, cán bộ quản lý giáo dục, tình nguyệnviên cộng đồng, đại diện chính quyền địa phương, nhân viên tổ chức phichính phủ, các thành viên của tổ chức tôn giáo, trẻ em và gia đình bị ảnhhưởng bởi HIV Tài liệu hướng dẫn truyền thông gợi ý những hoạt động vàcách thức để thúc đẩy truyền thông liên cá nhân, thu hút sự quan tâm của các
cá nhân, cộng đồng, cha mẹ của trẻ và giáo viên, mà đây chính là chìa khóathay đổi hành vi và thái độ đối với trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV vàđạt mục tiêu chung về giảm kỳ thị phân biệt đối xử với HIV
Cuốn sách : “Hướng dẫn tư vấn cho trẻ em nhiễm HIV” (2013) do tác
giả Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ y tế kiêm cục trưởng Cục phòngchống HIV/AIDS chủ biên là một tài liệu quý giá nghiên cứu về tâm lý trẻ emnhiễm HIV Cuốn sách này giúp cho các cán bộ quản lý cũng như các cán bộ,nhân viên cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe liên quan đến trẻ em nhiễmHIV/AIDS hiểu hơn về tâm lý trẻ, thực hiện tốt hoạt động này, hạn chế nhữnghành vi bạo lực tinh thần gây ra ảnh hưởng tâm lý đối với trẻ em bị nhiễmHIV/AIDS Đồng thời, cuốn sách cũng là phương pháp hỗ trợ trẻ em nhiễmHIV/AIDS đắc lực về mặt tâm lý, người chăm sóc và những người quan tâmkhác cũng có thể tham khảo trong quá trình thực thi và tác nghiệp của cán bộ,
Trang 15nhân viên y tế, cán bộ cộng đồng, tình nguyện viên, truyền thông viên, nhânviên chăm sóc cộng đồng, cộng tác viên phòng chống HIV/AIDS đồng thờitham chiếu trong biên soạn và giảng dạy, tập huấn các nội dung có liên quanđến tâm lý trẻ em nhiễm HIV/AIDS.
Ngày 03/06/2015 tại Hà Nội, Ủy ban Dân số Gia đình Trẻ em Việt Nam,UNICEF cùng Quỹ Cứu trợ Trẻ em tại Thụy Điển và Tổ chức Plan
International đã tổ chức diễn đàn Nói về việc trợ giúp tâm lý cho trẻ em
nhiễm HIV/AIDS Tại diễn đàn này, các đại biểu tham dự đã lắng nghe
những thông tin về các trường hợp lạm dụng và bạo lực tinh thần với trẻ emnhiễm HIV đang diễn ra ngàt càng phức tạp, cũng như hiện tượng trẻ emnhiễm HIV bị bạo lực tinh thần từ phía gia đình, nhà trường, xã hội đang giatăng Quá đó, UNICEF và các đối tác tiếp tục tăng cường hệ thống báo cáo vềvấn đề bảo vệ trẻ em nhiễm HIV và xây dựng các dịch vụ hỗ trợ tâm lý – xãhội; hỗ trợ việc thiết lập và đào tạo mạng lưới cán bộ; xây dựng năng lực chocác cơ quan chính phủ và nhà cung cấp dịch vụ để xác định và xử lý cáctrường hợp ảnh hưởng tâm lý đối với trẻ em nhiễm HIV; khuyến khích nângcao nhận thức cho cộng đồng và trẻ em, nâng cao tính trách nhiệm các banngành địa phương, cộng đồng, gia đình trong việc chăm sóc và bảo vệ trẻ emnhiễm HIV, tuyên truyền vân động chính phủ xây dựng và thông qua luậtriêng để giải quyết những vấn đề bạo lực tinh thần đối với trẻ em nhiễm HIV
Tài liệu Join forces against HIV – Shareyour heart for the children
(2009), A guide to “National plan of action for children affected by HIV and AIDS until 2010 with a vision to 2020, Ha Noi” xác định các nhu cầu
và sự đáp ứng các nhu cầu tâm lý của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trênđịa bàn thành phố Hà Nội, đồng thời tìm hiểu những rào cản ảnh hưởng đến
sự đáp ứng những nhu cầu đó Với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngangkết hợp định tính và định lượng 52 trẻ em bị ảnh hưởng bị HIV/ADIS từ 08 –
17 tuổi và 90 người chăm sóc chính cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV được
Trang 16phỏng vấn, kết hợp với phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Kết quả nghiêncứu: 70% trẻ đang ở độ tuổi từ 05 – 11 tuổi, tỷ lệ nam nữ là tương đối bằngnhau (nam 58%, nữ 42%), 49% trẻ mồ côi bố hoặc mẹ, 9% các em mồ côi cả
bố lẫn mẹ, 60% người chăm sóc trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV đang sống chungvới HIV/AIDS; 71% là nữ giới, trong đó 54% đã góa chồng và 49% bà mẹ cóHIV dương tính Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV có 2 nhóm nhu cầu chăm sócsức khỏe chính: (1) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe thể chất, (2) Nhu cầu chămsóc sức khỏe tinh thần và xã hội Bốn rào cản chính trong việc đáp ứng nhucầu chăm sóc sức khỏe tinh thần, hỗ trợ tâm lý cho trẻ em bị ảnh hưởng bởiHIV/AIDS, gồm các rào cản về kinh tế, nhận thức của trẻ em bị ảnh hưởngbởi HIV/AIDS và người chăm sóc trẻ, sự kỳ thị và phân biệt đối xử với trẻ em
bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và gia đình trẻ, khả năng tiếp cận các dịch vụ y
tế tại địa phương
Ngày 05/07/2016 tại Hà Tây, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc phối hợp
cùng Cục phòng, chống HIV/AIDS tổ chức Hội thảo “Nhà báo Việt Nam với
công tác phòng, chống HIV/AIDS cho trẻ em” Hội thảo nhằm nâng cao hiệu
quả truyền thông về công tác phòng chống HIV/AIDS cho trẻ em thông quatrình bày về thực trạng tình hình dịch HIV/AIDS cho trẻ em trên thế giới và ởViêt Nam Từ đó, trao đổi, thảo luận về những mô hình, trường hợp cụ thể trongcông tác nhận thức, giảm phân biệt đối xử, kỳ thị đối với trẻ em nhiễmHIV/AIDS trong các giải pháp cho các em hòa nhập cộng đồng tại địa phương.Năm 2012, Ủy ban phòng chống HIV/AIDS tại thành phố Hồ Chí Minh,
Sở Lao động Thương binh – Xã hội và tổ chức Cứu trợ Trẻ em Anh đã thực
hiện một cuộc khảo sát về “Tình hình trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS” trên địa bàn thành phồ Hồ Chí Minh, do Bs Jamie Uhrig, chuyên
gia người Canada làm trưởng nhóm và viết báo cáo Đây là cuộc khảo sát có
sự tham gia và dựa trên các quyền của trẻ em nên phương pháp sử dụng đểkhảo sát là mô tả và định tính (thông qua phòng vấn sâu và thảo luận nhóm
Trang 17với nhiều thành phần khác nhau trong xã hội như: Bác sĩ, nhân viên y tế, đạidiện các ban ngành đoàn thể đến người dân, trẻ em nhiễm HIV và gia đìnhcác em) Kết quả khảo sát nhấn mạnh đến việc trẻ em nhiễm HIV/AIDS và trẻ
em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đều bị phân biệt và kỳ thị trong chăm sóc y
tế, học hành, các hoạt động vui chơi giải trí Tác giả đã minh chứng cho mọingười về việc trẻ em có HIV/AIDS và trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS bịtước đi những quyền cơ bản của mình như quyền học hành, vui chơi, chămsóc y tế, quyền được yêu thương
Tác phẩm “Hãy để trẻ em được yêu thương” của Nguyễn Lê Hà
Nguyên (lớp 6 trường Trung học cơ sở Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội)đạt giải nhì cuộc thi viết về quyền trẻ em Trong tác phẩm có viết: Trẻ em bịảnh hưởng bởi HIV vẫn có quyền được đi học, được chăm sóc yêu thương, cóquyền được bảo vệ, có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng của bản thân,các em vẫn có thể cố gắng học tập trở thành một người chân chính và gópphần xây dựng cộng đồng xã hội Bài viết nói về một người mẹ xin cho con đihọc ở nhiều nơi nhưng cũng chỉ nhận được ánh mắt và cái nhìn ái ngại vànhững lời từ chối thẳng thừng của trường, không có trường mầm non nào dámnhận khi biết đứa trẻ có HIV
Cuốn sách: “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” của Bộ Y tế, cuốn đã dành nguyên một chương để nói về HIV/AIDS.
