Mức độ học sinh bị cha mẹ BHBLN theo học lực Bảng 5: Mức độ học sinh bị BHBLN theo tỷ lệ giới tính Bảng 6: Ý kiến ảnh hưởng bạo hành bằng lời nói đến cảm xúc và hành vi của học sinhtheo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
MÃ SINH VIÊN: 655614024 LỚP B – KHÓA 65 – TÂM LÝ HỌC TRƯỜNG HỌC
CÁCH ỨNG PHÓ VỚI HÀNH VI BẠO HÀNH BẰNG LỜI NÓI CỦA CHA
MẸ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
MÃ SINH VIÊN: 655614024 LỚP B – KHÓA 65 – TÂM LÝ HỌC TRƯỜNG HỌC
CÁCH ỨNG PHÓ VỚI HÀNH VI BẠO HÀNH BẰNG LỜI NÓI CỦA CHA
MẸ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS BÙI THỊ THU HUYỀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài “cách ứng phó với hành vi bạo hành bằng lời nói của cha mẹ của học sinhtrường trung học cơ sở” là nội dung em chọn để nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệpsau bốn năm theo học chương trình cử nhân chuyên ngành Tâm lý học trường học tạitrường Đại học Sư phạm Hà Nội
Để hoàn thành quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên emxin chân thành cảm ơn sâu sắc đến TS Bùi Thị Thu Huyền thuộc Khoa Tâm lý Giáo dụchọc – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Cô đã trực tiếp chỉ bảo và hướng dẫn em trongsuốt quá trình nghiên cứu để em hoàn thiện luận văn này Ngoài ra tôi xin chân thành cảm
ơn các Thầy, Cô trong Khoa Tâm lý Giáo dục học đã đóng góp những ý kiến quý báu chokhóa luận
Em xin trân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Kí tên
Nguyễn Phương Thảo
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Giải thích các dạng bạo hành bằng lời nói của cha mẹ với con cái
Bảng 2: Các nhóm ứng phó theo thang đo CISS - 21
Bảng 3: Điểm trung bình nhận thức của học sinh THCS về khái niệm bạo hành bằng lờinói
Bảng 4 Mức độ học sinh bị cha mẹ BHBLN theo học lực
Bảng 5: Mức độ học sinh bị BHBLN theo tỷ lệ giới tính
Bảng 6: Ý kiến ảnh hưởng bạo hành bằng lời nói đến cảm xúc và hành vi của học sinhtheo tỉ lệ giới tính
Bảng 7: Điểm trung bình các yếu tố nguy cơ
Bảng 8 : Ý kiến về các nhóm yếu tố theo tỉ lệ giới tính
Bảng 9: Tần suất thực hiện cách ứng phó theo tỷ lệ giới tính
Bảng 10: So sánh hiệu quả thực hiện các nhóm ứng phó theo tỉ lệ giới tính
Bảng 11: Tương quan giữa mức độ BHBLN với tần suất thực hiện các cách ứng phó chiatheo học lực
Bảng 12: Tương quan giữa mức độ BHBLN với hiệu quả thực hiện các cách ứng phó chiatheo học lực
Trang 5Biểu đồ 6: Tỉ lệ yếu tố thuộc cha mẹ và người chăm sóc
Biểu đồ 7: Tỉ lệ yếu tố thuộc gia đình
Biểu đồ 8: Tỉ lệ yếu tố thuộc đứa trẻ
Biểu đồ 9: Tỉ lệ yếu tố thuộc môi trường
Biểu đồ 10: Tỉ lệ về tần suất thực hiện các cách ứng phó
Biểu đồ 11: Tỷ lệ tần suất thực hiện nhóm ứng phó định hướng nhiệm vụ
Biểu đồ 12: Tỷ lệ tần suất thực hiện nhóm ứng phó giảm thiểu cảm xúc
Biểu đồ 13: Tỷ lệ tần suất thực hiện nhóm ứng phó né tránh
Biểu đồ 14: Tỉ lệ về hiệu quả của các cách ứng phó
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể thấy đối với trẻ em, gia đình là nơi nương tựa vững chắc và êm áinhất không chỉ trong những năm tháng đầu đời mà cả trong suốt cuộc đời của mỗingười Nhưng trên thực tế có rất nhiều trẻ đã không được sống trong một gia đìnhnhư vậy Nạn bạo hành trẻ em luôn diễn ra ở bất kì nơi đâu và từng giây đều cóbáo cáo về những đứa trẻ đáng thương là nạn nhân của nạn bạo hành bởi chínhnhững người thân trong gia đình Hiện tượng trẻ em bị người thân bạo hành dướinhiều hình thức khác nhau diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới Ở Mỹ, trung tâm quốcgia về bạo hành và bỏ mặc trẻ em (NCCAN- The National Center on Child Abuseand Neglect) đã đưa ra những con số đáng lưu ý như sau: Trong số 652.000 trườnghợp ngược đãi trẻ em được ghi nhận có 138.400 trường hợp là bạo hành về mặtcảm xúc, hoặc tỷ lệ cứ 1000 trẻ em thì có 2,2 em dưới 18 tuổi bị bạo hành.(Burgdorf, 1980) Thông thường, cha mẹ không hay nhận ra bản thân đang bạohành con bằng việc sử dụng những phương pháp kỷ luật như mắng, chửi, lăng mạ,
so sánh không công bằng, phủ nhận những điều con nói… Một nghiên cứu kháccũng đưa ra dữ liệu phân tích trên một mẫu đại diện toàn quốc với 3.346 cha mẹngười Mỹ cho thấy 63% đã từng bạo hành bằng lời nói với con mình như chửi thề,chỉ trích và xúc phạm đứa trẻ (Vissing, Straus, Gelles, Harrop, 2014) Hiện tượngnày cũng được ghi nhận ở Brazil, với kết quả của nghiên cứu của DosSantos vàcộng sự (2017) cho thấy tỷ lệ bạo hành bằng lời nói khoảng 37% và tỷ lệ bạohành thân thể khoảng 30% Một số những nghiên cứu về ảnh hưởng của bạo hànhlời nói ở cha mẹ đã chứng minh rằng trẻ em bị bạo hành thường xuyên bằng lờinói có nguy cơ luôn trong trạng thái cảm xúc tiêu cực và các vấn đề hành vi baogồm bạo hành người khác, lo âu, trầm cảm, thiếu sự gắn bó tình cảm và sự tự tin,khả năng nhận thức thấp và xã hội kỹ năng (Dube, Anda, Felitti, Edwards, &Croft, 2002; Kjelsberg & Dahl, 1999; Linaman, 1997; Rekart, Mineka, Zinbarg, &Griffith, 2007; Spillane-Grieco, 2000; Treichel và cộng sự, 2006) Cũng có nhữngcông trình nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố nguy cơ dẫn đến bạo hành bằng lờinói ở cha mẹ Những nghiên cứu này đã chỉ ra một số yếu tố nguy cơ như, cha mẹ
đã sử dụng kỷ luật thể chất với con cái, cha mẹ gặp khó khăn trong việc quản lýcơn giận, cha mẹ theo tôn giáo, có niềm tin nhất định về một đấng tối cao, cha
Trang 8mẹ có tiền sử bạo hành thể chất thời thơ ấu, cha mẹ có tiền sử bạo hành tình dụcthời thơ ấu (Shelly Jackson, Ross A Thompson, Elaine H Christiansen, Rebecca
A Colman, Jennifer Wyatt, Chad W Buckendahl, Brian L Wilcox& ReecePeterson, 1999)
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về bạo hành bằng lời nói còn hạnchế Một nghiên cứu được thực hiện gần đây nhất về thực trạng bạo hành bằng lờinói của cha mẹ với con cái được thực hiện trên 599 em học sinh trong độ tuổi 14-
15 tuổi tại Hà Nội đã chỉ ra mức độ trẻ bị cha mẹ bạo hành bằng lời nói ở mức độ
“thường xuyên” và “rất thường xuyên” chiếm 49,92% (Bùi Thị Thu Huyền,Nguyễn Phương Thảo, Tô Long Thành, Đinh Tiến Đạt, Nguyễn Thị Ái, 2018).Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra bạo hành bằng lời nói của cha mẹ có sự ảnhhưởng nghiêm trọng tới cảm xúc và hành vi của đứa trẻ Nhận thấy việc dự đoáncác yếu tố nguy cơ dẫn đến hành vi bạo hành bằng lời nói của cha mẹ với con cái,đồng thời tìm hiểu các cách ứng phó của những đứa trẻ bị cha mẹ bạo hành bằnglời nói đã được thực hiện như thế nào là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn Từ đó có thể xây dựng một chương trình phòng ngừa và can thiệp cho
cả trẻ em là nạn nhân của bạo hành bằng lời nói và cho bố mẹ là người thực hiện
hành vi này Chính vì thế tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Cách ứng phó của học sinh trung học cơ sở với hành vi bạo hành bằng lời nói của của cha mẹ” Đề
tài hướng đến trả lời ba câu hỏi chính sau: Thứ nhất, học sinh trung học cơ sở có bịcha mẹ bạo hành bằng lời nói hay không? Và nếu có trẻ bị cha mẹ bị bạo hành ởmức độ cùng với những dạng/loại bạo hành nào? Thứ hai, có những yếu tố nguy
cơ nào dẫn đến bạo hành bằng lời nói của cha mẹ với con ? Thứ ba, những họcsinh đã bị cha mẹ bạo hành bằng lời nói đang thực hiện những cách ứng phó nhưthế nào?
Trang 93.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các yếu tố nguy cơ của hành vi bạo hành bằng lời nói của cha mẹ với con cái
- Các cách ứng phó của học sinh khi bị cha mẹ bạo hành bằng lời nói
3.2 Khách thể nghiên cứu
- 157 học sinh thuộc 01 trường THCS quận Cầu Giấy, Hà Nội trong đó có 82 học sinh khối 8 và 75 học sinh khối 9
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1 Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài chủ yếu tập trung tìm hiểu thực trạng bạo
hành bằng lời nói của cha mẹ đối với con cái; các kiểu bạo hành bằng lời nói của cha mẹ với con; những yếu tố nguy cơ dẫn đến bạo hành bằng lời nói đối với các
em học sinh; tìm hiểu các cách ứng phó của các em về vấn đề này
4.2 Về địa bàn nghiên cứu: Đề tài này chỉ tiến hành nghiên cứu tại 01 trường
THCS trên 01 địa bàn: thành phố Hà Nội
4.3 Về khách thể nghiên cứu: học sinh lớp 8 và lớp 9
5 Giả thuyết khoa học
Trong đề tài này tôi đặt ra ba giả thuyết khoa học như sau:
- Giả thuyết 1: Học sinh THCS bị bạo hành bằng lời nói ở mức độ thườngxuyên
- Giả thuyết 2: Có 4 yếu tố nguy cơ dẫn đến bạo hành lời nói của cha mẹ vớihọc sinh THCS bao gồm: yếu tố thuộc cha mẹ và người chăm sóc, yếu tốthuộc gia đình, yếu tố thuộc đứa trẻ và yếu tố môi trường Trong đó yếu tốthuộc về cha mẹ có nguy cơ cao nhất dẫn đến bạo hành bằng lời nói củacha mẹ với con cái
- Giả thuyết 3: Các cách ứng phó bạo hành bằng lời nói của học sinh THCSđược chia thành 03 dạng: ứng phó định hướng vào nhiệm vụ, ứng phógiảm thiểu cảm xúc, ứng phó né tránh Trong đó, ứng phó giảm thiểu cảmxúc và né tránh được học sinh THCS thực hiện nhiều hơn
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý luận:
Tìm hiểu các khái niệm và các tài liệu liên quan đến bạo hành lời nói củacha mẹ đối với con cái để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Nghiên cứu thực tiễn:
- Khảo sát thực trạng bạo hành bằng lời nói của cha mẹ đối với học sinh THCS
- Thực trạng các yếu tố nguy cơ dẫn đến thực trạng này đối với các em
- Tìm hiểu các cách ứng phó của các em đối với thực trạng này
Trang 10- Dựa vào kết quả thu được, đưa ra một số khuyến nghị nhằm giảm thiểu bạo hànhbằng lời nói của cha mẹ đối với học sinh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thực hiện tìm kiếm thông tin, cơ sở lý luận thông qua các nguồn dữ liệuSciencedirect, Psyinfor, American Psychology Association (APA - Hiệp hội Tâm
lý học Hoa Kỳ), trang web của thư viện đại học quốc gia Hà Nội, trang web củaViện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam và các công trình nghiên cứu khoa học,luận án, luận văn liên quan đến vấn đề này
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Tham khảo tài liệu, xây dựng bảng hỏi nhằm điều tra về thực trạng bạohành bằng lời nói; các yếu tố nguy cơ dẫn đến bạo hành bằng lời nói; cách ứngphó của học sinh khi bị bạo hành bằng lời nói
Ở phần thực trạng của phiếu trưng cầu ý kiến được tham khảo, chỉnh sửa và
tổng hợp từ công cụ đo của đề tài “Nghiên cứu về bạo hành bằng lời nói của cha
mẹ với học sinh trung học cơ sở tại thành phố Hà Nội” (Bùi Thị Thu Huyền,
Nguyễn Phương Thảo, Tô Long Thành, Đinh Tiến Đạt, Nguyễn Thị Ái, 2018)
Ở phần dự đoán các yếu tố nguy cơ, đề tài tham khảo 04 yếu tố dẫn đến nạnbạo hành ở trẻ em được APA (Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ) đưa ra bao gồm yếu tốthuộc cha mẹ và người chăm sóc, yếu tố thuộc gia đình, yếu tố thuộc đứa trẻ, yếu
tố môi trường Các yếu tố đã được chỉnh sửa, thích nghi phù hợp với khách thểtrong đề tài này
Ở phần các cách ứng phó, đề tài tham khảo công cụ “The Coping Inventory for Stressful Situations” đã được APA (Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ) thực hiện điều tra trên 139 bệnh nhân với độ tin cậy α nằm trong khoảng từ 0.88 đến 0.92 Để
thích ứng phù hợp với đối tượng nghiên cứu, công cụ được sử dụng trong nghiêncứu này đã đượcchuyển dịch, chỉnh sửa, tổng hợp từ 48 mục của CISS ( TheCoping Inventory for Stressful Situations) đã được rút gọn 21 mục được chiathành ba nhóm ứng phó: ứng phó định hướng vào nhiệm vụ/ứng phó giải quyếtvấn đề, ứng phó giảm thiểu cảm xúc, ứng phó né tránh Các mục trong từng nhómứng phó được chuyển dịch và tiến hành thích nghi với khách thể ở đề tài này, đồngthời các mục được kiểm định về cách ứng phó của học sinh qua 02 phương thức
bao gồm “Tần suất thực hiện” và “Hiệu quả thực hiện các chiến lược”
7.3 Phương pháp phân tích thống kê:
Trang 11Từ số liệu khi khảo sát thực tế thu được, tiến hành tổng hợp, phân tích kếtquả thông qua phần mềm SPSS 22.0, từ đó rút ra kết luận và đưa ra những khuyếnnghị phù hợp.
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Bạo hành bằng lời nói (BHBLN) của cha mẹ đối với con cái đã và đang làvấn đề được quan tâm và được đề cập trong các công trình nghiên cứu của các nhàkhoa học ở nhiều lĩnh vực Bắt nguồn từ những năm 80 của thế kỷ XX, các nhànghiên cứu đã có những công bố, những con số chỉ ra rằng hành vi bạo hành bằnglời nói của cha mẹ không phải là một phương pháp dạy con phù hợp, được dựđoán có sự ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của trẻ trong thời ấu thơ và giaiđoạn trường thành sớm Trong khoảng những năm 90 và kéo dài đến tận ngày nay,vấn đề bạo hành bằng lời nói đang được các nhà khoa học chú trọng tới nhiều hơn,đặc biệt là những ảnh hưởng của nó về sự phát triển của trẻ, hay những cách ứngphó mà trẻ tự tạo ra cho mình là gì hoặc những yếu tố nguy cơ dẫn đến hành viBHBLN có thể được dự đoán một cách rõ ràng hay không Có thể tổng hợp thành
năm xu thế chủ yếu của các nghiên cứu trên thế giới về chủ đề bạo hành bằng lời
nói:
Thứ nhất, xu hướng tìm ra dấu hiệu hay các hình thức của bạo hành bằng
lời nói, các dạng hành vi và đối tượng bạo hành Hầu hết các tác giả đều thốngnhất cho rằng bạo hành bằng lời nói là một hình thức bạo hành tinh thần và đốitượng hướng đến chủ yếu là trẻ em Vào năm 1979, tác giả Dean đã từng chỉ rõ:
“Bạo hành tinh thần trẻ em là thái độ hoặc hành động của cha mẹ hoặc người chăm sóc có hại hoặc cản trở sự phát triển của trẻ”(Trang 11) Berit Brogaard và các công sự đã từng định nghĩa: “Bạo hành bằng lời nói là cách tấn công, gây tổn thương đối phương bằng lời nói hoặc sự im lặng, thờ ơ Bạo hành bằng lời nói được biểu thị dưới nhiều hình thức khác nhau từ việc huênh hoang quá mức cần thiết đến các các hành vi gây hấn thụ động”(trang 123).
Theo hướng nghiên cứu này, tác giả Evans (2009) đã đưa ra 15 biểu hiệncủa BHBLN, như: khống chế thông tin và không chia sẻ cảm xúc; phản đối (phảnbác, loại bỏ cảm giác, suy nghĩ của nạn nhân một cách thường xuyên); coi nhẹ(xem nhẹ cảm xúc của đối phương); xúc phạm, đe dọa, đánh giá và chỉ trích; phủnhận, la hét Cũng trong xu hướng này, Loh và cộng sự (2011) nghiên cứu trênthanh thiếu niên Philippin đã xác định 09 hình thức bạo hành bằng lời nói của cha
Trang 13mẹ với trẻ em gồm: coi thường và hạ thấp con cái; từ chối; đổ lỗi; phóng đại lỗi;
đe dọa; gây tổn hại; hối tiếc; so sánh không công bằng; và dự đoán tiêu cực
Thứ hai, nhiều công trình cố gắng tìm hiểu thực trạng cha mẹ bạo hành lời
nói với con cái đi kèm với tần suất hoặc mức độ bạo hành ở nhiều nước khác nhau
Có tương đối ít nghiên cứu trực tiếp về mức độ bạo hành bằng lời nói Hành vi bạohành bằng lời nói được đan xen trong các nghiên cứu lớn về bạo hành về mặt cảmxúc đi kèm với bạo hành thể chất Dựa trên những dữ liệu của AAPC cho năm
1986, 1988) ước tính tỷ lệ chỉ 0,54 trên 1.000 trẻ em bị bạo hành về mặt cảm xúc.Tuổi trung bình của một đứa trẻ bị bạo hành về mặt cảm xúc là 7,87 tuổi so với5,54 năm đối với những trẻ được báo cáo bạo hành thể chất Cũng theo nghiên cứunày chỉ ra trẻ em bị bạo hành về mặt cảm xúc chủ yếu xuất thân từ các gia đìnhcha mẹ đơn thân, và có cha mẹ có vấn đề về sức khỏe và kinh tế
Trong năm 1980, Trung tâm quốc gia về lạm dụng trẻ em và bỏ mặc ở Mỹ(NCCAN) tiếp tục đưa ra con số về số lượng trẻ em bị bạo hành như: Trong số1.025.900 tổng số trường hợp có thể đếm được của việc bạo hành trẻ em đượccông nhận và báo cáo trong cuộc điều tra thứ hai, có 174.400 trường hợp bị bạohành về mặt cảm xúc Điều này chuyển thành tỷ lệ cứ 1000 em có tới 2,8 bị bạohành trong toàn bộ dân số Loại bạo hành về mặt cảm xúc lớn nhất là bạo hànhbằng lời nói hoặc cử chỉ, chiếm tỷ lệ cứ 1000 trẻ em có 1,9 em bị bạo hành(NCCAN, 1988)