SAVY (Survey Assessment of Vietnamese Youth) đã tìm hiểu cách cư xử vớitrẻ em nhiễm HIV bằng cách hòi thanh thiếu niên xem liệu học có thể giúp đỡmột trẻ nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng của họ hay không Nhìn chungthanh thiếu niên có thái độ tích cực đối với những trẻ em bị ảnh hưởng bởiHIV/AIDS Có 13,4% nói rằng họ sẽ không giúp đỡ trẻ em có HIV trongcộng đồng, tuy nhiên đa số sẽ giúp đỡ và một số ít cho biết sẽ giúp đỡ khôngđiều kiện 0.5%, 2% khác cho rằng họ có thể sẽ giúp đỡ nhưng giữ một
Trang 18khoảng cách Điều này cho thấy có một nhóm nhỏ thanh thiếu niên do sợ hãihay thiếu thông tin hoặc kỳ thị những trẻ em có HIV/AIDS.
Nhìn chung, hiện nay chưa có cuộc nghiên cứu nào thực sự làm rõ đầy
đủ được thực trạng tâm lý và áp dụng công tác xã hội vào trợ giúp cho trẻ emnhiễm HIV/AIDS cũng như những vấn đề mà trẻ em nhiễm HIV/AIDS tạiTrung tâm Chữa bệnh, giáo dục – lao động số 02 đã và đang gặp phải
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Trẻ em
Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổitrong giai đoạn đầu của sự phát triển con người Đó là “những người chưatrưởng thành, còn non nớt về thể chất và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần đượcbảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trướccũng như sau khi ra đời.” Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xãhội ngày càng có khả năng hội nhập xã hội với tư cách là những chủ thể tíchcực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâmbảo vệ, chăm sóc, giáo dục [17, tr 27]
Điều 1, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1989)
Trẻ em có nghĩa là người dưới mười tám tuổi, trừ trường hợp luật pháp
áp dụng với trẻ em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam (2004)
Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi, mọi trẻ em khôngphân biệt đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đó là trách nhiệm của giađình, nhà trường, các cơ quan nhà nước và công dân
Quy định “trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” sẽ làcăn cứ chính để xây dựng chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.Tuy nhiên trong thực tiễn hoạt động thì lứa tuổi 16-18 vẫn cần được coi làtrẻ em Vì đây là lứa tuổi thuộc nhóm vị thành niên có những đặc thù phát
triển cần quan tâm.
Trang 191.2.2 HIV
HIV (Tiếng Anh : human immunodeficiency virus, có nghĩa là virussuy giảm miễn dịch ở con người) là một lentivirus (thuộc họ retrovirus) cókhả năng gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), một tình trạnglàm hệ miễn dịch của con người bị suy giảm cấp tiến, tạo điều kiện cho nhiễmtrùng cơ hội và ung thư phát triển mạnh làm đe dọa đến mạng sống của người
bị nhiễm
Khi đi vào cơ thể con người thì virus tấn công các tế bào miễn dịch (là
tế bào bạch cầu) đội quân chủ lực bảo vệ cơ thể chống lại các vi trùng gâybệnh Các tế bào miễn dịch bị tấn công trong một thời gian ngắn (có thể là 10đến 20 năm) sẽ bị giảm về số lượng và cơ thể không có khả năng chống đỡđược các vi trùng gây bệnh như lao, tiêu chảy, virus, nấm dẫn đến suy kiệt
và tử vong
- Cấu tạo của virus HIV
+ HIV có hình cầu, kịch thức rất nhỏ, 110 nanomet Cấu tạo có 3 lớp,lớp ngoài cùng là lớp vỏ có rất nhiều gai nhú như quả bông nên nó dễ dàngbám và đột nhập rất nhanh vào các tế bào bạch cầu – tế bào có chức năng bảo
vệ cơ thể Lớp thứ hai là lớp bao trong và lớp cuối cùng là toàn bộ gen củavirus bao gồm 2 sợi ARN gắn với men sao chép ngược
+ Vỏ của HIV được cấu tạo bởi một lớp lipit kép giúp cho nó giữ đượcsức bền bề mặt khi nó ở bên ngoài môi trường, góp phần tạo điểu kiện chovirus HIV có thể tồn tại ngoài môi trường từ vài ngày đến một tuần, nhất làHIV nằm trong máu, trong bơm tiêm của người tiêm chích ma túy
+ HIV dễ dàng thay đổi bộ mã di truyền của nó, do vậy từ 1 HIV banđầu có thể biến thành nhiều nhóm khác nhau Chính tính dễ đột biến nàykhiến cho việc chế tạo vacxin phòng bệnh gặp nhiều khó khăn cho nên đếnnay vẫn chưa có vacxin phòng chống căn bệnh thế kỷ này
- HIV sống trong bốn loại dịch của cơ thể đó là:
Trang 20+ Máu.
+ Tinh dịch – chất dịch xuất ra khi bạn trai hưng phấn tình dục
+ Dịch âm đạo – chất dịch khi bạn gái hưng phấn tình dục.
nên, virus có tên gọi là HIV (human immunodeficiency virus).