Một cuộc khảo sát trên những người Mỹ trưởng thành cho thấy 70% tinrằng các vấn đề tâm lý có thể là hệ quả từ việc la hét và chửi rủa nhiều lần ở trẻ em(Daro, Abrahams, & Robson, 1988) Hemenway, Solnick, và Carter (1994) đã tiếnhành một cuộc khảo sát qua điện thoại với 801 phụ huynh và thấy rằng đa số cácbậc cha mẹ đã sử dụng la hét hoặc kết hợp với đánh như một phương tiện để kiểmsoát con cái của họ
Ở Philippin, nhóm tác giả Jenifer và cộng sự (2011) phát hiện ra rằng trong
9 hình thức bạo hành bằng lời nói thì hình thức BHBLN mà cha mẹ thường sửdụng nhiều nhất với con cái là “hạ thấp và sỉ nhục con cái” (ví dụ cha mẹ nhiếcmóc con cái bằng những từ ngữ như “đồ ngu dốt”, “đồ vô tích sự”, “đồ nhãiranh”…) và đây cũng được cho là dạng BHBLN nghiêm trọng nhất trong con mắtcủa trẻ
Trang 14Ở Mỹ, năm 2014, nghiên cứu về một mẫu đại diện trên toàn quốc gồm3.346 trẻ em cho thấy việc bạo hành bằng lời nói của cha mẹ là rất phổ biến Cótới 63% trường hợp được báo cáo cha mẹ đã từng bạo hành bằng lời nói với concái như chửi rủa và lăng mạ trẻ Kết quả nghiên cứu này cũng đưa những nhậnđịnh cụ thể như sau:
1 Khoảng hai trong số ba trẻ em Mỹ là nạn nhân của bạo hành bằng lời nói
2 Cha mẹ sử dụng bạo hành bằng lời nói với tần suất trung bình 11 lần trởlên
3 Con trai bị bạo hành bằng lời nói nhiều hơn con gái
4 Trẻ em trên 6 tuổi có nhiều khả năng là nạn nhân của bạo hành bằng lờinói
Ở Brazil, kết quả của nghiên cứu DosSantos và cộng sự (2017) cũng đưa ra
tỷ lệ bạo hành bằng lời nói khoảng 37% và tỷ lệ bạo hành thân thể khoảng 30%
Thứ ba, các nghiên cứu trên thế giới tập trung tìm hiểu mức độ ảnh hưởng
của bạo hành bằng lời nói của cha mẹ đến đời sống tinh thần của con cái
Năm 1980, Rohner đã tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến sự tự tin củatrẻ em đã nhận định rằng bạo hành bằng lời nói của cha mẹ có thể hạ thấp lòng tựtrọng của một đứa trẻ Tác giả quan sát thấy các bậc cha mẹ sử dụng những hìnhthức kỷ luật với con cái họ có xu hướng nói ra những điều thiếu suy nghĩ, không
tử tế và những điều tàn nhẫn đối với hoặc về con cái họ, lăng mạ chúng, (và) mỉamai chúng Ở nghiên cứu này, tác giả dự đoán tính cách của một đứa trẻ từng bịcha mẹ BHBLN khi còn nhỏ sẽ trở thành một người lo lắng khi bước vào giaiđoạn trưởng thành Hơn thế nữa, những đứa trẻ có tiền sử bị cha mẹ bạo hànhbằng lời nói sẽ bị ảnh hưởng tới khả năng tự kiểm soát, điều chỉnh cảm xúc, khảnăng tự đánh giá vấn đề, có xu hướng trở nên không thân thiện, luôn thù địch
Việc sử dụng bạo hành bằng lời nói của cha mẹ gây ảnh hưởng tới mốiquan hệ cha mẹ và con cái đặc biệt là sự gần gũi, sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái(Hirschi, 1969; Lytton, 1979) Các nhà khoa học Campbell (1989), Teicher,Samson, Polcari, & McGreenery (2006) đã nhận định rằng bạo hành bằng lời nóikhông để lại vết sẹo có thể nhìn thấy, nhưng tổn thương tình cảm đối với đời sốngtinh thần của nạn nhân là rất lớn và thậm chí nó có thể có thể hủy hoại cả con
Trang 15người Rất nhiều công trình nghiên cứu thực chứng đã chứng minh rằng bạo hànhbằng lời nói thời thơ ấu có tương quan thuận chặt chẽ với những rối nhiễu tâm lýtuổi vị thành niên và trưởng thành (McKinnon, 2008; Simeon và cộng sự, 2001).Những đứa trẻ bị cha mẹ bạo hành bằng lời nói có xu hướng hung tính hơn, dễmắc các tệ nạn xã hội, và gặp các vấn đề quan hệ cá nhân nhiều hơn những đứa trẻkhông bị cha mẹ bạo hành bằng lời nói (Vissing và cộng sự, 1991); hay việc trẻ bịbạo hành bằng lời nói thời thơ ấu làm tăng nguy cơ rối loạn nhân cách trong giaiđoạn thanh thiếu niên và giai đoạn trưởng thành sớm (Johnson và cộng sự, 2001);nguy hại hơn trẻ bị bạo hành bằng lời nói còn có liên quan đến sự gia tăng chứngtrầm cảm, lo lắng, phân ly và sử dụng ma túy (Dube, Anda, Felitti, Edwards, &Croft, 2002; Kjelsberg & Dahl, 1999; Linaman, 1997; Polcari và cộng sự, 2014).Chính vì thế tác giả Loh, Calleja và Restubog (2011) đã khẳng định hậu quả củabạo hành bằng lời nói đến trẻ em là vô cùng nghiêm trọng, có ảnh hưởng lâu dàiđến sức khỏe tinh thần của trẻ em, thậm chí làm hủy hoại sự hài lòng với bản thân
và lòng tự trọng của đứa trẻ Cùng quan điểm với các tác giả trên, Ney (1987)nhấn mạnh rằng bạo hành bằng lời nói có thể có tác động lớn hơn trong một thờigian dài hơn Một số cha mẹ bạo hành bằng lời nói nhưng không đánh đập con cái,
bỏ rơi họ Bạo hành bằng lời có thể có tác động nghiêm trọng hơn bởi vì đứa trẻ
bị bạo hành có nhiều khó khăn hơn trong việc tự bảo vệ mình trước cuộc tấn công.Ngoài ra trẻ em có khuynh hướng bắt chước cha mẹ của chúng, việc bị cha mẹ bạohành cũng sẽ trở thành một cách để chúng tự bạo hành bản thân
Kết quả của Vissing et al (1991) rất có ý nghĩa vì chúng là những phát hiệnđầu tiên cho thấy bạo hành bằng lời nói có liên quan mạnh mẽ đến hành vi gây hấncủa trẻ con và các vấn đề liên cá nhân Tuy nhiên, các tác giả thừa nhận rằng sựkết hợp của bạo hành thể chất và lời nói khiến trẻ em có nguy cơ cao gặp khó khănvới các vấn đề về sức khỏe tâm thần Đánh giá các tác động của việc bạo hànhbằng lời nói, tác giả chỉ ra bạo hành bằng lời nói có thể được coi là các cuộc tấncông vào tâm hồn của đứa trẻ (những lời nói tiêu cực được thực hiện với đứa trẻ),dẫn đến lòng tự trọng bị “nổ tung” Hơn nữa, việc tiếp xúc với hành vi BHBLNcủa cha mẹ đã được chứng minh là gây ra các tác động bất lợi tới sức khỏe tâmthần (Te Rich, Samson, Polcari, & McGreenery, 2006) Johnson và cộng sự.(2001) đã tìm thấy bằng chứng cho thấy những cá nhân trải qua BHBLN của cha
mẹ trong thời thơ ấu có khả năng mắc chứng rối loạn nhân cách ranh giới, tự ái,
ám ảnh và hoang tưởng trong thời niên thiếu (Johnson et al , 2001)
Trang 16Nhóm tác giả (Dietz, 2000; Patterson, DeBaryshe, & Ramsey, 1989; Sweet
& Resick, 1979) đưa ra những nhận định về mối quan hệ giữa bạo hành bằng lờinói với sự giận dữ và hành vi gây hấn của một đứa trẻ như sau: nếu cha mẹ cư xửgiận dữ và có những hành vi gây hấn với một đứa trẻ, chúng sẽ quan sát và bắtchước nó Một số nghiên cứu đã xem xét mối quan hệ giữa việc cha mẹ sử dụnghành vi bạo hành bằng lời nói và sự gia tăng hành vi gây hấn của trẻ con Bousha
và Twentyman (1984) đã kiểm tra các tương tác giữa mẹ và con bằng cách sử dụngphương pháp quan sát trực tiếp Các tác giả đã nhận định rằng những bà mẹ bạohành bằng lời nói và thể chất nhiều hơn thì sẽ có những đứa trẻ không tuân thủ vàkhó có khả năng kiểm soát sự gây hấn của bản thân chúng Egeland et al (1983)
đã đưa ra cảnh báo với bằng chứng cho thấy việc bạo hành bằng lời nói làm giảmlòng tự trọng của một đứa trẻ và do đó làm giảm động lực của một đứa trẻ để họchoặc tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ khác
Năm 2014 ở Mỹ, một nghiên cứu trên mẫu đại diện gồm 3.346 trẻ em chothấy cha mẹ dùng lời nói để bạo hành con cái họ diễn ra khá phổ biến Đồng thờinghiên cứu cũng đưa ra nhận định về mối quan hệ giữa bạo hành bằng lời nói củacha mẹ và các vấn đề về hành vicủa đứa trẻ như sau :
- Cha mẹ sử dụng những lời nói miệt thị con cái càng nhiều, xác suất củađứa trẻ càng lớn hành vi gây hấn càng cao, có khả năng phạm pháp hoặc có vấn đềvới các mối quan hệ
- Bạo hành bằng lời nói có thể có khả năng gây ra các khó khăn về tâm lýcho đứa trẻ từng là nạn nhân bao ở tất cả các nhóm tuổi và cả nam và nữ
- Bạo hành bằng lời nói của cha mẹ được dự đoán gây nên các khó khăn vềtâm lý cho đứa trẻ cao hơn bạo hành về thể chất
- Bạo hành bằng lời nói và bạo lực gia đình có khả năng cao gây ra các khókhăn tâm lý của trẻ, đặc biệt là về vấn đề hành vi kiểm soát ở đứa trẻ
Thứ tư, một cuộc tranh luận đặt ra cho các nhà nghiên cứu trên thế giới về
thuật ngữ sử dụng trong những nghiên cứu về vấn đề nguyên nhân hay các yếu tốnguy cơ gây nên bạo hành bằng lời nói của cha mẹ ở con cái Có hai từ khóa chính
là nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ gây nên bạo hành bằng lời nói Trước tiên,nghiên cứu của Egeland et al (1983), các tác giả quan tâm đến tác động của tất cảcác hình thức bạo hành trẻ em, không chỉ là bạo hành bằng lời nói Khi các tác giả
Trang 17tìm thấy những yếu tố trung gian khác như điều kiện kinh tế kém, không khí giađình căng thẳng, chăm sóc sức khỏe kém và trình độ học vấn đều có thể góp phầnlàm tăng nguy cơ bạo hành bằng lời nói với con cái trong gia đình