- Đặc điểm sinh học của HIV:
HIV xuất hiện tư nhiên có thể từ trước thập kỷ XX nhưng nguồn gốcthật sự của HIV là gì thì người ta vẫn chưa biết chắc chắn Rất nhiều giảthuyết đã được đưa ra nhằm giải thích cho nguyên nhân gây ra đại dịch HIV/AIDIS Giả thuyết được nhiều người ủng hộ nhất hiện nay là HIV đã hiệndiện ở một nhóm người tách biệt nào đó trên thế giới và đối với họ virus nàyhoàn toàn vô hại Vì điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi trên cục diện toàn thếgiới: Du lịch phát triển, giải phóng tình dục, tình trạng nghiện ngập ma túyngày càng nhiều cùng với sự lạm dụng tiêm chích mà không đảm bảo vôtrùng, truyền máu cũng gia tăng nên HIV đã lan truyền rộng khắp và kết quả
là loài người đã và đang phải đối mặt với đại dịch HIV/ AIDS như hiện nay
HIV xâm nhập và phát triển trong cơ thể, nó tấn công vào tế bào bạchcầu đặc biệt là Lympho bào T4 (Lympho bào T4 là thành phần quan trọng của
hệ thống miễn dịch của cơ thể, đóng vai trò như một tổng chỉ huy có nhiệm
vụ điều phối huy động, kìm hãm toàn bộ hệ miễn dịch của cơ thể Như vậy,HIV làm suy giảm hệ thống miễn dịch, cơ thể không còn khả năng tự bảo vệ
Trang 21Mọi mầm bệnh mặc sức hoành hành gây ra nhiều chứng bệnh nguy hiểm dẫnđến tử vong.
- Cơ chế hoạt động của HIV trong cơ thể người:
+ Hệ thống miễn dịch của cơ thể có nhiều yếu tố, trong đó tế bào bạchcầu Lympho T CD4 (gọi tắt là CD4) đóng vai trò chỉ huy, nhận diện, báođộng và huy động các tế bào Lympho T tấn công tiêu diệt vi sinh vật khichúng xâm nhập vào cơ thể Khi virus HIV vào cơ thể, nó tấn công ngay vàobạch cầu, đực biệt là Lympho bào T4 Chúng lấy chính chất liệu di truyền củabạch cầu để sinh sôi nảy nở rồi phá vỡ bạch cầu Cứ như thế HIV tiêu diệt dầncác bạch cầu Do số lượng các bạch cầu bị HIV tiêu diệt ngày càng nhiều, dẫnđến hệ miễn dịch của cơ thể bị suy giảm đi, cuối cùng là bị vô hiệu hóa vàđiều đó nghĩa là cơ thể con người không có khả năng tự bảo vệ nữa Lúc đómọi mầm bệnh khác (vi trùng, siêu vi trùng, tế bào ung thư ) mặc sức hoànhhành gây ra nhiều chứng bệnh nguy hiểm và các bệnh nhiễm trùng cơ hội nhưlao, viêm phổi, nấm và ung thư sẽ nhân cơ hội này tấn công cơ thể dẫn đến
tử vong
1.1.1 AIDS
AIDS (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) là một bệnh nhiễmtrùng gây ra bởi virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) bằng cách giếtchết hoặc phá hủy các tế bào miễn dịch của cơ thể Cơ thể con người khôngthể chống lại bệnh này Những người bị AIDS có nguy cơ tử vong do nhữngnhiễm trùng cơ hội Loại nhiễm trùng này thường không gây bệnh ở nhữngngười khỏe mạnh bình thường
1.1.2 Trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS
Trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS (Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em của Việt Nam (2004) là trẻ em có HIV/ AIDS trong cơ thể, được xét
nghiệm có HIV dương tính (H+)
Trang 22Trẻ em bình thường, khỏe mạnh, chỉ có một số ít cân nặng thấp hơn so
với tuổi thai nhi
Trái với những trẻ em bị lây nhiễm trong khi sinh hoặc sau khi sinh thì
một vài tuần sau sinh có thể có biểu hiện sốt nhẹ, mệt mỏi, quấy khóc, có thể
khảm thấy gan lách to (gần giống với giai đoạn tiền triệu chứng của người lớn
nhiễm HIV)
Trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS được sống trong các Trung tâm bảo trợ xã
hội thường do các bệnh viện hoặc các gia đình không có khả năng chăm sóc
các em gửi đến (không ngoại trừ trường hợp các em bị bỏ rơi được gom về)
Nhiều em không biết nguồn gốc gia đình mình Các em dễ bị mất gia đình,
mất lai lịch và sự thừa kế Nguồn đảm bảo cuộc sống cho các em bị hạn chế
Hầu như các em không đến trường học, không có những người bạn mà các
em thích Các em thiếu thốn tình cảm ruột thịt và nhận được ít tình thương
yêu, sự vuốt ve như các bạn nhỏ khác Trẻ em nhiễm HIV bị hạn chế các hoạt
động và giao tiếp xã hội Các em thường bị sống cách ly và được chăm sóc
riêng vì sợ bị ảnh hưởng đến người khác do nhiều người không muốn tiếp xúc
với các em Khi không bị đau yếu, các em thường vui đùa, nghịch ngợm, hồn
nhiên như bao trẻ em khác Tuy nhiên các em thường bị ghẻ lạnh, bị trêu
chọc, bị coi thường, bị canh chừng từ chúng bạn và thậm chí từ những người
chăm sóc các em
Ở Việt Nam, trẻ em nhiễm HIV/ AIDS được coi là một trong những
nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần được Nhà nước và xã hội quan tâm,
Trang 231.2.5 Công tác xã hội
Có nhiều cách tiếp cận với khái niệm công tác xã hội, dưới đây là một
số khái niệm cơ bản:
Theo Liên đoàn công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế (họp tại Canada
năm 2004): Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay
đổi của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội
(vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực
và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng Công tác xã
hội đã giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn, đem lại cuộc sống
tốt đẹp hơn cho mọi người dân
Theo tác giả Nguyễn Hồi Loan: “Công tác xã hội là một hoạt động thực
tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định
và được vận hành trên cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp
cá nhân và các nhóm người trong việc giải quyết các nan đề trong đời sống
Trang 24của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội”.[13,tr.11] Kháiniệm này đã được báo cáo tại Hội thảo quốc tế của APASWE, tổ chức tạiMebourne ngày 14/07/2014 và đã được thừa nhận thông qua.
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh trong cuốn “Công tác xã hội”, định
nghĩa cổ điển, đơn giản và dễ nhớ nhất là “Công tác xã hội nhằm giúp cá nhân
và cộng đồng tự giúp” [27, tr 6], khái niệm tự giúp là cốt lõi có ngay từ ngàyđầu khai sinh ra công tác xã hội như một ngành chuyên môn Nó không phải
là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệthống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề củamình
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai trong cuốn giáo trình “Nhập môn công
tác xã hội”, định nghĩa: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên
nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lựcđáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môitrường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, giađình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảmbảo an sinh xã hội” [2, tr.63]
Theo từ điển công tác xã hội định nghĩa: “Công tác xã hội đó là mộtngành khoa học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năngtâm lý xã hội của mình một cách có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong
xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người.” Nó còn là “Một nghệthuật, một khoa học, một nghề nhằm giúp người dân giải quyết vấn đề từ cấp
độ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng.”