Một số công trình bắt đầu tiến hành tìm ra những yếu tố nguy cơ riêng của bạohành bằng lời nói dựa trên việc điều tra lồng ghép trong các hình thức bạo hành trẻ
em Ví dụ, nhóm tác giả Jorgenson (1985) và Steinmetz (1977) dự đoán các yếu tốnguy cơ của bạo hành bằng lời nói ở cha mẹ như sau: đầu tiên, khi cha mẹ có hành
vi BHBLN với trẻ hoặc với các thành viên khác trong gia đình, từ đó trẻ có thể sửdụng lời nói có đan xen yếu tố liên quan đến hành vi gây hấn với các thành viênkhác trong một gia đình và chúng cho rằng điều đó là chấp nhận được Cha mẹ cóhành vi BHBLN đều có khả năng đã từng là nạn nhân của BHBLN thời ấu thơ; vàkhi những đứa trẻ này là người lớn, họ có thể có nhiều khả năng gây ra BHBLNvới vợ hoặc con của họ
Các công trình khác cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về xu hướng phụ huynh cóthể sử dụng bạo hành bằng lời nói Jackson và cộng sự (1999) đã rút ra bảy yếu tốnguy cơ mà họ dự đoán gây nên bạo hành bằng lời nói ở cha mẹ gồm:
1) Trẻ càng lớn tuổi, cha mẹ càng có nhiều khả năng bạo hành bằng lời nói vớicon mình
2) Cha mẹ đã sử dụng hình thức kỷ luật thể chất (đánh, đập, tát…) với con cái
có nhiều khả năng bạo hành bằng lời nói với con họ
3) Cha mẹ gặp khó khăn trong việc quản lý sự tức giận của họ có nhiều khảnăng bạo hành bằng lời nói với con cái họ
4) Tôn giáo càng quan trọng đối với cha mẹ thì càng có nhiều cha mẹ bạo hànhbằng lời nói của con cái họ
5) Cha mẹ có tiền sử bị bạo hành thể chất thời thơ ấu có nhiều khả năng lạmdụng bằng lời nói con cái của họ
6) Cha mẹ có tiền sử bị xâm hại tình dục có nhiều khả năng bạo hành bằng lờinói con cái của họ
7) Nam giới có nhiều khả năng hơn nữ giới sử dụng bạo hành bằng lời nói
Trang 18Trong khi Jackson và cộng sự (1999) dự đoán cha có nhiều khả năng bạo hànhbằng lời nói hơn mẹ, Bartkowski & Wilcox (2000) tìm thấy điều ngược lại: họ cho rằng
mẹ có nhiều khả năng la hét, chửi rủa, miệt thị….con cái hơn cha Đồng thời có một yếu
tố khác được dự đoán từ nghiên cứu này đó là tuổi tác: cha mẹ ít có khả năng la hét nếu
họ lớn tuổi, do đó tuổi tác có thể là một yếu tố dự đoán
Black, Smith-Slep và Heyman, (2001) đã kết luận từ một phân tích tổng hợp củatài liệu bạo hành tâm lý rằng các gia đình có thu nhập thấp có nguy cơ bạo hành bằng lờinói cao hơn Sedlak (1997) đã báo cáo phát hiện tương tự sau khi xem xét dữ liệu về hành
vi ngược đãi các gia đình Những nghiên cứu này đủ gợi ý về mối liên hệ giữa tình trạngkinh tế xã hội và bạo hành trẻ em
Ở Trung Quốc, nghiên cứu thực nghiệm trên 5836 trẻ em ở sáu tỉnh thuộc khu vựcTrung Tây của Trung Quốc đưa ra ba phát hiện chính Thứ nhất, sự chênh lệch đáng kểtrong khu vực về mức độ nghiêm trọng của bạo hành trẻ em tồn tại ở Trung Quốc và cáckhu vực dân tộc thiểu số không phải người Hán có tỷ lệ bạo hành trẻ em được báo cáocao hơn Thứ hai, chấn thương tâm lý của bạo hành trẻ em là rất lớn và sức khỏe tâm lýcủa trẻ em trong tất cả các lĩnh vực bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi chịu đựng các hìnhthức bạo hành khác nhau Trẻ em ở các vùng dân tộc thiểu số nghèo và trẻ nhỏ trải quacác hậu quả chấn thương nghiêm trọng Thứ ba, các mối quan hệ gia đình bao gồm chấtlượng của mối quan hệ vợ chồng và mối quan hệ giữa các thế hệ là những yếu tố nguy cơđáng kể của bạo hành trẻ em,cho thấy sự cần thiết phải cải thiện mối quan hệ để giảiquyết vấn đề bạo hành trẻ em (Qi Dia, Wang Yongjieb, Wan Guoweic, 2018)
Hình ảnh bên dưới chỉ dẫn 04 nhóm yếu tố nguy cơ gây nên nạn bạo hành trẻ
em ở Trung Quốc
Trang 19Tổng hợp các yếu tố nguy cơ của các công trình nghiên cứu được đưa ra cóthể thấy 04 nhóm nguy cơ điển hình được nhắc đến bao gồm yếu tố nguy cơ thuộc
về cha mẹ/ người chăm sóc; yếu tố nguy cơ thuộc về gia đình; yếu tố nguy cơthuộc về đứa trẻ và yếu tố nguy cơ thuộc về môi trường Như vậy có thể thấy cácviệc dự đoán các yếu tố nguy cơ càng ngày càng rõ ràng cho các nhà nghiên cứu
Có thể thấy các khía cạnh của bạo hành bằng lời nói như khái niệm hóa, thựctrạng, mức độ ảnh hưởng và các biện pháp được các nhà khoa học cùng với cáccông trình nghiên cứu của họ đang ngày được hình thành rõ ràng và được quantâm hơn
Thứ năm, các nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra những hình thức/kiểu
ứng phó khác nhau với tình huống gây căng thẳng/stress và hiệu quả của nhữngkiểu ứng phó này Trên cơ sở đó, các thang đo nghiên cứu về các kiểu ứng phócũng lần lượt ra đời
Trong cuốn sách “Handbook of coping: Theory, Research, Applications”,bài viết “Coping and defense: Historical overview” của James D A Parker vàcộng sự đã nêu tổng quan về vấn đề này Xuất phát điểm cho những nghiên cứu vềthuật ngữ ứng phó ngày nay là nghiên cứu với thuật ngữ “defense mechanism” (cơchế phòng vệ) của nhà tâm thần học nổi tiếng Sigmund Freud Theo con gái củaông là Anna Freud viết trong cuốn “The Ego and the Mechanisms of Defence”,thuật ngữ “defense” (phòng vệ) tiêu biểu cho quan niệm của lý thuyết phân tâmhọc Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên năm 1894 trong một nghiên cứu củaFreud: “The Neuro - Psychoses of defence”
Trong cuốn sách “Foundations of Mental Health Promotion”, tác giả đã mô
tả tóm tắt về nghiên cứu cơ chế phòng vệ của Sigmund Freud Ông mô tả các cơchế phòng vệ giống như là suy nghĩ của con người đang tự bảo vệ nó Nó bao gồmcác phương pháp phòng vệ như cơ chế hình thành phản ứng ngược, cơ chế phóngchiếu, cơ chế chấp nhận vô thức, đổ lỗi lại cho bản thân và không làm gì, v.v.Anna Freud (1937) tiếp tục nghiên cứu bổ sung thêm một số hình thức cơ chếphòng vệ khác
Dựa trên tài liệu phân tâm học truyền thống với chủ đề phòng vệ, Haan(1963) đã phát triển thuật ngữ này với 20 cơ chế cái Tôi (ego mechanisms) và 10
cơ chế ứng phó (coping mechanisms) Norma Haan (1977) đã phân biệt cơ chếphòng vệ và ứng phó Bà cho rằng ứng phó có mục đích và liên quan đến việc lựa
Trang 20chọn, trong khi cơ chế phòng vệ là cứng rắn và khuôn mẫu Thuật ngữ ứng phó(coping) không được nhắc đến trong các từ khóa tóm tắt trong các nghiên cứu tâm
lý học cho đến năm 1967 Cuối những năm 1960, các hình thức gọi khác nhauđược sử dụng như phong cách ứng phó (coping style, coping resources), v.v Năm
1980, Lazarus và Folkman đã đưa ra một công cụ nghiên cứu cách ứng phó là
“Cách ứng phó” (Ways of coping questionnaire), trắc nghiệm này đo 2 kiểu ứngphó tổng hợp nhất là ứng phó tập trung vào cảm xúc và ứng phó tập trung vào vấn
đề Sử dụng khái niệm ứng phó, Richard Lazarus (1966, 1984) - giáo sư tâm lýhọc tại đại học California – Berkley đã đưa ra mô hình giao dịch (transactionalmodel) Tiếp sau đó, nhiều nghiên cứu về sự phản ứng của con người với stress vàcác tình huống khó khăn được thực hiện của các tác giả như Haan (1977), Lazarus
và Folkman (1984), Vaillant (1986), Parker và Endler (1992), Lazarus (1993), v.v
Kết quả của nghiên cứu của Shipman et al., cho thấy mối liên hệ tích cựcđáng kể giữa các chiến lược ứng phó theo cảm xúc và bạo hành Các tác giả nàyphát hiện ra rằng những đứa trẻ bị bạo hành đã sử dụng các chiến lược ứng phóvới căng thẳng ít hiệu quả hơn so với những đứa trẻ không bị ảnh hưởng Hơn nữa,nghiên cứu đã phát hiện ra rằng việc ứng phó né tránh có liên quan với kết quả tâm
lý tiêu cực, nghiên cứu đã không ủng hộ chiến lược này để dự đoán đáng kể về sựkhác biệt trong thích ứng tâm lý ở tuổi trưởng thành
Trong việc nỗ lực tìm ra mối liên kết của hiệu quả các cách ứng phó đi kèmvới những đứa trẻ từng là nạn nhân của bạo hành bằng lời nói, một trong nhữngcông cụ được các tác giả đang sử dụng là bản kiếm kê ứng phó cho các tình huốngcăng thẳng (CISS - Coping Inventory for Stressful Situations)
Bản kiểm kê ứng phó cho các tình huống căng thẳng (CISS) được sử dụng
để đánh giá các kiểu ứng phó với căng thẳng Các chiến lược bao gồm 48 chiếnlược được nhóm trong 3 nhóm (16 câu lệnh mỗi câu): ứng phó giảm thiểu cảmxúc, ứng phó trực tiếp vào nhiệm vụ hoặc ứng phó với né tránh Cấu trúc ba yếu tốnày đã được giới thiệu trên một mẫu học sinh tại Đại học Zadar, Croatia Người trảlời được yêu cầu đánh giá mức độ họ sử dụng các loại hoạt động khác nhau khiphải đối mặt với một tình huống khác biệt, căng thẳng hoặc đáng lo ngại Đối với
Trang 21mỗi câu, người trả lời trả lời theo kiểu Likert tỷ lệ dao động từ 1 (không hoàn toàntrên phạm vi) đến 5 (tỷ lệ rất nhiều).