Từ các khái niệm trên, có thể rút ra kết luận về khái niệm công tác xãhội như sau: Công tác xã hội là một khoa học, một hoạt động chuyên môn.Đối tượng tác động của công tác xã hội là cá nhân, gia đình, nhóm và cộngđồng đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội và những người có nhu cầu
Trang 25trợ giúp Hướng trọng tâm của công tác xã hội là tác động tới con người nhưmột tổng thể Vấn đề mà cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới
sự can thiệp của công tác xã hội là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tốchủ quan cá nhân, cũng có thể nảy sinh từ phía khách quan, đó là cộng đồng,môi trường xung quanh [16]
1.2.6 Công tác xã hội nhóm
Theo các tác giả Toseland và Rivas (1998): công tác xã hội nhóm làhoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứngnhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trựctiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệthống cung cấp dịch vụ.[11,tr.30] Trong Từ điển Công tác xã hội của Barker(1995), công tác xã hội nhóm được định nghĩa là : “Một định hướng vàphương pháp can thiệp công tác xã hội, trong đó các thành viên chia sẻ nhữngmối quan tâm và những vấn đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vàocác hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Đối lập vớitrị liệu tâm lý nhóm, mục tiêu của công tác xã hội nhóm không chỉ là trị liệunhững vấn đề về tâm lý, tình cảm mà còn trao đổi thông tin, phát triển các kỹnăng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biếncác hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả Các kỹ thuật đềuđược đưa vào quá trình công tác xã hội nhóm những không hạn chế kiểm soátnhững trao đổi về trị liệu”.[11,tr.31]
Như vậy, Công tác xã hội nhóm là phương pháp trong công tác xã hộinhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua cáchoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân Phươngpháp công tác xã hội nhóm là một phương pháp của ngành công tác xã hộigiúp những cá nhân tăng cường chức năng xã hội của họ thông qua các kinhnghiệm của nhóm mục tiêu và khắc phục một cách hiệu quả hơn các vấn đề
Trang 26của cá nhân, nhóm và cộng đồng Công tác xã hội nhóm là quá trình nhânviên xã hội sử dụng các tiến trình sinh hoạt nhóm nhằm giúp các cá nhântương tác lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm suy nghĩ với nhau, tạo sự thay đổithái độ, hành vi và tăng cường khả năng giải quyết vấn đề, thỏa mãn nhu cầucủa các thành viên nhóm.
1.2.7 Trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS
Theo tác giả Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ y tế kiêm cục trưởngCục phòng chống HIV/AIDS (“Hướng dẫn tư vấn cho trẻ em nhiễm HIV”(2013) [16] Diễn biến tâm lý của trẻ em nhiễm HIV/ AIDS như sau:
- Đối với trẻ em nhiễm HIV/ AIDS từ 0 – 6 tuổi: Trẻ em chưa có nhận thức vềHIV và thái độ của những người xung quanh nên giai đoạn này tâm lý trẻ pháttriển như những đứa trẻ bình thường khác
Trang 27- Đối với trẻ bị nhiễm HIV từ 6 – 12 tuổi: Các em đã phần nào nhận thứcđược mức độ nguy hiểm của căn bệnh HIV Do đó các em thường mang tâm
lý lo sợ về sự đau đớn của bệnh, về sự xa lánh và sự phân biệt đối xử củanhững người xung quanh các em
Trẻ em phải sống chung với HIV/ AIDS hoặc chịu ảnh hưởng của bệnhnày thường thiếu thốn tình cảm ruột thịt hoặc nhận được ít tình yêu thương,
sự vuốt ve như những trẻ nhỏ khác, các em thường cảm thấy buồn tủi, chánnản, sống khép kín
Bên cạnh đó, do thiếu sự giáo dục của cha mẹ và sự ghẻ lạnh, tránh nécủa những người xung quanh, các em bị ảnh hưởng về tâm lý nên nhiều trẻ
em bị nhiễm HIV thường bị trầm cảm, chậm nói, chậm phát triển trí não,thiểu năng khả năng hoạt động do không được chơi cùng các bạn đồng tranglứa
Những trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS thường sợ hãi trước những biểuhiện bệnh trên cơ thể mình như bị sốt, nhiễm trùng da, đau người… Ở các emthường hình thành lên ý niệm rằng bản thân sẽ chết sớm vì đây là căn bệnhnguy hiểm chưa có thuốc chữa…
Trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/ AIDS là những hành vi tích cựcgiúp đỡ trẻ em nhiễm HIV/ AIDS vượt qua những rào cản, mặc cảm về thểchất và tinh thần vươn lên tái hòa nhập cộng đồng một cách bền vững
1.3 Một số lý thuyết vận dụng trong đề tài nghiên cứu
1.3.1 Thuyết nhu cầu
Trang 28Tháp nhu cầu của Maslow (tiếng Anh: Maslow'shierarchy of needs)được nhà tâm lý học AbrahamMaslow đưa ra vào năm 1943 mang đến cáchtiếp cận nhân văn, coi trọng con người và nhu cầu của họ Theo A Maslow,nhu cầu tư nhiên của con người được chia thành cách bậc thang từ “đáy” đến
“đỉnh”, phản ánh mức độ cơ bản của nó đối với sự tồn tại và phát triển củacon người vừa là một sinh vật tự nhiên vừa là một thực thể xã hội
Đồng thời tháp nhu cầu là căn cứ nhận định nhu cầu của con người:Con người luôn có mong muốn, tham vọng và hành động thỏa mãn nhu cầucủa mình từ thấp tới cao Nhu cầu được thỏa mãn đem lại cảm giác an toàn,thoải mái, đảm bảo cho sự phát triển cá nhân, là động lực của hành động Mỗiđối tượng cụ thể lại có nhu cầu khác nhau với đặc điểm riêng biệt, trong bốicảnh khác nhau Nhân viên công tác xã hội cần lắng nghe tích cực để khámphá nhu cầu hợp lý mà trẻ chưa được thỏa man Áp dụng nhu cầu của Maslowtrong việc can thiệp, trợ giúp trẻ em nhiễm HIV giúp chúng ta xác định, đánhgiá mức độ ưu tiên về các nhu cầu đối với trẻ Hiểu được điều này nhân viêncông tác xã hội mới có thể trợ giúp trẻ em nhiễm HIV một cácg có hiệu quả,trước tiên chúng ta cần đáp ứng nhu cầu cơ bản của trẻ, giúp trẻ các điểu kiện
để đảm bảo sức khỏe, được sống trong môi trường an toàn và đầy đủ tình yêthương, điều này đặc biệt quan trọng đối với trẻ em nhiễm HIV/ AIDS vì môitrường các em sống chưa an toàn Có nền tảng cơ sở này, trẻ em nhiễm HIV/
Trang 29AIDS bị ảnh hưởng về mặt tâm lý mới có thể phát triển được ở các bước caohơn: tự tin tham gia các hoạt động xã hội, các hoạt động học tập, giao lưu vớibạn bè đồng trang lứa, sống lành mạnh, hòa nhập với cộng đồng và sống cóích cho xã hội.
Tiếp cận theo thuyết nhu cầu giúp nhân viên công tác xã hội tránh việc
áp đặt, đánh đồng khi cung cấp dịch vụ hỗ trợ, tìm kiếm nhu cầu thực sự màtrẻ em nhiễm HIV/ AIDS mong muốn Tiếp cận nhu cầu là một hướng tiếpcận theo quan điểm nhân văn hiện sinh gần gũi với trẻ em nhiễm HIV/AIDS.Song tập trung tìm hiếm, thức tỉnh, hỗ trợ trẻ em nhiễm HIV bị ảnh hưởng vềmặt tâm lý đạt được nhu cầu cấp thiết của trẻ, mang lại hiệu quả trợ giúp.Tiếp cận theo thuyết nhu cầu còn thể hiện sự tin tưởng vào khả năng của conngười trong việc tự làm chủ với nhưgx vấn đề của mình đồng thời giúp nhânviên công tác xã hội hiểu được động cơ của những hành động tiêu cực của trẻ
em nhiễm HIV/ AIDS khi mà nhu cầu của trẻ chưa được thỏa mãn một cáchthỏa đáng Tiếp cận theo thuyết nhu cầu sẽ đưa thêm nhiệm vụ đánh giá nhucầu nào là ưu tiên đối với trẻ em nhiễm HIV lúc này từ đó nhân viên công tác
xã hội áp dụng vào tiến trình trợ giúp, mặt khác giúp các chính sách, dịch vụ
hỗ trợ xã hội giảm chi phí và tăng hiệu quả trợ giúp
- Nhu cầu của trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS
Nhu cầu chính của trẻ em bị nhiễm HIV/ AIDS rất đa dạng như tiếp cậnđầy đủ các dịch vụ y tế, giáo dục, hướng dẫn về chăm sóc sức khỏe dinhdưỡng cho trẻ em sống với HIV/ AIDS, xóa bỏ hoàn toàn kỳ thị và phân biệtđối xử Trong báo cáo nghiên cứu đánh giá về tình hình trẻ em mồ côi và dễ
bị tổn thương do HIV/ AIDS tại Việt Nam (Ủy ban DS – GĐ – TE cũng phốihợp cùng tổ chức Save the chirlden UK thực hiện tháng 12 năm 2005): Trong
số trẻ em gặp khó khăn, 50% lo lắng thiếu thốn tình cảm, gần 10% các emcho biét vấn đề chính của các em là thường xuyên đau ốm
Trang 30Nhu cầu vật chất: Là nhu cầu trước tiên của bất kỳ đứa trẻ nào Trẻ em
bị nhiễm HIV/ AIDS cũng như những đứa trẻ khác đều muốn được đảm bảonhững nhu cầu chính đáng của bản thân về thức ăn, nước uống, đặc biệt là nơi
ở Đây cũng là những nhu cầu hết sức thiết thực và ảnh hưởng trực tiếp đến sựsống còn của các em, cũng là quyền đầu tiên trong số những quyền các emđáng được hưởng (Theo công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em – 2016).Chỉ khi áp dụng đầy đủ nhu cầu này thì trẻ em nhiễm HIV/ AIDS mới có thểtạo điều kiện cho trẻ phát triển bình thường trước hết là về mặt thể chất
Hiện nay, nhiều trẻ em nhiễm HIV/ AIDS phần lớn đều sống trong tìnhtrạng thiếu thốn, khó khăn về mặt kinh tế Đa số các em đều sống trong cảnhnghèo và rất nghèo (chiếm 75%) rất cần xã hội có sự quan tâm, đáp ứng kipthời về nhu cầu vật chất
Nhu cầu an toàn xã hội: Được đảm bảo vấn đề sức khỏe, tiếp cận các
dịch vụ khám chữa bệnh thông thường cũng như đặc biệt nhu cầu quan trọngcần được đáp ứng đối với tất cả mọi người, dù là trẻ em hay người lớn Đốivới những trẻ em nhiễm HIV/ AIDS nhu cầu này rất cần thiết được đáp ứng.Bởi các em đã hoặc đang mang mầm bệnh, khả năng miễn dịch không thểbằng so với những trẻ em bình thường, hoặc thường xuyên sống gần bệnh tật,
vì thế các em cần được kiểm tra sức khỏe một cách thường xuyên và đầy đủ
Bên cạnh việc đảm bảo về sức khỏe thì trẻ em nhiễm HIV/ AIDS cũngcần được yêu thương, chăm sóc đặc biệt từ những người thân trong gia đình.Hầu hết trẻ em nhiễm HIV/ AIDS đều nói các em cần người thân thiết đểquan tâm, cha sẻ hoặc hỗ trợ tâm lý khi cần thiết: gần gũi nhất là cha mẹ, sau
đó đến ông bà Với những đứa trẻ bị nhiễm HIV/ AIDS thì gia đình được coi
là chỗ dựa tinh thần quan trọng của các em Nếu không được che chở, bao bọcbởi gia đình và người thân, trẻ dễ rơi vào tâm trạng lo sợ, tự ti và khép mình.Gia đình chính là môi trường tốt nhất cho sự phát triển tâm sinh lý của trẻ emnhiễm HIV/ AIDS
Trang 31Nhu cầu được tôn trọng: Trẻ em nhiễm HIV/ AIDS thường lo sợ, tự ti
trước những hành vi phân biệt đối xử từ phía những người xung quanh Các
em luôn luôn mong muốn mọi người tôn trọng, thay đổi sự kỳ thị, không phánxét đến bệnh tình của các em
Trẻ em nhiễm HIV/ AIDS có thể đương đầu với mọi bệnh tật một cáchchính đáng Nhưng các em khó có thể vượt qua rào cản tâm lý xã hội để cómột cuộc sống bình thường như mọi người Rào cản đó chính là những hành
vi bạo lực tinh thần như sự khinh rẻ, kỳ thị, sự sợ hợi của nhiều người với cănbệnh mà trẻ đang mắc phải Nhu cầu này của trẻ em nhiễm HIV/ AIDS là hếtsức cần thiết và cũng là điều mà các nhà hoạt động trong lĩnh vực xã hội, bảo
vệ trẻ em mong đợi Riêng cá nhân tác giả của đề tài này, nhu cầu được tôntrọng cũng là một trong những nhu cầu tác giả muốn trẻ em nhiễm HIV/AIDS sẽ đạt được sau quá trình trợ giúp về mặt tâm lý cho các em