Ở Hàn Quốc, nghiên cứu về thích ứng ở CISS (Coping Inventory forStressful Situations)-211ở đối tượng người trưởng thành đã thực sự đem lại mộtluồng không khí mới, để tiếp tục mở rộng, các nhà nghiên cứu tiến hành một cuộcnghiên cứu ở lứa tuổi vị thành niên, kết quả như sau: Cronbach's alpha biến đổitrong các mẫu khác nhau từ 0,79 đến 0,86 trong ứng phó theo định hướng nhiệm
vụ (7 mục), từ 79 đến 0,86 trong ứng phó theo cảm xúc (7 mục) và từ 0,78 đến0,85 trong thang đo ứng phó né tránh
1.1.2 Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về thực trạng BHBLN của cha mẹ với con cái ởViệt Nam cũng nằm trong xu hướng chung như các nước khác trên thế giới: cònthiếu và chưa có hệ thống Dựa trên những tài liệu tìm kiếm được, chúng tôi thấyvẫn chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu cụ thể về thực trạng bạo hành bằng lời nóicủa cha mẹ đối với con cái, chưa có những công trình chuyên sâu nghiên cứu vềảnh hưởng của bạo hành bằng lời nói của cha mẹ đối với trẻ các yếu tố nguy cơcũng như cách ứng phó của trẻ, nhất là ở lứa tuổi THCS hay tuổi thiếu niên Tuynhiên sau khi đọc và nghiên cứu, phân tích tài liệu chúng tôi nhận thấy nghiên cứu
ở Việt Nam có liên quan đến hiện tượng bạo hành tinh thần nói chung và bạo hành
bằng lời nói nói riêng có thể tổng hợp thành hai xu hướng như sau:
Thứ nhất, hướng nghiên cứu về thực trạng của bạo hành tinh thần nói chung và bạo hành bằng lời nói nói riêng trong mối liên hệ với bạo hành thể chất ở
trẻ
Trong một vài năm trở lại đây hậu quả của nạn bạo hành trẻ em, đặc biệt làbạo hành thể chất đang là vấn đề nóng hổi trong xã hội Việt Nam và thu hút rấtnhiều ngành, lĩnh vực quan tâm Đồng quan điểm với các tác giả nước ngoài, Giáo
sư Nguyễn Ngọc Phú (2017) nhận định việc bạo hành trẻ sẽ gây sang chấn tâm lý,đôi khi biến đứa trẻ thành những người có tâm tính khác hẳn theo hướng tiêu cực
1 CISS - 21 (Coping Inventory for Stressful Situations)là bản rút gọn từ 48 mục của CISS bản gốc xuống thành 21 mục
Trang 22khi lớn lên Có lẽ vì thế mà các nghiên cứu trong nước đa phần chỉ tập trung vàohậu quả của nạn bạo hành của cha mẹ với con cái, trong đó việc cha mẹ sử dụnglời nói gây ảnh hưởng đến trẻ thường được qui về dạng bạo hành tinh thần
Như đã nhận định ở trên ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại, chưa cómột nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về vấn đề về bạo hành bằng lời nói củacha mẹ với con cái ở lứa tuổi trung học cơ sở (THCS) Nhưng bên cạnh đó, cũng
có một số nhưng công trình có đề cập đến khía cạnh này đi kèm với những cụm từnhư “phong cách giáo dục cha mẹ”, “bạo hành gia đình”, “bạo hành tinh thần”,
“lạm dụng” hay hiện tượng gasliting2 Những nghiên cứu hay nhận định về phongcách giáo dục của cha mẹ thời hiện đại có liên quan đến vấn đề bạo hành bằng lờinói được đề cập khá rõ ràng trong những khía cạnh như sau Trước hết, khi đề cậpđến kỹ năng nghe tích cực giữa cha mẹ và con cái, tác giả Phạm Thành Nghị chorằng “Trong mối quan hệ giữa cha mẹ - con cái, hầu hết các bậc cha mẹ luôn đặtmình ở vị thế của người bề trên và thông điệp mà họ gửi đến con cái thường làmệnh lệnh, sự cảnh báo, huấn thị, kiểm soát, khuyên bảo, lên lớp, phê phán thậmchí lăng mạ Những phản ứng kiểu này đặt trẻ em vào vị thế của người nghe thụđộng, co cụm, sợ hãi, hay phản ứng gay gắt Khi đó cha mẹ không còn cơ hội chia
sẻ, thấu hiểu con cái như một chủ thể giao tiếp tích cực để tác động theo chiềuhướng tích cực và phù hợp” Tác giả Lê Thi (2009) cũng đề cập đến những nguyênnhân tâm lý dẫn đến sự xung đột giữa cha mẹ và con cái cũng như việc cha mẹ sửdụng các biện pháp trừng phạt để răn dạy, giáo dục con Đó là “chủ nghĩa cá nhân
vị kỷ, tính hiếu thắng trong mối con người, tính độc đoán, lấy quyền làm cha, làm
mẹ, tự cho mình quyền quyết định tối cao, bắt con cái phải nghe theo mình vì đãsinh ra chúng,vất vả nuôi dưỡng, cho chúng ăn học,… Họ tự cho mình cái quyềnđược phạt hay đánh mắng con cái và nhiều khi coi thường con cái Khi cha mẹ biếtsai nhưng vì tính tự ái và sĩ diện cá nhân lại không muốn rút kinh nghiệm…” Haytác giả Hoàng Minh Tố Nga chia sẻ: "Qua tham vấn tâm lý, tôi phát hiện nhiềuđiều không ổn trong cách dạy con của người lớn" Cuộc sống đã có quá nhiều thayđổi, nhưng không ít người cứ dạy con "nguyên xi" theo cách mình từng đượchưởng trước đây Họ "ghi âm" sẵn những bài học đạo đức, đợi khi có dịp là phát ra
để "lên lớp"chứ không quan tâm lắng nghe Khi cha mẹ không là "đồng minh", trẻ
2 Gaslighting hay gas-lighting (nghĩa đen: thắp sáng đèn ga) là một hình thức lạm dụng tâm lý hoặc cảm xúc, trong
đó kẻ lạm dụng sử dụng thông tin bị bóp méo, thiếu sự thật khiến nạn nhân ban đầu lo lắng, bối rối rồi dẫn đến nghi ngờ suy nghĩ, giá trị, trí nhớ, óc phán đoán của mình và mất dần đi cảm nhận về thực tế.
Trang 23sẽ chia sẻ cuộc sống của mình với những người bên ngoài tổ ấm và điều đó thậtnguy hiểm" Tại Hội thảo Sức khoẻ thanh niên và vị thành niên (Hà Nội), nhiềuchuyên gia tâm lý cho rằng, trong xã hội đầy biến động, áp lực và cạnh tranh ngàynay, trẻ em không chỉ cần được nuôi khoẻ về thể chất, mà còn cần được "dưỡng"
cả tinh thần Cách cư xử hà khắc của cha mẹ sẽ không chỉ khiến gia đình đánh mấtvai trò "giảm sóc" cho con, mà còn khiến trẻ thui chột tình cảm; đến một lúc nào
đó chúng từ chối chính cha mẹ của mình
Thứ hai, đã có một số nghiên cứu đề cập tới chiến lược ứng phó và hiệu
quả của những chiến lược này, nhưng chủ yếu tập trung tìm hiểu chiến lược ứngphó với stress trên trẻ vị thành niên Có thể kể ra một số công trình nghiên cứusau:
Tác giả Phan Thị Mai Hương và cộng sự (2007) chỉ ra cách ứng phó kémhiệu quả nhất là sự chạy trốn và tự dối mình trong tất cả các trường hợp và hạ thấpcác khả năng của mình Tuy nhiên nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu về stress
và ứng phó với stress và tác nhân gây stress đồng tình với quan điểm cho rằnghiện thực hơn cả là ứng phó bằng cách cải tạo lại hoàn cảnh hoặc ít nhất cũng thayđổi cách ứng xử của mình với hoàn cảnh Cũng theo nhóm tác giả, hiện nay cácnghiên cứu vẫn chưa có những đánh giá đầy đủ về các cách ứng phó bằng thể hiệncảm xúc Những người ta vẫn cho rằng việc thể hiện cảm xúc là phương pháptương đối hiệu quả để ứng phó với stress, ngoại trừ trường hợp thể hiện công khaitính nóng giận Tuy nhiên, sự kìm nén quá mức tính nóng giận có thể dẫn đến một
số phản ứng tâm thể và kết quả là phá vỡ trạng thái cân bằng tâm lý của conngười Một số tác giải cho rằng việc tìm kiếm chỗ dựa xã hội và giải quyết vấn đề
có thể làm giảm mức độ lo lắng (Phan Thị Mai Hương và cộng sự, 2007)
Bảng kết quả các chiến lược ứng phó với từng loại gây stress của tác giả ĐỗThị Lệ Hẳng (2009) cho thấy trẻ vị thành niên có xu hướng ứng phó với các tácnhân gây stress bằng hành động nhiều hơn so với 2 cách ứng phó còn lại Khi xemxét các cách ứng phó với các áp lực gây stress khác nhau, nghiên cứu này khôngtìm thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính cũng như theo độ tuổicủa học sinh tham gia nghiên cứu
1.2.Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Bạo hành
Trang 24Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Bạo hành trẻ em bao gồm tất cảnhững hành vi đối xử tệ bạc về thể chất hay tinh thần, xâm hại tình dục, lợi dụnghay bỏ bê, dẫn đến nguy hại hay khả năng nguy hại đối với sức khỏe, nhân phẩm,hay sự phát triển của đứa trẻ Bạo hành có thể được thực hiện bởi cha mẹ, ngườitrông nom, hay một đứa trẻ lớn hơn…”
Với khái niệm bạo hành trẻ em (child abuse), “Hội chuyên môn về lạmdụng trẻ em Mỹ” (APSAC, the American Professional Society on the Abuse ofChildren, 1995) đã đưa ra những chỉ dẫn để phân loại hành vi như thế nào đượcgọi là ngược đãi trẻ em (child maltreatment) hay bạo hành trẻ em (child abuse)
gồm hai ý cơ bản như sau: Thứ nhất, ngược đãi về tâm lý (psychological
maltreatment) nói về những kiểu hành vi lặp lại của cha mẹ hay người chăm sóctrẻ có ý ám chỉ đứa trẻ là vô dụng, không hoàn hảo, không được yêu thương, bị
nguy hiểm hoặc chỉ có giá trị khi đáp ứng yêu cầu của ai đó Thứ hai, theo quan niệm của APSAC sự ngược đãi về tâm lý gồm 6 dạng cơ bản như hắt hủi (ví dụ
như chối bỏ, thù địch); đe dọa/uy hiếp trẻ (như làm tổn thương về thể chất, ruồng
bỏ, giết hại trẻ); cô lập (liên tục phủ nhận những cơ hội mà trẻ cần có như sựtương tác hay giao tiếp với bạn bè, người lớn trong và ngoài gia đình); bóc lột; từchối phản hồi cảm xúc (phớt lờ, bỏ mặc hoặc không thể hiện phản ứng cảm xúcvới trẻ); và bỏ mặc trẻ không được chăm sóc y tế, giáo dục và sức khỏe Điều đángquan tâm là một số nghiên cứu đã chứng minh rằng các dạng ngược đãi về tâm lýnêu trên thực tế không phải tồn tại riêng biệt mà chúng đan xen, xảy ra đồng thờivới nhau (Loh và cộng sự, 2011) Chẳng hạn, sự ruồng rẫy/chối bỏ có thể tìm thấy
ở tất cả các biểu hiện ngược đãi nói trên, và như thế khi một đứa trẻ bị ruồngrẫy/chối bỏ thì trẻ có thể trải nghiệm những cảm xúc của sự uy hiếp/đe dọa, hay bị
bỏ mặc hoặc bị phớt lờ về mặt cảm xúc
Dựa trên những chỉ dẫn trên đã có khá nhiều tác giả đưa ra định nghĩa/quanniệm về bạo hành bằng lời nói khác nhau Điểm qua một vài quan niệm và địnhnghĩa của các tác giả về khái niệm bạo hành bằng lời nói chúng tôi thấy rằng phầnlớn các tác giả đã dùng các biểu hiện của hiện tượng bạo hành bằng lời nói để địnhnghĩa Ví dụ, Hyden (1995) cho rằng bạo hành bằng lời nói là hành động dùng lờinói một cách có chủ ý nhằm làm tổn thương hay đe dọa làm tổn thương ngườikhác Sau khi nghiên cứu và tìm ra 9 dạng biểu hiện bạo hành bằng lời nói của cha
mẹ với con cái ở Phillipine, nhóm tác giả Loh, Calleja và Restubog (2011) đưa
Trang 25định nghĩa bạo bành bằng lời nói của cha mẹ với con cái là cách nói của bố mẹlàm giảm giá trị bản thân của trẻ, hạ thấp khả năng, đe dọa làm đau trẻ, từ chối haykhông chú ý, không yêu mến và hỗ trợ trẻ hoặc khiến cho trẻ cảm thấy có lỗi vàkhông có giá trị để tồn tại
Trên cơ sở tìm hiểu các quan niệm nêu trên, trong đề tài này chúng tôi định
nghĩa bạo hành như sau: “Bạo hành là những hành vi thô bạo làm tổn thương thân thể, gây thương tích, tàn tật hoặc là sự lăng nhục về tinh thần, xúc phạm danh dự
và nhân phẩm người khác đến mức có thể gây ra những sang chấn tâm lý”.