Nhu cầu xã hội: Cùng mong muốn được tôn trọng, trẻ em nhiễm HIV/
AIDS cũng rất muốn hòa nhập vào cộng đồng và muốn được đến trường hòanhập vui chơi cùng bạn bè như những đứa trẻ cùng trang lứa
Mỗi giai đoạn của cuộc đời trẻ đều có những hoạt động chủ đạo quyếtđịnh trực tiếp đến việc hình thành tâm sinh lý Vui chơi, học tập và giao lưubạn bè đều là những hoạt động chủ yếu của trẻ em, do đó nếu những nhu cầu
xã hội được đáp ứng thì trẻ em nhiễm HIV/ AIDS sẽ có điều kiện phát triểnbình thường về trí não cũng như tâm lý Nhưng hiện nay nhu cầu xã hội củatrẻ em nhiễm HIV/ AIDS vẫn chưa được đáp ứng bởi rất nhiều định kiến tiêucực trong xã hội và để trẻ em nhiễm HIV/ AIDS có thể đến trường, có thể hòanhập cuộc sống như những đứa trẻ khác trong xã hội thì cần rất nhiều thờigian mới có thể thực hiện được
1.3.2 Thuyết dán nhãn
Lý thuyết dán nhãn của Edwin Lemert Trong tác phẩm: “Người ngoài
cuộc” của Howard Becker, 1963 cho rằng: “Các nhóm xã hội tạo ra sự lệch
Trang 32lạc xã hội bằng cách đặt ra những quy tắc nếu vi phạm chúng sẽ lệch lạc và bằng cách áp những quy tắc này cho những người nào đó và gán nhãn cho họ
là người ngoài cuộc” Theo quan niệm này, sự lệch lạc không phải là các
dạng hoạt động của một người nào đó mà là hậu quả của việc người khác ápdụng quy tắc thưởng phạt cho người vi phạm
Lý thuyết này nhấn mạnh đến tính tương đối trong việc đánh giá hành
vi lệch lạc, liên quan đến việc vì sao có hành vi lệch lạc Theo lý thuyết này
hành vi của cá nhân lệch lạc hay không là do sự phản kháng của các cá nhân khác hơn là tự thân hành vi đó biểu hiện và các cá nhân khác gán cho anh ta cái nhãn lệch lạc Lý thuyết dán nhãn nhấn mạnh đến tính tương đối của hành
vi sai lệch, nói cách khác là cùng một hành vi có thể định nghĩa khác nhautrong những tình huống khác nhau Một sinh viên lấy quần áo của bạn chungphòng mặc có thể xem là ăn cắp hoặc đơn thuần là mượn quần áo để mặc.Một đại biểu Quốc hội lái xe về nhà trong tình trạng say rượu sau bữa tiệcchiêu đãi có thể được coi là người có mối quan hệ tích cực, hòa đồng hoặcmột kẻ nát rượu Tuy nhiên sự dán nhãn trong thời gian dài có thể trở thành
“cái khóa” khóa các cá nhân vào vai trò sai lệch
Theo lý thuyết dán nhãn, kết quả lâu dài của quá trình này là khóa các
cá nhân vào những vai trò sai lệch và hướng họ dọc theo những tiến trìnhhoặc sự nghiệp lệch lạc, bằng cách đóng lại những cơ hội và buộc họ phải vàocác nhóm xã hội dành cho sự hỗ trợ nhưng kéo dài mãi hoạt động lệch lạc của
họ, bằng cách nào đó, củng cố và xác định cương vị người ngoài cuộc và hìnhảnh – tự thân tiêu cực Như vậy xã hội tạo nên sự sai lệch theo ý nghĩa rằng sự
áp dụng các nhãn dán lệch lạc có thể sản sinh ra nhiều lệch lạc hơn là ngănchặn nó
Các nhóm xã hội tạo nên sự lệch lạc bằng cách đưa ra những quy tắc
mà sự vi phạm các quy tắc đó sẽ tạo ra sự lệch lạc, bằng cách áp dụng nhữngquy tắc đó cho những người riêng biệt và dán cho họ nhãn của người ngoài
Trang 33cuộc Khi kẻ lệch lạc bị bắt, y đối xử phù hơp với sự chuẩn đoán phổ biếnrằng tại sao y lại như thế và có thể sự đối xử đó lại sản sinh sự lệch lạc ngày
càng gia tăng ( Xã hội học truyền thông và dư luận xã hội – PGS TS Nguyễn
Quý Thanh – 2013).
Theo lý thuyết dán nhãn thì một cá nhân khi dán nhãn hành vi của một
cá nhân khác là lệch lạc thì người đó liên tưởng đến những lý lẽ của cái dánnhãn thậm chí trong nhiều trường hợp người ta quan tâm đến cái dán nhãn của
cá nhân hơn là hành vi thực tế của cá nhân đó
Theo lý thuyết dán nhãn, kết quả lâu dài của quá trình này là khóa các
cá nhân vào những vai trò sai lệch và hướng họ học theo những tiến trìnhhoặc sự nghiệp sai lệch, bằng cách đóng lại những cơ hội và buộc họ phải dựavào những nhóm xã hội dành cho sự hỗ trợ kéo dài mãi hoạt động lệch lạc của
họ và bằn cách nào đó củng cố và xác định một “cương vị” người ngoài cuộc
và một hình ảnh – tự thân tiêu cực và ngăn ngừa khả năng lánh xa sự sai lệch.Như vậy xã hội “tạo nên sự sai lệch” theo ý nghĩa rằng sự áp dụng các nhãndán lệch lạc có thể sản sinh ra nhiều sự lệch lạc hơn là ngăn chặn nó
Các nhóm xã hội tạo nên sự lệch lạc bằng cách đặt ra những quy tắc mà
sự vi phạm các quy tắc đó sẽ tạo ra sự lệch lạc, bằng cách áp dung những quytắc đó cho những người riêng biệt và dán nhãn người ngoài cuộc Khi kẻ lệchlạc bị bắt, y đối xử phù hợp cới sự chuẩn đoán phổ biến rằng tại sao y lại như
thế và rất có thể sự đối xử lại sản sinh sự lệch lạc ngày càng gia tăng ( Xã hội
học truyền thông và dư luận xã hội – PGS TS Nguyễn Quý Thanh – 2013).