1.2.2 Khái niệm bạo hành bằng lời nói của cha mẹ với con cái
Trong nghiên cứu này chúng tôi dựa vào học thuyết “Chấp nhận và chối bỏcủa cha mẹ” do Rohner và Rohner (1980) xây dựng để làm cơ sở lý luận giải thích
và hiểu hơn về bạo hành bằng lời nói của cha mẹ với con cái Đây là học thuyếtdựa trên bằng chứng của quá trình xã hội hóa và phát triển trong suốt cuộc đời đểphỏng đoán và giải thích những nguyên nhân, hệ quả và các mối tương quan kháccủa mối quan hệ liên cá nhân, đặc biệt là sự chấp nhận và chối bỏ của cha mẹ Họcthuyết chỉ ra hai loại quan hệ của cha mẹ với con cái: thứ nhất là “Sự ấm áp/chấpnhận của cha mẹ” được thể hiện ở những hành vi, lời nói và cử chỉ cơ thể tích cựcnhư hôn, ôm ấp, ca ngợi và động viên Ngược lại, “sự chối bỏ của cha mẹ” khôngchỉ thể hiện ở những biểu hiện hung tính và thù địch/không thân thiện, mặt kháccòn thể hiện ở sự thờ ơ, lạnh nhạt, không quan tâm đến con cái Trong đó sự hungtính của cha mẹ bao gồm những biểu hiện mang tính chủ tâm để làm tổn thươngcon cái cả về thể chất và lời nói (như chửi rủa, mỉa mai, quát tháo, làm mất thểdiện của con cái hay làm nhục/làm trẻ bẽ mặt); sự thờ ơ và chối bỏ con cái của cha
mẹ được thể hiện thông qua sự không sẵn sàng cả về thể chất và tâm lý của cha
mẹ Từ đó học thuyết “chối bỏ và chấp nhận của cha mẹ” đã dự đoán rằng khi trẻphải chịu sự chối bỏ của cha mẹ thì kiểu quan hệ này thường có ảnh hưởng vôcùng to lớn đến sự phát triển các chức năng tâm lý của trẻ Những trẻ bị chối bỏbởi chính cha mẹ của chúng sẽ có xu hướng thù địch, hung tính, có biểu hiệnkhông bình thường về tự trọng và tự hài lòng, đồng thời chúng cũng có cảm xúckhông ổn định và cái nhìn tiêu cực về thế giới Rõ ràng học thuyết trên cũng phảnánh những nhu cầu cơ bản của trẻ em như nhu cầu sinh lý (ăn uống…), nhu cầutình cảm (như được yêu thương và tự khẳng định bản thân) cũng như nhu cầu xãhội (như được thuộc về một gia đình) Khi đứa trẻ bị bạo hành về lời nói cũng
Trang 26đồng nghĩa với chúng không được hưởng những nhu cầu cơ bản trên, cha mẹ đãdẫm đạp lên tình yêu thương và sự an toàn của trẻ
Trong nghiên cứu này chúng tôi quan niệm BHBLN của cha mẹ với con cái
là việc cha mẹ liên tục dùng lời nói gây tổn thương cho con cái trong một khoảng thời gian dài làm ảnh hưởng cả thể xác và tâm hồn của trẻ Quan niệm này đã chỉ
rõ 3 dấu hiệu cơ bản của bạo hành bằng lời nói gồm: (1) Là việc làm có chủ tâm,
có mục đích; (2) Dùng lời nói gây tổn thương cho con cái cả về thể xác và/hoặctinh thần; (3) Diễn ra trong thời gian dài Ngoài ra, chúng tôi không chỉ dựa vàohọc thuyết “chấp nhận và chối bỏ của cha mẹ” và những nghiên cứu thực chứngcủa việc bạo hành bằng lời nói ở nhiều nước khác nhau như (Phillipine, Brazil,Mỹ) mà còn dựa trên kết quả trong phỏng vấn nhóm nhỏ (focus group) với 11 họcsinh THCS ở Hà Nội để xác định các dạng bạo hành bằng lời nói của cha mẹ trênhọc sinh THCS Hà Nội Chúng tôi tập trung tìm hiểu 06 dạng bạo hành bằng lờinói của cha mẹ như: (1) chỉ trích; (2) so sánh không công bằng; (3) miệt thị; (4)chửi bới; (5) chối bỏ; và (6) đe dọa Bảng 1 dưới đây sẽ giải thích kỹ hơn về cácdạng BHBLN mà chúng tôi tìm hiểu
Bảng 1 Giải thích các dạng bạo hành bằng lời nói của cha mẹ với con cái
STT Dạng bạo hành
1 Chỉ trích
Cha mẹ sử dụng từ ngữ kết tội trẻ hoặc làm cho trẻ cảm thấy có lỗi vì những việc làm của người khác nằm ngoài trách nhiệm của trẻ
“Tao trở nên như thế này là
“Tại sao con lại không giốnganh/chị A nhỉ?”
“Bạn của con giỏi hơn con rất nhiều”
“Con nhà người ta thì thế này, con thì không được tích
Trang 27Cha mẹ sử dụng từ ngữ để làm cho trẻ cảm thấy bị tổnthương về tình cảm
“Câm mồm”
“Đồ mất dạy”!
Cha mẹ dùng ngôn ngữ để diễn tả sự thoái thác, khôngquan tâm và không thể hiệntình cảm yêu thương với con cái
“Cút ngay cho khuất mắt tao”
về thể chất hoặc từ chối hỗ trợ nguồn lực cho trẻ
“Con đáng bị ăn đòn”
“Mày như thế đáng bị nhịn đói”
“Nếu con làm như thế nữa mẹ/bố sẽ đuổi ra khỏi nhà”
Trang 281.2.3 Các yếu tố nguy cơ của bạo hành bằng lời nói của cha mẹ với con cái
Tìm hiểu về các yếu tố nguy cơ về bạo hành trẻ em nói chung, ở đề tài chúngtôi lấy các dữ liệu của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA), cụ thể bạo hành bằnglời nói được xếp trong các hình thức của bạo hành trẻ em, từ đó đưa ra các yếu tốnguy cơ gây nên bạo hành trẻ em được dự đoán thành 4 nhóm yếu tố như sau:
• Nhóm yếu tố nguy cơ thuộc về cha mẹ hoặc người chăm sóc
- Cha mẹ/ người chăm sóc có lòng tự trọng thấp, khả năng kiểm soát cảm xúc, cơntức giận kém, có nguy cơ hoặc đã từng bị trầm cảm, luôn cảm thấy lo lắng hoặc cónguy cơ về những hành vi chống đối xã hội
- Cha mẹ/người chăm sóc có những trải nghiệm hoặc chứng kiến bạo hành/ bạo lựckhi còn nhỏ, hoặc được dạy cho các hành vi bạo lực và luôn biện minh đó là hành
vi đúng đắn để giáo dục con trẻ
- Cha mẹ/người chăm sóc từng có tiền sử hoặc đang lạm dụng chất gây nghiện, từ
đó gây nên những hệ quả như cản trở hoạt động trí óc, phán đoán, khả năn tự kiểmsoát, khả năng bảo vệ một đứa trẻ
- Cha mẹ/ người chăm sóc thiếu kiến thức về sự phát triển bình thường của trẻ vànhững kỳ vọng không thực tế trong nuôi dạy trẻ, sự thất vọng và / hoặc phươngpháp kỷ luật không phù hợp
• Nhóm yếu tố nguy cơ thuộc về gia đình
- Trẻ em sống với cha mẹ đơn thân; sống trong môi trường nghèo đói với ít sự hỗtrợ xã hội, điều này có thể góp phần gây căng thẳng cho đứa trẻ và tăng nguy cơ bịngược đãi/ bạo hành
- Trẻ em từng được chứng kiến bạo lực trong các thành viên gian đình, hoặc là nạnnhân của bạo hành thể chất và có thể bị cha mẹ hoặc người chăm sóc bỏ rơi, cómối quan hệ với người tìnhvà chối bỏ trách nhiệm nuôi dạy trẻ vì nỗi sợ hãi của họthời ấu thơ
- Các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống, căng thẳng của cha mẹ và đau khổ vềcảm xúc (ví dụ, mất việc, bệnh tật, vấn đề hôn nhân hoặc cái chết của một thànhviên trong gia đình) có thể gây nên những nguy cơ về sự thù địch, lo lắng hoặctrầm cảm giữa các thành viên trong gia đình và làm tăng mức độ xung đột và bạolực gia đình
- Cha mẹ hoặc người chăm sóc bạo lực với trẻ, ít có sự ủng hộ, bộc lộ cảm xúc, vàkhả năng phản hồi với con cái; có xu hướng sử dụng các hình thức kỷ luật khắcnghiệt và bạo hành bằng lời nói hơn là các chiến lược/ phương pháp nuôi dạy con
Trang 29tích cực (ví dụ: sử dụng thời gian nghỉ ngơi, nghiên cứu, phản hồi và ủng hộ, khenngợi sự thành công của trẻ).
• Nhóm yếu tố nguy cơ thuộc về đứa trẻ
- Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ khóc liên tục hoặc thực hiện những hành động không phùhợp với người chăm sóc
- Thanh thiếu niên đang trong độ tuổi dậy thì
- Trẻ em bị khuyết tật về thể chất, nhận thức và cảm xúc hoặc các bệnh mãn tính cóthể có nguy cơ bị ngược đãi nhiều hơn
- Trẻ em khuyết tật có thể không hiểu rằng các hành vi bạo hành là không phù hợp
• Nhóm yếu tố nguy cơ thuộc về môi trường
- Nghèo đói và thất nghiệp có thể làm tăng khả năng trẻ bị bạo hành, đồng thời nếu
có mối liên kết với cácvấn đề căng thẳng giữa các thành viên trong gia đình, thànhviên trong gia đình có nguy cơ hoặc đã từng bị trầm cảm, việc lạm dụng chất gâynghiện của thành viên trong gia đình và những nguy cơ tới hành vi cô lập xã hộicũng có thể dẫn đến nguy cơ trẻ bị bạo hành cao hơn
- Cha mẹ có ít sự hỗ trợ về vật chất và tinh thần từ nhỏ và không được trải nghiệmnhững phương pháp nuôi dạy tích cực sẽ bảo thủ trong việc nuôi dạy con cái bằngcác phương thức kỷ luật/ trừng phạt dẫn đến con cái của họ có khả năng bị bạohành bởi chính cha mẹ chúng
- Trẻ em sống trong các khu phố nguy hiểm có nguy cơ cao hơn trẻ em ở các khuvực an toàn hơn
- Có thể bạo lực như là một phản hồi hoặc hành vi chấp nhận được đối với những cánhân đã hoặc từng chứng kiến nó ở tần suất/ mức độ thường xuyên
1.2.4 Ứng phó và các cách ứng phó của học sinh THCS
Ứng phó có thể được coi là một khái niệm quan trọng trong tâm lý học vàliên quan các hình thức kỷ luật, như việcứng phó giúp giải thích tác động của cácyếu tố gây căng thẳng đến sức khỏe và hạnh phúc.Những tình huống, những khókhăn tâm lý xuất hiện phổ biến như stress đã hướng các nhà nghiên cứu tâm lýquan tâm tới việc tìm hiểu cách ứng phó như thế nào Khái niệm “coping” (ứngphó) cùng với các vấn đề liên quan sau đó đã trở thành hướng nghiên cứu vớinhiều đề tài phong phú, đa dạng
Trang 30Khái niệm ứng phó xuất phát từ tiếng Anh “cope” có nghĩa là ứng phó,đương đầu, đối mặt, thường là trong tình huống bất thường, những tình huống khókhăn và stress.