Đối với trẻ em nhiễm HIV/ AIDS, bản thân các em đều tốt đẹp nhưngchính xã hội, cộng đồng luôn gán cho các em là “nguy hiểm”, “khác người”,
“mang theo mầm bệnh chết chóc”, “hủy hoạt cuộc sống loài người” Từ đó,cộng đồng xã hội đối xử với trẻ em nhiễm HIV/ AIDS như những người thừacủa xã hội Vì những định kiến từ phía xã hội mà trẻ em nhiễm HIV/ AIDS bị
Trang 34ảnh hưởng về tâm lý, các em luôn sống khép kín trong vỏ bọc của bản thân và
bị tước đi quyền của một con người
Đối với lý thuyết dán nhãn, ta thấy rằng khả năng của nhóm xã hội(cộng đồng, gia đình) là nhóm và quyền lực đã “dán nhãn lệch lạc” cho nhómyếu thế hơn – vì trẻ em nhiễm HIV/ AIDS không có khả năng phản kháng lạinhững định kiến của nhóm xã hội có quyền lực Ngoài ra, không chỉ xã hội
mà chính bản thân trẻ em nhiễm HIV/ AIDS nhiều khi cũng tự dán nhãn chomình Do đó, trong cuộc sống của trẻ em nhiễm HIV/ AIDS không chỉ chịu sự
kỳ thị của cộng đồng mà cò chịu sự kỳ thị, tự ti của chính bản thân họ
Do nhiều nguyên nhân mà tình trạng trẻ em nhiễm HIV/ AIDS bị ảnhhưởng về tâm lý vẫn xảy ra phổ biến ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nóichung Nếu chúng ta bỏ qua các yếu tố văn hóa, giáo dục thì chúng ta thấy sựdán nhãn là nguyên nhân của mọi sự phân biệt đối xử, kỳ thị đối với trẻ emnhiễm HIV/ AIDS
Như vậy, lý thuyết dán nhãn cho chúng ta thấy nguồn gốc của sự lệchlạc trong phản ứng của người khác, nó cũng đưa ra lý giải thuyết phục choviệc một hành vi của người này bị xem là lệch lạc trong khi một hành vitương tự ở người khác thì không Thông thường sự phát triển của các ý niệmlệch lạc sơ cấp, lệch lạc thứ cấp, vết nhơ và lệch lạc chuyên nghiệp Thuyếtnày đã chứng minh rằng nhãn hiệu lệch lạc có thể kết hợp và sự tự nhận thứcbản thân của người mang nhãn hiệu đến mức độ có khả năng dẫn đến sự lệchlạc tiếp theo
1.4.Chính sách của Nhà nước về trợ giúp tâm lý cho trẻ em nhiễm HIV/AIDS
Luật Trẻ em năm 2016 được Quốc hội phê chuẩn quy định rõ trẻ em
nhiễm HIV/AIDS là một trong những đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
mà Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ phù hợp Trước đó, Chính phủ đã banhành nhiều nghị định nhằm hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV
Trang 35Cho đến nay, 63/63 tỉnh, thành phố đã ban hành Kế hoạch hành động
vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS giai đoạn 2014 - 2020 và chỉ đạo
triển khai thực hiện kế hoạch Công tác truyền thông về phòng chốngHIV/AIDS cho trẻ em, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đượctriển khai dưới nhiều hình thức phong phú trên các phương tiện thông tin đạichúng
Trang 36Quyết định số 570/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/ AIDS giai đoạn 2014 – 2020 Theo đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2020
90% trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS trong diện quản lý được cung cấpcác dịch vụ về y tế, giáo dục, tư vấn, hỗ trợ dinh dưỡng và phát triển thể chất,chăm sóc thay thế, vui chơi giải trí và các chính sách xã hội theo quy định.Phấn đấu 90% cơ sở trợ giúp trẻ em, cơ sở chăm sóc và điều trị cho trẻ emnhiễm HIV, các tổ chức xã hội có liên quan đến trẻ em HIV được cung cấpkiến thức, kỹ năng về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.100% trường học tạo cơ hội cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được đihọc theo nhu cầu Các nội dung hoạt động và giải pháp chủ yếu: Quản lý nhànước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS: cung cấpthông tin, kiến thức về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS,
hỗ trợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được tiếp cận với các dịch vụ bảo
vệ, chăm sóc trẻ em, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của các ngành, các
tổ chức chính trị xã hội các cấp, các nhà cung cấp dịch vụ, các nhóm đồngđẳng có liên quan đến trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS về bảo vệ, chămsóc, giáo dục trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, không phân biệt đối xử vớitrẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tếcông tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
Thông qua Quyết định số 570/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/ AIDS giai đoạn 2014 – 2020, chúng ta có thể thấy Đảng và nhà nước ta
đã có sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt đến đối tượng trẻ em nhiễm HIV/ AIDS
về mọi mặt cả thể chất lẫn tinh thần Sự quan tâm từ phía Đảng và nhà nướcđến công tác trợ giúp trẻ em nhiễm HIV/ AIDS nói chung và trợ giúp trẻ em
nhiễm HIV/ AIDS về tâm lý là điều thực sự trân quý và cần thiết.
Trang 37Đến trường là mong ước cháy bỏng của trẻ nhiễm và bị ảnh hưởng bởiHIV/AIDS Thời gian qua, các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Lao động, Thươngbinh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế đã cùng với cấp ủy, chínhquyền các địa phương triển khai có hiệu quả “Kế hoạch Hành động Quốc gia
vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020” theoQuyết định số 84/QĐ-TTg ngày 4.6.2009 của Thủ tướng Chính phủ, quyềnhọc tập của trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được thực hiện đầy đủ hơn
Hiện nay, công tác truyền thông giáo dục về Luật và kiến thức, kỹ năngphòng chống HIV/AIDS, các hoạt động thực hiện mục tiêu giảm kỳ thị vàphân biệt đối xử với trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng được triển khairộng khắp trên cả nước, giúp mọi người hiểu rõ bản chất vấn đề để vượt quarào cản tâm lý Song song với việc tuyên truyền trên các phương tiện thôngtin đại chúng, cần tuyên truyền tại buổi họp phụ huynh trong trường học, chohọc sinh và bản thân các em nhiễm HIV về con đường lây nhiễm và cáchphòng tránh HIV, cách chơi với bạn như thế nào để hai bên cùng được antoàn… Bên cạnh đó, việc khơi dậy lòng nhân ái, sự đùm bọc yêu thương đốivới những trẻ em không may bị nhiễm HIV là điều quan trọng để nhận thức,hiểu biết của người dân về trẻ em và HIV/AIDS đầy đủ, rõ ràng hơn
Theo Vụ trưởng Vụ Công tác Học sinh, sinh viên, Bộ Giáo dục và Đàotạo Ngũ Duy Anh, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn nhiều khó khănvướng mắc như hạn chế về nhận thức của một số cấp ủy Ðảng, chính quyềncác cấp và cộng đồng về công tác phòng, chống HIV/AIDS, công tác bảo vệ,chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Nhận thức của cán bộ, giáoviên và học sinh sinh viên đã được nâng cao nhưng chưa đầy đủ; đội ngũ cán
bộ y tế trường học, làm công tác phòng, chống HIV/AIDS còn rất thiếu, bấtcập về chất lượng và chế độ đãi ngộ; chưa có nhiều các dịch vụ tại cộng đồng,thiếu đội ngũ cán bộ xã hội trong chăm sóc tư vấn tâm lý cho trẻ em nói
Trang 38chung, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.