Theo Adler A., tương ứng với đường đời của con người, có thể coi ứng phó
là phong cách sống của cá nhân, là sự tổng hợp những mục đích có nghĩa và cáchđạt được chúng, được xác định như sự thống nhất giữa những đặc điểm nhân cách,tâm thế và hoạt động hàng ngày Còn tương ứng với hoàn cảnh, như một thời khắccủa đường đời, có thể coi ứng phó như một sự thay đổi phong cách sống theo hoàncảnh
Trong cuốn sách “Stress, Appraisal and Coping”, theo Richard S Lazarus
và Susan Folkman (1984), ứng phó được xem như sự thay đổi nhận thức và những
nỗ lực cá nhân nhằm phản ứng lại với hoàn cảnh bằng những nguồn lực hoặc vượtquá nguồn lực của bản thân
Richard S Lazarus (1993) định nghĩa ứng phó như tổng thể của những nỗlực về nhận thức và hành vi để quản lý các nhu cầu bên ngoài hoặc bên trongcụthể được đánh giá là nó vượt qua các khả năng của con người Theo tác giả, địnhnghĩa về khái niệm ứng phó có thể được đơn giản hóa - mặc dù sẽthiếu một sốthông tin khi chỉ nói rằng ứng phó bao gồm những nỗ lực nhận thức và hành vi đểlàm giảm đi ảnh hưởng của stress
Trong cuốn sách “Coping: The Psychology of What Works”, tácgiảLawrence C R Snyder và Beth L Dinoff trong bài viết “Coping: Where haveyou been” đã đưa ra một định nghĩa có sự tổng hợp nhiều quan điểm trước đó: ứngphó là một phản ứng nhằm giảm bớt gánh nặng về thể chất, tình cảm và tâm lý cóliên quan đến các sự kiện cuộc sống căng thẳng và phức tạp hàng ngày
Theo Anita Delongis và cộng sự (2011) trong một nghiên cứu về ứng phóvới stress, khái niệm ứng phó được hiểu là sự nỗ lực nhận thức và đưa ra, thựchiện các hành vi để giải quyết vấn đề
Tác giả Phan Thị Mai Hương định nghĩa về khái niệm hành vi ứng phó: “cóthể hiểu hành vi ứng phó là cách mà cá nhân thể hiện sự tương tác của mình vớihoàn cảnh tương ứng với lôgíc của riêng họ, với ý nghĩa trong cuộc sống của conngười và với những khả năng tâm lý của họ” [ tr 46]
Trang 31Định nghĩa về cách ứng phó và phân biệt với chiến lược ứng phó, theo tácgiả Phan Thị Mai Hương khi nghiên cứu về cách ứng phó của trẻ vị thành niên vớihoàn cảnh khó khăn chỉ ra rằng: “Chiến lược ứng phó là sự ứng phó một cách chủđộng, có dự định trước một tình huống xảy ra Cách ứng phó là những phươngthức ứng phó cụ thể hơn trước một tình huống, một hoàn cảnh nhất định Trongmột chiến lược ứng phó có thể có nhiều cách ứng phó khác nhau trong một sốtrường hợp, chiến lược ứng phó có thể hiểu như cách ứng phó” [tr.43]
Từ đó, chúng tôi đưa ra một định nghĩa về ứng phó như sau: “Ứng phó là tương tác, đối mặt, giải quyết vấn đề của cá nhân hay giữa các cá nhân trong những tình huống bất thường, khó khăn” Khái niệm này còn được dùng để mô tả
sự phản ứng của cá nhân trong các tình huống khác nhau
1.2.5 Phân loại các cách ứng phó
Có rất nhiều quan điểm phân loại cách ứng phó được đưa ra tùy thuộc vàođối tượng nghiên cứu Theo Leonard I Pearlin và cộng sự (1978), ứng phó liênquan đến hành vi tự bảo vệ của người có tâm lý bị tổn hại dựa trên kinh nghiệm xãhội của họ về vấn đề đó, là hành vi trung gian tác động tới các thành viên trong xãhội Chức năng bảo vệ của hành vi ứng phó có thể được thực hiện theo ba cách:bằng cách loại bỏ hoặc sửa đổi các điều kiện làm phát sinh vấn đề, bằng nhận thứckiểm soát vấn đề để trung hòa nó với hoàn cảnh và kinh nghiệm xã hội và bằngcách hướng vào tình cảm để quản lý vấn đề [tr.2]
Trong nghiên cứu của Richard S Lazarus và cộng sự (1986), tác giả đã chỉ
ra 2 loại chiến lược ứng phó: chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề và chiếnlược ứng phó tập trung vào cảm xúc Cụ thể, có 8 cách ứng phó cho 2 loại chiến
lược ứng phó này Về chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề bao gồm: sẵn sàng
đương đầu, tìm kiếm chỗ dựa xã hội, giải quyết vấn đề có kế hoạch Về chiến lược
ứng phó tập trung vào cảm xúc bao gồm các cách ứng phó như kiểm soát bản thân
giữ khoảng cách với tình huống gây stress, chấp nhận trách nhiệm, lảng tránh
Trong cuốn sách “Stress and Emotion: A New Synthesis”, Richard S.Lazarus (1999) có nói về 2 loại ứng phó là tập trung vào cảm xúc và tập trung vàovấn đề Đây là quan điểm được thảo luận đầu tiên trong nghiên cứu của Folkman
và Lazarus (1980) Ứng phó tập trung vào vấn đề là thu thập thông tin về những gìcần phải làm và huy động các các hành động cho mục đích thay đổi thực tế với sự
Trang 32rắc rối trong các mối quan hệ Các hành động đối phó có thể do chính bản thânhoặc do môi trường tạo nên Ứng phó tập trung vào cảm xúc nhằm mục đích điềutiết cảm xúc với tình hình căng thẳng
Mô tả nội dung bảng hỏi các cách ứng phó (Ways of coping questionnaire)của Susan Folkman và Richard S Lazarus (1988), tác giả đã phân loại ra 8 cáchứng phó chủ động và ứng phó thụ động Cách tiếp cận chủđộng bao gồm các nộidung:
- Đối phó: mô tả những nỗ lực tích cực để thay đổi tình hình và đề xuất một
- Việc thẩm định lại tích cực: mô tả những nỗ lực để tạo ra ý nghĩa tích cựcbằng cách tập trung vào phát triển cá nhân
Cách ứng phó thụ động bao gồm các nội dung:
- Giữ khoảng cách: mô tả những nỗ lực nhận thức để tách mình ra vàđểgiảm thiểu tầm quan trọng của tình hình
- Tự điều khiển: mô tả những nỗ lực để điều chỉnh cảm xúc và hành độngcủa mình
- Chấp nhận trách nhiệm: thừa nhận vai trò của chính mình trong các vấn đềvới một chủ đề đồng thời cố gắng đưa vào những điều đúng đắn
- Lảng tránh: mô tả những mơ tưởng và nỗ lực trong hành vi để trốn tránhcác vấn đề
Trong luận văn về kế thừa và phát triển bảng hỏi cách ứng phó dành cho trẻ
em, tác giả Anne E Fedorowicz (1995) phân chia các loại ứng phó và thực hiệnnghiên cứu trên hai hướng: ứng phó tập trung vào vấn đề, ứng phó tập trung vàocảm xúc và không ứng phó bằng cách nào hoặc ứng phó tiếp cận, ứng phó theo
Trang 33hướng lảng tránh và không ứng phó bằng cách nào Kết quả bảng hỏi cách đượcthiết kế cụ thể với các loại ứng phó:
- Nhận thức quyết định hành động: một số cách ứng phó được đưa ra cụthểnhư nghĩ về việc tôi có thể làm trước khi tôi làm bất cứ điều gì, cố gắng lên kếhoạch trước khi tôi làm bất cứ việc gì, v.v
- Trực tiếp giải quyết vấn đề: ví dụ như làm điều gì đó để cảm thấy tốt hơn,làm điều gì đó để giải quyết vấn đề, thay đổi điều gì đó v.v
- Nhận thức tái cơ cấu tích cực: một số cách ứng phó được đưa ra cụ thểnhư
cố gắng nhìn thấy mặt tốt của vấn đề, tự nhủ nó sẽ xảy ra trong thời gian ngắn, v.v
- Thể hiện cảm xúc: ví dụ cụ thể như tôi khóc, giải tỏa cảm xúc bằng việcđánh vào gối hoặc giường, la hét làm cho cảm xúc của tôi được giải tỏa, v.v
- Hành động gây phân tán sự tập trung: một số cách ứng phó được đưa ra cụthể như nghe nhạc hoặc xem ti vi, đọc sách hoặc tạp chí, chơi videogame, v.v
- Hành động lảng tránh: ví dụ như cố gắng tránh xa vấn đề làm tôi buồn,tránh gặp những người khiến tôi cảm thấy tồi tệ, ở một mình, v.v
- Nhận thức lảng tránh: một số cách ứng phó được đưa ra cụ thể như giả vờnhư không có chuyện gì xảy ra, cố gắng không nghĩ về chuyện đó, cốgắng quênchuyện đó đi, v.v
- Tìm kiếm sự hỗ trợ: một số cách ứng phó được đưa ra cụ thể như nói vấn
đề của tôi với một ai đó trong gia đình, tìm kiếm sự giúp đỡ từ bạn bè, hỏi một ai
đó tôi nên làm gì, v.v
- Nhận thức tiêu cực/ lo lắng: ví dụ như một số cách ứng phó là lo lắngvềnhững điều tồi tệ có thể xảy ra, sợ hãi một điều gì đó tồi tệ sẽ xảy ra với tôi, cảmthấy bản thân thật kém cỏi, v.v
- Hành động mang tính gây hấn: một số cách ứng phó được như tức điênlên và la hét một ai đó, đổ lỗi cho ai đó, đánh hoặc gây tổn thương cho ai đó v.v
- Nỗ lực không đối phó: ví dụ như tôi chỉ chờ đợi, tôi không làm bất cứđiều
gì, tôi không biết mình nên làm gì, v.v
Trang 34- Kiềm chế cảm xúc: một số cách ứng phó như làm như không có chuyện gì
to tát xảy ra, làm như tôi không quan tâm, v.v
- Tự kiềm chế bản thân: ví dụ cụ thể như đếm đến 10, hít thở sâu, cố gắnglàm cho bản thân bình tĩnh lại, v.v
- Suy nghĩ ước ao: một số cách ứng phó như ước chuyện đó sẽ kết thúc, cầunguyện mọi thứ sẽ thay đổi, cầu nguyện làm mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn, ước phépmàu sẽ xảy ra, ước mọi chuyện dừng lại, v.v
Nghiên cứu về stress, tác giả Sandy M Williams và cộng sự (2005) tiếnhành khảo sát với 6 loại ứng phó: tinh thần, thích nghi về thể chất, thể chất khôngthích nghi, thích ứng cảm xúc, không thích ứng cảm xúc và nhận thức
Nghiên cứu của Anita Delongis và cộng sự (2011) về cách ứng phó vớistress, ứng phó được chia làm 3 hướng là ứng phó tập trung vào cảm xúc, ứng phótập trung vào vấn đề và ứng phó tập trung và các mối quan hệ
Nghiên cứu về cách ứng phó của trẻ vị thành niên khi gặp khó khăn, tác giảPhan Thị Mai Hương xác định ba loại ứng phó: ứng phó tập trung vào hành động,ứng phó tập trung vào tình cảm, ứng phó tập trung vào suy nghĩ