Việt Nam đã ký Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em và ban hành Luật Phòng chống HIV/AIDS, theo đó, trẻ em có quyền được học hành và
không bị phân biệt đối xử Mọi hành vi gây cản trở quyền được học tập,quyền được hòa nhập và vui chơi giải trí của trẻ em nhiễm HIV là vi phạmpháp luật và cần được xử lý
Điều 7 và 8 của Luật Phòng, chống HIV/AIDS nghiêm cấm hành vi kỳthị và phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV; công khai tên, địa chỉ, hìnhảnh của người nhiễm HIV hoặc tiết lộ cho những người khác mà không đượcngười nhiễm đồng ý Điều 15 của Luật Phòng, chống HIV/AIDS cũng quyđịnh cơ sở giáo dục không được: Từ chối tiếp nhận, kỷ luật, đuổi học họcsinh, sinh viên, học viên vì lý do người đó nhiễm HIV; tách biệt, hạn chế, cấmđoán học sinh, sinh viên, học viên tham gia các hoạt động, dịch vụ của cơ sở
vì lý do người đó nhiễm HIV Tại Khoản 3, Điều 41 Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em quy định: Tạo mọi điều kiện cho trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt (trong đó có trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS) được học tập hòa nhập Điều 9Luật Giáo dục cũng quy định: Mọi công dân có quyền bình đẳng về cơ hộihọc tập, không có sự phân biệt đối xử về bất cứ yếu tố nào Khoản 1 Điều 4Luật Phòng, chống HIV/AIDS quy định: Người nhiễm HIV có quyền đượchọc văn hóa”
Thông tư 09/2018/TT-BLĐTBXH ngày 28 tháng 8 năm 2018 hướng
dẫn quy trình trợ giúp cho trẻ em bị ảnh hưởng bơi HIV/ AIDS Bên cạnh đó, thông tư 09/2018/TT-BLĐTBXH ngày 28 tháng 8 năm 2018 còn đề cập đến
quy trình trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/ AIDS bao gồm: Tiếp nhận,
phối hợp xử lý thông tin, xác định nhu cầu cần trợ giúp của trẻ em bị ảnh
hưởng bởi HIV/AIDS; lập kế hoạch trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS: thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS:
Trang 39rà soát, đánh giá sau khi thực hiện kế hoạch trợ giúp trẻ em bị ảnh hưởng bởiHIV/AIDS: ghi chép và lưu trữ hồ sơ
Trong Thông tư 09/2018/TT-BLĐTBXH ngày 28 tháng 8 năm 2018,
Bộ Lao động – thương binh và xã hội đã khẳng định nhu cầu trợ giúp tâm lý
là một trong những nhu cầu thiết yếu của trẻ em nhiễm HIV/ AIDS và chúng
ta cần lập ra những kế hoạch cụ thể để trợ giúp các em vượt qua khó khănvươn lên tái hòa nhập cộng đồng một cách bền vững cả về thể chất lẫn tinhthần
Công tác tập huấn nâng cao kiến thức về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bịảnh hưởng bởi HIV/AIDS đã được triển khai tại các cấp các ngành, đoàn thể,các hội cho cán bộ cấp, tỉnh, huyện xã và đội ngũ cộng tác viên Nhiều tỉnh đãtriển khai việc kiện toàn mạng lưới liên kết các dịch vụ bảo vệ chăm sóc trẻ
em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Hiện nay có 276 huyện (40%) đã kiện toànmạng lưới kết nối dịch vụ chăm sóc trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS Tỷ lệ trẻ
em trong diện quản lý được hỗ trợ đầy đủ các dịch vụ theo nhu cầu (chăm sócsức khỏe, giáo dục, hỗ trợ tâm lý, dinh dưỡng, hưởng chính sách hỗ trợ…) là70%
Phó Cục trưởng Cục Trẻ em (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) Vũ Thị Kim Hoa cho biết: Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện Quyết
định số 570/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ
em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS bước đầu đã đạt được một số kết quả đángkhích lệ Các mục tiêu của Quyết định bước đầu đạt được, giúp cho quyền củatrẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được thực hiện tốt hơn về cung cấp cácdịch vụ đáp ứng nhu cầu của trẻ; về nâng cao nhận thức của cán bộ ở các cơ
sở trợ giúp trẻ em, về các cơ sở điều trị trẻ em nhiễm HIV/AIDS, các trườnghọc và những tổ chức liên quan được nâng cao năng lực Các chính sách hỗtrợ trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được rà soát, nghiên cứu và đề xuất
Trang 40hoàn thiện; mạng lưới liên kết dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ đã được xâydựng Mô hình kết nối dịch vụ chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDSđược triển khai và được đánh giá bước đầu có hiệu quả, phù hợp với các địaphương và được địa phương nhân rộng triển khai tại cơ sở.
Theo báo cáo của Cục Trẻ em, số trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
hiện nay (2017) tại Việt Nam là 121.723, trong đó trẻ em nhiễm HIV/AIDS là6.800; trẻ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi HIV/AIDS là 73.129; trẻ có nguy cơnhiễm cao là 41.794 Thống kê của Bộ Y tế, đến nay trên toàn quốc có 345 cơ
sở điều trị HIV/AIDS cho trẻ em ở tuyến tỉnh và tuyến huyện Có khoảng5.000 trẻ nhiễm HIV/AIDS được điều trị bằng thuốc ARV, tăng 2,5 lần so vớinăm 2009 Tuy nhiên, nhiều trẻ sinh sống trong gia đình có bố, mẹ hoặcngười thân nhiễm HIV/AIDS chưa được xét nghiệm định kỳ phát hiện HIV dokinh tế khó khăn, thiếu phương tiện đi lại hoặc chưa nhận thức hết về sự cầnthiết phải tiến hành xét nghiệm để phòng ngừa và phát hiện sớm lây nhiễmHIV Bên cạnh đó, còn thiếu các chính sách phòng ngừa HIV đối với nhómtrẻ có nguy cơ cao nhiễm HIV như trẻ em sử dụng ma túy, trẻ sống trong các
cơ sở trợ giúp, trẻ là con của người mua dâm, bán dâm, sử dụng ma túy
Thực tế vẫn còn một số em nhỏ bị ảnh hưởng HIV khó khăn khi tiếpcận các dịch vụ là do nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng về chămsóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS còn hạn chế Vẫn còn một số địaphương chưa quan tâm xây dựng Kế hoạch hành động vì trẻ em bị ảnh hưởngbởi HIV/AIDS tại địa phương, một số chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối vớitrẻ em, người chăm sóc trẻ bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS chưa được người dânbiết đến Vẫn còn hiện tượng kỳ thị phân biệt đối xử với trẻ em bị ảnh hưởngbởi HIV/AIDS Đặc biệt ảnh hưởng đến quyền được học tập của trẻ em bị ảnhhưởng bởi HIV/AIDS