- Nhóm ứng phó tập trung vào tình cảm của trẻ vị thành niên có 3 cách thứcbiểu hiện: những cảm giác bên trong, tình cảm thể hiện ra bên ngoài và tìm kiếmchỗ dựa tình cảm
- Nhóm ứng phó tập trung vào suy nghĩ có 5 cách thức biểu hiện: phủ nhận,chấp nhận, lý giải theo hướng tích cực, đổ lỗi cho hoàn cảnh và lảng tránh
- Nhóm ứng phó tập trung vào hành động có 6 cách thức biểu hiện: kiềmchế bản thân, thay thế bằng những hành vi tiêu cực, thay thế bằng những hành vitích cực, tìm lời khuyên, lên kế hoạch và ứng phó chủ động
Như vậy ở đề tài này, theo những bước đệm của các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước, chúng tôi đã tiến hành chuyển dịch và thích ứng thang đo CISS
-21, theo 03 nhóm ứng phó, từng cách ứng phó được chia theo bảng sau:
Bảng 2: Các nhóm ứng phó theo thang đo CISS - 21
Trang 35Nhóm ứng phó
giảm thiểu cảm
xúc
8. Đỗ lỗi cho bản thân và nghĩ rằng mình xứng đáng bị như vậy
9. Luôn cảm thấy lo lắng việc về không biết phải làm thế nào
để cha mẹ dừng lại
10. Đổ lỗi cho bản thân vì quá bất ngờ với những gì đang diễn ra
và không thể giải quyết được
11. Cảm thấy rất khó chịu và không thể làm gì
12. Đổ lỗi cho bản thân vì không biết phải giải quyết như thếnào cho những lần tiếp theo sẽ xảy ra
13. Ước rằng mình có thể thay đổi những gì đã xảy ra hoặc cảmxúc của em
14. Tập trung tìm ra những lỗi lầm của bản thân để bạo hành xảyra
Nhóm ứng phó
né tránh
15. Dành thời gian nghỉ ngơi và tránh xa những tình huống cha
mẹ bạo hành bằng lời nói với em (mắng mỏ, so sánh, chửibới,…)
16. Gọi điện cho một người bạn và kể ngay những gì đã xảy ravới mình
17. Tìm đến các phương thức giải trí (ví dụ: ăn món mình thích,chơi game, ) để quên đi mọi chuyện
18. Tâm sự với bạn về những bức xúc trong lòng
19. Đi mua sắm cho bản thân để quên đi mọi chuyện
20. Dành thời gian cho một người đặc biệt (bạn thân, người thânthiết trong gia đình em…)
21. Im lặng và tránh mặt cha mẹ
Trang 361.3.Đặc điểm lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Học sinh THCS là những em học sinh từ lớp 6 đến lớp 9, tương ứng với độtuổi 11,12 - 14,15 Trong tâm lý học lứa tuổi giai đoạn này được gọi là tuổi thiếuniên Ở lứa tuổi này có vị trí đặc biệt và tâm lí phức tạp
• Sự phát triển về thể chất
Học sinh THCS là thời kì chuyển từ tuổi thiếu nhi sang giai đọan sắptrưởng thành: có sự phát triển mạnh mẽ nhưng lại mất cân đối về cơ thể, có sự dậythì (phát dục), hình thành những phẩm chất mới về trí tuệ và đạo đức
Về sự phát triển thể chất: Chìêu cao tăng nhanh so với trọng lượng cơ thể,các em nữ thường cao nhanh hơn các em nam cùng tuổi, trong lượng cơ thể cũngtăng mạnh, ở nữ có sự xuất hiện vòng ngực , ở nam có sự vỡ giọng, mọc riamép Điều này khiến các em không còn là lứa tuổi nhi đồng.Hệ thần kinh tiếp tụcphát triển, chức năng của não ngày càng hòan thiện, tuy nhiên lại có sự mất cânbằng giữa hai quá trình hưng phấn và ức chế Hệ xương phát triển mạnh nhưngvẫn còn nhiều sụn, hệ cơ phát triển, nhưng vẫn chứa nhiều nước, do đó hành độngcủa các em còn vụng về, lóng ngóng, chậm chạp
Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển
cơ thể của tuổi thiếu niên Dậy thì bắt đầu xuất hiện khi các em bước vào lứa tuổi12-14 đối với nữ 15-16 đối với nam, và thường các em nam dậy thì muộn hơn các
em nữ cùng tuổi.Sự dậy thì làm cho các em có những suy nghĩ và cảm xúc mới lạ
mà chính các em cũng chưa ý thức được, vì vậy người lớn cần quan tâm, chăm sóc
và giúp đỡ các em giải quyết những khó khăn vứơng mắc trong lứa tuổi dậy thì
• Một vài nét về sự phát triển tâm lý
Ở tuổi thiếu niên xuất hiện một cảm giác rất độc đáo “ Cảm giác mình đã làngười lớn”, các em thấy mình không còn là trẻ con, nhưng cũng chưa thực sự làngười lớn Các em có sự thay đổi vị trí trong gia đình, vị trí của các em ít nhiều bịthay đổi, được gia đình thừa nhận là một thành viên tích cực, được giao một sốnhiệm vụ cụ thể: phụ bán hàng, nấu ăn, chăm sóc em nhỏ…Đôi khi các em đượctham gia góp ý , bạn bạc công việc của gia đình Điều này có thể giúp cho các emtích cực tham gia các họat động, và tham gai một cách độc lập tự chủ Nhiều em
Trang 37muốn tách khỏi cha mẹ, không thích dựa dẫm, muốn khẳng định mình, chứng tỏmình là người lớn
Các em xem mình đã lớn nên thường: Muốn hạn chế quyền hạn người lớn,muốn mở rộng quyền hạn cho mình.; Muốn được người lớn tôn trọng, tin tưởng,nếu người lớn không nhận thức được nhu cầu này thì ở các em thường xuất hiện
sự chống đối, bướng bỉnh, làm trái lời người lớn Những nguyện vọng này nếuđược đáp ứng sẽ thúc đẩy các em hoạt động tích cực, trái lại sẽ làm các em xuấthiện tính ương ngạnh, khó bảo, đi kèm với những khủng hoảng ở lứa tuổi này
Giai đọan tuổi thiếu niên có nhiều biến đổi về thể chất, sinh lý các em có sựđột biến, biến đổi phức tạp nên còn gọi là lứa tuổi khủng hỏang.Điều kiện sống vàhọat động của các em có tính chất hai mặt, có yếu tố thúc đẩy tính người lớn,nhưng cũng có yếu tố kìm hãm tính người lớn, vì thế có khi các em ngoan ngõan,chăm chỉ, hiền lành…lại có lúc bướng bỉnh, ngang ngạnh, khó bảo, ngoan cố, lìlợm…
Về nét đặc trưng trong giao tiếp giữa thiếu niên với người lớn là sự cải tổlại kiểu quan hệ giữa người lớn - trẻ em ở tuổi nhi đồng, hình thành kiểu quan hệđặc trưng của tuổi thiếu niên và đặt cơ sở cho việc thiết lập quan hệ của người lớnvới người lớn trong các giai đoạn tiếp theo Đặc trưng về mối quan hệ giữa thiếuniên với người lớn như sau:
Thứ nhất: Tính chủ thể trong quan hệ giữa trẻ với người lớn rất cao Các
em có nhu cầu được tôn trọng cao trong quá trình giao tiếp với người lớn Các emluôn đòi hỏi được bình đẳng, tôn trọng, được đối xử như người lớn, được hợp tác,cùng hoạt động với người lớn Nếu người lớn ra lệnh với các em thì bằng cách nàyhay cách khác sẽ xuất hiện thái độ phản ứng tiêu cực, công khai hoặc ngấm ngầm.Mặt khác các em có khát vọng được độc lập, được khẳng định, không thích sựquan tâm, can thiệp của người lớn, không thích có sự kiểm tra, sự giám sát chặtchẽ của người lớn trong cuộc sống và trong học tập Nếu được thoả mãn, thiếuniên sung sướng, hài lòng Ngược lại, nếu khát vọng không được thoả mãn, sẽ nảysinh ở các em nhiều phản ứng mạnh mẽ (do người lớn ngăn cản hoặc không tạođiều kiện để các em thoả mãn, dẫn tới mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa thiếuniên với người lớn, tạo nên “xung đột" trong quan hệ giữa các em với người lớn).Học sinh THCS có thể không nghe lời, cãi lại người lớn, bảo vệ quan điểm riêngbằng lời nói, việc làm, chống đối người lớn hoặc bỏ nhà
Trang 38Thứ hai: Trong quan hệ với người lớn, ở thiếu niên thường xuất hiện nhiều
mâu thuẫn Trước hết là mâu thuẫn trong nhận thức và nhu cầu của trẻ em Do sựphát triển mạnh về thể chất và tâm lí nên trong quan hệ với người lớn, thiếu niên
có nhu cầu thoát li khỏi sự giám sát của người lớn, muốn độc lập Tuy nhiên, dođịa vị xã hội còn phụ thuộc, do chưa có nhiều kinh nghiệm ứng xử và giải quyếtvấn đề liên quan trực tiếp tới hoạt động và tương lai cuộc sống nên các em vẫn cónhu cầu được người lớn gần gũi, chia sẻ và định hướng cho mình, làm gương đểmình noi theo Mặt khác là mâu thuẫn giữa sự phát triển nhanh, bất ổn định về thểchất, tâm lí và vị thế xã hội của trẻ em với nhận thức và hành vi của người lớnkhông theo kịp sự thay đổi đó Vì vậy người lớn vẫn thường có thái độ và cách cư
xử với các em như với trẻ nhỏ
Trang 39Tiểu kết chương 1
Nhìn chung, vấn đề bạo hành bằng lời nói đã và đang các nhà khoa học tậptrung nghiên cứu ở 5 phương diện sau:
- Thứ nhất, tìm ra dấu hiệu hay các hình thức của bạo hành bằng lời nói, các dạng
hành vi và đối tượng bạo hành
- Thứ hai, tìm hiểu thực trạng cha mẹ bạo hành lời nói với con cái đi kèm với tần
suất hoặc mức độ bạo hành
- Thứ ba, tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của bạo hành bằng lời nói của cha mẹ đến
đời sống tinh thần của con cái
- Thứ tư, nghiên cứu về vấn đề nguyên nhân hoặc dự đoán về các yếu tố nguy cơ
gây nên bạo hành bằng lời nói của cha mẹ ở con cái
- Thứ năm, chỉ ra những hình thức/kiểu ứng phó khác nhau với tình huống gây
căng thẳng/stress và hiệu quả của những kiểu ứng phó này
Ở Việt Nam, các khía cạnh nghiên cứu về BHBLN đang được các nhà khoahọc đan xen trong các nghiên cứu về bạo hành ở trẻ em Như vậy có thể kết luận,vấn đề BHBLN đang được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâmnhằm đưa những bằng chứng khoa học xác thực để thay đổi nhận thức về cácphương pháp giáo dục con ở trên toàn thế giới, đặc biệt là ở văn hóa phương Đông
ở Việt Nam
Bên cạnh đó các khái niệm về bạo hành, BHBLN, yếu tố rủi ro và các cáchứng phó đã được các nhà khoa học ở trong nước kiểm chứng về độ tin cậy với môitrường và khách thể ở đây, ở đề tài này chúng tôi kế thừa và tiến hành điều tra,kiểm định để góp phần cùng các nhà khoa học đưa ra những nhận định khách quannhất về các khái niệm